m-cafe 11-29-09

m-cafe 11-29-09, 2009
[Summary] [Phần 1] [Phần 2] [Phần 3] [Phần 4] [Phần 5] [Phần 6] [Phần 7
Bài viết của Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm đăng trên trang mạng talawas về đại hội Việt kiều (2009) trong nước, và những phản hồi của người đọc

Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một Nỗi Bình An - Nguyễn Hữu Liêm

Nguyễn Hữu Liêm, talawas

The State is the march of God on earth (Hegel) Hà Nội - Như rứa mà đã qua ba mươi lăm năm, ngày tôi rời Việt Nam. Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ. Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. Tôi đã như là một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình. Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác. Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam.

Tôi vẫn phân vân suốt cả tháng trời là có nên đi dự “Đại hội người Việt ở nước ngoài” hay “Đại hội Việt kiều” (Đại hội). Với tư cách là chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt – Mỹ, tôi có nhiều lý do để tham dự. Cùng về với tôi trên các đường bay khác là một phái đoàn gồm những thương gia và chuyên gia. Trên chuyến tàu từ San Francisco về đến phi trường Nội Bài ngày thứ Sáu 20 tháng 11, tôi chỉ đi một mình. Tôi để ý đến các cô tiếp viên Việt Nam cố gắng cười trên môi trong nỗi bực mình thể hiện qua lông mày vì những yêu cầu của khách hàng đi từ Đài Loan.

Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội. Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, vui vẻ. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười. Tôi được hướng dẫn bới hai nhân viên khác đến một quầy tiếp đón. Xong rồi tôi ra xe đang chờ về khách sạn cùng với một số đại biểu từ châu Âu. Đến khách sạn chúng tôi cũng được chào đón thân mật. Ở đâu, ở trên khuôn mặt nào, tôi cũng chỉ thấy những nụ cười, những lời chào hỏi trân trọng. Phòng trọ của tôi ở khách sạn Thắng Lợi, xây dựng bởi kỹ sư Cuba, nằm ngay trên mặt nước Hồ Tây. Tôi bước ra ban công, nhìn ra xa bên kia bờ là đường Thanh Niên và phố Thuỵ Khuê. Tôi chợt nhận ra một Hà Nội mà chưa bao giờ mình biết đến – dù rằng tôi đã đến xứ Thăng Long này biết bao lần.

Sau khi tắm rửa, thay quần áo, tôi đi xuống phòng ăn. Được gặp nhiều anh chị em, có người tôi từng quen biết, có người không. Những khuôn mặt tươi vui, bắt tay nhau, như cùng hát vang bài của chàng Sơn thuở nọ, “Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau, mừng như bão táp quay cuồng. Trời rộng. Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.” Ở trong khung cảnh này, tôi đọc được những tâm trạng không cô đơn của những con người nặng lòng với đất nước.

Tôi cảm ra rằng mình vui lên như đứa trẻ thơ – dù rằng trong ý thức tôi muốn chăm nhìn chính mình và các đại biểu Việt kiều từ một góc độ khác. Tôi muốn bắt chước Edmund Husserl đi soi tìm một tinh hoa, về cái thực chất của tình yêu nước, trên cơ sở của hiện tượng học, một thể dạng tình cảm quê hương thuần chất trong con người Việt Nam – cái dân tộc tính đặc thù, sau khi đã loại trừ đi những yếu tố kinh nghiệm cá nhân và lịch sử. Ở trong và kinh qua tất cả những vọng động từ sử tính, trong khổ đau, qua thể chế, với đầy cực đoan và ngu muội, thì cái thực chất tinh thần yêu nước của con người Việt Nam, như là một thực tại thuần trừu tượng của khái niệm, qua biện chứng cuộc đời, có được nâng cao lên tới một thời quán tiến hóa mới? Hay là những người “phía tả” như chúng tôi vẫn là những đứa con trẻ đang lớn lên của thời tiền cách mạng khao khát một nguyên cớ lịch sử để hy sinh chính mình nhằm tìm ra chính mình?

Chuyến đi Đại hội này – tôi an ủi và tự đánh lừa chính mình – như là một dự án về biện chứng sử tính trong hiện tượng luận của Husserl. Triết học ở đây như là một chiếc áo còn quá rộng cho một chàng quê vừa lên tỉnh, hăm hở lý thuyết như con trâu đói ngấu nghiến nhai đám cỏ vàng úa giữa đồng hoang.

Tôi tìm đến Hussserl trong đoạn văn này. “Cuộc đời của con người, trên cơ bản tinh hoa phổ quát của nhân loại và văn hóa bản địa, nhất thiết phải mang yếu tính lịch sử. Nhưng đối với một con người khoa học, cuộc đời như là cuộc sống của khoa học, trên chân trời của cộng đồng những khoa học gia, thì nó đã đánh dấu một sử tính mới. Nó đòi hỏi một cuộc cách mạng cơ bản về ý thức sử tính. Đó là cuộc cách mạng về trái tim lịch sử trong ý thức sử tính của con người.”

Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida, viết tiếp, “Thứ nhất, đó là một sử tính tổng quan trong sinh mệnh con người khi nhân loại hiện thân và sống trong bối cảnh tinh thần và văn hóa của truyền thống. Cái tiếp theo và cao hơn là sự thức dậy từ tính kích động của văn hóa châu Âu, để tìm đến một dự án lý thuyết và triết học. Cuối cùng là sự chuyển hóa từ triết học đến hiện tượng học. Từ đó, mỗi chặng đường chuyển hóa, được đánh dấu bởi một cuộc cách mạng nhằm phá bỏ dự án cũ, thực ra chỉ là một tổng dự án, qua khả thể vô hạn hóa sử kiện, sử dụng giác quan để điều tra đến tận cùng cái chủ ý ẩn dấu của tập thể dưới tất cả những chuyển động lịch sử.” À ha!

Đây chính đã là dự án của Lý Đông A cho con người Việt Nam. Tôi xin mượn Đại hội Việt kiều, qua tinh thần Lý Đông A và phương pháp luận của Husserl, để suy tìm cho chính tôi, một nhận thức mới về “trái tim sử tính” của dân tộc Việt từ một trăm năm nay – từ khi truyền thống sử tính dân tộc Việt Nam bị kích động thức dậy bởi văn minh lý thuyết Tây Âu. Cái tôi muốn bước tới là cái mà Trần Đức Thảo, từ năm 1955, khi tôi vừa mới ra đời, đã về từ Paris đến Hà Nội cố gắng khơi mào một cách tế nhị và gián tiếp: Một cuộc chuyển hóa về sử tính từ ý thức ôm chặt bởi văn hóa truyền thống và bản địa hạn hẹp sang đến cõi sống thuần tinh hoa lý thuyết và triết học phổ quan. Ảo tưởng trí thức – dĩ nhiên. Nhưng đây là niềm vui tự tách rời của tôi. Nhưng tôi phải tự hỏi như Lý Đông A đã từng hỏi cả gần thế kỷ trước: Tất cả những khổ đau – và nỗi nực cười bi đát – mà cả dân tộc Việt Nam kinh qua đã phải cho một mục đích – tức là chủ ý tinh thần và tinh hoa cho sử tính Việt. Nó là gì?

Nó có phải là tinh thần dân tộc độc lập – một tinh thần tự do tập thể cổ điển – đang được chuyển hóa sang ý thức tự do – một tinh thần giải phóng cá nhân? Hay rằng: Nó vẫn chỉ là một tinh thần thuần phản ứng, trên cơ sở dân tộc chủ nghĩa, được vẽ vời thêm bằng giáo điều vọng tưởng, cộng thêm một võng lưới vướng mắc từ quyền lực và quyền lợi, mà Đảng Cộng sản là hiện thân, đối với tính hiện đại từ Tây Âu đem đến?

Tôi muốn dựa vào phép biện chứng quốc thể (state), tức là các hình thái tổ chức, mà Đại hội Việt kiều này là một, và chính tôi, cùng các đại biểu Việt kiều, những người mang tinh thần dân tộc trong lưu vong, tương tác – như là một tiến trình đối ứng và thông hiểu, để chuyển hóa lẫn nhau – từ các nội dung đầy kịch tính chính trị đến những nỗi hồn nhiên mang nặng tính bi hài trong những con người đại biểu như chúng tôi. Tôi biết rằng không một ai đã bước vào lịch sử mà không làm một thánh tử đạo sẽ là – và khi chết không phải làm một tên hài kịch đã là.

Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng. Các cao ốc thi nhau vươn lên. Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao. Tôi hình dung ra một tập thể nông dân thích ngắm tập tranh vẽ mây nước của Tàu đang tham dự một cuộc triển lãm hội họa đương đại. Ngôn ngữ khẩu hiệu cũng nhẹ nhàng đi. “Người Việt ở nước ngoài” thay cho “Việt kiều”. Chữ “Đảng” cũng thấy và được nghe rất ít. Những anh công an chính trị cũng luôn nở nụ cười, bắt tay. Cái biện chứng tương tác của ý chí thể thức đang lôi kéo các tâm hồn thượng cổ, làng mạc ra với không gian mới của thời đại – như các cô chiêu đãi viên hàng không Việt Nam vẫn cố cười dù rất là không muốn.

Hay quá! Chủ nghĩa “chủ quan duy ý chí” của một đế chế chính trị khắt khe và nhiều sai lầm – như là ý chí lịch sử Việt Nam – đang đòi hỏi các con người mang sử tính liên hệ phải thay đổi. Hôm nay, cái bụng dạ thuần phản ứng phải uốn nắn theo thể thái ngôn ngữ và khuôn mặt chính mình theo “kinh tế thị trường”. Cái đang là của thực tế cuộc đời đang uốn nắn bởi cái phải là của thời thế. Tôi nhìn rõ được một dạng thức tương tác giữa ý chí và ý thức đầy mâu thuẫn này vốn đang đưa con người Việt Nam đi đúng đường, đúng hướng.

Qua đến ngày thứ hai của Đại hội. Trong các khóa hội thảo chuyên ngành, tôi tham dự phiên “Trí thức và chuyên gia”. Có một giáo sư kiến trúc, về từ Pháp, tôi chỉ nhớ tên là Trường, khoảng 65 – 70 tuổi, đã tâm sự chuyện về Việt Nam giảng dạy suốt nhiều năm qua. Không lương bổng, và không được trả bất cứ chi phí nào, giáo sư Trường đã kèm dạy nhiều lớp sinh viên trong ngành xây dựng và kiến trúc, cũng như khiêm tốn làm việc với các ban ngành của chính phủ về các vấn đề xây dựng và quy hoạch thành phố. Tôi tự hỏi mình có làm được như thế không? Có làm như vậy mới xứng đáng với vai trò trí thức của mình. Tôi thầm vui mừng – và hãnh diện – vì trong hàng lớp nhà giáo gốc Việt ở hải ngoại đang có nhiều anh chị em về Việt Nam âm thầm làm việc, đóng góp như vậy. Không có chức năng lịch sử nào trọng yếu và tích cực hơn là vai trò khai sáng và chuyển giao ý thức. Dĩ nhiên, ý thức – mà tất cả chỉ là ý thức tự do – phải nằm trên cơ sở khoa học thực nghiệm, như Trần Đức Thảo đã dầy công phân tích.
Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.
Trong không khí vang ầm của lời ca, tôi lại lắng nghe từ Paul Ricoeur, “Đây là ý chí hồn nhiên thứ hai, khi con người đã bước ra khỏi hồn nhiên thứ nhất, trở về lại để tìm ra nó như là một niềm hạnh phúc nguyên sơ.” Tôi thầm cảm thấy mình thật sự bình an khi đất nước này đã mở rộng vòng tay đón tôi trở về – dù tôi đã ý thức rõ ràng về sự khác biệt nhiều tương phản giữa quê hương và thể chế chính trị. Tôi biết và cảm thông được nỗi buồn vô hạn của những người trí thức đã từng bị trục xuất khỏi quê nhà khi về đến sân bay. Ôi tổ quốc ơi! Sao mà ngươi khó khăn và khắc nghiệt thế? Cho dù tôi có cố gắng khách quan hóa ý thức đầy sử tính của mình, cái tinh chất thuần ý thức mà hiện tượng luận muốn đi tìm vẫn chỉ còn là một ẩn số lớn.
Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để “đi” California – không phải là “về” như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước. Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không? Con người tôi vẫn là của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc. Tôi chưa phải là con người tự do.
Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!
2009 Nguyễn Hữu Liêm

o0o

Ý Kiến:


Nguyễn Hữu Liêm, Một Con Chó Liếm Máu đồng loại Không Đắng Miệng .

Tôi đọc xong bài "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an" của Nguyễn Hữu Liêm mà phải nôn mửa nhiều lần . Tôi đọc lịch sử nói về thời Tây có những tên Việt gian núp bóng Tây để làm hại đồng bào mình, tôi không mường tượng được trong lòng một tên Việt gian họ ra sao khi làm những chuyện trái với lương tâm là làm hại đồng bào mình để sống thoải mái.

Nguyễn Hữu Liêm theo tôi hắn còn tệ hơn một tên Việt gian . Tôi phải xin phép loài chó để gọi tên nầy là chó . Chó có nhiều con dễ thương biết quấn quít bên chủ . Nguyễn Hữu Liêm là một giống chó hoang chỉ biết ăn thịt , uống máu đồng loại mà không biết đắng miệng .. Có thể có người cho tôi dùng chữ quá đáng nhưng xin cho tôi biết ngôn ngữ nào , chữ nào của VN có thể tả chân được một con thú như Nguyễn Hữu Liêm . Hắn đích thực là một con chó dại được bọc bên ngoài bằng lớp vỏ lòai người .

Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ đã công khai bênh vực cộng sản nhưng khi viết một bài ca ngợi đảng đã cố uốn nắn mình trở thành một tên bồi bút , hắn viết : "Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. " Hắn láo điên cuồng không thua gì tên trung tá công an Nguyễn Như Phong trong tờ công an . Một thằng làm Việt gian, bênh vực cho VC bấy lâu nay mà mở miệng sợ VC bắt .

Con chó lại sủa tiếp : " Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội. Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, vui vẻ. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười. "

Lần nầy tôi không còn giữ được bình tỉnh nên có xin phép quí bạn đọc được kêu con chó nầy bằng thằng . Có lẽ Nguyễn Hữu Liêm biết VC nhiều hơn nhiều người khác . Hắn sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị, một vùng giới tuyến VN . CSVN đã về đây thãm sát, giết người hằng loạt nhất là trận Mậu Thân năm 68, người dân Quảng Trị và Huế đã đổ máu vì lũ ác ôn CSVN thế mà hắn nhìn tên sĩ quan cấp tá VC cười với hắn . Nếu cái đầu của Nguyễn Hữu Liêm không bị lộn cứt như đầu tôm thì mới có thể thấy được cái nụ cười đầy máu và nước mắt của người dân trong miệng thằng công an cấp tá .

Những đọan sau của hắn trong bài viết đã cố tìm ra những nhân vật, từ ngữ trong triết học như "Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida ", con chó đang cố khoát lên người một chiếc áo triết gia để đánh lừa người đọc . Hắn chẳng phải là một người có trình độ triết học, hắn vay mượn những từ ngữ để tô vẽ lên con người hèn hạ của hắn một ít màu mè hương vị của mùi triết Tây cho có lệ.

Cái đầu của hắn còn thấp lắm nên khi hắn nhìn cảnh Hà Nội bằng câu viết :

" Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng.. Các cao ốc thi nhau vươn lên. Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao."

Hắn đâu có biết những cao ốc đang vươn lên ở Hà Nội là tác phẩm của máu và nước mắt . Những tên cán bộ giàu sụ tham ô hút máu nhân dân để có những cao ốc ngày hôm nay mà người chủ chính là những tên chúp bu trong đảng CS . Nguyễn Hữu Liêm từ khách sạn Thắng Lợi đi về Mỹ Đình quá sớm nên hắn không nhìn thấy cảnh những người dân lom khom dưới phố đang ôm từng thùng bánh mì to tướng, ngồi từng góc đường của phố Hà Nội, hắn đâu nhìn thấy cảnh những đứa bé chạy nhanh về bãi rác Nam Sơn để dành lấy những mãnh rác của cuộc đời . Có thể là hắn biết nhưng hắn đã quá hèn để cố tình không nhìn thấy máu và nước mắt của người dân VN chúng ta đang chảy chung quanh những cao ốc mà hắn đang đi qua.

Nguyễn Hữu Liêm viết tiếp :

" Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật.. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước."

Hắn vừa viết xong là : "Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống" . Hắn buồn cười khi hát bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hắn lại hồ hỡi khi hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Cả hai bài đều ca tụng lãnh tụ như nhau nhưng Nguyễn Hữu Liêm "buồn cười" bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hồ hỡi ca tụng Cụ Hồ . Hắn tưởng là đưa triết học vào bài viết thì người đọc sẽ bỏ qua cái ấu trỉ của hắn không để ý hắn là một con chó vừa ỉa xong là quay lại liếm vào đống cứt mình .

Tôi nhiều lần cũng đọc bài của Nguyễn Hữu Liêm trên báo danchimviet.com nhưng lần nầy lại thấy hắn biến thành một con chó săn biết vẩy đuôi ca ngợi chủ của hắn là những tên đồ tể khát máu CSVN . Đoạn kết hắn thú tội:

"Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!"

Thực sự hắn đã trở về với bầy chó sói mà hắn đã xa cách . Đúng là châu về hiệp phố . Xin chút mừng cho hắn đã tìm được đồng loại .

Thu Hiền (Hà Nội)

Ngày 28-11-2009, giờ 22:54
Đọc bài này, thấy trí thức không bằng cục cứt

Ngày 28-11-2009, giờ 19:06
Xin phép dán một số phản hồi bài chủ này từ Talawas
để xem người đi hội nghị biết “triết lý” “chuột” cô đơn:
Lê Thị Thấm Vân nói:
28/11/2009 lúc 4:44 sáng
Hè 1995 tôi về Việt Nam lần đầu. Trong buổi ăn chiều ở nhà hàng Tif(?) do Trịnh Công Sơn mời. Có khoảng trên mười người. Một nửa là người sống trong nước và một nửa là người sống ở nước ngoài. Đêm đó có Nguyễn Hữu Liêm, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Đang giữa bữa ăn, giữa những người cõng trên lưng lịch sử khác biệt, giữa những chai rượu ngoại đắt tiền, thức ăn ê hề, bàn bọc khăn trắng, hoa tươi, nến cháy… tôi tò mò mở tấm liếp nhìn ra bên ngoài, sát cạnh là mảnh đất trống, một đám ăn xin, chùi giày, bán vé số… nam nữ lão ấu tụ tập nằm ngồi la liệt. Bất chợt câu hát “người nằm đó như loài thú khi mùa đông về… không kêu than khóc… trên phận mình…” của Trinh Công Sơn thời chiến chạy ngang trong đầu. Tôi kéo tấm liếp xuống, bỗng nhìn thấy tôi, tên Việt kiều, hiên đang ngồi đây, chẳng khác tên thực dân ngày trước.
bakaout nói:
28/11/2009 lúc 4:34 chiều
Cám ơn tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm đã ‘chiêu đãi’ người đọc một bữa thịnh soạn có thể sánh với thứ mà bị can Duck vừa ‘chiêu đãi’ nhân dân Cam Bốt khi yêu cầu Tòa Án Xử Tội Diệt Chủng thả mình ra (http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5841.asp)
Lâu lắm mới thấy nhiều ý kiến phản hồi ‘đi’ một chiều như vầy, sự một chiều minh bạch.
Trần Văn Tích nói:
28/11/2009 lúc 3:13 chiều
Ôông/Mụ hailang nhắc tới Triệu Phong khi viết về tiến sĩ/luật sư/triết gia/doanh nhân/Việt kiều họ Nguyễn mần tui thấy ôốc dôộc quá, ôông/mụ ơi! Tui cũng dân Triệu Phong miềng đây!
Còn ông Trương Thái Du sao lại nỡ lòng đánh giá talawas quá thấp thế?
Nam Phan nói:
28/11/2009 lúc 2:27 chiều
Cơ khổ, trách gì cái đèn kéo quân, hễ có lửa là có xoay, tít mù nó lại vòng quanh! Khẩu Phật, tâm Phật, nên không dám ví von như ông Hoàng Ngọc Tuấn mặc dù đồng ý 100% với ông.
Đây lại thêm một dạng những người thích ăn “phở chửi”.
Lê Anh Dũng nói:
28/11/2009 lúc 2:22 chiều
Tôi hoàn toàn không hiểu bài viết của ông Liêm.
Là một độc gỉa nghiêm túc, tôi yêu cầu ông Liêm trình bày rõ ràng, cụ thể như một luật sư, một giáo chức cho những Việt kiều như tôi về những sự kiện, đãi ngộ, chính sách hướng tới toàn thể Việt kiều nói chung (mà không dành riêng cho ông Liêm) ĐÃ ĐƯỢC TRÌNH BÀY CHO MỌI NGƯỜI NGHE ở đại hội Việt kiều, để một Việt kiều có được sự bình an của ông.
Ngoài những “hạnh phúc nguyên sơ”, “cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu”, “chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca”, “vỗ tay hào hứng la to” thì những Việt kiều không biết hát, hay không thích hát đồng ca có thể lên tiếng về những vấn đề trọng đại của đất nước (tự do phát biểu, bauxite, quan hệ Việt-Trung, nhà máy điện nguyên tử, quan hệ bất bình đẳng trước pháp luật giữa đảng viên và dân thường …) như thế nào? Làm sao Việt kiều có thể trao đổi, bàn thảo với người Việt trong nước về những vấn đề này?
nguoiyeunuoc nói:
28/11/2009 lúc 1:34 chiều
Ôi quê hương! Tôi cảm thấy yên tâm và tự hào khi còn có những người công dân như Lê Diễn Đức, Phung Nghi, những người sẽ giữ được hồn thiêng sông núi và sẽ không bị tiền tài, vật chất, danh vọng, quyền lực cám dỗ.
“Người tướng xông pha trăm trận không buồn vì da ngựa bọc thây mà buồn vì giang sơn không ai gánh vác”. Cá nhân tôi không là gì cả, thế gian này không là gì cả, mất hay còn không là gì cả. Cái đọng lại của cuộc đời phải là “Chánh nghĩa luôn thắng gian tà”.
Việt Nam tự do luôn ở trong tim tôi.
Hà Minh nói:
28/11/2009 lúc 12:55 chiều
Một bài viết hào nhoáng mà rỗng ruột vẫn thường thấy của thầy triết NHL, nhưng nó lại có tác dụng như một “miễn thị thực” hay chí ít cũng đảm bảo tác giả bài viết không bị chặn tại cửa khẩu như ông Nguyễn Hưng Quốc,…
Hoà Nguyễn nói:
28/11/2009 lúc 10:18 sáng
Ông Nguyễn Hữu Liêm viết: “Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không”.
Chỉ vì được đón tiếp long trọng một lần, có cà ăn và ở miễn phí trong ba ngày, mà ông NHL trở thành người không còn biết sợ gì nữa, lạ thật. Thế tại sao trước lần “về” này, ông lại sợ tổ quốc, sợ công an, sợ cộng sản, như câu viết trên của ông là lời tự thú như thế: “(nay) không còn sợ” ? Trên talawas, ông NHL từng kể chuyện ông về Sài Gòn gặp lại bạn cũ, bây giờ là cán bộ CS giữ chức vụ khá cao trong ngành công an, nhưng dù vậy lần đó ông vẫn còn sợ công an, sợ cộng sản sao ? Những lý do ông đưa ra khiền ông bây giờ hết còn sợ, là một thay đổi lớn trong vài năm, rõ là có tính cách lừa dối hay ngụy biện, vì không thể chỉ nhờ một lần đón tiếp mà ông mất đi nỗi lo sợ kéo dài ít ra trong 34 năm (là thời gian theo lời ông nói). Nhưng lại có thể vì lý do rất tầm thường: vì được “free food” trong vài ngày mà ông Liêm thấy mình được cho hưởng đủ thứ tự do trước kia không hề có. Ông Liêm thử nhìn lại xem những nguyên cớ trước đây đã làm ông phải sợ hãi, tức sợ cộng sản, hay sợ tổ quốc khi ông đồng nhất tổ quốc với cộng sản, kể từ ngày ông đi khỏi nước cho tới ngày về dự đại hội VK, nay đã thực sự thay đổi hay biến mất chưa. Ông hãy nhìn vào trường hợp những người làm cùng nghề với ông, như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Lê Trần Luật, họ có vui mừng, hạnh phúc như ông vì được hưởng nhiều thứ tự do như ông không. Sự khác biệt giữa ông Liêm và những luât sư đó phải nhận do ông Liêm là Việt kiều còn họ là người Việt trong nước, chứ không phải vì cộng sản hay công an ở VN bây giờ hết đáng sợ. Thật xấu hổ khi ông Liêm cũng không dám nhắc đến tên những luật sư đó ở đây hay khi còn ở trong nước, nên thấy được là vì ông Liêm còn quá sợ đó thôi. Vì ông hỏi “bạn thấy không”, nên tôi trả lời thật thà là tôi thấy ông Liêm vẫn chưa hết sợ, nên ngoài chuyện không nhắc đến những nạn nhân được nói nhiều nhất của chế độ, ông còn ráng viết bài này dươờng như cốt lấy lòng người tiếp đãi ông để lần sau khi về nữa ông không phải lo sợ gì . Nhiều người từ VN qua Mỹ khi trờ về không thấy ai nói lên tình cảm (đối với nước Mỹ) giống như ông (đối với VN). Chỉ vì trước kia họ không sợ Mỹ như ông sợ VN, và bây giờ họ vẫn không sợ Mỹ nên không cần phải viết để lấy lòng gì Mỹ với mục đích lần sau còn được qua Mỹ.
Nhân nhắc đến Lý Đông A, ông Liêm có thể không biết Lý Đông A mất tích với nghi ngờ lớn là do cộng sản thủ tiêu năm 1946. Còn nhà Marxit học Trần Đức Thảo trở về VN để vào chiến khu chống Pháp là điều rất đáng ca ngợi, vì lòng yêu nước và không ngại nguy hiểm, gian khổ. Nhưng tại sao ông Thảo trở lại Pháp, và theo chuyện kể nếu ông không quen thân với TT Phạm Văn Đồng thì khó được ra khỏi nước; sau cùng vào cuối đời khi sống và chết âm thầm, cô độc ở Pháp, có bao giờ ông Trần Đức Thảo tỏ ra hối tiếc đã phải bỏ nước ra đi không ?
Hailang nói:
28/11/2009 lúc 8:59 sáng
Ông nói :Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản.
Ông được thư mời thì sợ cái nổi gì.Vả lại trong đầu ông có cả khối đá triết lý kia mà.Chỉ có người dân đánh cá miền Trung mới sợ ra biển bị tàu “lạ” đục thuyền ,cướp bóc ,với lại bắt làm con tin đòi tiền chuộc.Chỉ có hàng ngàn trẻ em mười ba mười bốn tuổi mới sợ bắt cóc đưa qua Cam Bốt làm đĩ non.Chỉ có những người trẻ nam có nữ có được cha mẹ bán hết gia tài để đưa đường dây buôn người qua Nga rồi tới Pháp đang ở trong rừng mới sợ lạnh sợ chết sợ không leo lên xe tải trốn qua Anh được .Rồi sợ cả gia đình bà con quê nhà lăn đùng ra mà chết vì đói.
Chỉ có hàng hàng lớp lớp người mất nhà mất đất vác đơn đi kiện củ khoai mới sợ nằm chết giữa bụi giữa bờ .Chỉ có những người khóc Hoàng sa,Trường Sa ,ngậm ngùi Bản Giốc mới sợ điều luật 88 khóa tay nhốt vô tù .Chỉ có những người trí thức nghiên cứu trong lòng quê hương của mình mới sợ cái Quyết định 97 mới tự giải thể để khỏi bị chặt đầu cắt tay.
Còn ông theo tôi nghĩ nên về Triệu Phong Quảng Trị soi mặt trong gương để biết thế nào là sợ ánh sáng. Ông cứ quanh quẩn trong đêm dài nằm mộng thì gà hóa ra cuốc mà thôi.Có ai lại nằm ngũ mà sợ bóng đêm bao giờ?
Hailang
Nguyễn Việt Thanh nói:
28/11/2009 lúc 8:44 sáng
Độc giả Talawas phải cảm ơn triết gia Nguyễn Hữu Liêm đã “khai sáng” cho “con đường đau khổ” từ Hiện Tượng Học Husserl đến “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”!
Có lẽ Husserl cũng không ngờ nổi những tư tưởng của ông hơn trăm năm sau được vận dụng một cách tài tình và sáng tạo đến thế!
10. Dong nói:
28/11/2009 lúc 8:08 sáng
Đi xe có còi hụ thì viết như còi hụ. Có chi mà bàn dữ rứa hè ?
Phùng Tường Vân nói:
28/11/2009 lúc 6:55 sáng
Xin BBT cho tôi bổ túc một dòng như sau vào cuối PH “HY VỌNG…” vừa gửi (sau hai chữ “Bẩn thật !)
“Quyết Đông Hải chi thuỷ bất túc dĩ trạc kỳ ô.”
Phùng Tường Vân nói:
28/11/2009 lúc 6:34 sáng
“HY VỌNG ĐÃ VƯƠN LÊN”
“Trương Thái Du nói:
Thật bất ngờ khi bài viết này được talawas đăng tải. Hy vọng TS Nguyễn Hữu Liêm còn viết dài dài,..”
Có gì mà bất ngờ, những bài viết “du kích” dài dài của họ Trương vẫn thường xuất hiện đều chi trên talawas huống hồ cái anh phản phúc suốt đời “làm ra thông thái, nói nhái thiên hạ” này.
Hỡi ơi, nương theo bao nhiêu chết chóc tang tóc của đồng bào, đồng đội để anh có cớ bám mà đi theo sang xứ người, học hành nên thân mà muối mặt uốn lưng xưng tụng thịnh trị cái chế độ “sát thủ” của dân tộc.
Bẩn thật!
Trần Quốc Việt nói:
28/11/2009 lúc 3:43 sáng
Đi như trốn chạy, về như khách mời. Khoảng thời gian rất dài từ lúc đi và về đó là sự thui chột về lý trí, chai lì về tình người, “hồn nhiên” về xấu hổ. Bổn phận của người viết là phải nói thẳng, xin ông đừng đem triết lý để che chắn tạm bợ mảnh áo rách về tâm và trí của mình. Bài viết của tác giả sẽ không có gì lạ nếu ông sống trong cái hang của Plato đủ lâu để tưởng bóng là thực, tưởng ác là thiện. Một người mù sờ soạng lần mò đi gần hết cuộc đời trong cái hang ấy, mà lòng hân hoan cảm thấy “bình an” vì được sáng mắt để “trở về” với cái làng xưa in trên vách hang của mình. Bài viết của ông làm tôi nhớ đến câu chuyện sau:
Đâu đó ở một trong những cuốn sách triết học của Đông phương có một câu chuyện khác về Mắt Thủy Tinh. Nếu tôi nhớ đúng, câu chuyện kể về một người ăn xin ngày nọ đã van xin một nhà triết học bố thí. Nhà triết học từ chối và đi tiếp con đường của mình. Nhưng người ăn xin vẫn kiên trì đuổi theo, miệng không ngớt xin tiền. Người ăn xin đuổi theo nhà triết học ra đến tận ngoài thành phố, cho đến lúc cuối cùng nhà triết học tuyệt vọng, dừng lại nói:
“Được rồi, ta sẽ cho ngươi tiền. Nhưng với một điều kiện. Trong hai mắt của ta có một mắt thủy tinh.. Ngươi hãy nói đó là mắt nào và ngươi sẽ có tất cả những gì ta có.”
Người ăn xin nhìn ông chăm chú rồi cuối cùng nghiêm giọng nói: “Thưa thầy, con mắt phải là con mắt thủy tinh ạ.”
Nhà triết học kinh ngạc, “Hãy nói làm sao ngươi biết” – ông kêu lên – “Con mắt đó đã do một người thợ giỏi nhất thế gian làm ra, không thể nào phân biệt nó với mắt thật được. Vậy làm thế nào ngươi biết rằng mắt phải của ta là mắt thủy tinh?”
Thưa thầy vì – người ăn xin chậm rãi đáp – mắt phải của thầy là mắt ánh lên tình thương xót.
(Trích đoạn từ truyện ngắn “Mắt thủy tinh” của tác giả John Kein Cross trong tuyển tập truyện ngắn Timeless stories for today and tomorrow)
Cảm ơn talawas đã đăng bài của tác giả, qua đó tôi thấy sự chín chắn là hữu hạn, còn “ý chí” để được “hồn nhiên” là vô hạn.
QuangSan nói:
28/11/2009 lúc 1:24 sáng
Khi người ta đã bước ra khỏi cái ngưỡng cửa bình thường thì con người đó không còn bình thường nữa. Bị đưa vào cuộc chơi như đi vào một giấc mơ, người trong cuộc chưa nhận ra mơ hay thật.
Tôi mong cho tác giả tìm được cái thật trong giấc mơ để được bình an mà triết lý hóa những điều trái nghịch với cuộc sống thật trong xã hội VN mấy chục qua và ngày nay.
Yêu nước thì phải yêu dân, Ôi! Yêu nước cái kiểu phù phiếm vọng sang, hãy đem so sánh cái cảnh những con người được đón tiếp, xe đi có hú còi… với hình ảnh hằng ngày dành cho lớp người khác nơi các sân bay quốc tế ở VN.
Hãy đi về vùng quê, lên những vùng núi non, hay đồng bằng, lắng nghe lời kêu oan của người dân mất nhà mất đất.
Lắng nghe những tiếng vọng phát ra của những tù nhân lương tâm từ các trại tù về Dân Chủ Tự Do.
Hãy nghe và nói những gì thực tế, những mớ lý thuyết “bồng bông” không biện luận và che giấu được gì cả.
Dẫu sao, Ông NHL cũng đáng được khen ngợi, đã và đang làm những điều mà không ai muốn mó vào vì sợ “hủi”.
Hoàng Ngọc-Tuấn nói:
28/11/2009 lúc 12:31 sáng
Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!
Tôn Nguyễn nói:
27/11/2009 lúc 11:05 chiều
Tôi mong rằng tác giả Nguyễn Hữu Liêm và các quí vị Việt kiều khác được nhà nước tiếp đãi nồng hậu và trân trọng trước sau như một như tác giả đã xúc động chân tình qua bài viết…
Khi ấy không cần phải có bất cứ hội nghị Việt kiều nào nữa mà tự động Việt kiều sẽ về đông hơn, nhiều hơn.
Trà Đoá nói:
27/11/2009 lúc 10:50 chiều
Ông Liêm vẫn như ngày nào, lại dùng “quá nhiều triết học” để biện minh cho hành động trở về của mình.
Tôi nghĩ để tìm lại “sự hồn nhiên dân tộc tính” thì khi nghe tin TQ lấn Biển Đông ông nên xuống được đả đảo Tàu ngay. Hay nghe tin côn đồ và công an đánh đập tăng ni Bát Nhã ông phải phẫn uất mà phản đối ngay.
Chứ đâu lại đi ngụy biện ba hoa rỗng tuếch thế này:
“Tôi muốn bắt chước Edmund Husserl đi soi tìm một tinh hoa, về cái thực chất của tình yêu nước, trên cơ sở của hiện tượng học, một thể dạng tình cảm quê hương thuần chất trong con người Việt Nam – cái dân tộc tính đặc thù, sau khi đã loại trừ đi những yếu tố kinh nghiệm cá nhân và lịch sử.”
Để rồi cuối cùng ông lại:
“… vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.”
Đây là thứ “hồn nhiên” bị đánh cắp hay là sự “đổ đốn” của nhân cách?
nguoiyeunuoc nói:
27/11/2009 lúc 10:09 chiều
Cô bé quàng khăn đỏ đê mê bởi những lời sói giả giọng của bà và đang vui vẻ đưa đầu vào miệng sói để dược bà hôn lên trán gọi cháu yêu!
Con cò trắng ngây thơ đáp xuống với bạn mình trên mô đất khô ráo trên cánh đồng ngập nước, hấp dẫn hơn khi còn có cả một con cá ngon lành nằm phơi dưới ánh mặt trời đợi nó đến xơi. Nó đâu biết rằng nguời bạn của mình không có con tim và được làm bằng gỗ, được sơn trắng như màu lông của nó. Cả con cá kia cũng là một con cá giả mà thôi. Nó chết không oan nhưng những bạn bè con cháu bắt chước nó mà nhận lấy cái chết để nuôi thằng đánh bẫy mập mạp mới oan!
Thương thay cho cả họ nhà nó. Oan nghiệt!
Nhỏ Thanh nói:
27/11/2009 lúc 9:46 chiều
Em xin đồng tình với bác Lê Diễn Đức và 100% luôn….
Trộm nghĩ, đã có những thi (văn) sỹ tự hào là được “đọc thơ cho đồng chí tổng bí thư” nghe thì cũng phải có những Dziệt kiều như thế này mới gọi là “tương xứng” chứ…
Trương Thái Du nói:
27/11/2009 lúc 9:39 chiều
Thật bất ngờ khi bài viết này được talawas đăng tải. Hy vọng TS Nguyễn Hữu Liêm còn viết dài dài, chứ không phải như một bài viết gần đây, anh tuyên bố bỏ bàn phím.
vantruong nói:
27/11/2009 lúc 9:30 chiều
“Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế.”
(GS Trần Thanh Vân, Việt kiều Pháp, Hội nghị Việt kiều 11/2009)
Một trong những câu quá đúng, điểm son là ông này thật thà như thế và cũng đã làm điều tốt.
“Có một giáo sư kiến trúc, về từ Pháp, tôi chỉ nhớ tên là Trường,”
Tự hỏi sao ông này không hỏi ông phó hiệu trưởng thằng con ông thủ tướng “bít tông” cho một cái để mình “sung sướng hơn”.
Thuỷ Vũ nói:
27/11/2009 lúc 9:27 chiều
Cảm ơn anh Lê Diễn Đức đã nói giùm tôi.
Hoàng Đại Dương nói:
27/11/2009 lúc 9:15 chiều
Ông ra đi năm 75, không hề biết một ngày ăn độn khoai sắn bo bo, không hề biết một ngày tù “cải tạo”, “quản thúc tại gia”, không hề biết sóng gió trên biển… Bây giờ, ông cũng không đọc tin tức trong nước, ngoài nước. Đảng CSVN đã không nghe ý kiến của những vị trí thức trong nước, vậy họ sẽ lắng nghe lời các ông VK như ông sao? Hay họ thích mùi đồng $ xanh của các ông?
Theo tôi, cái hội nghị đó là 3 ngày học tập chỉ thị cho những điệp viên, nhân viên ưu tú hải ngoại của Đảng. Sau đó, mỗi vị sẽ làm cái loa phóng thanh, truyền đi lời phán dạy. Ông đã không phụ lời dạy của “hội nghị”.
Bẩn.
Lê Diễn Đức nói:
27/11/2009 lúc 8:27 chiều
Nguyễn Hữu Liêm: “Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước”.
Tôi buồn nôn vì tởm lợm! Chính vì những con cừu ngu xuẩn vì hiệu ứng Pavlov, những con “vẹt kèo” cơ hội, vụ lợi và lưu manh mà đất nước, dân tộc còn bất hạnh dài dài!
Tri Ngộ nói:
27/11/2009 lúc 7:03 chiều
Cám ơn tác giả NHL đã mạnh dạn, can đảm và (tôi mong là) thành thật trong sự chia sẻ tâm tình này. Tác giả đã về bằng cửa chính và đã được tiếp đón nồng hậu. Tác giả đã bày tỏ hạnh phúc của mình khi thốt lên: lần này tôi đã thực sự trở về!
Không muốn làm vỡ tan niềm vui của tác giả, tôi chỉ muốn thưa thêm là bên cạnh những tiếp đón nồng hậu, những nụ cười và ánh mắt hân hoan mà tác giả đã cảm nhận, còn có rất nhiều bất công và tha hoá nơi xã hội VN. Còn có những nghèo khổ cùng cực. Và tham nhũng thì nằm trong xương tủy những người có quyền lực. Theo tôi tác giả chỉ mới thoáng thưởng thức được cái màn nhung thơm phức giả tạo nó mơn trớn trên da trên thịt 3 ngày liền ở Hà Nội, tác giả chỉ cần ở thêm VN một ít lâu, được tiếp xúc thật sự với đời sống của người dân và chỉ cần lên tiếng về những bất công hoặc bức xúc của mình thì sẽ thấy thái độ ân cần vồn vã kia nó biến ngay. Sự trở mặt sẽ ập đến.
Giữa cái cảm nhận “tôi đã trở về thật sự” và hai chữ to tổ bố in trong thông hành của tác giả “persona non grata” là một đường ranh chia rất mỏng manh. Và nhân ngày lễ Tạ Ơn, tôi mong tác giả đừng quên cái đặc quyền mà tác giả đang có cũng nhờ vào mồ hôi nước mắt của tất cả công dân Mỹ đã làm việc vất vả để cho tác giả một cái thông hành mà hàng vạn người trên thế giới mong có.
Ngày 28-11-2009, giờ 22:29
Một Việt Kiều bình thường, một con ca sĩ (gốc ở đợ, gánh nước mướn), mấy thằng ca nhạc sĩ (gặp thời) quay về với VC, rồi bi bô phát biểu tung hô đảng cộng đã là điều đáng phỉ nhổ ..
Còn những kẻ có ăn có học đến Luật sư, Bác sĩ mà lại hạ mình thấp như bao đứa áo gấm về làng bắt tay, bắt chân với VC thì quả là không hiểu nổi đầu óc của đám trí thức này!
Nguyễn Hữu Liêm học luật, làm luật sư; có thời làm đến Phó Biện Lý thế mà hắn không nhìn thấy được sự bất công, vô nhân của bao quyền VC đã & đang đàn áp dân lành . Cái tấm gương để soi sáng sự việc là chính gia đình, bản thân của Nguyễn Hữu Liêm tại sao lại lia bỏ quê hương, ăn nhờ ở đậu nơi xứ người mấy chục năm qua, mà bây giờ lại giở giọng nịnh bợ cái đảng VC đã phá nát gia đình và đất nước mình ?
Cộng đồng người Việt tại San Jose cần có hành động tích cực để vô hiệu hóa cái thằng luật sự nguyễn hữu liêm vô nhân tính này, bằng cách không giao dịch với hắn . Gặp hắn ở đâu cho hắn một bãi nước dãi, và tặng một câu: "thằng liêm thích liếm phân!"
Ngày 28-11-2009, giờ 23:38
Đọc bài của LHL và đọc những phân tích , phê bình của nhiều vị đọc giả ,tôi không thể hình dung nỗi LHL có gương mặt con người như thế nào ...
Toàn bài của LHL là sự kết hợp của gian dối ,được che dấu bằng một mớ triết lý lượm lặt , gắn vào không đúng chổ ,mong lòe cho người ta nể nang mặc dù không hiểu ông ta nói gì , để rồi ông ta kết luận là nhờ đại hội ,ông ta thấy thành quả của chế độ cai trị hiện tại và cảm thấy bình an khi trở về VN ...
Cái gian dối to nhất trong bài của ông ta là nói cảm thấy bình an nhân dịp về đại hội ,nhưng còn rất nhiều lần về VN trước đó thì sao ,người ta còn biết ông ta có bà con gần với công an gộc , thân thiện với Hòang Phủ Ngọc Tường ? ...
Cái ngu dốt không nhỏ của ông ta là nhìn thấy các cao ốc thì cho là VN tiến bộ ...,thật ra ông ta không ngu tới mức này mà chỉ vì ông ta bợ..." thiếu cơ sở ".
Suýt chút nữa , ông ta hô to VN giàu nhất thế giới vì các công bộc nhân dân hầu hết đều có tài sản hàng triệu , hàng tỉ đô la .
Ông ta còn nói ít nghe tiếng "đảng" , chỉ ba lần ...
Không lẽ vì vậy mà ông kết luận rằng cs không còn ?
Như thế trí thức mà không tri thức , ông ta còn là người lớn mà như con nít lên ba .

... còn nữa ...