Hồi ký Khrushchev

Nikita Sergeyevich Khrushchev, 1970
[Summary] [Phần 1] [Phần 2] [Phần 3
Quan hệ với Trung Quốc sau chiến thắng

Chuyến đi đầu tiên của Mao Trạch Đông đến Liên Xô trùng dịp Stalin 70 tuổi. Vừa đúng ngày tôi từ Ukraina về Moskva làm công việc mới. Stalin nói với tôi:



- Hãy thu xếp công việc tại Ukraina và nhất định đến tôi vào dịp tôi 70 tuổi.



Tôi làm đúng như thế. Tôi không có mặt trong cuộc hội đàm giữa Stalin với Mao có mặt Molotov. Biết bao nhiêu cuộc gặp như thế đã trôi qua, bây giờ tôi khó nói. Nhưng sau những cuộc gặp này, Stalin không có lần nào phấn khởi từ Mao và không có nhận xét đặc biệt về Mao cả. Tuy nhiên Stalin thể hiện lòng rất mến khách mở tiệc vinh hạnh Mao. Stalin thích những bữa ăn như thế và thích bừng lên bằng sự mến khách, sự chú ý của mình đối với khách. Tôi có mặt tại bữa ăn đó. Bữa ăn và cuộc nói chuyện đi kèm trôi đi trong bầu không khí thoải mái.



Tôi hài lòng thấy rằng tựa như những quan hệ thân thiện với nước Trung Hoa mới, đang được đặt nền móng. Mọi người muốn tất cả mọi việc ở chỗ chúng tôi.



Sự thật trong thời gian Mao đi thăm, có xảy ra một vụ việc không không hay. Sau bữa ăn và những cuộc nói chuyện hữu nghị, tiến hành sau bữa ăn, Stalin một số ngày không gặp Mao. Nếu Stalin không gặp và không uỷ quyền cho người này người kia, thì không ai đi tới chỗ Mao. Lúc ấy Mao tỏ ra không hài lòng vì bị ngồi lỳ trong một dinh thự dành cho ông, người ta không biểu hiện cho ông thấy một cái gì mà không ai gặp ông và ông tuyên bố nếu cứ tiếp tục như thế, thì ông bỏ về. Người ta trình lên Stalin rằng Mao tỏ ra không hài lòng. Lúc đó Stalin lại gặp Mao sau bữa ăn ở nhà nghỉ cuối tuần của Stalin. Stalin bây giờ làm tất cả để thoả mãn yêu cầu của Mao, điều chỉnh mối quan hệ tốt và chỉ ra, cái gì thu hút ở hướng của Mao.



Mao về nước. Đại diện toàn quyền Chính phủ xô viết tại Trung Quốc về kinh tế thời ấy là một cán bộ ngành đường sắt. Trước đây ông làm việc ở Mãn Châu, khôi phục đường xá sau khi đuổi người Nhật, sau đó trở thành cố vấn bên cạnh Mao Trạch Đông. Stalin xem ông là một người tin cậy. Trong một thời gian ngắn, ông bắt đầu thông báo trong các báo cáo của mình rằng, họ có những tâm trạng xấu trong quan hệ với Liên Xô, đặc biệt biểu lộ thái độ không hài lòng như thế ở Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và một loạt những người lãnh đạo Trung Quốc. Những báo cáo tương tự cũng được Cao Cương gửi cho chúng tôi từ trước khi Mao đến Moskva. Cao Cương thời ấy uỷ viên toàn quyền Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS Trung Quốc và đồng thời là đại diện toàn quyền của Chính phủ Bắc Kinh ở Mãn Châu, bởi ông là người địa phương. Cao Cương có những quan hệ rất tốt với đại diện chúng tôi. Cao Cương không nói một tý gì về vị trí cá nhân của, nhưng cũng không Mao tiến hành một cái gì đấy trong quan hệ của những người biểu hiện rõ sự không hài lòng chúng tôi. Cao Cương xác nhận có sự không hài lòng như thế với nhiều bằng chứng.



Một ngày lễ nào đấy của Trung Quốc. Tổ chức duyệt binh. Khi xuất hiện trên quảng trường những đội quân được trang bị bằng xe tăng chúng tôi, thì những người lính Trung Quốc bị tức giận dường như, người Nga cho họ những xe tăng cũ. Vâng, điều này là đúng. Xe tăng không mới, thời ấy bản thân chúng tôi không có bao nhiêu xe tăng mới để chúng tôi có thể cho Trung Quốc. Liên Xô vừa mới kết thúc chiến tranh, khôi phục công nghiệp, sản xuất xe tăng bị cắt giảm, nói khác đi là không thể. Như thế tôi không thấy cơ sở để giận chúng tôi. Tất nhiên xe tăng là cũ, nhưng còn có khả năng chiến đấu. Nhưng những lời phát biểu như thế hâm nóng tâm trạng không hài lòng chúng tôi, và tất cả được báo cáo cho Liên Xô.



Với mong muốn lấy lòng Mao có lợi cho chúng tôi, trong thời gian Mao đi thăm, Stalin biểu thị quan hệ với Mao một cách hữu nghị và tin Mao. Vì thế Stalin, vơ lấy những tài liệu nhận được từ đại diện chúng tôi ở Mãn Châu với bản ghi cuộc nói chuyện với Cao Cương, đưa hết chúng cho Mao. Tôi, và các uỷ viên Bộ chính trị khác mà chúng tôi trao đổi ý kiến, không nghi ngờ rằng Cao Cương trao cho chúng tôi những tin tức thật hoàn toàn. Cao Cương theo dõi vì mục đích gì, tôi không biết, nhưng bất cứ trường hợp nào, ông cũng có tình hữu nghị với Liên Xô. Và thế Stalin đưa trả những tài liệu này! Nếu tìm kiếm một sự song song nào đấy trong lịch sử thì điều này tựa như Nga hoàng Petr hỏi cung Kochubey về Mazepav. Lúc đó Petr trao lại cuộc thẩm vấn này cho chính Mazepav, để lấy lòng ông và chỉ ra rằng không tin vào sự phản bội của ông. Nhưng Mazepa tử hình Kochubey, trở nên giúp đỡ Karl 12 trong cuộc hành quân vào nước Nga. Màn kịch này được Puskin viết trong vở “Poltava”.



Giống như Mazepa xử sự với Kochubey, giết ông, giống như Mao đối với Cao Cương. Ban đầu Mao giam Cao Cương tại gia. Sau đó người ta nói với chúng tôi rằng Cao Cương “bị đầu độc”.



Khó tin. Sau đó chúng tôi biết là người ta bóp cổ hoặc đầu độc ông ta. Mao có khả năng làm những việc như Stalin đã làm. Trong quan hệ đã nêu, cả hai đều có tâm tưởng giống nhau, và những cách thức họ sử dụng chỉ là một. Tiếp theo, điều này được xác nhận ở mức độ còn lớn hơn.



Chúng tôi loại bỏ một người, mà người này biểu thị thân cận của mình với chúng tôi và xác nhận điều này bằng những việc cụ thể, bằng cách báo cho chúng tôi về tình hình trong giới lãnh đạo Trung Quốc và quan hệ của giới lãnh đạo đó với Liên Xô. Đây là rất có giá trị. Thay vì ủng hộ Cao Cương, Stalin bán ông. Tôi giả thiết rằng Stalin xử sự theo motip sau: Stalin - một người không tin ai cả. Ông chỉ tin ông thôi. Ông cho rằng sớm hay muộn bằng chứng báo cáo bí mật chính Cao Cương gửi cho chúng tôi, sẽ được Mao Trạch Đông biết. Lúc đó Stalin rơi vào tình thế tế nhị: tựa như ông xúi giục sự đối lập với chính quyền Bắc Kinh. Vì thế Stalin cũng sử dụng khả năng biểu thị rằng hoàn toàn tin tưởng Mao và tiếp theo, không muốn nhận thông tin từ con người chống giới lãnh đạo Trung Quốc. Mặc dù cá nhân Cao chưa bao giờ nói trực tiếp cho chúng tôi về quan hệ của mình với Mao, nhưng đối với người Trung Quốc điều này không còn là bí mật.



Tôi nhớ, người của chúng tôi tại Trung Quốc có lần nói rằng ở một thành phố có tổ chức buổi liên hoan thanh niên. Khi những người tham gia liên hoan bị chia đôi, thanh niên trở thành thù địch và phát biểu nhằm vào chúng tôi:



- Hãy vơ lấy Cao Cương về mình đi. Đây là người của các anh đấy, không phải của chúng tôi.



Điều này xảy ra từ khi còn thời gian, khi Còn là uỷ viên Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS Trung Quốc. Tiếp theo, khi Cao bị nằm trong sự cách ly nào đấy, thì sự không trung thực của ông theo chính sách “xô viết” Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS Trung Quốc cũng được biết. Điều này cũng phải có hiệu lực. Có thể, Stalin, khi bán đứng Cao Cương, cho rằng, đằng nào cũng thế, Cao Cương bị vạch mặt. Tôi kết tội như thế. Các nhân tôi chưa nghe thấy những sự bàn luận tương tự từ phía Stalin. Nhưng bằng nguyên nhân khác, không thể giải thích, vì sao Stalin vơ lấy tài liệu và trao cho Mao tài liệu nói trên. Chúng tôi, những uỷ viên Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b), nhận ra, tức giận sự xấu xa của Stalin. Nhưng Cao Cương chết.



Khi Mao ở Moskva, tôi thấy Stalin thể hiện sự lễ độ không chân thật. Có sự kiêu căng của ông trong quan hệ với Mao. Mao, hoàn toàn không phải là người ngốc, lập tức hiểu điều này, và cái đó khiêu khích ông, mặc dù bản thân Mao vẻ bề ngoài không thể hiện sự không hài lòng một cái gì, trừ trường hợp nêu ở trên.



Trong cuộc đi thăm Trung Quốc của Mikoian, phía Trung Quốc đặt vấn đề về Tân Cương. Ở tỉnh này, Trung Quốc quản lý thực tế những người của chúng tôi, và không còn là bí mật nữa, vì lẽ đó, chúng tôi có có sự giúp đỡ đáng kể cho những người cộng sản Trung Quốc. Nhưng có một việc, khi Tưởng Giới Thạch quản lý Trung Quốc, thì tình thế là hoàn toàn khác, với Mao chiến thắng. Vấn đề đã nêu nằm kề nhau đã được đặt ra trong cuộc đi thăm của Mao ở Moskva. Stalin nói rằng Tân Cương - lãnh thổ Trung Quốc, chúng tôi không có yêu sách nào với nó. Chúng tôi ở đó vì rằng trước đây điều này có lợi cho ĐCS Trung Quốc và Liên Xô. Tưởng Giới Thạch không có sự thâm nhập vào Tân Cương. Tưởng Giới Thạch biết rằng chúng tôi rất mạnh và ông không làm được một cái gì cả, vì thế sự thật phải tính đến.



Bây giờ chúng tôi nói với Mao rằng chúng tôi rút khỏi Tân Cương. Nhưng Stalin đề nghị xây dựng ở đó một Hội Xô-Trung hỗn hợp. Người Trung Quốc nhận đề nghị không có phản đối nào cả, mặc dù, vô điều kiện, vẫn còn không hài lòng. Mao nghĩ rằng Liên Xô có những kế hoạch đặc biệt trong khu vực nào đấy nào đấy, mặc dù Stalin tuyên bố rằng Liên Xô không xâm phạm đến Tân Cương. Việc xây dựng Hội Xô-Trung về khai thác dầu mỏ Tân Cương được Bắc Kinh xem như mưu đồ đối với độc lập Trung Quốc, sự xâm phạm đến vùng đất của nó, giáp giới với Liên Xô. Nói chung tôi giả thiết rằng việc xây dựng một hội hỗn hợp là một sai lầm của Stalin. Điều này không thể làm với Trung Quốc, cũng như các nước anh em khác.



Có một hội hỗn hợp như thế đã được chúng tôi tổ chức trước đó trong tất cả các nước châu Âu cộng hà nhân dân. Chẳng hạn, ở Rumani làm người Rumani rất tức giận. Sau khi Stalin chết chúng tôi huỷ bỏ tất cả các hội như thế. Cuộc xây dựng hôi hỗn hợp không những chạm đến tự ái dân tộc, mà còn xâm phạm ở mức độ nào đấy đến dự trữ vật liệu của quốc gia khác. Nếu sự có mặt các hội tương tự ở Rumani hoặc, tôi giả thiết, ở Hungary có thể được giải thích rằng những nước này ở phía Hittler đánh nhau chống chúng tôi, thì trong quan hệ Trung Quốc không có những luận cứ như vậy.



Khi chúng tôi với Trung Quốc phát sinh cãi nhau, Mao trong một cuộc nói chuyện, nói với tôi rằng Stalin không những không ủng hộ ông mà, ngược lại, tiến hành những bước quan hệ với Tưởng Giới Thạch, которые đi ngược lợi ích ĐCS Trung Quốc. Nhưng một số hành động, tựa như xây dựng hội hỗn hợp, nói chung đẻ ra tâm lý chống xô viết và bài Nga ở nước Trung Hoa mới, đáng tiếc, đưa đến cả những xấu xa khác, gây thiệt hại lớn củng cố tình hữu nghị với những nước xã hội chủ nghĩa láng giềng. Chẳng hạn, tôi coi sự điên cuồng và sự phản bội ở chỗ Stalin đã giành lấy tất cả hàng hoá và nguyên liệu có giá trị, mà Bắc Triều Tiên và Trung Quốc khai thác được, vào Liên Xô. Đương nhiên, mỗi nước cần phải có ngoại tệ của mình, bằng cách tìm ở thị trường thế giới tư bản. Chính Liên Xô có thể cho họ mọi thứ. Bản thân chúng tôi bắt buộc tìm ngoại tệ phương tiện bằng cách khai thác vàng hoặc xuất khẩu hàng hoá có giá trị sang phương Tây, để thu được ngoại tệ, có thể mua hàng hoá, mà chúng tôi không sản xuất.



Sự cần thiết như thế cũng có ở Trung Quốc, và ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa nói chung. Do vậy phải coi trọng và xây dựng chính sách của mình, tính đến cả lợi ích. Nhưng Stalin dường như điếc, ông không hiểu và không muốn hiểu rằng điều này, đặc biệt sau khi đánh tan Hittler. Ông cho rằng Aleksandr I sau thất bại Napoleon đặt ra luật ở châu Âu, và như thế ông bây giờ có thể đặt ra luật. Có sự phóng đại những khả năng riêng và sự phớt lờ quyền lợi của những người bạn. Nhưng chính sách như thế làm phật ý họ, xúc phạm và gieo mầm sự thù địch trong những quan hệ với Liên Xô. Tôi đã hiểu những tình tiết quan hệ qua lại với Trung Quốc, trong đó những hành động cân nhắc của chúng tôi làm ảm đạm tình hữu nghị của chúng tôi, mặc dù không có nguyên nhân khách quan tới điều này.



Mặt khác, đôi lúc bản thân Mao Trạch Đông không những thể hiện kính trọng Stalin, mà còn đi đến sự tự tiêu diệt nào đấy. Chẳng hạn, Mao yêu cầu Stalin с giới thiệu một người có thể giúp đỡ ông trong việc biên tập bài nói của ông và những bài báo thời kỳ nội chiến. Những tư liệu này Mao muốn bây giờ xuất bản và đề nghị gửi cho ông một người có trình độ mác xit không những giúp ông biên tập, nhưng không cho phép đưa vào một sai lầm nào đấy về mặt lý thuyết. Stalin cũng hài lòng về sự nhận ra uy tín của ông, được diễn tả trong yêu cầu này. Tôi nghĩ rằng Mao xử sự như thế, xuất phát từ hiểu thấu của mình, để tạo cho Stalin một bức tranh, chuẩn bị bằng mắt của ông xem xét những vấn đề lý thuyết và thực hành chủ nghĩa Mác và không cản trở quan điểm riêng nào đấy trong công việc xây dựng CNXH ở Trung Quốc. Nhưng điều này đi ngược tất cả mọi việc hiện ra sau này trên đường đi lịch sử Trung Quốc tiếp theo.



Người Trung Quốc đưa ra cả những yêu cầu lớn về giúp đỡ vũ khí, cung cấp thiết bị, xây dựng nhà máyов. Và ở đây Liên Xô có sự giúp đỡ lớn lao cho Trung Quốc. Tôi không thể bây giờ nói cụ thể những khoản tiền dụng cụ thể. Đã nói về nhà máy luyện kim, ô tô, máy kéo và sản xuất vũ khí hiện đại. Cho những việc này, chúng tôi cung cấp những khoản tín dụng, gửi các bản thiết kế, sự giúp đỡ khác, thực tế không phải trả tiền. Thậm chí tài liệu được chuyển giao không phải trên cơ sở kinh tế mà trên cơ sở hữu nghị. Gửi đến Trung Quốc cả những huấn luyện viên quân sự các binh chủng: phi công, pháo binh, lính xe tăng. Tôi cũng cho rằng điều này có lợi cho chúng tôi và Trung Quốc. Chúng tôi coi sự vững mạnh của Trung Quốc như vững mạnh của phe xã hội chủ nghĩa và đảm bảo biên giới phía đông của chúng tôi. Lúc ấy lợi ích của chúng tôi với Trung Quốc là lợi ích chung và chúng tôi coi những yêu cầu của Trung Quốc như là sự cần thiết của riêng mình, và thoả mãn nguyện vọng của họ chừng mực nào có thể được.



Ở phương Đông không chỉ có lợi ích của Liên Xô và Trung Quốc, mà còn CHDCND Triều Tiên, kề nsát nách. Với Bắc Triều Tiên, Liên Xô cũng rất chú ý và có sự giúp đỡ vần thiết cho họ cả trong việc xây dựng quân đội, và trong nền kinh tế quốc dân. Tóm lại, chúng tôi đã làm tất cả để Bắc Triều Tiên phát triển kinh tế nhanh hơn Nam Triều Tiên, và hấp dẫn lôi kéo nhân dân Nam Triều Tiên. Khi Bắc Triều Tiên đánh nhau với Nam Triều Tiên, thì ở đây Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Xô cùng ràng buộc chặt hơn vào một nút, vì rằng thắng lợi Nam Triều Tiên là chiến thắng của Mỹ với Bắc Triều Tiên, đe doạ và Trung Quốc, và Liên Xô. Sự thiện cảm của chúng tôi là hoàn toàn cho phía Bắc Triều Tiên, ở phía chính quyền, do Kim Nhật Thành lãnh đạo.



Nhiều năm chúng tôi giữ quan điểm cho rằng Nam Triều Tiên tấn công trước trong cuộc chiến tranh này. Nhưng bây giờ tôi cho rằng giả thiết này không cần sửa chữa, vì rằng điều này chỉ làm lợi cho những người bất đồng của chúng tôi. Nhưng, nếu không chi tiết hoá giả thiết, sự thật là thế này: Khởi xướng tấn công là của Kim Nhật Thành, mà Stalin và tất cả là người ủng hộ sự khởi xướng đó. Chúng tôi, những người cộng sản, cảm thông nhân dân Triều tiên, muốn giúp đỡ họ lật đổ­ CNTB và xác lập trong toàn nước một chính quyền nhân dân. Sau khi Stalin chết chiến tranh còn tiếp tục một thời gian. Từ lâu chúng tôi có ý nghĩ tìm khả năng chấm dứt nó. Chúng tôi phải thực hiện những bước đi theo kênh ngoại giao và bắt đầu thăm dò người Mỹ: họ có muốn ngừng chiến không? Người Mỹ đáp lại là họ muốn, và bắt đầu các cuộc thương thuyết. Sau đó xây dựng một Uỷ ban hỗn hợp gòn hai phía Triều Tiên, Trung Quốc và người Mỹ cho các cuộc thương thuyết trực tiếp giữa các bên tham gia chiến tranh. Các cuộc thương thuyết kéo dài lâu, nhưng cuối cùng đi đến thoả thuận. Các quân đội ngừng ở ranh giới, chỗ mà họ ngừng hoạt động quân sự, chẳng hạn vĩ tuyến 38, được xác lập sau thất bại của Nhật Bản, đường giới tuyến giữa đơn vị Liên Xô và Mỹ.



Với Trung Quốc trong thời gian chúng tôi còn có những quan hệ tốt, dù là vẻ bề ngoài. Tôi nói - vẻ bề ngoài, vì rằng, chúng tôi sau này biết rằng trong thâm tâm Mao không thừa nhận chúng tôi là các nước đồng minh bình đẳng và che đậy mưu đồ sô vanh. Chúng tôi có giúp đỡ đứng đắn cho Trung Quốc. Công nhân Trung Quốc sang thực tập ở nước chúng tôi, tại các nhà máy ô tô, máy kéo và những người khác nhà máy, được chúng tôi xây dựng Trung Quốc. Các kỹ sư và công nhân chúng tôi lao động tại Trung Quốc và tham gia trực tiếp xây dựng. Những công dân Trung Quốc trong thời kỳ đầu tiên rất tốt, và chúng tôi người ta đã làm tất cả để những quan hệ anh em được củng cố. Chúng tôi cho rằng nhân dân Liên Xô và Trung Quốc - là anh em và điều này không những có lợi cho chúng tôi, mà còn cả cho tế phong trào quốc tế cộng sản.



Theo đề nghị của Stalin chúng tôi cho rất nhiều vũ khí cho Giải phóng quân Trung Quốc: pháo, tăng và súng máy, súng trường và tiểu liên, máy bay. Người Trung Quốc nhận vũ khí, được trang bị chủ yếu cho quân đội xô viế thời ấy. Những vũ khí đó cũng không thua vũ khí mới. Chính là trong thời gian chiến tranh và hơn nữa sau chiến tranh trong quá trình xây dựng quân đội một loại vũ khí nhận sản xuất, thì loại khác đưa vào. Nguyên tác như thế có hiệu lực trong ở chúng tôi trong những quan hệ với Trung Quốc? Với sự hiện đại hoá vũ khí, chúng tôi trang bị những vũ khí này cho quân đội của mình, sau đó giới thiệu nó với Trung Quốc để vũ trang cho Giải phóng quân. Chúng tôi cho rằng sự hợp đồng như vậy của mối quan hệ qua lại anh em, là đáng quan tâm, để Trung Quốc mạnh lên, quân đội của họ ở mức hiện đại phát triển. Nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội chúng tôi cũng quan tâm đến việc nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội Trung Quốc.



Có tin đồn đến tai chúng tôi rằng tại Trung Quốc có những lực lượng thù địch với Liên Xô. Chúng tôi nhận những bằng chứng là báo chí Trung Quốc viết rằng người Trung Quốc không được hài lòng về biên giới với Liên Xô, tham vọng đến Vladivostok và v.v... Họ nói với độc giả rằng Sa hoàng dùng sức mạnh lập ra biên giới hiện thời và trói buộc Trung Quốc; họ sử dụng những biểu hiện khác không hữu nghị với Liên Xô. Tôi, tất nhiên, không bảo vệ Nga hoàng. Nhưng biên giới, nằm ở Liên Xô, là do kế thừa từ những biên giới trước đây, và chúng tôi luôn luôn cho rằng ở đấy là lãnh thổ xô viết hợp pháp. Ngay cả chính quyền cách mạng các nước các nước xã hội chủ nghĩa cũng là người thừa kế chính quyền trước đây và đã coi lãnh thổ quốc gia của mình ở biên giới mà họ nhận được từ tay chính quyền bị lật đổ.



Tôi giả thiết rằng sự giống nhau như thế là dễ hiểu và đúng. Nếu đặt vấn đề xem lại biên giới và tìm kiếm quá khứ lịch sử khi mà biên giới là khác hẳn thì có thể phải đi rất xa. Điều này không dẫn đến sự củng cố tình hữu nghị giữa các nước chúng ta mà ngược lại, gây xích mích chúng ta. Ngoài ra, đối với những người cộng sản-quốc tế thực thụ, những người cầm thấy biên giới quốc gia xa hơn, vấn đề này nói chung không có có giá trị trong thắng lợi cuối cùng của phong trào cách mạng và trong khuôn khổ triết học Mác-Lenin.



Chúng tôi đã nói về điều này ở Bắc Kinh. Họ trả lời: Các ông đừng chú ý, chúng tôi có nhiều Đảng, và mỗi Đảng có báo chí của mình Ở đó còn có cả những lời phát biểu thù địch đại diện giai cấp tiểu tư sản, nhưng họ không còn là quan điểm của lãnh đạo chúng tôi. Chúng tôi được thoả mãn là, mặc dù cũng muốn công bố công khai quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc. Nhưng không lãnh đạo được, mặc dù chúng tôi không phát biểu những đòi hỏi một cách trực tiếp, mà đơn thuần đã tin lời của những người lãnh đạo Trung Quốc.



Những tiếp xúc công việc của chúng tôi, chủ yếu, được duy trì với Chu Ân Lai. Chu Ân Lai thường đến gặp chúng tôi, và chính ông cùng tranh luận với tất cả mọi vấn đề. Cùng với ông, chúng tôi sơ bộ thoả thuận về kết thúc chiến tranh ở Triều Tiên, bằng cách chọn một chiến thuật chung. Thường Chu Ân Lai đến Liên Xô về một vấn đề nào đó có tính kinh tế, trong số này để ký những thoả thuận về cung cấp cho Trung Quốc thiết bị và những hàng cần thiết mà Trung Quốc có. Chúng tôi có mối quan hệ tốt với ông. Chúng tôi kính trọng ông. Ông là một con người công việc, và thảo luận với ông dễ dàng, quyết định có lợi cho hai bên. Chúng tôi cho rằng chúng tôi nói chung có mối quan hệ công việc tốt với Trung Quốc. Chu Ân Lai trong thời gian ấy là thủ tướng và Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Vì thế những vấn đề quan hệ ngoại giao Liên Xô với Trung Quốc cũng được giải quyết với ông.



Tôi nói rằng chúng tôi thực hiện cung cấp lớn cho Trung Quốc, xây dựng ở đó nhà máy. Tôi muốn dừng lại ở vấn đề này, vì rằng, khi tôi ở vị trí người về hưu, khác nhau những người, gặp tôi bày tỏ báo động rằng chúng tôi có sự giúp đỡ khá lớn cho các nước khác và chia sẻ tài nguyên Liên Xô. Đúng, chúng tôi giúp đỡ những người anh em của chúng tôi, chẳng hạn Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc trả cho chúng tôi, giống các nước khác trả, những nước mà chúng tôi giúp đỡ. Có sự trả tiền nào như thế, tôi nói, nếu được trao đổi? Tựa như điều này buôn bán. Không hoàn toàn hư thế! Tất nhiên buôn bán, đi đến trả tiền. Sự giúp đỡ là ở chỗ chúng tôi cung cấp tín dụng, xây dựng nhà máy và đào tạo công nhân, sau đó đưa tất cả những gì cần để tổ chức sản xuất. Các nước ấy lập tức có khả năng sản xuất kim loại, thiết bị.



Tất nhiên, nếu xem xét những quan hệ, tồn tại trong thế giới tư bản, thì bất cứ công ty nào cũng phải tính toán, cái gì lợi cho nó, và chỉ có thế. Bán thiết bị cho nó là lợi hơn? Hay là không bán thiết bị, mà bán sản phẩm được sản phẩm bằng thiết bị này? Thường làm cách sau. Chúng tôi, mong củng cố kinh tế các nước anh em và tạo điều kiện nâng cao mức sống người dân nước họ chúng, bằng cách cung cấp thiết bị, và nguyên cả nhà máy. Ít thứ, thiết bị cung cấp theo giá ưu đãi. Chẳng hạn, tư bản cho vay tín dụng 5-7% một năm, còn chúng tôi cho vay 2,5% hoặc 2%. Đây là ưu đãi lớn. Vì thế chúng tôi có quyền nói, chính chúng tôi giúp đỡ các nước anh em.



Các cuộc thương thuyết với Trung Quốc, được kết thúc bằng ký kết một thoả thuận về quy chế Lữ Thuận. Ở đây vị trí của chúng tôi là hoàn toàn được xác định đúng. Chúng tôi xuất phát xuất phát cảng Lữ Thuận - lãnh thổ Trung Quốc có từ lâu, còn chúng tôi sẽ ở đó đến khi nào điều này đáp ứng lợi ích của nước CHND Trung Hoa, cũng như của Liên Xô. Lực lượng của chúng tôi nhằm chống quân thù chung, trước đây và đã thất bại - Nhật Bản. Thời điểm tình hình mới phức tạp, khi tăng mối đe doạ từ phía Mỹ, tiến hành chiến tranh chống chính quyền nhân dân ở miền nam Trung Quốc và vì thế có thể đe doạ CHND Trung Hoa từ phía Nhật Bản.



Trước đây chúng tôi tốn nhiều sức lực và phương tiện, tiền bạc để tiến hành các biện pháp thích đáng của pháo đài cảng Lữ Thuận, vũ trang cảng này và ở đó duy trì ở đó quân phòng vệ khá mạnh. Tất cả cái đó về sau này chúng tôi trao lại cho Trung Quốc. Ngoài ra, chúng tôi cũng từ bỏ quyền của mình đối với đường sắt ở Mãn Châu. Theo tôi, quyết định như thế là đúng: chúng tôi không muốn đẻ ra xung đột, không muốn có chủ quyền trên đất của một quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Và chúng tôi kết thúc cuộc sống vấn đề này, bằng cách trao nó cho Trung Quốc. Nhưng, hình như sự kiện này không hoàn toàn làm thoã mãn họ. Mao muốn nhiều hơn.



Sau khi Stalin chết chúng tôi huỷ bỏ tất cả các thoả thuận không bình đẳng, cũng như hội hỗn hợp khai thác Tân Cương, thoả thuận việc trả Trung Quốc cảng Lữ Thuận và rút quân chúng tôi về. Vấn đề trao trả cảng Lữ Thuận cũng phải tiến hành các cuộc thương thuyết sơ bộ mất nhiều thời gian. Quyết định bị chậm không phải do chúng tôi, mà từ phía Trung Quốc, mặc dù chúng tôi hiểu rõ điều này. Trung Quốc sợ Mỹ, trong khi chiến tranh xảy ra ở Triều Tiên. Người Mỹ có những cách làm lợi cho Nam Triều Tiên, và ở Bắc Kinh phát sinh sợ hãi: liệu Mỹ có thực hiện những hành ssộng xâm lược chống Trung Quốc? Quân đội Mỹ ở Nam Triều Tiên khá đông, vì thế việc trao trả cảng Lữ Thuận trong năm ấy người Trung Quốc không những không đẩy mạnh, mà còn làm chậm đi.



Năm 1954, Đoàn đại biểu Đảng, chính phủ Liên Xô đến Bắc Kinh. Theo quyết định của BCHTƯ ĐCSLX và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tôi dẫn đầu đoàn. Thành phần Đoàn đại biểu khá đông và có những người đại diện: Bulganin, Mikoian, Svernik, Furseva, Selepin, Nasridinova, và những nhân vật khác. Ngày khởi hành Đoàn đại biểu trùng với lễ kỷ niệm thắng lợi cách mạng nhân dân và thành lập chính quyền của những người lao động ở Trung Quốc - ngày 1 tháng Mười. Và thế là chúng tôi đến Trung Quốc. Họ gặp chúng tôi rất mừng rỡ. Và chúng tôi rất sung sướng đặt chân lên đất Trung Quốc, gặp và nói chuyện với những người lãnh đạo nhân dân của họ. Đến Bắc Kinh chúng tôi không có với đặc biệt, ngoài vấn đề phòng thủ chung. Để đảm bảo phòng thủ, phải tạo điều kiện phát triển kinh tế, đặc biệt công nghiệp ở Trung Quốc. Chúng tôi chỉ có một yêu cầu đối với Chính phủ Trung Quốc. Chúng tôi cho rằng công việc phải có lợi ích qua lại và ở mức độ nào đấy là sự giúp đỡ Trung Quốc. Ở đó còn nhiều người thất nghiệp thất nghiệp, chúng tôi muốn công nhân Trung Quốc đi khai thác tài nguyên ở Siberi, trước tiên là khai thác gỗ.



Chính xác tôi không nhớ bây giờ, bao nhiêu người mà nói. Chúng tôi cần khoảng một triệu người, có thể như thế hoặc hơn. Đòi hỏi chung là như thế, tuỳ theo yêu cầu từng Bộ. Cũng có ý kiến rằng chúng tôi hiện thiếu lực lượng lao động. Quan điểm này có vẻ không đúng và sau này được xem xét lại. Rõ ràng là chúng thôi đủ lực lượng lao động, thậm chí còn thừa. Đơn giản chúng tôi sử dụng kém lực lượng lao động, vì thế biểu lộ một cái gì đó tựa như thiếu. Như vậy sự thiếu là chỉ ở Siberi. Điều này cũng dễ hiểu. Để khái phá Siberi, phải lôi cuốn những công nhân vùng châu Âu của Liên Xô, vì rằng ở Siberi mật độ dân rất thấp. Tôi làm chậm lại vấn đề này để cho thấy rằng Mao đã phản ứng như thế nào đối với yêu cầu của chúng tôi.



Chúng tôi để uống trà thường lệ. Tại Trung Quốc tôi không nhận thấy sự lạm dụng rượu. Thậm chí khi chúng tôi ngồi ăn, thì chỉ uống rượu vang có chừng mực và không có bất kỳ sự cưỡng bức, còn ở chỗ Stalin, khi mọi người uống không phải tuỳ ý, còn Stalin muốn rót chất độc vào cơ thể mình. Mao về mặt này khác hẳn của Stalin, và tôi không thể nói rằng ông nghiện ngập rượu. Người ta uống nói chung là trà. Trong thời gian họp, người ta mang đến một cái cốc to, đậy nắp (theo truyền thống Trung Quốc). Ngay khi anh vừa uống xong, người ta lại mang tiếp. Nếu không kịp uống, người thu dọn ngay trà và mang ra một cốc mới. Sau một thời gian - lại như thế. Cứ từng chu kỳ, họ mang đến một chiếc khăn mặt bông được hấp nóng. Người Trung Quốc lau mặt và đầu bằng chiếc khăn này, và họ tỉnh táo.



Chúng tôi không quen cách thức như thế, nhưng dùng nó để biểu thị kính trọng chủ nhà.



Người ta phục vụ trà trong một lượng lớn như vậy! Bulganin thích trà và tận tâm thực hiện nghi thức, rằng sau bị mất ngủ. Bác sỹ khám ông và hỏi:



- Ông uống trà xanh phải không? Nhiều không?



- Đúng, nhiều.



- Nếu ông còn tiếp tục uống nó theo lượng như thế, thì ông sẽ khó ngủ đấy. Ông phải giảm việc uống trà đi. Trà chứa chất ta-nanh, làm người ta mất ngủ.



Bulganin chấm dứt uống trà và lại trở lại bình thường, như ông nói với tôi.



Mao phản ứng như thế nào về yêu cầu sức lao động? Cần phải biết Mao! Ông đi lại bình tĩnh, chậm chạp, tựa như một con gấu, khệnh khạng. Ông liếc tôi, cụp mắt xuống, lại nâng mắt lên một cách bình tĩnh, bằng một giọng nhẹ nhàng bắt đầu nói:



- Trung Quốc được mọi người xem như là nguồn dự trữ sức lao động. Mọi người cũng cho rằng chúng tôi có nhiều người thất nghiệp, rằng chúng tôi là nước kém phát triển, và vì thế Trung Quốc có thể lôi cuốn tất cả những người chưa có nghề, coi sức lao động rẻ mạt. Nhưng tại Trung Quốc, việc đó được xem như thoá mạ với nhân dân Trung Quốc. Yêu cầu của ông có thể gây ra cho chúng tôi những khó khăn và tạo ra tại Trung Quốc một cái nhìn không đúng trong quan hệ với Liên Xô. Người ta cho rằng Liên Xô cũng nhìn Trung Quốc như nhà cung cấp sức lao động thô. Các nước tư bản phương Tây cũng nhìn chúng tôi như vậy.



Chúng tôi rất khó chịu khi nghe điều này, đặc biệt sự so sánh như thế. Chúng tôi quan hệ chân thật, tình anh em với Trung Quốc và đến đây, như người ta nói, với tinh thần cởi mở. Nghĩ rằng những đề nghị như thế có lợi cho Trung Quốc, Mao có được tạm thời được cứu thoát khỏi những cái họng thừa. Chính người Trung Quốc có thể bán sức lao động đổi lấy bánh mỳ, như thế, điều này là có lợi cả cho những người làm việc ở chỗ chúng tôi, và Trung Quốc, vì rằng ông cũng sẽ nhận khoản tiền nào đấy làm công ở Siberi. Chúng tôi thoả thuận rằng, tôi dẫn dắt các cuộc thương thuyết từ phía Đoàn đại biểu xô viết. Vì thế tôi và trả lời:



- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi không muốn tạo ra khó khăn cho ông. Chúng tôi cho rằng yêu cầu này có cả lợi quyền lợi của ông. Nếu ông gây khó khăn cho chúng tôi, thì chúng tôi cũng không nài ép yêu cầu của mình và trả giá bằng sức lực của mình.



Cuộc đàm phán kết thúc. Sau cuộc họp, chúng tôi vào dinh thự của mình và quyết định: nếu mà yêu cầu của chúng tôi gây khó khăn cho các đồng chí Trung Quốc, thì chúng tôi cần khăng khăng nữa, tự chúng tôi, bằng nội lực sẽ giải quyết nhiệm vụ khai thác tài nguyên ở Siberi. Như thế, chúng tôi không đặt vấn đề và không trở lại vấn đề này nữa. Nhưng sau chuyến đi Trung Quốc, chúng tôi quay về Bắc Kinh, thì phía Trung Quốc yêu cầu “các ông đừng đặt vấn đề sức lao động”? Chúng tôi giải thích, rằng chúng tôi từ bỏ yêu cầu của mình khi nhận được câu trả lời như thế từ đồng chí Mao Trạch Đông. Lúc ấy Bắc Kinh yêu cầu chúng tôi một cách chính thức, bằng cách tuyên bố rằng phía Trung Quốc bày tỏ suy nghĩ của mình, nhưng tuy nhiên, với quan điểm sự cần thiết của Liên Xô, sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi. Nếu Trung Quốc thể hiện sự khởi xướng, chúng tôi đồng ý nối lại các cuộc thương thuyết và ký một hợp đồng tương ứng, có chữ ký cả hai bên. Trong đó ghi rõ khối lượng sức lao động từ Trung Quốc và điều kiện trả tiền. Chúng tôi đến ký hợp đồng vì rằng trước đây chính chúng tôi Khởi xướng, còn bây giờ Bắc Kinh đặt vấn đề này. Chúng tôi không tiện đưa ra những lời giải thích nào đó có thể làm xấu mối quan hệ của chúng tôi.



Chúng tôi quy định trong thời kỳ đầu nhận 200 nghìn người lao động và người Trung Quốc đến chúng tôi. Tuy nhiên từ những cuộc nói chuyện được tiến hành ở Bắc Kinh, đặc biệt liên quan đến việc cung cấp, vấn đề về sự thu hút sức lao động từ Trung Quốc đến Sibiri chúng tôi hiểu rằng chúng tôi phí công như thế. Chúng tôi chẳng bao lâu nghe một bài học chung về lịch sử Trung Quốc, cả về Chingiskhan và những người xâm chiếm khác, từng đến Trung Quốc; dân tộc Trung Quốc, dân tộc đồng hoá tất cả những người xâm chiếm Trung Quốc. Rất nhiều điều đã nêu về sự lấn át của dân tộc Trung Quốc so sánh với các dân tộc khác. Điều này, chính Mao kể cho chúng tôi, làm rất đáng nghe, nhưng chúng tôi đã rút ra kết luận Mao thuộc về những dân tộc khác một cách trịch thượng. Tôi có ý nghĩ rằng trong sự phát triển lâu dài mối quan hệ Trung Quốc với Liên Xô có thể gặp khó khăn; Mao được trời phú cho tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và coi người Trung Quốc là đứng trên các dân tộc khác.



Chúng tôi cũng nhận xét tư chất riêng của Mao, что ông không coi người khác bình đẳng với mình; nghĩa là, có thể kết bạn chỉ với những ai thừa nhận sự lấn át và của ông và bị ông điều khiển không phải theo luật pháp, mà là tư tưởng hiểu vấn đề đứng trước đất nước và trước Đảng. Tôi cảm thấy rằng Mao không có khả năng cam chịu những điều kiện cần có để để làm lành mạnh mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa, khi mỗi nước và mỗi Đảng cầm quyền chiếm vị trí bình đẳng. Nhưng ông tham vọng bá quyền trong phong trào cộng sản thế giới!



Sau khi quay về Liên Xô chúng tôi trao đổi thẳng thắn những suy nghĩ về vấn đề này trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCSLX. Thông báo của chúng tôi gây ra sự báo động. Là trưởng đoàn, tôi đọc báo cáo. Ý kiến của tôi dẫn đến là trong mối quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc tiềm ẩn những nguy hiểm, còn nguyên nhân là - sự kiêu căng, mà Mao thể hiện khi đánh giá vai trò Trung Quốc trong lịch sử thế giới và vai trò riêng lịch sử nhân dân Trung Quốc và phong trào cộng sản. Việc đi tới những kế hoạch đầu tiên của cá nhân riêng đe doạ sự va chạm giữa các nước chúng ta, và có thể thậm chí và lớn hơn sự va chạm. Vì thế (tất cả đều đồng ý với tôi) chúng tôi cần phải làm tất cả để không xảy ra điều này và xây dựng những mối quan hệ của mình như thế, để không gây ra không những một sự nghi ngờ nào đấy, mà còn, nói chung, không не nuôi dưỡng, trực khuẩn dân tộc chủ nghĩa tiêu cực, trong cơ thể Mao. Chúng tôi quyết định làm hết sức mình để không phá vỡ quan hệ hữu nghị Trung Quốc với Liên Xô và làm tất cả mọi điều có thể để củng cố chúng.



Tuy nhiên, cá nhân tôi cũng có ý kiến khó làm được điều này hoặc thậm chí không thể làm được, vì rằng Mao không đồng ý chiếm vị trí ngang bằng người khác trong sự lãnh đạo tập thể phong trào cộng sản thế giới và đòi hỏi phải công nhận sự bá quyền của mình. Vấn đề như thế không thể thoả thuận được. Lúc ấy tất cả phụ thuộc vào tư chất cá nhân, liên quan đến bản thân một người lãnh đạo nào đấy, theo hướng ông đề nghị áp lực của mình. Nếu đạt được không phải là sự tuân lệnh vật lý, mà sự khẳng định vị trí lãnh đạo bằng cách xuất hiện sự hiểu biết lớn hơn của con đường lịch sử và phát triển chính trị, được làm bởi tập thể các ĐCS, đó là vấn đề khác! Nhưng không, tôi cảm thấy rằng Mao vô điều kiện tự xác định mình là lãnh tụ phong trào cộng sản thế giới. Nhưng điều này là nguy hiểm.



Những cuộc hội đàm khác ở Bắc Kinh liên quan trực tiếp vấn đề phong trào cộng sản thế giới. Chúng tôi cho là có ích thực hiện “phân công lao động” nào đấy liên quan với các ĐCS các nước không phải xã hội chủ nghĩa. Bởi vì ĐCS Trung Quốc đạt được thắng lợi ở Trung Quốc, nên chúng tôi cho là, tốt nhất, chính ĐCS Trung Quốc đặt ra mối liên lạc chặt chẽ hơn với các ĐCS anh em các nước châu Á và châu Phi. Ngoài ra, theo mức độ phát triển công nghiệpи và mức sống dân chúng Trung Quốc đứng gần nhân dân các nước ấy, như Ấn Độ, Pakistan. Indonesia. Chúng tôi có quyền đứng đầu những nước này. Chúng tôi cũng muốn thắt chặt mối liên lạc với các ĐCS phương Tây, trước tiên là các Đảng ở châu Âu và ở Mỹ.



Khi chúng tôi nêu ra những suy nghĩ này cho các đồng chí Trung Quốc, Mao phản đối:



- Không, điều này không thể được. Trong phong trào cộng sản, vai trò lãnh đạo cần phải thuộc về ĐCS Liên Xô. Họ giàu kinh nghiệm, họ có Lenin, trong ĐCSLX có những cán bộ, hiểu biết sâu sắc học thuyết Mác-Lenin, còn chúng tôi thiếu Liên Xô không cách nào có thể nhận được việc lớn như thế. Chúng tôi tự mình nhìn vào Liên Xô, học họ. Cần phải có một Trung tâm lãnh đạo duy nhất, ở Moskva.



Nhưng khi tôi nghe những chứng cớ của Mao về việc những lời công nhận vai trò lãnh đạo của Liên Xô và ĐCSLX, thì tôi không thể tách khỏi ý nghĩ rằng tất cả điều này đều trên lòi nói. Còn Mao suy nghĩ hoàn toàn khác, chuẩn bị một mảnh đất riêng cho mình. Điều này tôi rất đau lòng, tôi cảm thấy rằng có một lúc nào đó đến thời điểm rạn nứt, có thể lớn hơn sự rạn nứt, giữa các Đảng của chúng ta, giữa các nước chúng ta. Một lần nữa tôi tuyên bố: điều này đối với tôi là một sự đau lòng. Nhưng chúng tôi không thể cất rúc đầu vào cát, như đà điểu, mà nhìn sự nguy hiểm như thế chĩa thẳng mặt, nhưng mặt khác, chúng tôi cho bản thân một lời làm tất cả để чтобы triệt tiêu những mầm mống như thế, loại bỏ chúng và đạt được, quan hệ hữu nghị tốt nhất giữa các Đảng chúng ta, giữa các nước chúng ta.



Khi quay về Liên Xô, chúng tôi quyết định nghiên cứu sâu hơn những khả năng riêng. Sau khi Stalin chết chúng tôi cảm thấy trách nhiệm lớn lao vì số phận đất nước. Trách nhiệm này buộc chúng tôi đi sâu vào những vấn đề kinh tế, đặc biệt là những vấn đề kế hoạch hoá. Chúng tôi tin rằng ý kiến về sự thiếu sức lao động ở nước ta là sai lầm: ở Liên Xô thậm chí có thừa sức lao động, đơn giản là sử dụng chúng không đúng. Vì thế đối với chúng tôi, phải tách ra sự cần thiết về mặt số lượng công nhân, mà chúng tôi chúng tôi đề nghị với Trung Quốc. Đến lượt Trung Quốc, họ tới chúng tôi, và chúng tôi không Khởi xướng trong vấn đề này. Tỏ ra rằng bước ngoặt như thế cần phải làm hài lòng Bắc Kinh và những quan điểm của Mao mà ông đã nói cho chúng tôi. Không phải thế! Chính Trung Quốc nhắc chúng tôi “Các ông, bảo là, ký hợp đồng, còn công nhân thì các ông không nhận? Chúng tôi sẵn sàng sự giúp đỡ anh em cho các ông”.



Chúng tôi giải thích cho họ tình thế sự việc, còn khi gặp Mao, xin lỗi rằng chúng tôi trước đây đánh giá cao nhu cầu của mình trong việc nhận sức lao động, mà bây giờ chúng tôi không đòi hỏi một lượng như thế. Kết thúc thiên hùng ca kết thúc như thế này: sau khi kết thúc hiệp định với công nhân, họ quay về nước, còn chúng tôi không khôi phục số lượng của họ trước đây trè vào những người mới sang từ Trung Quốc. Dần dần bên chúng tôi có một ý kiến rằng như vậy người Trung Quốc muốn thâm nhập vào Viễn đông. Một lần nữa tôi phải nhớ về cử chỉ đáng lưu tâm của Mao: ban đầu ông nói rằng đề nghị của chúng tôi là thoá mạ đối với nhân dân Trung Quốc, còn sau đó chính ông bắt đầu vật nài để chúng tôi nhận nhiều hơn người của họ, còn nếu cần thiết, thì họ sẽ cho thêm.



Có ý kiến rằng Bắc Kinh muốn di dân sang chúng tôi nhiều người hơn để “tỏ ra sự giúp đỡ” khai thác tài nguyên ở Siberi, qua đó thâm nhập vào kinh tế Siberi và đồng hoá người Nga có một lượng nhỏ ở đấy. Do đó, Sibiri về mặt sắc tộc trở thành Trung Quốc. Sau này những mối quan hệ chúng tôi bị phá vỡ, họ đi đến giới hạn cuối cùng, vì Trung Quốc thời ấy có những khiếu nại về vùng Viễn đông. Trực tiếp thì họ không phát biểu. Nhưng ngụ ý nói là Trung Quốc có cơ sở không nhỏ hơn Liên Xô trong việc yêu sách vùng Sibiri. Điều này rút ra từ quan điểm biên giới Xô-Trung, từ những lời phát biểu của họ trên báo chí, từ những nói chuyện giữa chúng tôi và Trung Quốc ở mức cao, và cả ở quần chúng.



Như thế xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên sự bất đồng của chúng tôi và báo động đầu tiên trong mối quan hệ với Trung Quốc. Trong thời ngắn dấu hiệu này thể hiện chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc vượt quá thành chủ nghĩa dân tộc điên cuồng, xâm lược, đi kèm sự tôn sùng Mao. Cuộc sống, chúng tôi đáng tiếc, xác nhận sự nguy hiểm trước đây.



Tại một trong những cuộc gặp gỡ, chúng tôi đặt vấn đề rút những người xô viết khỏi cảng Lữ Thuận. Chúng tôi muốn, khi ấy, trao lại cho Trung Quốc tất cả sở hữu bất động sản, trừ những vũ khí hạng nặng mà chúng tôi vừa mới lắp đặt. Mao phản đối: có đáng phải làm điều này bây giờ không? Họ sợ rằng Mỹ có thể tận dụng việc rút quân của chúng tôi khỏi cảng Lữ Thuận và tấn công tấn công khu vực này. Tôi bày tỏ suy nghĩ của chúng tôi:



- Đồng chí Mao Trạch Đông Tôi nghi ngờ người Mỹ sẽ làm điều này. Hơn thế, tôi tin rằng họ không làm điều đó. Sự thật không thể có sự cam đoan nào cả, vì rằng Mỹ đang tiến hành một chính sách xâm lược, vừa mới kết thúc chiến tranh ở Triều Tiên. Tuy nhiên chúng tôi rút quân về Vladivostok. Nếu cuộc tấn công của kẻ thù xảy ra, chúng tôi, tất nhiên đến sự giúp đỡ ông.



Cuối cùng Mao đồng ý:



- Thôi được, nếu ông cho rằng Mỹ không tấn công tôi không, chúng tôi không phản đối chống ông rút quân.



Chúng tôi thoả thuận như thế và uỷ quyền cho các đại diện chúng tôi tiến hành thảo thoả thuận về việc rút quân đội xô viết khỏi cảng Lữ Thuận. Sau một thời gian (mà chúng tôi thường gặp nhau) Chu Ân Lai lại đặt vấn đề này:



- Chúng tôi muốn ông để lại pháo cho cảng Lữ Thuận.



Chúng tôi đồng ý để lại cho họ, nhưng phải trả tiền. Chu Ân Lai vật nài rằng Trung Quốc muốn nhận vũ khí không mất tiền. Đó là một vấn đề không dễ chịu, câu trả lời đối với tôi không hoàn toàn dễ dàng, nhưng tôi buộc phải trả lời:



- Tôi xin lỗi, tôi muốn ông hiểu đúng tôi. Những vũ khí này rất đắt, và chúng tôi bán cho ông theo giá hạ, để vũ khí này được chuyển cho ông trong điều kiện mà chúng tôi đề nghị. Chúng tôi còn chưa hồi phục lại sau cuộc chiến tranh tai hại với Đức. Nền kinh tế chúng tôi điêu tàn, nhân dân sống khổ. Vì thế chúng tôi đề nghị các ông đừng nài nỉ nữa và đồng ý với chúng tôi. Hãy hiểu đúng chúng tôi!



Cuộc đàm phán kết thúc. Bắc Kinh không vật nài nữa.



Tôi nhớ, tôi không ghé nhìn tài liệu. Vì thế những chi tiết có thể không hoàn toàn đúng, nhưng những độ chính xác chung những sự kiện đưa ra thì tôi nắm được. Người Trung Quốc đặt cả vấn đề về xây dựng đường sắt và tuyên bố rằng con đường đến họ qua Ulan-Bator không có lợi nhiều đối với họ. Lúc ấy, tôi bây giờ tôi không hiểu hết, vì sao. Trước đây chúng tôi chở hàng đến Bắc Kinh qua Viễn đông, con đường qua Ulan-Bator ngắn hơn nhiều. Nhưng Trung Quốc trực tiếp tuyên bố rằng họ muốn có một con đường xuyên qua các khu vực nơi có nhiều khoáng sản, và chạy thẳng đến biên giới chúng tôi gần vùng Alma-Ata. Chúng tôi không phản đối: nếu điều này có lợi cho các ông, thì chúng tôi sẽ làm từ phía của mình để đảm bảo làm con đường như thế. Sau đó một Uỷ ban có trách nhiệm làm việc. Thoả thuận, Trung Quốc, bằng sức mình sẽ khai phá đường trên lãnh thổ của mình đến biên giới chúng tôi, còn chúng tôi trên lãnh thổ của mình lãnh thổ của mình cũng làm đường tới biên giới với Trung Quốc trong vùng Alma-Ata.



Bắt đầu xây dựng. Người Trung Quốc đến từ phía mình, còn chúng tôi cũng từ phía mình. Bên chúng tôi có một đoạn đường ngắn hơn, địa hình không đến nỗi nặng, cán bộ máy móc mạnh hơn. Vì thế chúng tôi đến biên giới nhanh hơn, còn Trung Quốc khi ấy hãy còn cách xa không nhìn thấy. Sau đó đại diện của họ đến gặp chúng tôi, họ đã bắt đầu công việc một cách cụ thể và khoan khoái, như người ta nói, từ chính thành quả của mình - nhận thấy sự khai phá con đường và cảm thấy, cũng là việc xương xẩu, gặm nó phải có răng sắc. Lúc đó họ mới đặt vấn đề qua Chu Ân Lai. Tất cả những vấn đề chẳng mấy dễ chịu thì họ thường trao cho Chu Ân Lai. Thứ nhất, ông là thủ tướng; thứ hai, ông biết ngoại giao hơn.



Chu Ân Lai hỏi:



- Ông nghĩ sao nếu các ông nhận khai phá đoạn đường sắt cả trên lãnh thổ chúng tôi?



Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi, tuy nhiên, lập tức hiểu, cái này nghĩa là gì. Cái này phải trả giá bao nhiêu, chúng tôi không biết. Chúng tôi cho rằng chắc là rất đắt. Đường chạy qua núi, khe, hẻm núi. Ở đó phải xay bao nhiêu cầu, bao nhiêu hầm, và không kể hết! Đó là rất tốn kém. Nghĩa vụ khó khăn trả lời vấn đề thế này cho phía bạn lại được trao cho tôi. Và tôi nói tôi rất xin lỗi, nhưng bây giờ vấn đề như thế này không còn sức nữa. Thậm chí nhiệm vụ của mình chúng tôi giải quyết với sự căng thẳng rất lớn và nhận về mình trách nhiệm làm đường sắt trên đất Trung Quốc đơn giản là không thể. Ngụ ý, việc xây dựng cần phải tiến hành không những bởi sức lực của chúng tôi, mà còn bằng tiền của chúng tôi, như thế, vấn đề ấy tách ra.



Hình như việc chúng tôi quyết định từ chối những vấn đề mà họ ném cho chúng tôi, đã như một tảng đá rơi xuống chiếc cân tình hữu nghị của chúng tôi Phát sinh những khó khăn làm căng thẳng mối quan hệ chúng tôi.



Tuy nhiên tình hữu nghịlà tình hữu nghị, còn công việc là công việc. Mỗi chính phủ và mỗi người đại diện của Chính phủ cần phải phục vụ cho đất nước mình. Vì thế những sự cố tương tự, về nguyên tắc, không làm xấu đi mối quan hệ giữa các nước. Vâng, và không phải trong kết luận này, nguyên nhân chính sự va chạm, nhưng điều này cuối cùng cũng tạo điều kiện làm xấu mối quan hệ.



Bây giờ về việc Trung Quốc phản ứng quyết định Đại hội 20 ĐCSLX, phanh phui sự lạm quyền của Stalin. Dẫn đầu đoàn ĐCS Trung Quốc tại Đại hội 20 là Lưu Thiếu Kỳ và, hình như, Chu Ân Lai. Họ hiểu cái cách chúng tôi lãnh đạo, và ủng hộ chúng tôi с. Ngay sau Đại hội Mao và những người lãnh đạo Trung Quốc nhiều lần phát biểu ủng hộ cách giải quyết của Đại hội, và thời gian đầu chúng tôi với Trung Quốc tiếp tục giữ mối quan hệ tốt dù rằng chúng tôi vạch trần những tội ác, mà Stalin thực hiện. Bấy giờ Mao đồng ý, ông phân tích quyết định Đại hội 20 và nhận về mình những việc của Stalin để vũ trang. Cái phương pháp, mà Mao bây giờ sử dụng để trấn áp những người sự đối lập, không có cái gì chung với chuyên chính vô sản. Đây là độc tài cá nhân. Trong thời gian Stalin cầm quyền, khi đó ông giết các uỷ viên BCHTƯ Đảng, những người lãnh đạo đảng trung ương, vùng, khu vực, thành phố, cơ sở Đảng ở nhà máy và hàng loạt những người cộng sản.



Tôi không nhắc lại những sự va chạm như thế, xảy ra trong những quan hệ với Trung Quốc trong những năm tôi làm việc. Mối quan hệ tương hỗ của chúng tôi ít nhiều tốt đẹp cả với các ĐCS các nước khác. Và tôi thậm chí nói họ chút nào nồng ấm hơn, vì rằng Trung Quốc vẫn còn là một quốc gia kỳ dị, buồn bực bởi chủ nghĩa đế quốc trước đây, và với họ phát sinh mối quan hệ yêu mến, cả với nhân dân, và cả với những người lãnh đạo của nó. Sự làm xấy mối quan hệ tăng dần dần. Nhưng điều này cảm nhận được.



Bắt đầu cuộc chiến Trung Đông. Anh, Pháp và Israel triển khai chiến tranh chống Ai Cập. Sự xâm lược của họ trùng với sự kiện đáng buồn­ ở Hungary. Trong quốc tế tình hìnhе phức tạp như thế, trong chúng tôi nảy ra đòi hỏi phải tiếp xúc chặt chẽ hơn nữa với Trung Quốc. Và chúng tôi yêu cầu Bắc Kinh có một ai đấy trong số lãnh đạo Trung Quốc đến Moskva. Chúng tôi muốn được tư vấn và xây dựng đường lối chung trong những mối quan hệ với Ba Lan và Hungary.



Tại Hungary, sự kiện phát triển vũ bão, bắt đầu sự trấn áp những người cộng sản, bắn, treo cổ họ, đả kích các Uỷ ban của Đảng. Rakosi đề nghị chúng tôi giúp đỡ ông chạy khỏi nước. Chúng tôi gửi máy bay cho ông, và ông bay tới Liên Xô. Sau loại bỏ Rakosi khỏi ban lãnh đạo, người đứng đầu những người cộng sản Hungary là Gere. Chúng tôi đã tin ông, ông là một người cộng sản tốt và là người bạn của chúng tôi. Nhưng chẳng ai nghe Gere cả, tất cả mọi người lãnh đạo đất nước đều theo Imre Nade. Nade vì một lý do gì đấy rất thù địch với Liên Xô, mặc dù ông đã sống lưu vong và làm việc trong Quốc tế cộng sản. Rakosi giải thích cho chúng tôi rằng Imre Nade luôn luôn giữ vị trí cực hữu trong Đảng, mặc dù được coi là một người cộng sản và cũng có chân trong ban lãnh đạo ĐCS Hungary và sau này là Đảng công nhân Hungary.



Đồng chí Lưu Thiếu Kỳ đến Liên Xô. Hình như, tham gia Đoàn đại biểu Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Khang Sinh. Hiện nay Đặng Tiểu Bình đang bị thất sủng, và tôi không biết gì về số phận của ông, còn Khang Sinh với chúng tôi có quan hệ rất xấu, trong ban lãnh đạo Trung Quốc ông là người có tư tưởng thù địch lớn nhất trong quan hệ Liên Xô và ĐCSLX. Lưu Thiếu Kỳ là người dễ chịu, với ông có thể theo tình người xem xét các vấn đề và giải quyết chúng. Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng uỷ quyền tôi tiến hành các cuộc thương thuyết. Đoàn đại biểu chúng tôi có cả Ponomarev. Chúng tôi tiến hành hội đàm suốt đêm, bàn luận những biến cố, xem xét những phương án, suy nghĩ rằng những cái phải thực hiện?



Vấn đề trở nên gay gắt: chúng tôi phải thực hiện hay không thực hiện ở Hungary một hành động quân sự hoặc không? Nếu không, dựa trên cơ sở nào, vì bọn phản cách mạng sẽ làm om xòm, nhiều người lưu vong từ Viên quay về Budapest và giành lấy sự lãnh đạo đất nước vào tay mình. Ở ngay Budapestе, trong thời gian này, có Mikoian và Suslov. Họ báo cho chúng tôi rằng ở đáy xảy ra bắn nhau, triển khai giao chiến. Tại các vùng khác của đất nước không quan sát được, ở đấy là yên hơn và không thể hiện đặc biệt gì sự thù địch trong quan hệ Liên Xô và những người lãnh đạo cộng sản Hungary.



Cùng với Lưu Thiếu Kỳ xem xét tình hình xảy ra, khá phức tạp ở Hungary, chúng tôi cảm thấy sự tín nhiệm tuyệt đối lẫn nhau: Đoàn đại biểu này tới đoàn khác, từ Đảng này đến Đảng khác. Chúng tôi trong quá trình hội đàm đi đến điều này điều khác, cách giải quyết này, cách giải quyết khác, thay đổi chúng đôi lần trong đêm. Lưu bấy giờ chưa bị gắn với Mao, ông đưa lại cho Mao những quan điểm của chúng tôi. Và, theo thường lệ, chúng tôi nhận sự đồng thuận với quan điểm như thế. Dù rằng quan điểm bị thay đổi, Mao cũng không đồng ý với cách giải quyết, mà chúng tôi thảo ra, đề nghị, khi hội đàm, nếu có thể nói như thế, đó là một hội đồng hỗn hợp Xô-Trung về vấn đề Hungary. Chúng tôi kết thúc trong đên, quyết định không dùng vũ lực ở Hungary và để cho sự kiện tự phát triển. Chúng tôi muốn tin rằng lực lượng bên trong là đủ mạnh để nắm lấy bên trên, phục hồi trật tự và không cho phép bọn phản cách mạng cướp chính quyền. Trong một đêm thay đổi ý kiến đôi lần: khi thì Liên Xô, khi thì rung Quốc đề nghị dùng quân đội phía kia - ngược lại. Tuy nhiên, cho dù dao động và cãi nhau, mối quan hệ giữa Đoàn đại biểu này và đoàn kia rất tốt, trên cơ sở tin cậy hoàn toàn và chân thật.



Chúng tôi họp ở nhà nghỉ cuối tuần của Stalin, ở Lipka, nơi ở của Đoàn đại biểu Trung Quốc. Họ về nước sáng hôm sau, và quyết định quân đội xô viết không kéo vào Hungary. Và ngay sáng đó chúng tôi nhận được thông báo từ Budapest, bọn phản­ cách mạng bắt đầu tàn sát đúng nghĩa đen: họ treo ngược những người cộng sản, đặc biệt các Chekist và các nhà lãnh đạo Đảng, tiến hành một cuộc trấn áp tàn khốc, dã man trấn áp. Các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng, một lần nữa được đánh thức. Sau đó quyết định dùng vũ lực. Nhưng với Trung Quốc chúng tôi từng thoả thuận là chúng tôi không dùng vữ lực, và Lưu truyền điều này vào Bắc Kinh từ sớm hơn. Liệu một phía là không tốt nếu đã thoả thuận với phía kia mà bây giờ làm ngược lại. Lưu Thiếu Kỳ lẽ ra về Trung Quốc vào chiều ngày hôm đó. Và chúng tôi thoả thuận với Lưu Thiếu Kỳ là chúng tôi đến sân bay sân bay Vnukovo sớm hơn và chúng tôi sẽ tiến hành một cuộc hội đàm chung. Chúng tôi nói rằng chúng tôi muốn quay lại vấn đề, mà chúng tôi đã từng ngồi suốt đêm.



Chúng tôi đến trước, thành phần đày đủ các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ, Đoàn đại biểu Trung Quốc đến sau. Trong một phòng riêng chúng tôi tiến hành hội đàm, giải thích những nguyên nhân thay đổi quan điểm của chúng tôi. Lưu Thiếu Kỳ đồng ý, lối thoát khác, hình như không có, đi đến biện pháp cứng rắn. Ông tin rằng những ĐCS anh em và nhân dân Hungary hiểu được rằng đây là một hành động bắt buộc, vì lợi ích giai cấp công nhân, vì lợi ích của các lực lượng tiến bộ. Thậm chí khó lường được hậu quả có thể do phản cách mạng gây ra ở Hungary.



Đoàn Trung Quốc bay về. Chúng tôi rất hài lòng bởi cuộc đi thăm của họ, không tính đến sự va chạm trong mối quan hệ giữa các Đảng chúng ta. Sau việc lập lại trật tự ở Hungary, Chu Ân Lai bay đến Moskva. Từ đó ông bay đến Warsawa, và Budapest, còn sau đó, theo tôi, đến Belgrad. Sau đánh tan cuộc nổi loạn phản cách mạng ở Hungary, những mối quan hệ của chúng tôi với Nam Tư bị xấu đi, mặc dù việc sử dụng vũ lực, các đồng chí Nam Tư đồng chí, đứng đầu là đồng chí Tito, đã hoàn toàn đồng ý với chúng tôi và hoan nghênh hành động như thế. Chúng tôi cùng với Malenkov bay ngay sang gặp Tito và khuyên có nên dùng vũ lực hay không.



Chúng tôi rất hài lòng cuộc đến thăm của Chu Ân Lai. Chúng tôi cũng căng thẳng với Ba Lan, còn với Trung Quốc thì không có. Và chúng tôi xem Trung Quốc là người trung gian tốt bụng có thể làm giảm bớt căng thẳng giữa các ĐCS Liên Xô, Ba Lan, và Hungary. Mặc dù không phải mọi việc bình yên cả với Nam Tư, nhưng chúng tôi cho rằng phải cứ tiếp tục làm xấu quan hệ nữa, tìm kiếm con đường bình thường hoá bình thường hoá chúng và thiết lập mối liên lạc anh em giữa các ĐCS. Chu Ân Lai đến Liên Xô với tâm trạng tốt. Nhưng tôi nói rằng có xuất hiện một ngọn gió lùa nào đấy, tựa như cảm thấy khe hở nào đấy, mà họng súng xuyên qua nó. Có thể đây là kết quả căng thẳng tri giác chúng tôi? Trong đó không xuất hiện cụ thể, đơn giản chúng tôi cảm thấy một làn gió lạnh trong những ngữ điệu. Chu Ân Lai, nói một cách mộc mạc, giờ đây phát biểu sự phân tích của mình một cách tự do hơn hơn là trước đây, khi chúng tôi gặp và thảo luận với ông.



Chúng tôi đi đến điều này với sự hiểu biết. Chính lỗi làm xấu quan hệ với Ba Lan và Hungary nằm ở Stalin, nghĩa là, cũng nằm ở chúng tôi. Stalin đẻ ra những quan hệ như thế, và chúng có một lúc nào đó phải bị chọc thủng, không thể đi qua mà không để lại dấu vết. Giờ đây chúng tôi trả giá cho những việc làm đẫm máu trước đây, ông đã dậy giới lãnh đạo Ba Lan và Hungary. Chúng tôi cần hiểu đúng vị trí của mình, sự kết án phương pháp bạo lực, sự kết án sự xấu xa của Stalin, muốn phục hồi những quan hệ bình thường và anh em và trên cơ sở bình đẳng, muốn xây dựng những quan hệ chúng ta trên cơ sở tôn trọng nhân dân tất cả các nước và sự lãnh đạo các ĐCS của họ.



Những mối quan hệ cần phải được bình thường hoá chính trên cơ sở mới. Vì rằng trước đây Stalin coi mình là một người, có quyền ra lệnh, đặt ra luật lệ trong phong trào cộng sản, mà những người còn lại phải lắc lư đầu, như là những cái mũ, nhìn ông và trong cổ họng chỉ lặp lại:



- Vâng, đúng, tài tình! Hoàn toàn đồng ý!



Lúc đó không cần hơn nữa. Nhưng bây giờ cần phải có những những quan hệ khác. Nếu tạo ra sự bình đẳng, tiếp theo, phải học nghe những nhận xét không dễ chịu, biết xấu hổ với những phương pháp mà Stalin dùng. Tất cả điều này trở nên dễ dàng trên đôi vai chúng tôi. Stalin làm cái gì thì phải chịu cái đó sau khi ông chết.



Trung Quốc đóng vai trò tích cực ở đây. Nhưng chúng tôi tự cảm thấy không hoàn toàn là tốt và thấy, rằng những người lãnh đạo Trung Quốc có khang khác trong các cuộc hội đàm xem xét những vấn đề chung. Nhanh chóng đi đến bình thường hoá quan hệ với Ba Lan. Ở đây xã hội công lao to lớn của đồng chí Gomumka, Sirankevich, Slykhanski và những người khác, nắm quyền lãnh đạo ở Ba Lan. Sau dẹp bọn phản cách mạng ở Hungary ở đó tình hình cũng tương đối nhanh chóng được bình thường hoá. Các đồng chí Hungary có quan điểm lớn với việc dùng lực lượng quân sự chúng tôi để loại bỏ bọn phản cách mạng, vì chính ở đó xuất hiện phản cách mạng ở dạng thuần tuý nhất. Tuy nhiên một số khó khăn đã được ghi nhận trong các Đảng anh em. Một số viên ĐCS Pháp và Italy và một loạt những Đảng viên khác không hiểu bản chất vấn đề và công khai lên án hành động của chúng tôi ở Hungary. Với Nam Tư chúng tôi cũng đạt được tiến bộ trong việc bình thường hoá quan hệ. Cả chúng tôi, cả Nam Tư từ phía mình làm tất cả mọi việc có thể làm đối với việc này.



Xây dựng nhiều hơn và tốt hơn!


Tuổi thơ trẻ tôi chưa hề tham gia việc xây dựng nào. Tuổi thanh niên cũng vậy. Nói chung ở công nhân luyện kim lành nghề nước Nga, quan hệ với xây dựng là hơi được trọng vọng. Quan hệ này hình thành hình như do máy móc xây dựng tương đối thô sơ trước cách mạng. Vôi, đất sét, gạch, xẻng, rìu - là những vật liệu và dụng cụ chính trong việc xây dựng thời đó. Thợ luyện kim theo mức kỹ thuật này, có vẻ tiên tiến hơn. Công việc xây dựng - phận của người nhà quê. Người nhà quê trở thành thợ nề, thợ mộc, thợ bàn ghế. Công việc của thợ mộc được coi là ở thợ xây dựng lành nghề hơn. Nhưng những người làm nhà, xây tường gạch và thực hiện công việc mộc, vẫn như trước đây được coi “nhà quê.



Nhận thức giai cấp ở họ không cao, và họ không hiếm khi bị công nhân lành nghề nhạo báng, hiếm hoặc hầu như không tham gia bãi công và không hiểu họ cần gì. Dù sao chăng nữa, công nhân xây dựng bắt đầu bãi công, xuất hiện chuyện tiếu lâm: Họ tới gặp chủ nhân và nói:



- Ông chủ, chúng tôi sẽ bãi công.



- Vì cái gì?



- Sau khi chúng tôi làm việc.



- Các anh muốn gì?



- chúng tôi muốn hoặc cho thêm ngày làm việc, hoặc rút bớt tiền lương.



Thì ra họ đã nghe, thợ lành nghề đấu tranh về ngày làm việc vàtiền lương, nhưng họ nói ngược lại. Chủ nhân trả lời:



- Các bạn trẻ, cho thêm ngày thì không thể, cái đó phụ thuộc vào Trời, ông ấy cho ngày và đêm. Nhưng bớt tiền lương thì tôi có thể.



- Cám ơn ông chủ!”.



Chuyện đùa như thế kể về những người nhà quê đến thành phố kiếm ăn. Như thường lệ, họ là công nhân theo mùa, và công việc xây dựng cũng theo mùa. Nhưng cũng có chuyện đùa khác, cũng lan truyền trong thời gian này. Một thợ xây dựng ở bên trên đang xây gạch, người thứ hai đi xuống dưới. Người bên trên quát:



- Vanka, lấy vật liệu!



- Vật liệu gì?



- Xô nước.



- Không có, có con bò đến và uống hết rồi.



Trong môi trường vô sản, nơi tuổi thơ tôi trải qua, uy tín lớn nhất chính là nghề thợ kim loại - thợ nguội, thợ tiện, thợ luyện kim. Tôi chọn nghề thợ nguội. Nhưng công việc xây dựng ở mức độ nào đấy gắn vào chỉ sau nội chiến, khi tôi công tác Bí thư Quận uỷ và sau này lãnh đạo Đảng uỷ khu vực. Nước Nga xô viết bắt đầu công việc phục hồi kinh tế. Tôi không đi sâu vào công việc này vì tôi xem nó là thô sơ. Máy móc và vật liệu vẫn còn lại dở dang. Văn hoá và mức kỹ thuật xây dựng tăng chậm.



Theo học tại Học viện công nghiệp, tôi vào khoa luyện kim đen. Sau đó người ta thành lập khoa công nghiệp xây dựng, hiệu trưởng là bolsevich lão thành Kaminski. Cách đây không lâu vợ ông gọi điện cho tôi và chúc mừng ngày sinh của tôi, và cùng nhớ về những năm thôi theo tại Học viện công nghiệp. Kaminski so với chúng tôi khi đó được coi là ông già. Vợ ông chả tội tình gì mà ngồi tù nhiều năm vì là vợ “kẻ thù nhân dân”. Tôi kính trọng cao chồng bà, còn khi tôi được bầu làm Bí thư đảng bộ Học viện công nghiệp, tôi với ông thường gặp nhau về vấn đề học tập giảng dạy. Đây là chuyên ngành, vì rằng sau khi thành lập khoa công nghiệp-xây dựng, BCHTƯ Đảng ra quyết định chuyển các các sinh viên khoa khác về đây- công nghiệp, luyện kim và dệt. Ban đầu người ta hỏi:



- Ai tình nguyện?



Tôi không nhớ số người có nguyện vọng về cũng bằng số người ở các khoa khác. Việc chuyển này theo đường lối của Đảng và tuyên bố chọn thêm.



Khi đó học nghề xây dựng, trong số này có cả tôi: thực tế vẫn như trước đây. Lúc ấy tôi chưa hiểu biết tầm quan trọng của nó. Và chỉ từ năm 1932, tôi công tác Bí thư thứ hai thành uỷ Moskva, thì từ lúc đó và cho đến cuối những hoạt động của mình, tôi hài lòng số phận mà tôi gắn liền nghề xây dựng. Xây cất nhà ở, xí nghiệp, chỉnh đốn kinh tế công cộng, khai phá đường, xây dựng xe điện ngầm Moskva - điều này là sôi nổi và khó khăn đến nỗi nó làm tôi cuốn hút và say mê. Nhưng say mê không phải nghề xây dựng làm tôi say mê, mà là dạng hoạt động mới. Chính là việc trang bị các xí nghiệp mới và tổ chức dịch vụ - đó là thể hiện cụ thể tư tưởng của Lenin xây dựng CNXH. Tư tưởng này không chỉ nằm ở lý thuyết suông. Chủ nghĩa xã hội hấp dẫn là ở chỗ cần cung cấp sự thừa thãi vật chất cho người lao động. Không có vật chất, cũng không có CNXH. Vì thế giai cấp công nhân và là sự thôi thúc chủ chủ lực đấu tranh với xã hội cũ và vì sự xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Việc làm quen cụ thể của tôi với xây dựng khi đó là giải quyết vấn đề tổ chức để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, nhà ở, dịch vụ, trường học, bệnh viện - mỗi người ai cũng cần.



Dạng hoạt động này của tôi phức tạp hơn khi tôi tiếp theo đó thành Bí thư thứ hai thành uỷ Moskva ĐCS(b) toàn Nga, Bí thư thứ hai tỉnh uỷ Moskva. Tại Đại hội 17 ĐCS(b) toàn Nga tôi được bầu là uỷ viên BCHTƯ. Đối với tôi, tham gia công nghiệp hoáи đất nước сtrở thành niềm say mê, đồng thời bằng công việc cụ thể, tôi yêu thích nó và cống hiến tất cả cho nó sức lưkc mình. Ở tôi không có một cuộc sống khác, ngoài công tác Đảng. Tôi quan tâm xây dựng tổ chức Đảng, nhằm mục đích xây dựng CNXH ở Liên Xô. Nhưng nghề xây dựng vẫn còn dựa vào máy móc khá thô thiển. Nếu bây giờ có cần cẩu tháp, khi đó chúng tôi dùng “con dê” - một dụng cụ buộc vào vai, còn trên lưng là tấm gỗ đặt vật liệu xây dựng. Một công việc nặng nhọc. Người khom lưng và tay đỡ dụng cụ, đi từ tầng này đến tầng kia, mang gạch, vôi hoặc vữa. Phương tiện nâng của chúng tôi là như thế. Sau đó chúng tôi làm một dụng cụ nâng: đưa vật liệu lên tầng trên bằng một phương tiện cơ khí sơ sài tựa như tời.



Mặc fù nặng nhọc thế, bản thân công việc cũng lôi cuốn ở chỗ anh lập tức nhìn thấy: một ngôi nhà mới xây xong và cho người ta một căn hộ. Sự thật họ ngay lập tức ở đầy, bởi vì nhà ở xây còn ít. Tiền chủ yếu để xây dựng xí nghiệp công nghiệp. Không có đội ngũ được sinh ra bởi cách mạng tháng Mười, không thể đưngs vững trong vòng vây chủ nghĩa tư bản. Ở Moskva bắt đầu xây dựng một nhà máy sản xuất ô tô lớn, có nhiều thợ phân xưởng; nhà máy vòng bi, “Dầu khí””, “Phay”, nhà máy máy bay (nhà máy №30). Thậm chí không thể tính được tất cả những gì đã đổ ra. Người ta sống điều kiện thiếu thốn, nhưng có nhiệt huyết chấp nhận tham gia xây dựng. Sau đó xây dựng xe điện ngầm. Cái này cũng lôi cuốn tôi. Sau giờ làm, tôi về nhà qua hầm xe điện ngầm và đi làm cũng qua xe điện ngầm, hơn nữa cái chính là tôi được trao theo dõi việc xây dựng này.



Thực tế tôi bị biến thành người lãnh đạo tổ chức chính trị của xí nghiệp “Xây dựng xe điện ngầm” mà không có chức danh trong đó. Sau khi kết thúc đoẹt đầu xây dựng xe điện ngầm, năm 1935 tôi được tặng huân chương đầu tiên trong đời, là huân chương Lenin số thứ tự №110, lúc ấy là một phần thưởngо cao quý nhất. Huân chương này đặt ra năm 1930 và sau năm năm mới chỉ có 109 người được trao tặng. Khi đó người ta hà tiện thưởng huân chương này. Một phần thưởng được coi như vinh dự. Sau đó huân chương Lenin được thưởng tràn lan và nhiều hơn, cái đó làm giảm bớt ý nghĩa của nó. Giảm bớt - không nghĩa là không có giá trị. Không, huân chươnmg này vẫn được đánh giá cao đến cả bây giờ, nhưng khi có nhiều khả năng nhận, nó rạng rỡ không phải vì óng ánh mà đối với những người xung quanh và đối với người được thưởng.



Tôi nhớ, chúng tôi khởi đầu xây dựng nhà máy bánh mỳ ở Moskva. Tại thủ đô chỉ có một số xưởng nhỏ làm bánh, thông thường, ở những tầng dưới bẩn thỉu của những ngôi nhà đầy gián và “những thứ tuyệt đẹ” khác. Người ta nhào bột bằng tay, rất mất vệ sinh và còn những thứ gì nữa chỉ có Trời mới biết... Nếu như mọi người nhìn, bánh mỳ được làm như thế nào, thì ăn mất ngon. Chúng tôi say mêл xây dựng nhà máy bánh mỳ và mua về Moskva một số máy móc ở nước Anh. Sau đó kỹ sư Marsakov thiết kế nhà máy. Trước đây ông làm việc ở “Ngọn cờ đỏ”, nơi chế tạo thiết bị cho nhà máy bánh mỳ. Theo đồ án của ông, cũng xây dựng thiết bị cho nhà máy bánh mỳ №5. Hình như, nhà máy vẫn còn vận hành cho đến bây giờ. Sau đó người ta tặng tên tôi cho nhà máy, và nó mang tên tôi cho tới lúc chúng tôi quyết định ngừng đặt tên các nhà lãnh đạo đất nước và những người hoạt động xã hội-chính trị khi còn đang sống cho các thành phố, xí nghiệp, nông trang và v.v. Đây là đề nghị của tôi.



Tất cả chúng tôi khi đó say mê chỗ nhìn thấy nhà máy bánh mỳ №5. Ở đó tất cả quá trình sản xuất đều tự động: cân đong bột, nước, muối, sau đó khuấy, nhào bột, cắt, định hình bánh. Đặt vào lò, lấy ra khay, chở đến kho cũng được cơ giới hoá. Thời ấy, đã đạt cơ giới hoá cao vượt, mức nhà máy bánh mỳ, mà chúng tôi mua ở Anh Anh. Ít lâu sau, A. М. Gorky từ Ý quay về Liên Xô. Ông thích thú với công việc xây dựng ở Moskva. Chúng tôi và Kaganovich, cùng ông, cùng nhau đi đến các công trường, nhà máy, xí nghiệp. Gorky từng là thợ bánh mỳ và thăm xí nghiệp. Tại nhà máy bánh mỳ №5 ông quan sát lâu, máy tự động bắn ra những chiếc bánh mỳ. Nước mắt ông chảy ra, những giọt nước mắt sung sướng khi nhớ về những gì mà ông chưa khi nào nhìn thấy, và bây giờ điều kiện lao động thay đổi. Còn nhiều thời gian khó khăn để đảm bao vật chất cho những người đã sống bẽa ra bữa cháo, mà vẫn phải làm việc như điên. Không phải là những biểu hiện hoàn toàn ca ngợi, nhưng trong thời gian ấy, điều này được hiểu theo khía cạnh tốt: lao động quên mình, coi thường thu nhập cá nhân, xây dựng, xây dựng và xây dựng cho xã hội, không cần chú ý đến vật chất cho người tham gia xây dựng. Tất cả nhân danh CNXH, cho giai cấp công nhân, cho tương lai! Thời đó - hình mẫu cuộc sống khổ hạnh.



Có lần tôi không muốn so sánh điều kiện sống của công nhân trước và sau cách mạng. Tôi không cần so sánh, mặc dù biết rằng trước cách mạng sống tốt hơn, làm thợ nguội: lương cơ bản 45 rúp, trong khi bánh mỳ đen 2 cô pếc, bánh mỳ trắng - 4 cô pếc, nửa cân mỡ muối - 22 cô pếc, 1 cô pếc một quả trứng, giày chưa đến 7 rúp. So sánh làm gì? Khi tôi làm công tác Đảng ở Moskva, thì không bằng được nửa số vật chất đó, mặc dù có vị trí tương đối cao trong môi trường xã hội-chính trị. Những người khác còn nhận được ít hơn tôi. Nhưng chúng tôi nhìn về tương lai, và óc tưởng tượng của chúng tôi là vô bờ bến, nó thấm vào chúng tôi, gọi lên phía trước, cho cuộc đấu tranh để cái tổ cuộc sống. Đây là khí thế cao thượng, mà chúng tôi sự hào hứng cống hiến hoàn toàn, gần như không có cuộc sống riêng.



Dần dần tôi sâu hơn đi sâu vào nghề xây dựng và được thợ xây dựng công nhận là “người mình”, vì rằng tôi nghiên cứu tương đối nghiêm túc nghề của họ. Một cái gì đó thậm chí bản thân mang những cái mới vì sự tháo vát và làm chủ mức cao về kỹ thuật của công việc thợ nguội. Tôi chơi với các kỹ sư, kiến trúc sư, các nhà thiết kế, đội xây dựng. Tôi đặc biệt say mê xây dựng cầu. Để bắc cầu qua sông Moskva tại thủ đô, chúng tôi quyết định vấn đề vận tải ở mức mong muốn. Đến bây giờ, khi tôi đi qua chỗ đó, tôi nhớ, những giọt mồ hôi sức lực của tôi đổ vào đó. Tôi nhớ rõ phiên họp Plenum BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b), bàn về xây dựng Moskva. Tôi trở thành một trong những người tham gia giải quyết chúng. Lúc đó có ý định xây dựng xe điện ngầm và nước cho Moskva. Nước không đủ. Cần phải biến con sông Moskva chảy qua thành phố thành một đường giao thông và làm sạch các vật cản nó. Đúng là mọi thứ đổ vào sông Moskva. Anh cứ tự hình dung, chỉ toàn những mảnh vụn vật vờ nổi? Tôi và Chủ tịch Mossoviet Bulganin, dể xem con sông, ấy canô cảnh sát và đi vòng quanh dòng chảy của sông quanh thành phố. Sau đó giặt sơ mi của chúng tôi đến mức bốc ra bùn đất bắn lên từ mặt nước. Hình như, ở các lính thuỷ cũng tồn tại những thành ngữ là vàng thì chìm, còn đồ thải thì nổi. Chính nó làm cản trở con sông.



Bắt đầu xây dựng hồ chứa nước đầu tiên - Hồ Istinsk. Lúc ấy nước được coi là xây dựng công nghiệp, làm bằng cách thồ đất. Đến đó, chủ yếu, nông dân Belorussia đem theo ngựa, xẻng và những chiếc xe trên có giỏ. Nó chất đầy đất. Công cụ như thế để chở đất đi. Trong điều kiện hiện đại thì người ta dùng băng truyền hoặc xe ủi, còn khi đó sử dụng mang vác bằng tay hoặc kéo tay. Sau đó khởi đầu xây dựng kênh đào Moskva- Volga, một công trình lớn lúc đó. Nhưng sử dụng chủ yếu là các phương tiện thô sơ, còn người làm chủ yếu là tù nhân. Nếu họ là tù hình sự thì việc này đối với họ ở mức độ nào đấy thậm chí còn là nhân đạo. Họ cảm thấy rằng họ rơi tình thế như vậy và bị kết án trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhìn họ như nhìn vào sản phẩm của xã hội tư bản, và cho rằng họ thuộc những người đầu óc hủ lậu hoặc bệnh hoạn phải được chữa bằng lao động. lao động là phương thuốc chữa chạy cải tạo và thay máu cho họ. Trên kênh đào, tôi quen kỹ sư tuyệt vời Holid. Ông mất từ lâu, ông già hơn tôi nhiều. Holid đã áp dụng một số yếu tố công nghiệp hoá trong xây dựng mà tôi rất thích. Chẳng hạn, ông đưa vào phương pháp vận tải thuỷ. Sau đó nó được sử dụng tương đối rộng rãi, và bây giờ người ta sử dụng nó ở nơi hợp lý và hữu ích.



Khi đó kiến trúc sư trưởng Moskva là Chernysev, tốy bụng, thông minh, nhã nhặn và có văn hoá. Có thể thậm chí khá hiền như là đất. Tôi cũng nhớ kiến trúc sư Alabian, Mordvinov, Susev và Zoltovski. Tôi rất kính trọng Mordvinov những là một cán bộ tốt và đồng chí tốt. Ông vào Đảng theo lý tưởng, mà không phải chạy theo để nhận lợi ích vật chất hoặc háo danh. Gây ấn tượng mạnh cho tôi là Susev và Zoltovski - là hai chú cá voi công trình kiến trúc của chúng tôi. Một số người thích Zoltovski, tôi thích Aleksey Vichtorovich Susev hơn, với ông tôi có những quan hệ quan hệ gần gũi sau này, khi ông về Kiev theo lời mời của tôi, và chúng tôi những cuộc hội đàm bổ ích về xây dựng thủ đô Ukraina. Đó là người rất thông minh, và biết đùa. Nhưng khi ở Moskva chúng tôi xem xét những thiết kế kiến trúc của trạm xe điện ngầm đầu tiên, thì ông là được nhận xét chúng, bởi vì ông không tham gia thi thiết kế. Uy tín của ông rất cao. Zoltovski bị cuốn hút như là cố vấn, cũng không tham gia xử lý thiết kế đường xe điện ngầm đầu tiên.



Tôi nhớ việc tranh luận bản thiết kế của Formin, một kiến trúc sư danh tiếng và một học giả từ Lenigrad. Lúc ấy có hai ngôi sao đụng nhau - Formin và Susev. Susev đến gặp giá chưng bày, nơi đặt bức thiết kế Formin, và bắt đầu cất lời phê bình những câu đại loại như thế này:



- Thiết kế này nói về cái gì nhỉ? Nó được các thợ vẽ làm, nhưng trông như một miếng thịt bò.



Formin ngay lập tức dường như bị bỏng, ông giật mình và xông vào tranh luận. Bây giờ mọi người sử dụng xe điện ngầm Moskva biết ga “Cổng đỏ” được làm từ những mảnh đá cẩm thạch đỏ xẫm, màu sắc của thịt bò ôi. Một miếng đá cẩm thạch như thế đấy. Một số khác ga khác làm bằng đá màu xám hoặc màu trắng điểm vàng. Có cả những tấm đá màu cà chua lấy từ các vùng khác nhau của đất nước. Vật liệu là đẹp, đặc biệt vào lúc ấy. Tất cả được khai thác bằng tay nên giá rất đắt, nhưng chính lẽ ấy xe điện ngầm giới thiệu đối với chúng tôi như chẳng quý lịch sử. Sự sửa sang nói nói chung là tốn.



Khi đó tôi mời các kiến trúc sư về Kiev để tham gia thi thiết kế xây dựng phố Kresatik. Tôi mời Susev làm cố vấn. Lúc đó không có lấy một thiết kế nào ban đầu được nhận để làm cơ sở phục vụ chọn lựa phương án mới xây dựng phố. Kresatik - là phố cổ, diễu binh và đẹp đẽ. Nó nằm ở chỗ dốc, ngày xưa gọi là dốc Kresat, vì rằng hoàng tử nước Nga Vladimir có một thời gian đó đánh đuổi người dân Kiev về Dnepr. Vì thế phố mang tên Kresatik. Sau thảo luận, đến vòng hẹp, các kiến trúc sư Moskva và Kiev hỏi Susev về Kiev. Aleksey Vichtorovich khi đó kể nhiều chuyện hay. Chuyện kể của ông được ghi âm, nhưng bây giờ tôi đánh mất băng rồi, tiếc quá. Susev đúng thật là yêu Kiev, và câu chuyện của ông là sự phản ánh bằng thơ của sự ham thích. Kiev xứng đáng điều này, nó cho mọi người một thời tiết dễ chịu, sảng khoái...



Khi Aleksey Vichtorovich đến Kiev, thì ông đến gặp tôi ở BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. “Đấy, tôi đến để nói chuyện, nghỉ ngơi, đi dạo quanh Kresatik, thăm chợ, mua bánh, ăn, sau đó đi đến sông Dnepr, vượt qua đảo Trukhanov, cởi quần áo, nằm trên cát nóng, nghỉ ngơi tuyệt vời.



Tôi nghe sướng tai. Sau đó tôi hỏi ông về các đồ án. Ông phát biểu như thế này:



- Nikita Sergeyevich, được vấn đề thời gian. Người ta đôi không nổi giận về một đồ án mới được yêu thích, phê bình nó. Khi xây nhà hát kịch Kiev, bao nhiêu điều không tốt đẹp được viết, tốn biết bao nhiêu là giấy mực, còn bây giờ thì có quan hệ khác với toà nhà này. Nó trông cũng được, không có cái gì khác người. Thời gian trôi qua, người ta quen đi, thiết kế bắt rễ vào nhận thức khán giả.



Tôi đồng ý với ông.



Tôi có thể nói về toà nhà Hội đồng dân uỷ Liên Xô ở phố “Ochodnyi riad”, đối diện khách sạn “Moskva.



Người thiết kế là kiến trúc sư Langman. Ông làm việc ở Dân uỷ nội vụ Liên Xô, Yagoda. Khi thiết kế xong, Molotov gọi tôi - chủ nhân toà nhà tương lai và đề nghị đến Kreml, nói rằng Langman sẽ báo cáo về xây dựng ở “Ochodnyi riad”. Molotov muốn tôi tham gia xem xét, bởi vì tôi cũng tích luỹ một số kinh nghiệm trong việc này. Tôi cũng biết Molotov mời cả Zoltovski. Sự tham gia của tôi, như một nhà chuyên môn, tôi coi mình là thừa, nhưng đến với sự thoả mãn. Trong phòng đầy những khung lớn chứa những đồ án chính và chi tiết. Molotov đề nghị Zoltovski phát biểu trước. Ông nhìn thiết kế (mặt ông luôn luôn rầu rĩ, thản nhiên, nhăn nheo, chúng tôi gọi mắt ong là Giáo hoàng La mã) và nói rằng thiết kế chấp nhận được, những không gợi cảm. Và người ta hiểu ông nói cái gì: nhấc bản thiết kế và đặt lên chân:



- Có thể xây dựng toà nhà như thế được không? Có thể, nó không vỡ mộng, và thậm chí không ai nhận xét gì cả. Tiếp theo, thiết kế không có hồn riêng của mình, không có truyền cảm về mặt kiến trúc”.



Có thể tự hình dung, tác giả băn khoăn thế nào ông trở thành bị dồn, tuy nhiên phát biểu chống Zoltovski cũng không dễ. Zoltovski hoặc Susev phê bình ai đó, thì tác giả khó đỡ. Nhưng rồi việc xem xét đồ án kết thúc. Zoltovski và Langman ra về, tôi và Molotov ở lại. Viacheslav Mikhailovich nói:



- Tôi nghĩ rằng thiết kế này dù sao chăng nữa phải chấp nhận.



Tôi không bực tức. Quả là, Zoltovski phát biểu đúng, nhưng mỗi thiết kế tương ứng với giá trị cụ thể. Chúng tôi giả sử rằng, mỗi một toà nhà đặt một bức tượng nào đấy, vẽ mặt tiền bằng những nét xoăn hoặc thêm một cái gì đấy mà người ta tưởng tượng ra. Và sao nào? Toà nhà cũng như thiết kế ban đầu và không gợi ra chút băn khoăn trong đầu người qua lại. Ngược lại, nhiều người còn thích.



Tôi nhớ tới anh em kiến trúc sư Vesnyi. Họ thiết kế toà nhà công nghiệp văn hoá thương nghiệp. Formin lại được mời từ Lenigrad để xây dựng ga “Rechnoy Vokzal” ở Khimky. Ga “Rechnoy Vokzal” bây giờ có dạng giống với chiến hạm Leningrad. Sau khi kết thúc xây dựng, kiến trúc sư, kỹ sư và công nhân ngày đêm đánh chén trong nhà ga rộng lớn. Tôi đánh giá cao kiến trúc sư Aleksandr Vasilievich Vlasov, người tự nhận là học trò Zoltovski. Cuối chiến tranh vệ quốc tôi mời ông về Kiev làm kiến trú sư trưởng. Có lần chúng tôi với ông làm quen với nhau tại khu bảo tồn lịch sử trong thành phố Umam-dendropark “Sofievk”.



Công viên này được làm nguyên bản bằng tay những lính pháo đài. Chủ nhân “Sofievk” là bá tước Potoski. Vlasov yêu công viên này, bỏ vào đấy nhiều phác thảo, còn sau đó viết vẽ vào những bức vẽ ấy và tặng tôi. Bức tranh làm tôi nhớ về quá khứ và về Vlasov. Tất nhiên tôi không thể nhớ lại ở đây tên của tất cả các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng, mà tôi làm việc và học ở họ nghề xây dựng.



Khi tôi giữ chức vụ Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, Stalin tôi cảnh báo:



- Tôi biết nhược điểm của ông trong xây dựng và kinh tế thành phố. Điều này có lợi và tốt trong những điều kiện của thành phố Moskva. Nhưng tôi muốn trao cho anh phương hướng đúng cho tương lai. Anh từ Donbass, say mê than, luyện kim, hoá học, hãy chú ý nhiều đến các ngành kinh tế này. Điều này rất quan trọng, nhưng bây giờ đối với Liên Xô vấn đề chủ yếu - nông nghiệp Ukraina. Ông phải quen dân và chú ý tổ chức nông trang và nông trường để có bánh mỳ, sữa và thịt. Hơn nữa dân Ukraina thích những buổi học này. Tất nhiên ông cần phải chú ý cả đến công nghiệp. Ukraina là một tổ hợp công nghiệp lớn, nhưng chủ yếy với ông ở đó sẽ là nông nghiệp. Than, luyện kim, hoá học - cũng được tổ chức sản xuất, trong đó cán bộ lãnh đạo và kỹ thuật. Họ chịu sự lãnh đạo của trung ương, còn nông nghiệp bị xẻ lẻ nhiều, và ông phải chú ý nhiều.



Về thực chất tôi đồng ý với Stalin và chấp nhận chỉ dẫn của ông coi như trách nhiệm. Uy tín của Stalin khi đó đối với tôi là trên hết! vì thế tại Ukraina tôi ít để mắt vấn đề xây dựng và ít giao tiếp công việc kiến trúc-xây dựng những thành phố của Ukraina. Đúng là việc xây dựng ở Kiev trong thời gian đó là không nhiều. Moskva nhận phần béo bở đầu tư. Có một quyết định của nhà nước về kiến trúc lại toàn bộ Moskva, và nó nhận nguồn tiền và vật chất cần thiết không phải qua Liên bang Nga, mà trực tiếp. Uỷ ban kế hoạch nhà nước tách riêng khoản tiền xây dựng. Thủ đô Liên bang mà! Để làm việc này, có thể phải cấu bớt số tiền lớn từ những khoản tiền ít ỏi dự định xây dựng công nghiệp lớn. Phát triển trước tiên là củng cố sự hùng mạnh của iên Xô, còn nhu cầu tiêu dùng được tính toán ít đến mức không tưởng tượng được mức sống khó khăn thậm chí ở Moskva, chứ chưa nói đến các thành phố khác của đất nước.



Sau đó bùng nổ chiến tranh. Hậu quả chúng tôi nhận những đống thành phố và trung tâm công nghiệp đổ nát. Ở Kiev hơn nữa bị phá huỷ nhiều, cả phố Kresatik. Những toà nhà tốt, đứng ở đó trong thời kỳ không quên, đã bị phá huỷ, mặc dù một số được xây dựng trước chiến tranh vẫn còn nguyên (Dinh Hội đồng Bộ trưởng CHXHCN Ukraina. Sự thật toà nhà này dành chỗ cho Dân uỷ nội vụ, xây nó cũng là cơ quan này, còn thiết kế là Formin). Năm cuối cùng hoạt động nhà nước của tôi, tình cờ ở Leningad, tôi gặp kiến trúc sư Formin và hỏi ông:



- Ông có quan hệ với kiến trúc sư già Formin không?



- Đúng, ông ấy là bố tôi.



- Rất hân hạnh làm quen với con trai của một người bố nổi tiếng và đàng hoàng như thế, tôi với ông từng tốt với nhau.



Hay như việc xây dựng toà nhà chỉ huy bộ đội quân khu Kiev. Sau đó nơi này giao lại cho BCHTƯ ĐCS Ukraina. Ngôi nhà được giữ lại nguyên vẹn, chỉ có một số tầng bị cháy.



Phố Kresatik và quảng trường Khmelniski bị phá huỷ hoàn toàn. Đặc biệt tôi tiếc toà nhà trường đại học tổng hợp có thư viện bị cháy. Tôi không thể biết được phân xử ai làm nổ và đốt cháy. Quân Đức nói rằng du kích ở lại thành phố làm điều này. Không ai giao cho du kích toà nhà như thế và tôi giả thiết rằng đây là mánh khoé của bọn Gestapo, cố gắng lái cơn giận của nhân dân chống du kích. Tôi đi vòng quanh Kresatik đổ nát. Tôi hàng ngày phải đi qua nó, phải nhìn những đống đổ nát. Phải phục hồi Kiev, làm gương cho các thành phố khác của Ukraina nơi cũng bị phá huỷ nhiều, đặc biệt tại Donbass.



Về sự phục hồi luyện kim và công nghiệp than cũng xuất hiện nỗi lo âu của các Bộ, phụ trách ngành mình. Các vấn đề kinh tế công cộng đè nặng lên vai các nhà lãnh đạo địa phương, phải chú ý nhiều hơn so với trước chiến tranh. Công việc lớn chúng khi đó tôi không có khả năng tiến hành. Chỉ cố hết sức xây dựng điều kiện tối thiêu sinh hoạt người dân trong những thành phố và làng mạc. Và chúng tôi tìm cách xây dựng một cách tiết kiệm, làm đại trà xây những khối tường gạch tốn ít gạch. Những khối tường này không có xi măng, không có vôi, vì thế tôi theo lời khuyên của các kỹ sư, giới thiệu vật liệu, xây cất những bức tường không đặc mà có lỗ rỗng. Chúng tôi tìm tòi khả năng xây dựng khu nhà ở sử dụng ít gạch. Việc xây dựng có thể không cao hơn bốn tầng, còn thường là hai tầng, và huống là ở ngoại ô. Chúng tôi chuẩn bị khôi phục Kresatik một cách nghiêm túc. Lúc ấy vật liệu thay thế trên khối tường không đúng theo lịch sử, vì thế chúng tôi hoãn lại chủ yếu cho tương lai, khi nào có đủ vật liệu tiến hành sự phục hồi toàn bộ.



Khi Vlasov thành kiến trúc sư trưởng Kiev, việc xây dựng đường xá tôi giao cho nhà tổ chức công việc năng động Stramentov, một kỹ sư ngành cầu đường, trong thời gian xây dựng kè đá bờ sông ở Moskva đã là một giám đốc liên hợp. Ông đề nghị đào dọc Kresatik một con kênh, xây bằng gạch, trong đó có thể đặt những ống thoát nước, để không thể làm vỡ đường khi bất thường. Ở Moskva tôi ngán ngẩm những đường phố rạn nứt, người này xây, người kia đào, sau đó lại phủ lên. Điều này luôn luôn gây cho mọi người một ấn tượng xấu, nhân dân phê bình chính quyền và họ làm đúng. Chúng tôi nhận công việc. Trên Kresatik trong ngày chủ nhật những người dân địa phương lao động, sau chúng tôi lấy tù binh Đức. Sau đó chúng tôi mở rộng Kresatik có thể so sánh với hồi trước trước chiến tranh.



Tôi băn khoăn vấn đề cơ giới hoá làm việc và xây dựng dầm trần. Trong thời gian xây dựng người ta đã làm dầm trần bằng gỗ, thì ở Kiev không có gỗ. Chẳng khi nào sấy gỗ cả. Dầm trần bị nấm làm hỏng, vì thế sau vài năm phải thay dầm trần, lại phát sinh khổ ải cho dân chúng. Chúng tôi quyết tìm dầm trần chắc chắn và bền lâu. Ở Ba Lan khi đó người ta đã làm xà dầm bằng khối gốm có cốt thép. Xà này chấp nhận tại trọng lớn và thực tế là bền. Chế tạo chúng - làm thủ công phức tạp, nhưng chúng tôi chấp nhận, bởi vì không có lối thoát khác. Lần đầu tiên cách này được áp dụng ở Kiev, Moskva vẫn chưa biết nó.



Ở Kiev có một kỹ sư tuyệt vời, Abramovich. Ông bây giờ ở đâu? Ông là nhà cơ khí-kỹ thuật, say mê về sứ. Ông và làm việc tại nhà máy sứ. Abramovich khoe tôi, những thứ đẹp làm bằng sứ. Chúng tôi tìm thấy nhau. Tôi say mê và không ít lần đến xí nghiệp ông. Ông biểu diễn cho tôi khả năng kỳ diệu: chế tạo những tấm gạch tráng men để làm và nhà vệ sinh phòng tắm, các khối trang trí mặt tiền. Tôi bảy ý tưởng mới: đất sét - vật liệu rất dẻo, và tôi hỏi ông:



- Liệu có thể làm những tấm đệm nén gạch men để có được những hình vẽ nghệ thuật, còn sau đó ốp toà nhà?



Ông trả lời:



- Tất nhiên là có thể.



Người ta chế tạo đệm sứ, xây nhà máy để nung nó. Khi ấy sử dụng kinh nghiệm của Tiệp Khắc và CHDC Đức. Sau đó và bắt đầu khôi phục Kresatik. Trong việc này chủ yếu là Vlasov. Sau này khi về Kiev, tôi luôn luôn đi quanh Kresatik và yêu nó, cảm giác thoả mãn rằng trong đó có mồ hôi của tôi.



Chúng tôi gặp khó khăn lớn khi phục hồi mỏ than Donbass và mỏ quặng, chủ yếu là công việc hầm mỏ. Không đủ gỗ cứng và xe để chở. Rừng tại Ukraina nhiều, nhưng xa. Người biết về chống lò bây giờ gỗ bị thối nhanh trong mỏ. Gỗ chưa khô bị nấm ăn mục ngay trước mắt.



Lúc ấy tôi nhớ về người quen cũ của tôi ở Moskva, giáo sư Mikhailov có ý tưởng cải thiện bê tông cốt thép. Ông làm khi đó làm về xây dựng bê tông cốt thép. Tôi mời ông về Kiev, nói với ông ta suy nghĩ của tôi về chế tạo bê tông cốt thép chống lò. Mikhailov xác nhận việc đó là đúng. Vì sao tôi lại hỏi chính ông? Vì rằng từ trước chiến tranh ông làm việc bê tông cốt thép. Vấn đề là ở chỗ cột bê tông cốt thép không quá nặng nề, có thể một hai người vác được. Phương tiện cơ giới khi đó chẳng có, và chỉ tính theo sức bê vác của người.



Mikhailov bắt đầu làm việc theo hướng này và đạt được thành công. Chúng tôi thử nghiệm thanh chống lò mới tại Donbass. Người phụ trách là Zasiadko, nhưng ông không giải quyết vấn đề. Tôi viết một bức thư riêng cho Stalin yêu cầu chỉ thị cho Uỷ ban kế hoạch nhà nước lên kế hoạch việc này. Moskva chống lại việc này cho rằng kim loại tốt hơn bê tông. Tất nhiên kim loại phải tốt hơn rồi vì rằng thanh chống và dầm trần có thể làm những tấm mỏng hơn. Nhưng tiếc rằng sắt thép không có. Điều này có nghĩa là ý tưởng mới sụp đổ, vì rằng họ không cho chúng tôi sắt thép. Tôi chứng minh điều này cho Stalin, ông tôi ủng hộ, và chúng tôi bắt đầu dùng bê tông cốt thép (chống lò). Sau đó, khi thợ mỏ tiến đến tầng lò chợ, họ phải dùng kim loại, bởi vì các cột chống phải là nhẹ, sử dụng nhiều lần và mang đi mang lại, vì thế dùng kim loại là hợp lý hơn. Nhưng thời gian ấy, ở các lò ngang cũng dùng chủ yếu bê tông cốt thép. Tôi nhiều lần vào mỏ, trông có vẻ như hầm xe điện ngầm.



Sau đó chúng tôi có một ý nghĩ mới. Một kỹ sư đưa ra ý tưởng thay tà vẹt gỗ bằng bê tông cốt thép, tôi chộp lấy. Lúc xây xe điện ngầm giai đoạn đầu, chúng tôi làm nền đường bê tông và lúc đầu thậm chí đúc ray trong bê tông. Hàn liền các thanh ray lại, không còn khe hở. Sau đó các nhà thiết kế chứng minh rằng cần có khe hở. Chúng tôi đặt lại những thanh ray trước đây và tạo ra khe hở, nghĩa là có sự va đập làm hỏng tầu. Và một loạt năm sau đó, tôi lại nghe những sự tranh luận cũ về khai thác chạy tầu trên những ray hàn liền, thì tầu bị hư hại không nhanh như hệ thống ray cũ. Như vậy, lại bê tông cốt thép! Bao nhiêu vấn đề sinh ra, lại cần chừng đấy bằng chứng... Nhưng chúng tôi dù sao chăng nữa có một số tư liệu gửi qua Uỷ ban kế hoạch nhà nước để đặt những tuyến đường không chạy tốc độ lớn. Người ta chứng minh nói chung không thể dùng bê tông cốt thép tà vẹt, vì xóc, dẫn đến tai nạn.



Tôi rất thú vị, sau vài năm tôi biết rằng ở Tiệp Khắc người ta đã làm chính những tà vẹt bê tông, tốt hơn chúng tôi đáng kể. Bây giờ trong phim, mọi người có thể thấy việc đặt tà vẹt bê tông cốt thép tà vẹt. Ý tưởng của tôi lập tức sau chiến tranh được đưa ra. Tôi nói điều này để nói rằng tôi rất quan tân đến xây dựng. Tôi tìm những tiến bộ mới, kinh tế hơn. Trước đây chúng tôi đặt đường ray bằng gỗ, bị hỏng nhanh, còn bê tông cốt thép - hoàn toàn khác. Và tôi khẳng định:



- Nếu cần giảm xóc, đặt đệm giảm xóc. Đặt ray lên đệm giảm xóc, chỗ không có bê tông cốt thép. Điều này tăng tuổi thọ, giảm chi phí sử dụng và không phải pjá rừng.



Thế mà cũng có nhiều người không tán thành, nhưng bây giờ vẫn đang ứng bê tông cốt thép tà vẹt và vẫn tốt đẹp.



Ở Moskva, tôi đấu tranh vất vả trong thời gian xây dựng xe điện ngầm tiếp theo. Lúc đó làm đường xe điện ngầm dùng những tấm chắn bằng gang dạng ống bắt chước người Anh. Chúng cần có máy móc, nhưng kim loạu đắt và dưới đất không biết có được bền lâu không. Sợ rằng nó bị ăn mòn, sau một thời gian lại phải lắp lại. Sau đó bê tông cốt thép được đưa vào. Tôi đề nghị làm ống cho xe điện ngầm bằng bê tông cốt thép. Thế mà cũng ầm ĩ lên. Công nhân và các kỹ sư quen cách cũ: đúc, tiện, ghép mảnh gang, và khoan lỗ v.v... Cuối cùng tôi cũng đi tới chế tạo mảnh cong cốt thép, sau đó và phun bê tông cốt thép áp lực. Nói chung bê tông cốt thép định hình cũng như gang, vì rằng nó cũng là tấm. Sau đó bê tông cứng chắc lại.



Có lần Stalin gọi tôi về Lvov nơi tôi tham gia mit tinh của sinh viên Đại học Lâm nghiệp sau khi nhà hoạt động Ukraina Yaroslav Galana. Ông làm nhiều việc tốt cho Cộng hoà Ukraina trong cuộc đấu tranh chống bọn truyên truyền và nhà thờ. Vì thế mà những người dân tộc chủ nghĩa và cha xứ địa phương giết ông. Kể giết là một sinh viên trường này. Anh sinh viên khai kẻ chủ mưu. Lúc đó phong trào Tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ukraina (OUN) ở Tây Ukraina khá mạnh, đặc biệt ở Lvov trong giới sinh viên. Họ tổ chức mit tinh, và tôi đến đó, mặc dù tôi được cảnh báo rằng có thể không an toàn, thậm chí khủng bố.



Đúng lúc trong tôi phát biểu, người ta đưa cho tôi mảy giấy viết là Stalin yêu cầu tôi gọi ngay cho ông. Phát biểu xong, tôi về căn hộ lưu trú tạm ở Lvov và tôi gọi về Moskva. Stalin hỏi:



- Khi nào ông có thể về đây?



- Nếu gấp quá, thì sáng mai.



Cuộc nói chuyện rất ngắn, và điều này làm tôi lo ngại. Thời gian lúc này đối với tôi thật năhng nề. Sau vụ mất mùa năm 1946 ở Ukraina tôi bị thất sủng. Và lại có tiếng chuong gọi như thế... Có quỷ biết đây là chuyện gì. Sự thật cuộc gọi sau đó của Malenkov giải toả tôi. Ông nói:



- Anh đừng lo lắng, Stalin gọi ông với động cơ tốt, ông sẽ biết chi tiết sau khi về đây, lúc ấy anh hết lo.



Tôi vào Kreml. Nói chung Stalin đề nghị tôi về Moskva, nói rằng ở Leningad phát hiện được sự phản bội, đang điều tra, chuẩn bị xử, ở Moskva cũng không yên ổn. Vì thế ông muốn tôi lãnh đạo Đảng bộ, lại trở thành bí thư Đảng bộ tỉnh và thành phố Moskva và đồng thời là bí thư BCHTƯ. Trước chiến tranh, tôi từng ở cương vị này, tôi нnhưng Chính phủ là bí thư BCHTƯ. Stalin hỏi khi nào tôi có thể nhận việc và nói thêm “Ông làm việc tương đối lâu ở Ukraina, bị hoàn toàn biến thành nhà nông học rồi.



Tôi cám ơn và trả lời rằng tôi sẽ về.



Thế là tôi lại về Moskva, thay Popop, do Malenkov điều đi. Bí thư Đảng bộ Moskva là Aleksandr Ivanovich Ugarov, một người tốt và thông minh mà tôi rất kính trọng, ông thay tôi năm năm 1938, đã vị bắt. Zdanov xem ông như những người Leningrad lão thành. Sau khi bắt Ugarov, Stalin cấp tốc gọi tôi và tạm thời là đại diện toàn quyền của BCHTƯ Đảng tại Moskva. Sau đó đưa Serbakov làm bí thư thứ nhất Đảng bộ Moskva, một con người cực kỳ thiếu đứng đắn. Từ lâu Serbakov đã bị nghi ngờ, và Stalin chỉ thị cho tôi và Malenkov:



- Các ông chọn lấy một Bí thư thứ hai cho theo dõi Serbakov và báo cho các ông.



Người ta đưa Popop làm Bí thư thứ hai. Popop trước đó là phó của Malenkov trong Ban tổ chức BCHTƯ. Sau đó Serbakov đảo ngược tình thế, và như một con chó bị xích nịnh bợ, “cắn xé” mọi người và dẫm lên lưng nạn nhân lấy uy tín với Stalin. Đây là một người hèn mạt nhất nếu xét theo hoạt động của ông thời gian này. Stalin coi Serbakov là người xây dựng Hồng quân, và khi Serbakov chết cũng tuyên bố điều này. Nhưng để làm gì? Theo sắp đặt của Stalin, ông lãnh đạo giấu mặt RKKA, uống rượu nhiều và chẳng bao lâu sau chiến tranh chết. Còn lại chỉ một mình Popop - những ngà hành chính thô lỗ và không khôn ngoan. Ông gây thù oán với nhiều người, nhưng Stalin lại không tống cổ ông ta đi. Tuy nhiên có một bức thư nặc danh nói là Popop mưu phản. Tất nhiên ông không phải là thế.



Tôi nhận công tác ở Moskva, thay thế 3 người nhắc tên ở trên. Tôi được bầu làm bí thư BCHTƯ nói cho đúng phép. Stalin bổ nhiệm tôi, còn ông có thu xếp bầu cử ở BCHTƯ, tôi không biết. Vả lại, làm sao có thể bầu nếu chẳng có Đại hội Đảng, và từ lâu chẳng họp Plenum BCHTƯ. Sự dân chủ trong BCHTƯ đã bị bóp chết từ lâu. Còn các cộng sự của tôi thì Promyslovего thập niên 60 lãnh đạo cục xây dựng thủ đô, còn trước đây là trợ lý cho Popop. Chính tôi với ông những năm ấy giải quyết vấn đề xây dựng thành phố Moskva. Như vậy, tôi lại lôi vào việc xây dựng. Moskva sau chiến tranh cần nhiều nhà ở, vì lúc đó còn nhiều căn hộ chật chội. Tôi nhớ rõ những năm cuối cùng Popop công tác và lãnh đạo xây dựng thủ đô khi đó là Promyslov. Cuối năm 1949 đã bàn giao 400 nghìn mét vuông nhà. Khi đó đây là con số lớn, vì rằng tất cả làm bằng tay. Tốc độ xây dựng chậm, xây trát kém. Người ta đổ oan nhà 5 tầng, nhưng còn những nhà kiểu lán một tầng, bằng gạch và gỗ. Đến công trường, tôi thấy dầm trần làm bằng gỗ, đôi lúc bằng cả những vật liệu khác, cả cột và xà dầm bằng lim loại. Tôi ngạc nhiên: kim loại còn đang thiếu trầm trọng, thế mà đưa vào xây dựng nhà ở, khi được thay đổi nhiệt độ và trời ẩm, nó bị ăn mòn. Ở Kiev đã sử dụng rộng rãi cột và dầm bằng bê tông cốt thép. Còn là dầm trần bằng gốm cốt thép. Phương pháp này chúng tôi làm quen ở Lvov. Ở đó có những toà nhà bị đổ nát. Tôi thấy mặt cắt của nó và như thế làm quen công nghệ xây dựng tương tự, lôi kéo các nhà chuyên môn vào cuộc, và chúng tôi xây dựng những mẫu như thế ở Kiev.



Để xây dựng Moskva phải có những khả năng lớn, tại Uỷ ban kế hoạch nhà nướ người ta dễ chọn những cái cần thiết. Và để bỏ bớt kim loại trong xây dựng nhà ở, chúng tôi chuyển sang. Để tăng thêm trọng lượng, chúng tôi mời kỹ sư Sadovski từ Kiev đến, ông là rất lành nghề, tuyệt vời, hiểu nghề yêu thích vật liệu mới, ông theo dõi tài liệu nước ngoài và có quan hệ chặt vớinhững nhà khoa học làm về bê tông cốt thép. Nhược điểm duy nhất của ông là chậm chạp. Tuy nhiên ông bù lại bằng kiến thức sâu nghề nghiệp và sự hiểu biết công việc. Gần đây ông gọi cho tôi, và tôi vui mừng nghe giọng ông kể về thời gian chúng tôi cùng nhau làm việc khôi phục Kiev sau chiến tranh tàn phá.



Tôi cũng mời Proskuriakov, một kỹ sư quen từ Moskva về Kiev. Ông cũng là một chuyên gia về vật liệu xây dựng. Đúng thế, chẳng bao lâu, người ta trao cho ông nhiệm vụ xây dựng thành phố Sevastopol, và khi thấy tận mắt đống đổ nát ông quyết định thành lập một cơ quan duy nhất khôi phục thành phố anh hùng. Khi tôi về công tác ở Moskva, thì chẳng bao lâu Proskuriakov hoàn thành phần công việc cơ bản và từ Sevastopol quay về. Tôi rất mừng gặp một con người biết suy nghĩ và ham thích cái mới. Ông luôn luôn có sáng kiến trong việc áp dụng các vật liệu xây dựng khác nhau để xây dựng nhà ở.



Người có sáng kiến chuyển sang bê tông cốt thép là Sadovski. Chúng tôi nghĩ tới việc lắp ghép nhà giống như lấp ô tô. Trước chiến tranh, tôi và Bulganin thử làm một trường học theo kiểu lắp ghép. Đây là việc chế tạo thành những khối thay cho gạch và ghép lại thành nhà. Không thể so với kỹ thuật xây dựng ngày nay được. Phải chăng vấn đề không phức tạp? Khi lắp ghép trường học, tôi nhìn thấy những khe hở ở các tường. Tôi rất bực người ta không làm đúng những điều đơn giản, không biết tính toán kích thước khối để đến mức chó chui lọt khe hở. tất cả được lấp kín lại. Như thế không làm được việc xây nhà như lắp đồng hồ hoặc trong chế tạo máy.



Bây giờ tôi bắt đầu tư vấn với các kỹ sư bê tông lắp ghép để tìm ra com đường lớn không chỉ xây dựng nhà ở mà còn cả nhà máy, tôi cũng gặp sự chống đối mạnh mẽ về ý tưởng này, trước hết Uỷ ban xây dựng nhà nước, do Sokolov, một chuyên gia giỏi lãnh đạo. Bây giờ ông về hưu, còn tôi làm quen với con trai ông, đã hai lần đem vợ cùng với tôi đi thuyền dọc sông. Sokolov con cũng là kiến trúc sư, những cuốn hút vào với nhà du hành vũ trụ Leonov vẽ một loạt các bức tranh trừu tượng về đề tài vũ trụ. Tôi đến thăm triển lãm những bức tẻanh này, ông tặng tôi một albom những bức tranh này. Còn với Sokolov cha, tôi làm quen khi xây dựng tầu điện ngầm. Khi đó ông thiết kế bơm đấy bê tông lỏngcùng với con trai Sokolov chế tạo nó. Sau đó, bơm này đưa vào xây dựng nhà ở. Từ đó tôi vẫn quan hệ với cả hai bố con. Khi về Moskva, tôi gặp Sokolov lúc này là một kỹ sư danh tiếng, có nhiều kinh nghiệm và uy tín. Lãnh đạo Uỷ ban xây dựng nhà nước là Beria. Điều này càng làm phức tạp tình hình. Tất cả những người làm việc ở Uỷ ban xây dựng nhà nước cố gắng mới được sự ủng hộ của Beria để sau này cảm thấy mình tự tin hơn.



Gặp Sokolov, tôi chứng minh cho ông ý tưởng của mình và tin tưởng rằng ông hiểu và ủng hộ tôi, nhưng tôi gặp sự chống đối đột ngột của ông. Tôi không làm cách nào thuyết phục ông, ông tỏ vẻ trong vấn đề này. Lúc ấy tôi hiểu rằng ông đã hỏi Beria, mà Beria đã phát biểu chống. Beria luôn luôn phát biểu chống, nếu một uỷ viên Bộ chính trị nào đưa ra một việc gì mới: thì ông phan đối, sau một thời gian chính ông lại đưa vấn đề này cho Stalin và kiếm chác chút vốn đạo đức. Sokolov không đưa những chứng cớ, là điều này là phức tạp, không hợp lý, không tiến bộ. Ông vừa từ Mỹ về, không thấy ở bê tông cốt thép lắp ghép, mà chỉ nguyên khối. Không đồng ý với ông. Tôi tiếp xúc với cha của chủ tịch tương lai Viện hàn lâm khoa học Liên Xô Keldys, một nhà bác học về bê tông cốt thép. Nhưng cả ông cũng không hộ tôi. Chỗ dực của tôi chỉ còn Sadovski, con tất cả những chuyên gia xây dựng có danh tiếng và những nhà quản lý chức quyền cũng phát biểu chống.



Khi đó tôi đề nghị Sadovski viết bản báo cáo mang tên tôi với các tính toán kỹ thuật đầy đủ, chống lại những phương pháp xây dựng kiểu cũ. Bản báo cáo này gây lòng tin và ấn tượng tốt. Giờ đây tôi quyết định nói chuyện với Stalin, nhưng ban đầu chuẩn bị kỹ. Tôi biết rằng bây giờ tôi dưới quyền Beria, sau đó người ta hỏi ý kiến Sokolov, Keldys và làm tiêu tan đề nghị của tôi. Sau đó tôi cũng tính đến cần một kỹ sư viết một báo cáo như thế chính kỹ sư chỉ dẫn tất cả quá trình chuẩn bị chi tiết, lắp ráp, tiêu hao vật liệu, làm lợi về thời gian và những cái khác. Kèm thêm bức thư của đích thân, tôi gửi ta cho Stalin. Ở đó chứa các tính toán xây dựng thử hai nhà máy bê tông đúc sẵn năng suất 80-120 nghìn mét khối (thời ấy là một thể tích khổng lồ). Một nhà máy dự kiến xây dựng на Kraxnoi Presnе ở Moskva cạnh sông Moskva, nhà máy thứ hai - ở Liubers.



Stalinа nổi nóng khi những người phản biện phản đối sáng kiến của tôi bằng cách chứng minh rằng nước ngoài chưa làm cái này. Tôi biết đặc điển này của Stalin và quyết định sử dụng nó, bằng cách đưa ra rằng chỗ dựa chủ yếu để phản đối là Uỷ ban xây dựng nhà nước. Và tôi viết rằng họ lấy cớ rằng nước ngoài không có bê tông đúc sẵn lắp ghép, nên chúng ta không cần phải thò mũi vào việc đó nữa. Uỷ ban xây dựng nhà nước ủng hộ phương pháp cũ - bê tông nguyên khối đã và đang được sử dụng và ở nước ta và thế giới; và họ cho rằng rằng nó vẫn tồn tại như thế trong tương lai. Một thời gian sau, khi gặp Stalin, tôi hỏi ông:



- Đồng chí Stalin, tôi gửi ông thư này”, - và tôi kể bản chất sự việc. Ông trả lời:



- Tôi sẽ đọc.



- Kèm theo đây là bản báo cáo của Sadovski?



- Tôi sẽ xem toàn bộ.



- Ý kiến của ông thế nào?



- Rất hay, tôi cho là tính toán đúng và ủng hộ ông”.



Được ủng hộ như thế là tôi đạt được mục đích của mình. Chẳng bao lâu Stalin gửi nó cho Uỷ ban kế hoạch nhà nước. Ở đó người ta tính toán vật liệu cần thiết để xây hai nhà máy, và chúng tôi khởi đầu xây dựng xí nghiệp lớn bê tông đúc sẵn. Đảm nhận việc này phó Chủ tịch Mossoviet. Cũng có nhiều phòng ban xây dựng và liên hợp, kể cả Cục xây dựng không trực thuộc Mossoviet: công ty xây dựng lớn hoặc Bộ xây dựng. Mossoviet tiến hành thu hút phương tiện lớn xây dựng nhà ở, vì thế mọi sáng kiến cũng phải có tư vấn của Bộ xây dựng. Lúc ấy không còn khả năng nào khác. Vấn đề này chưa được giải quyết đến tận bây giờ, vì thế nhiều người vẫn phải sống chen chúc ở tầng hầm mà không thể có căn hộ. Mục đích chính là tổ chức xây dựng nhà ở hàng loạt. Những cấu kiện trong nhà ở bị hư hỏng? Chính chúng tôi ban đầu không biết điều này, chưa có giải pháp về mặt cấu trúc ý tưởng đó. Lại bắt đầu tìn tòi. Ở nhân dân ngoài chưa thấy có những mẫu như thế này. Cả ở Mỹ lẫn châu Âu, phương pháp này chưa được sử dụng, chúng tôi phải tự suy nghĩ, mà đa phần kỹ sư xây dựng chưa được đào tạo. Tôi quyết định lôi các kỹ sư cơ khí vào việc, vì họ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về chế tạo máy đòi hỏi độ chính xác cao. Khi lắp ghép bê tông đúc sẵn, chính là cần độ chính xác cao. Và tôi cũng gặp các kỹ sư nhà máy “Vô sản đỏ”.



Với tinh thần hăng say, họ đã thực hiện đồ án, và tôi cảm thấy có chỗ dựa. Tôi nghĩ đúng, cấu trúc mới giống như máy hơi nước, sau đó bị thay đổi.



Tôi nhớ cuộc hội đàm với các nhà thiết kế ”Vô sản đỏ”. Trước đây họ không quan tâm đến vấn đề này. Phải nêu ý tưởng và giải thích để họ biết chúng tôi muốn gì từ những suy nghĩ của họ về đề nghị của chúng tôi. Trước đây, Sadovski không lưu tâm những chi tiết nhà lắp ghép. Mọi người quen với khối gạch xây, khối bê tông, khối xà, nhưng những cấu kiện lớn lại không có, bởi vì không có bê tông đúc sẵn. Tự tôi giới thiệu cấu trúc nhà ở dạng khung bê tông: tường ngăn và tường ngoài từ mảng bê tông cốt thép hoặc khối. Cái đó chính là chuyển từ phương pháp cũ sang phương pháp lắp ghép bê tông cốt thép. Sau đó chúng tôi kết luận rằng phải làm những cấu kiện lớn cho gian phòng. Họ treo các cấu kiện vào khung để có một căn nhà lắp ghép toàn bộ. Các kỹ sư “Vô sản đỏ” chế tạo những cột chịu lực để treo lên khung nhà những tấm bê tông đúc sẵn có cửa sổ và cửa ra vào và gắn chúng thành một khối, lấp vữa để không cho gió và hơi ẩm tràn vào.



Tất nhiên khó khăn không phải về cấu trúc mà là ở sự thực hiện: các chỗ trát bịt làm không tốt. Người ta phàn nàn căn hộ bị thủng, gió thổi vào. Nhưng người dân nhất thiết phân tích vì sao thủng hoặc gió thổi. Tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt hơn khi nghiệm thu. Cuối cùng, kỹ sư “Vô sản đỏ” chế tạo máy tiện tự động làm ra những cốp pha kim loại để đổ vữa bê tông. Giờ đây cốp pha làm khung bộ khung có thể chế tạo bằng cách lắp ghép, còn trước đây thì dùng dây thép và hàn các tấm dầy. Cỗ máy tự động làm dây và hàn. Khung nhà hoặc các cấu kiện khác nhà lắp ghép cũng được tự động hoá. Cấu kiện lập tức vào kho, sau đó chở đến công trường.



Trong quá trình xây dựng máy cốp pha kim loại, thợ xây dựng Lagutenko tìm ra giải pháp. Ông đã bỏ nhiều công cho việc cơ giới hoá sản xuất bê tông lắp ghép. Tôi luôn luôn tìm kiếm những người như ông. Lagutenko đề nghị làm nhà không khung bằng bê tông cốt thép tường không chịu lực để lắp ghép đơn giản hơn. những tường này sẽ bảo vệ khỏi các tác động bên ngoài, và hấp thụ tải trọng. Tôi tin vào nhà khung hơn vì toà nhà không bị hư hại! Những bức tường ngăn bằng bê tông cho nhà khung cần ít kim loại hơn và chỉ là tấm che chắn, có thể làm bằng bêtông rỗng. Nhưng việc làm đơn giản lắp ghép đã thu hút: chế tạo panel. Quyết định kiểm tra trên hiện trường và xác định, cái nào thì dùng khung, cái nào dùng panel.



Nhân thể nói thêm, Lagutenko như con chim én tìm đến chúng tôi sau mùa đông lạnh lẽo, bởi vì ông là người đầu tiên trong số kỹ sư thực hành đến gặp chúng tôi với ý tưởng của mình. Tôi hài lòng mong có người thứ hai, thứ ba, thứ tư và v.v... Họ hóp sức mình, làm tốt hơn, thay đổi, cuối cùng hoàn thiện công nghệ bê tông lắp ghép.



Xây dựng nhà lắp ghép cần có máy đầm rung để làm rắn chắc bê tông cho có hình dạng mong muốn. Sự đông cứng đày đủ bê tông - một quá trình mất nhiều thời gian, cần có không gian lớn có độ ẩm và nhiệt độ xác định. Đổ bê tông cũng phải làm bằng máy. Chúng tôi dùng ròng rọc. Trước đây đổ bê tông phải có cốp pha, đợi đông cứng. Sau đó dỡ cốp pha. Gỗ bị phí phạm. Trong sản xuất hàng loạt chúng tôi dùng cốp pha kim loại tháo ghép được. Để không làm hỏng bê tông khi tháo phải bôi mỡ. Khi nhiệt độ thay đổi, do độ co dãn kim loại và bê tông khác nhau, dẫn đến khối bê tông không đồng nhất. Vì thế công nghệ phải loại trừ được điều này.



***



Bỗng nhiên tôi đã thấy vách ngăn, tấm ngăn giữa các căn hộ chủ yếu xây bằng gạch. Chẳng có tường nào là cách âm được cả. Thậm chí ở các nhà tù, những tù nhân có thể gõ qua tấm tường dày, dù sao đi nữa chỉ nghe được tiếng cộc cộc. Kỹ sư Kozlov là người thiết kế tường mới. Tôi đi quanh bức tường của ông, xoa nó và thích lối cấu trúc. Có thể chế tạo những tấm này, bay hơi chúng, nhận ngay được, sau đó sấy khô, dán keo (nếu lắp đặt tốt, không bị hỏng giấy bồi) và thành tấm tường. Tôi gặp Kozlov, bày tỏ sự thích thú dường như ông tìm ra ngọc trai cho xây dựng. Nhưng ông đưa ra nguyện vọng của mình làm tấm ngăn bê tông nhẹ làm bằng thạch cao. Nhược điểm của nó là chỉ dùng làm tấm ngăn buồng và chỉ nằm trong nhà ở nhiệt độ nhất định. Nếu độ ẩm cao, tấm ngăn này sẽ bị hỏng. Tôi đề nghị xem lại việc này và chế tạo khung bê tông cốt thép bằng xi măng có độ dầy theo tiêu chuẩn cách âm.



Kozlov nghe và trả lời:



- Tôi tin sẽ tìm ra giải pháp.



Đó là thiết kế tài ba, và chẳng bao lâu tôi biết rằng ông làm được tấm ngăn như yêu cầu. Tôi оđến nhà máy ông và thích những tấm ngăn của ông. Lại có một sự việc. Ai đó nói:



- Khrusev toàn lao vào chuyện nhỏ nhặt.



Không, không phải việc nhỏ nhặt, một là vấn đề cốt tử trong xây dựng nhà ở. Chỉ có thợ xây dựng mới biết tốn bao nhiêu thời gian để làm vách ngăn. Việc trát vữa chủ yếu là công việc của những thợ không nghề nghiệp từ nông thôn ra làm. Còn Kozlov, sản xuất công nghiệp những tấm ngăn, đóng vào container và khi có cần cẩu thì đưa lên lắp ráp. Thợ trát vữa chỉ còn làm mỗi việc là dán giấy bồi tường.



Sau đó tôi nói với Kozlov:



- Hãy nghĩ xem liệu chúng ta có thể làm những tấm ngăn bằng bê tông? Hy vọng nó nhẹ hơn và các vách ngăn sẽ được lấp đầy một cái gì đó để cách nhiệt.



Chúng tôi cách nhiệt các tấm panel bằng cách dùng xỉ và các vật liệu kết dính. Kozlov lại nhận việc về mình . Nhưng Mikhailov hầu như không nhận. Việc nén các tấm panel có độ dày mỏng cần thiết rất khó. Bê tông cốt thép trộn đá dăm hoặc đá granit – không phải là kim loại và đất sét, nó khá cứng. Kozlov làm dung dịch xi măng trộn cát. Để cho cứng, ông cho rửa cát. Thế là thu được những tấm panel có những lỗ nhỏ theo ý. Tôi đã muốn hôn Kozlov. Khối bê tông đàn hồi rắn chắc và và chạy trên băng chuyền cao su.



Sau chiến tranh ở Moskva xây một số toà nhà cao tầng: Trường đại học tổng hợp Moskva , toà nhà Bộ ngoại giao ở quảng trường Smolensk, nhà ở bờ sông Kotelniska và những toà nhà khác. Khi xây chúng và trình cho Stalin, cần phải tính tiền thuê nhà thế nào để tính toán kinh tế, thì té ra là đa số người Moskva không thể trả tiền nhà những căn hộ như thế . Stalin đề nghị phân những căn hộ này cho những người có cống hiến cao - nghệ sỹ nhân dân, các nhà khoa học tên tuổi, các nhà văn nổi tiếng. Tóm lại, là tầng lớp thượng lưu. Dù đã giảm tiền thuê nhà, nó vẫn không thu đủ tiền thuê xây dựng.



Tôi nhớ, có lần Stalin nảy ra ý tưởng xây dựng những toà nhà cao tầng. Ông lập luận rằng khi chiến tranh kết thúc, người nước ngoài sẽ đến Moskva, họ không thấy nhà cao tầng. Và họ sẽ so sánh Moskva với thủ đô của họ. Chúng tôi sẽ thiệt hại về tinh thần. Nhưng những toà nhà ấy không phải là nhà thờ. Khi người ta đổ oan Nhà thờ là muốn thống trị nhân dân dưới đức chúa trời của họ.



Tất nhiên tôi hoàn toàn giữ quan điểm rằng những toà nhà cao tầng hoàn toàn không cần thiết. Đây là sự ngốc. Tôi phát biểu đơn thuần về sự hợp lý trong mọi công việc. Tiêu chí xây dựng nhà ở phải là sự thuận tiện cho mọi người và giá thành mét vuông nhà ở.



Trước khi tôi kết thúc hoạt động trong Chính phủ Liên Xô, người ta chuẩn bị xây dựng nhà ở có nhiều tiện ích hơn. Khi chúng tôi nói chuyện với kiến trúc sư trưởng Moskva Posokhin, ông giới thiệu thiết kế, hoàn toàn tương xứng với sự tiện ích đó . Trong những toà nhà này đã dự tính cả tiêu chuẩn cao các khu vực chung đặc biệt là hành lang, bếp, nhà vệ sinh, buồng tắm và nội thất. Thật là duy lý trí xây dựng những toà nhà 9-12 tầng. Chúng tôi xây dựng nhà 5 tầng, giá thành mét vuông chỉ 110 rúp. Tại New York nhà cao tầng lại là chuyện khác xét về kinh tế. Ở đó một số nhà thầu khoán mua toàn bộ khu đất , phá bỏ những nhà thấp và xây nhà cao tầng. Trong điều kiện xã hội chủ nghĩa có sự khác nhau. Không phá bỏ nhà 5 tầng mà phải xây thêm nó, sửa chữa, tu bổ và cải thiện. Nếu chúng ta đạt được điều kiện sống cơ bản tốt hơn, thì người ta luôn luôn muốn chuyển đến nhà cao tầng.



Trở lại thời gian trước đó, khi chúng tôi lần đầu tiên giải quyết vấn đề bê tông cốt thép, tranh cãi, bê tông cốt thép xây dựng, tôi nói rằng phương Tây đã làm được và có những bước tiến trong lĩnh vực này. Giờ đây chúng ta cần đi tiếp, không được quên những thành tựu. Trận động đất tại thành phố Skopla (Nam Tư) chẳng bao lâu sau, tôi lại có mặt ở Nam Tư, nhìn thấy thành phố bị phá huỷ hoàn toàn. Liên Xô với sự giúp đỡ anh em đã đưa đến đó thợ xây dựng. Họ xem xét nhiệm vụ liệu thể khôi phục, và dọn dẹp thành phố. Chúng tôi tặng Nam Tư nhà máy bê tông cốt thép để xây dựng nhà ở. Tôi nghĩ rằng nó đóng vai trò của mình phục hồi thành phố. Những nhà máy như thế chúng tôi trao lại cho Chính phủ Afganistanа. Có thể nói rằng bê tông cốt thép chiếm được quốc tế sự thừa nhận quốc tế.







Quốc phòng Liên Xô sau chiến tranh vệ quốc


Các nước xã hội chủ nghĩa chiếm 1/3 sản xuất thế giới. Điều này làm phấn khởi những ai chân thật đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. Nhưng CNTB còn mạnh, chưa cho chúng ta quên mối đe doạ của đế quốc. Vì thế không thể lơi lỏng quốc phòng. Điều này là đúng quan hệ với thời gian khi Stalin chết.



Stalin rất chú ý theo dõi tình huống quốc phòng Liên Xô. Tôi cho rằng ông thậm chí thổi phồng sức mạnh kẻ địch và ý định gây chiến tranh. Nhưng tự ông cố gắng sờ mó thế giới tư bản bằng lưỡi lê. Tôi nhìn thấy sự phong toả Tây Berlin, buộc chúng tôi tin rằng không thể đạt được thành công bằng phương tiện tương tự. Stalin buộc phải nhượng bộ, đi đến thương thuyết. Khi ông cố gắng phong toả, đã không tính đến khả năng thực tế của chúng tôi. Ông nghĩ sai vấn đề. Tôi không biết, ai xui ông về vấn đề này. Tôi ở trong Bộ chính trị, nhưng chúng tôi không bàn cãi nó. Có ai bàn cãi với Stalin không, tôi không biết, nhưng tôi nghĩ rằng chỉ có Molotov. Chẳng có ai nữa đâu. Vorosilov trong thời gian này không có vai trò chính trị.



Sau đó - chiến tranh ở Triều Tiên. Do Bắc Triều tiên, Kim Nhật Thành khởi sự, Stalin ủng hộ Kim Nhật Thành, cũng như Mao Trạch Đông. Đây là hành động phù hợp. Việc này, nếu nói về cá nhân, tôi cũng đồng ý với Kim Nhật Thành. Nhưng Kim Nhật Thành phải đánh giá lại khả năng của mình, cho là chỉ cần châm ngòi, cho giật mình, và lực lượng bên trong Nam Triều Tiên làm tiếp. Tất nhiên quân đội Nam Triều Tiên yếu và bị đánh tan, nhưng người Mỹ nhảy vào cuộc chiến quật lui Bắc Triều Tiên, nghĩa là, quật lui Stalin, một người nhát gan và tỏ ra quyết định giúp đỡ dứt khoát Bắc Triều Tiên, nói:



- Thế nào ư? Chúng tôi không đưa quân đội đến đó, để bây giờ người Mỹ trở thành hàng xóm của chúng tôi ở Viễn Đông, tất cả chỉ có thế.



Chỉ có sự can thiệp Trung Quốc khi đó cứu Bắc Triều tiên Triều Tiên. Đó là thất bại lớn thứ hai về mặt quân sự sau chiến tranh vệ quốc (thất bại thứ nhất - phong toả Berlin).



Chúng tôi đã nhận một di sản như thế. Thật ra, chúng tôi có bom nguyên tử. Stalin khi đó vênh mũi và trở nên sợ Mỹ. Tôi nhớ, có một lần, như thường lệ vào một đêm, chúng tôi ngồi ở nhà nghỉ cuối tuần Stalin. Stalin do ảnh hưởng của tin tình báo, mà các BCHTƯ Đảng không biết, bỗng nhiên xuất hiện lo ngại: mây đen chiến tranh ngột ngạt trên bầu trời Bulgari người Mỹ thông qua trung gian chuẩn bị tấn công Bulgary. Và bây giờ ông gọi những người lãnh đạo Bulgari về Moskva. Họ tới, đó là Chervenkov, Bộ trưởng quốc phòng Lukanov, một người cộng sản lão thành, tham gia chiến tranh chống Franco ở Tây Ban Nha, một chiến sĩ dày dạn. Stalin đích thân chỉ dẫn họ khép chặt biên giới Bulgari. Họ dẫn đến việc phải đào hào chống tăng, tăng phòng thủ mặt đất. Việc đưa ra những biện pháp sơ sài thì Bulgari có thể làm và chẳng cần chỉ dẫn. Stalin coi bầu không khí như sắp có chiến tranh xây dựng những kênh chính trị tương ứng.



Ngược lại, sự kiện tháng 2-1948 ở Tiệp Khắc, khi ấy giai cấp công nhân cướp chính quyền, đe doạ Pháp, Pháp và Mỹ. Tây Đức khi đó còn chưa ảnh hưởng đến chính sách quốc tế. Các máy bay trinh sát phương Tây bay gần như liên tục trên bầu trời Đông Đức và Tiệp Khắc, đặc biệt ở vùng biên giới. Các chuyến bay như thế được tiếp tục cả sau khi Stalin chết. Sau đó các chuyến bay này lan sang lãnh thổ Bulgari và Liên Xô, xâm phạm biên giới của chúng ta ở biển Baltic và những người khác vùng biển khác, tăng cường các vị trí của mình ở Thổ Nhĩ Kỳ, vì rằng Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Xô có những quan hệ xấu, khi Thổ Nhĩ Kỳ đưa yêu sách thời Stalin. Đường lối này thúc giục người Thổ ôm chân Mỹ. Các máy bay trinh sát của Mỹ hoạt động sát Zakavkaz. Họ cũng giả danh thám hiểm khoa học, để nghiên cứu đường tiến vào Armenia ở núi Ararat.



Ngoài ra, Mỹ bố trí các căn cứ của mình ở. Iran sợ chúng ta không kém sợ Thổ Nhĩ Kỳ, vì Stalin áp dụng biện pháp mất ổn định những người Azerbaizan ở Iran (ở đó người Azerbaizan nhiều hơn người Azerbaizan ở Azerbaizan), để Nam Azerbaizan, không thuộc về chúng ta, bằng cách nào đấy thống nhất với miền Bắc, thuộc Liên Xô. Từ các sân bay Iran, máy bay Mỹ luôn luôn có thể giáng đòn vào Liên Xô. Mỹ cũng thâm nhập vào Afganistan và Pakistan. Trên biển họ làm chủvới các hạm đội, tàu ngầm, tàu chiến. Trong thời gian này, mạnh nhất là tàu sân bay. Chính bằng tàu sân bay mà người Mỹ đánh tan người Nhật ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, tiến hành khủng bố chúng ta trên đất liền, trên biển và trên không, Mỹ đánh cả Liên Xô về kinh tế: đòi trả tiền phục vụ khoản vay-thuê, không buôn bán với chúng tôi và với nước khác.



Tất cả cái đó làm Stalin hoảng sợ. Và tôi cho ông đẩy mạnh làm bom nguyên tử. Và chúng tôi chế tạo nó. Từ Bộ chính trị lo vấn đề này là Beria, còn trực tiếp lãnh đạo là Vanikov. Bộ của Vaniko làm vấn đề năng lượng nguyên tử. Các nhà khoa học chúng tôi chế tạo thành công nguyên tử. Với sự giúp đỡ điệp viên ở nước ngoài, xuất thân là các nhà khoa học, những người này có cảm tình với chúng tôi và quyết định hợp tác với chúng tôi đương đầu với Mỹ như sen đầm quốc tế. Thậm chí, có bom nguyên tử rồi, chúng tôi cũng không ngang bằng Mỹ. chúng tôi không có phương tiện chở bom. Máy bay ném bom của Liên Xô khi đó là khá yếu hơn Mỹ, họ có “pháo đài bay”, có thể bay ở khoảng cách xa và có thể ném bom cả bđêm lẫn ngày. Chúng tôi cho nổ bom nguyên tử ở mặt đất như là mẫu. Ban đầu chỉ có một vài quả như thế. Nhưng Mỹ tích luỹ hàng chục quả. Vì thế nếu xung đột quân sự trực tiếp với việc sử dụng bom nguyên tử không hứa hẹn Liên Xô một điều tốt lành gì. Trong lúc thua về hàng không, sử dụng biển một cách rộng rãi. Và Stalin đặt nhiệm vụ xây dựng lượng lớn tàu tuần dương. Chúng tôi ước mơ cả tàu sân bay, nhưng còn vướng mắc về kỹ thuật. Tàu tuân dương cần lượng lớn tàu vớt mìn và tầu ngầm.



Dự kiến một chương trình rộng rãi chuẩn bị cán bộ. Kêu gọi sinh viên, những người tốt nghiệp cao đẳng vào Hải quân, và gửi họ vào học tại Học viện và các trường hải quân. Chuẩn bị những nhà chuyên môn tất cả các lĩnh vực, cần cho hải quân. Những người lãnh đạo quân sự chúng tôi chứng minh rằng không có lực lượng hải quân chúng tôi không có khả năng đương đầu với Mỹ trong cuộc chiến tranh tương lai. Hải quân Liên Xô có thể giải quyết không chỉ vấn đề tấn công, mà còn nhiệm vụ phòng thủ, không cho phép quân thù đổ bộ lên lãnh thổ xô viết và không cho phép tàu bè của chúng vào sâu reg vùng biển nước ta. Đáng tiếc, xây dựng lực lượng Hải quân hùng mạnh đã tiêu tốn khá nhiều tiền và làm hao mòn đất nước. Những bằng chứng cụ thể về biện pháp loại này lúc ấy tôi chưa có. Và mặc dù là uỷ viên Bộ chính trị, thậm chí không dám liều nêu câu hỏi về các vấn đề t[ng ứng. Những vấn đề như thế, Stalin giữ kín trong lòng ông và ông không cho phép nhiều người quanh mình biết được trạng thái quyết định. Ông xem như tất cả cái đó là đặc quyền của mình, và bất kỳ sự quan tâm nào xuất hiện ở пai đó trong chúng tôi đến điều này hoặc một loại vũ khí mới, dều gây cho ông sự nghi ngờ: Stalin không bị ràng buộc gì, có thể coi mỗi người trong chúng tôi là điệp viên của kẻ thù và tuyên bố rằng anh đã bị đế quốc lôi kéo.



Ngày đáng nhớ, 1 tháng sáu 1971, ngày mà buộc phải tuyên bố rằng chúng tôi đã nhận di sản nặng nề sau khi Stalin chết. Đất nước tiêu điều. Việc lãnh đạo đất nước thời Stalin, có thể nói là không tốt. Tập hợp một đám đủ các loại người. Lúc ấy có hạng người không có khả năng cách tân như Molotov, và có loại nguy hiểm đối với mọi người như Beria, và lèo lá như Malenkov, và thi hành mù quáng ý định của Stalinс như Kaganovich. Trong các trại tù có 10 triệu người. Những nhà tù đã bị quá tải. Thậm chí có cả nhà tù đặc biệt cho các cốt cán của Đảng, được xây dựng theo chỉ thị đặc biệt của Stalin, Malenkov. Tình hình quốc tế không thấy sáng sủa, cật sức vì “chiến tranh lạnh.



Gánh nặng lên vai nhân dân xô viết do việc ưu tiên sản xuất sản xuất vũ khí vô cùng to lớn. Nhưng giảm nhẹ gánh nặng này cũng không được, bởi vì cũng xuất hiện những vấn đề bổ xung dập tắt máy bay quân sự.



Người Mỹ có B-29, máy bay tốt nhất trong chiến tranh thế giới 2. Chúng tôi bắt chước nó và chế tạo TU-4. Nhưng đây là mác máy bay lỗi thời, còn người Mỹ đã lên trước. Thật ra chúng tôi sản xuất máy bay phản lực MiG-9, MiG-15 và La-15, máy bay ném bom hạng nhẹ Il-28. Tuy nhiên chúng chỉ là các phương tiện bảo vệ, còn máy bay tầm xa để tấn công, chúng tôi không có. Thời đấy chúng tôi không thể doạ thậm chí các căn cứ nước ngoài bố trí quanh Liên Xô. Chiến tranh Triều Tiên chỉ ra rằng MiG-15 về tốc độ thua xa máy bay tiêm kích Mỹ. Nhân dân chúng tôi, mệt mỏi vì chiến tranh và đói kém, cần được ăn, mặc và thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Đáng tiếc, thế năng công nghiệp Liên Xô thua Mỹ, mà chính cái đó - lại là chủ yếu trong chiến tranh. Chiến tranh hiện đại - là chiến tranh của các động cơ, kỹ thuật điện tử, đầu óc của các nhà khoa học. Ai xây dựng được vũ khí mới tốt hơn và nhanh hơn? Chúng tôi trong lúc ấy thua kẻ địch về thế năng. Không phải tất cả, những cán bộ quân sự chúng tôi, tập hợp quanh Bộ trưởng quốc phòng thời đấy là Bulganin, đều hiểu rằng Bulganin thực chất không phải người quân sự, mà do Stalin tặng cho ông danh hiệu nguyên soái, tôi không biết, để làm gì. Chẳng hạn, Bulganin không gợi cho tôi tin tưởng về phẩm chất này. Nhưng Stalin đưa ông chức vụ xa hơn, đứng đầu Chính phủ. Điều này có một số khía cạnh khác về làm việc. Tôi nhớ, Stalin khi có mặt chúng tôi lập luận thế này:



- Sau tôi, chúng ta bổ nhiệm ai làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô? Beria? Không, ông không người Nga, mà là người Gruzin. Khrusev? Không, ông là công nhân, cần có thếm kiến thức. Malenkov? Không, ông chỉ biết đi tới đi lui. Kaganovich? Нет, ông không phải người Nga, mà là người Do Thái. Molotov? Không, già rồi, không vươn vai được nữa. Vorosilov? Không, yếu đuối. Saburov? Pervukhin? Những người này chỉ dùng ở vai trò hạng hai. Còn lại một Bulganin.



Đương nhiên, không ai thiệp vào suy nghĩ của Stalin đang được đọc to thành tiếng. tất cả im lặng.



Trong khi đó, khoản tiền đầu tư không ngừng cho quốc phòng đã đạt đến giới hạn. Công nghiệp phát triển theo cả chiều sâu và chiều rộng. Quân đội đông người đè nặng lên ngân sách. Nó cũng tốn một lượng lớn phương tiện vật chất, làm hao hụt nguồn dự trữ người, có thể được sử dụng để phát triển kinh tế hoà bình. Phương Tây nhìn thấy điều này và còn xáo tung mạnh hơn chạy đua vũ trang, để con ngựa kinh tế xô viết không duy trì nổi cuộc đua này. Phương Tây cũng hy vọng sự không hài lòng của dân chúng, cái đó làm giảm yếu ý chí hàng ngũ xã hội chủ nghĩa. Có sự căng thẳng phức tạp từ cả hai phía. Quân đội xô viết buộc phải tiếp tục tăng lên. Chỉ riêng ở CHDC Đức, tiền đồn xã hội chủ nghĩa này, chúng tôi có khoảng một triệu lính. Sau đó chúng tôi, bị cắt giảm lực lượng vũ trang, ở CHDC Đức còn nửa ­triệu. Không liều lĩnh hơn nữa khi tính đến sự có mặt của quân Anh, Pháp, Mỹ ở Tây Đức. Nói chung sau khi Stalin chết, thoạt đầu chúng tôi bế tắc trong công việc quân sự.



Chưa hết. Có nỗi lo âu túi bụi do tình thế trong nước. Trước tiên tình thế nông nghiệp làm chúng tôi lo ngại. Bánh mỳ và thịt không đủ, bơ chẳng có. Không thể quẳng thêm tiền để phát triển công nghiệp. Không có công nghiệp hoá đất nước chúng tôi phải chịu tụt hậu cả trong kinh tế, cả trong quân sự. May mắn, nhân dân xô viết cần cù hiểu tình hình và ủng hộ chính sách đối nội và đối ngoại ĐCSLX. Cuộc can thiệp đầu tiên thực sự về quân sự là vào năm 1954, Đoàn đại biểu chúng tôi sau khi thăm Trung Quốc quay về Vladivostok. Ở đó chúng tôi thăm Hạm đội Thái Bình Dương và nghe tư lệnh hạm đội chuẩn bị phòng thủ Vladivostok, ở đó bùng nổ hoạt động quân sự. Chúng tôi yêu cầu Kuznesov, vừa được thay chỗ Bộ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô từ Moskva đến Vladivostok. Chúng tôi đưa ông quay lại chức vụ. Ông bị Stalin trừng phạt và bị giảm lon. Chúng tôi cho là điều này không đúng, vì Kuznesov bị sự chuyên quyền Stalin làm hại.



Bây giờ Kuznesov đề nghị chúng tôi xem xét chương trình và chuẩn bị một buổi diễn tập nhỏ trên biển. Chúng tôi bằng tàu tuần dương, đến một khu vực định trước, bắt đầu quan sát cuộc diễn tập trên biển có tầu ngầm và tàu phóng lôi và cả làm gì biên phòng bờ biển tham gia. Chúng tôi không đi xa bờ, chỉ đi dọc bờ biển. Ở đó tôi lần đầu tiên tôi nhìn thấy tận mắt chiến đấu trên biển như thế nào. “Quân xanh” (“địch”) tấn công tàu tuần dương chúng ta. Ban đầu tàu ngầm tấn công chúng ta, và nghĩ rằng chúng tôi không biết vị trí của chúng. Hình như một chỉ huy tàu tuần dương quả là không biết điều này. Kuznesov biết, vì rằng chính ông xác định kế hoạch chiến đấu. Tàu ngầm phóng ngư lôi. Các quả ngư lôi “lao trúng” vào tàu tuần dương và “làm chìm” chúng tôi. Sau đó các tàu phóng lôi tấn công. Chúng gây cho tôi gây ấn tượng nặng nề: nhiều tiếng động, khói, nhưng không có một quả ngư lôi nào trúng mục tiêu, mặc dù cuộc tấn công tiến hành ở khoảng cách gần. Cuộc tấn công trên thật của tàu phóng lôi có lẽ gây nhiều thiệt hại lớn. Tuy nhiên, các thuỷ thủ phấn khởi về buổi tập. Cuối cùng, chúng tôi bơi qua một chiếc tầu, nằm phơi bụng (tàn tích chiến tranh hoặc bị tán công), và chúng tôi bắn vào nó. Tốt hơn là diễn tập ở cảng Lữ Thuận, ở đó chúng tôi cũng bắn tập. Về nguyên tắc, tôi không nghi ngờ rằng thuỷ thủ có trình độ tốt và làm chủ vũ khí của mình. Chủ yếu là nó phải đáp ứng mức hiện đại.



Nói chung những điều này phảng phất những cái cũ. Trước đó, tôi cũng thấy tên lửa từ máy bay tấn công vào tầu của Hạm đội Hắc hải, bắn chính xác và gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh, đặc biệt công suất nổ. Ngay từ quả tên lửa đầu tiên, mục tiêu “bị chìm.



Nhưng khi bây giờ bắn đại bắc và phóng lôi, tôi hiểu tất cả những nhược điểm của nó. Mặt khác - máy bay mang tên lửa có thể hoạt động cả trên biển, và bảo vệ bờ biển tốt hơn pháo. Tôi kết luận như vậy khi xem các tàu ở Vịnh “Chiếc sừng vàng” (Vladivostok) và ở cảng Lữ Thuận. Tôi không thể hiểu, sự ngơ ngác năm 1904, khi hạm đội Nga bị Nhật tấn công dễ dàng. Từ Vladivostok tôi có ấn tượng đây là vịnh lý tưởng để bảo vệ khỏi các cuộc tấn công và nơi neo đậu an toàn tàu bè.



Tôi nói với những nhà lãnh đạo quân sự rằng:



- Hoàn toàn không hợp lý bây giờ duy trì những tàu chiến trong vịnh, thuận tiện trong thời bình. Trước kia hải quân không có địch thủ nguy hiểm, không quân, và vịnh này dễ dàng bảo vệ tránh được quân thù. Giờ đây, với máy bay tấn công, nó không thể bảo vệ được và, ngược lại, biến thành cái bẫy. Phải chuyển gấp các tầu và tìm cho chúng một chỗ đỗ nào đấy trên đảo để tàu có thể hoạt động, vì rằng ở đây họ bị trói và không thể từ đó chẩy, nếu chiến tranh đột ngột bắt đầu”.



Đến đảo Kuril. Tôi quan sát diễn tập phòng thủ bờ biển. những thanh niên thạo việc và bắn giỏi. Chúng tôi trao cho Kuznesov lựa chọn. Bắt đầu chuẩn bị chuyến đi. Điều này đòi hỏi nhiều việc phải chuẩn bị như bến tầu, chỗ đỗ, phương tiện sinh hoạt, và chi phí lớn, nhưng là cần thiết với họ. bảo vệ Vladivostok theo kiểu cũ là không tưởng tượng được. Lúc ấy lần đầu tiên, trong mắt tôi, uy tín của đô đốc Kuznesov bị xa rời, khi ông không nắm bắt những yêu cầu của kỷ nguyên mới, dù ông chưa già.



Từ Vladivostok chúng tôi đến Nikolaievsk, đóng dưới Amur ở biển Okhot. Ở đó, người ta đề nghị xây dựng nhà máy đóng tàu chiến. Tôi nảy sinh ra nghi ngờ. Ở Nikolaievskе? Nhà máy đưa vào đâu? Khó bảo vệ. Ngoài ra, cần nhiều tiền, phải phải xây dựng đường sắt. Lai còn phải chở vật liệu và kim loại đến Nikolaievsk để xây dựng. Stalin thông qua quyết định xây dựng nhà máy mới. Khi xét chi tiết, chúng tôi quyết định tốt hơn hết cứ để tàu ở chỗ cũ.



Trên tàu vớt mìn chúng tôi tới Nam Sakhalin, vùng biển rất sóng gió. Chúng tôi quan sát cảng cá. Nó là trạm nổi. Liên Xô không có nhà máy nổi để chế biến số cá đánh được. Tất cả được chuyển vào bờ, chuyên chở và chế biến. Cá bị thối, phải vứt xuống biển hoặc nuôi lợn. Sau đó con lợn sặc mùi cá. Tất cả những con đường thật là khủng khiếp. Chúng tôi chật vật leo lên xe. Thiết bị không đủ. Nhưng ai có lỗi? Không với tay đến được Nam Sakhalin, đất nước còn vết thương sâu do chiến tranh gây ra.



Chúng tôi thăm bộ đội quân khu Viễn Đông. Chúng tôi dừng ở tư lệnh quân khu, Trufanov, người tôi biết rõ ở trận Stalingrad. Chúng tôi chú ý việc sản xuất thực phẩm cung cấp cho Nam Sakhalin, đặc biệt trồng khoai tây. Khoai tây rau quả được chở từ lục địa, mặc dù điều kiện tự nhiên ở đây rất tốt. Nam Sakhalin giống Ukraina: ánh sáng, đất mùn, tham thực vật giàu có... Lúc ấy chỉ có đưa tay, dắt mọi người và đảm bảo quyền lọi cho họ, còn sau đó thì ở đó sống không tồi hơn nhiều vùng ở Liên Xô. Chúng tôi quay lại Vladivostok bằng máy bay, nhưng Mikoian còn ở lại Nam Sakhalin. Ông tham gia vấn đề buôn bán và nói:



- Tôi muốn được thảo luận, cái gì và làm thể nào và cái gì cần làm để đảm bảo dân có thực phẩm..



Nói chung, chuyến đi Viễn Đông thôi thúc ý nghĩ, việc phòng thủ đất nước nằm ở tình trạng không như chúng ta muốn. Do vậy phải nghĩ cách nâng cao khả năng quốc phòng Liên Xô. Tôi giảm mức tin cậy Đô đốc Kuznesov. Chúng tôi đánh giá lại ông này. Mặc dù chúng tôi đặt đúng, không kỳ thị con người từng bị Stalin đàn áp, nhưng khi đó Kuznesov làm hại cái khác. Nhưng bây giờ thấy sự nguy hiểm, dần dần phá hoại uy tín của Đô đốc, vì đứng trước vấn đề xây dựng hệ thống quốc phòng theo nguyên tắc mới.



Kuznesov trình BCHTƯ Đảng thư đề nghị xây dựng hải quân. Cần khoảng 110-130 tỷ rúp trong 10 năm. Lúc đó, đây là số tiền khổng lồ. Chúng tôi suy nghĩ kỹ để không có sai lầm. Thư được gửi theo đúng quy định, và chúng tôi đặt vấn đề tại Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Chúng tôi mời Kuznesov và những tướng lĩnh khác đến. Dự tính đóng tàu tuần dương, tàu vớt mìn và tầu ngầm. Hướng chính là tàu tuần dương, nói chung là hạm đội trên biển. Có chút nghi ngờ, tôi đề nghị:



- Hôm nay giải quyết vấn đề này, gác lại đến phiên sau (chúng tôi họp hàng ngày), để Đoàn chủ tịch có thể làm quen sâu hơn với đề nghị này.



Bởi vì vấn đề này là rất lớn, nên các vấn đề khác chúng tôi cũng hoan tiếp theo. Ra khỏi văn phòng mình ở Kreml, tôi đi bộ theo hành lang, mong gặp người nào đó đến họp. Những người được mời ngồi túm tụm ở cuối một toà nhà khác. Tôi vượt qua Kuznesov, và tôi đi với ông bên cạnh. Khi đó tôi và Kuznesov có quan hệ tốt, vì tôi đứng lên minh oan cho ông.



Ông biểu hiện rất khó chịu và nói với tôi tương đối thô lỗ:



- Còn giữ quan hệ tốt với hải quân đến khi nào?



Tôi nói với ông:



- Tôi không hiểu. Tôi cho rằng quan hệ là tốt.



- Tại sao không giải quyết vấn đề?



- Chúng tôi không từ chối, còn phải xem. Muốn nghiên cứu tốt hơn đề nghị để có quyết định đúng.



Ông băn khoăn và đối đáp nhấm nhẳn với tôi. Sau đó chúng tôi ra về và xe ai người ấy ngồi. Tôi lo ngại tình trạng giận dữ như thế, tôi có thể nói, sự giống nhau độc tài với công việc. Chẳng có lẽ ông ta cho rằng, không có gì phải phán xét chân lý trước đây? Có tin sự lãnh đạo không? Điều này dùng hoàn toàn không hợp lý. Ở đây thấy rõ sự xâm phạmquyền hạn của Chính phủ và Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Trước khi ngồi vào xe, tôi nói hết tất cả:



- Đợi một tuần, chúng tôi còn xem xét tỷ mỷ vấn đề, và chúng tôi quay lại với ông”.



Sau một tuần, tại phiên họp thường kỳ, chúng tôi quay về vấn đề đó. Cách đặt vấn đề của Kuznesov đối với tôi là không đúng: không giải quyết được nhiệm vụ mới quốc phòng đất nước, vì nó đòi hỏi tiêu một khoản tiền khổng lồ. Và tôi nước Đô đốc:



- Đồng chí Kuznesov, hãy hình dung tình hình hôm nay. Nếu như chúng tôi bây giờ cho ông tất cả những tàu như ông yêu cầu, thì Liên Xô chiếm vị trí thứ mấy so trong số những nước thù địch nhất của chúng tôi? So sánh, chẳng hạn, với Mỹ và Pháp? Chúng ta liệu có thể đương đầu trên biển bằng lực lượng thống nhất của họ không?



- Không, chúng tôi có lẽ thua họ đáng kể.



Ông trả lời trung thực. “Suy nghĩ thế nào mà tiêu khoản tiền này? Chúng ta sau 10 năm mới có những chiếc tàu mà ông đặt hàng, tuy nhiên thậm chí ngay bây giờ chúng tỏ ra là yếu hơn. Nhưng sau 10 năm nữa, nghĩa là, còn yếu hơn nữa. Bởi lẽ Mỹ và Anh thúc đẩy hạm đội của mình và họ có nhiều khả năng, cả vật liệu và vả tiền. Vì chúng ta cũng tiêu tiền, những không giải quyết nhiệm vụ quốc phòng của Liên Xô”.



Mọi người bắt đầu lần lượt phát biểu. Kết luận đề nghị đó là không đúng. Chúng ta trong thời hạn ngắn nhất khắc phục sự tụt hậu. Liên Xô bị các căn cứ Mỹ bao vây và hoàn toàn nằm dưới tầm của máy bay ném bom của Mỹ. Kẻ địch vượt chúng ta cả về số lượng lẫn chst lượng vũ khí. Nhưng đối với chúng ta, Hải quân không phải là lực lượng quyết định, chúng tôi không phải là nước Anh. Nước Anh - là đảo quốc, không có Hải quân không thể tấn công, không phòng thủ, hoàn toàn phụ thuộc vào chuyên chở nguyên liệu từ lục địa, đòi hỏi nước Anh phải đảm bảo giao thông, liên lạc trên biển. Mỹ không có hải quân không thể duy trì quân đội của mình tại châu Âu. Họ cần tung người và vũ khí và các thứ khác.



Tôi đề nghị:



- Hãy hoãn quyết định xây dựng lực lượng hải quân mới và để suy nghĩ thêm. Hình như trước tiên chúng tôi cần giải quyết vấn đề hàng không, chế tạo những máy bay, mà kẻ thù của chúng ta đang có.



Tên lửa chúng khi đó tôi vẫn chưa thể đưa vào và vì thế gọi không quân là vũ khí chủ yếu. Tất cả đều đồng ý. Nhưng Kuznesov sôi tiết thực sự và sau phiên họp này bắt đầu tiến hành tuyên truyền chống lại quyết định, hòng làm fỉam uy tín ban lãnh đạo mới của Liên Xô. Ông, chẳng nể gì điều đó, ủng hộ đường lối của Stalin về việc ưu tiên xây dựng Hải quân, mặc dù Stalin chấp nhận chương trình này không có Kuznesov, khi Kuznesov bị cách chức chỉ huy. Đúng là bản tính chuyên môn đã che phủ con mắt của vị Đô đốc cản trở ông nhign đúng sự việc. Sau đó té ra là, chính Kuznesov gửi chương trình này cho Stalin, khi ông còn được Stalin tin. Stalin đi rồi, mà đường lối của ông vẫn tiếp tục con đường của mình.



Chúng tôi có ấn tượng, Kuznesov quyết định, nếu Stalin không còn, thì không cần coi trọng ban lãnh đạo này. Điều này làm chúng tôi nổi giận. Chúng tôi bắt buộc cách chức ông khỏi tư lệnh trưởng Hải quân và tước bỏ mọi danh hiệu quân đội của ông. Sau đó Malinovski nói với tôi rằng các tướng lĩnh phải chịu đựng Kuznesov, vì rằng quân hàm ông đã nhận từ lâu và là người tham gia tích cực chiến tranh chống Đức Hittler và Nhật Bản. Cá nhân tôi thích Kuznesov, tôi kính trọng ông về lòng dũng cảm khi báo cáo cho Stalin về thực trạng. Nhưng, khi cuộc sống chạm nhau, lợi ích công việc đặt lên trên. Thậm chí bây giờ, sau một số ít năm, tôi giả thiết rằng quyết định của chúng tôi khi đó là không tránh khỏi, theo thực chất (nhân danh quyền lợi đất nước), theo hình thức (để cảm thấy có một sự tranh cãi nào đấy).



Sau này Kuznesov viết hồi ký về chiến tranh. Sachs nằm ở chỗ tôi, nhưng tôi không đọc, vì rằng sau không đọc nhiều gồi ký, tôi đi đến kết luận rằng đa số hồi ký của các tướng lĩnh cần phải tranh luận, mà điều này đối với tôi là ấn tượng mạnh, và tôi phải rất chịu đựng sự bất bình, nếu gặp sớm hơn và không có khả năng tranh luận nó. Đặc biệt trong những trường hợp, khi các tướng lĩnh nịnh bợ trước quần đùi Stalin.



Gạt bỏ chương trình Kuznesov, tất cả chúng tôi chú ý đến Không quân, đặc biệt máy bay ném bom. Iliusin thiết kế máy bay ném bom phản lực hai động cơ. Không phải máy bay chiến lược, mà chỉ là máy bay chiến thuật. Artem Mikoian và Gurevich chế tạo máy bay phản lực MiG-15. Nó được sử dụng như máy bay tiêm kích tốt nhất sau chiến tranh và ở chiến tranh Triều Tiên tỏ rõ ưu thế vượt trội máy bay tiêm kích Mỹ, nhưng chỉ duy trì ngắn ngủi. Người Mỹ nhanh chóng tung ra máy bay có tốc độ lớn và bắn hạ máy bay tiêm kích chúng tôi một cách dễ dàng, trên không phận Bắc Triều Tiên. Sau này xuất hiện MiG-17, MiG-19 và MiG-21 siêu thanh. Tupolev thiết kế máy bay ném bom TU-4, sau đó máy bay ném bom tầm xa TU-16. Tuy nhiên ông vòn có cả TU-95. Chúng tôi thảo luận vấn đề này với Andrey Nicolaievich, tôi có quan hệ tốt và kính trọng ông. Ông nói rằng máy bay, mà chúng tôi đòi hỏi, bây giờ không thể làm được, vì khoa học chế tạo máy bay chưa cho phép làm điều này. Tôi nói thêm, khi Stalin yêu cầu Tupolev chế tạo dựng máy bay ném bom, có thể ném bom lãnh thổ Mỹ, Tupolev thẳng thừng từ chối:



- Tôi không thể làm được những máy bay như thế”. Điều này đem lại danh dự cho ông, mặc dù ông ngồi tù vì tội dũng cảm của mình. Tuy nhiên ông không nhận một việc không thể làm được.



Stalin lôi vào công việc Miassev, một trong những học trò của Tupolev, một kỹ sư rất năng động. Ông xây dựng các mẫu khác nhau, nhưng các mẫu đó cũng không cũng tỏ ra không được như mong muốn, không tương xứng với sự bổ nhiệm bổ nhiệm, bởi vì nó bay được đến Mỹ, nhưng lại không thể quay về. Lúc ấy Miassev đưa ý tưởng: máy bay nằm ở Mehico, ném bom Mỹ. Chúng tôi trả lời đây là chuyện đùa:



- Mehico - không phải là mẹ vợ chúng ta, nằm ở đó nghĩa là cơ hội tốt nhất bị mất máy bay.



Ý tưởng này là ô danh, không tin vào thành công và chi phí rất tốn kém để thực hiện. Việc thử nghiệm các mẫu của ông bắt đầu. không thành công, một số phi công chết, và đội phi hành sinh ra nghi ngờ máy bay của ông. Phải tìm giải pháp khác. Nhưng giải pháp nào?



Thật ra khi đó cũng bắt đầu chế tạo tên lửa. Lo việc này là Korolev. Tôi thường xuyên nhớ tới Sergey Pavlovich, là người đưa nước ta vào vũ trụ. Khi thấy rõ máy bay ném bom của Miassev không thể tấn công Mỹ, chỉ còn hy vọng vào tên lửa. Tôi kính trọng cao Miassev. Nhưng ông không làm được những cái không thể. Ông Lavochkin tài năng đã đề nghị về việc tên lửa tầm xa. Các phi công yêu thích máy bay tiêm kích của Lavochkin trong trong thời gian chiến tranh. Chẳng bao lâu sau, ông nhận việc chế tạo tên lửa. Nó phức tạp: máy bay được cất cánh bằng tên lửa mang đến một độ cao nào đấy, sau đó tách ra và bay tiếp bằng đông cơ phản lực. Ý tưởng này có tên mật là “Bão táp.



Nhưng không làm được.



Để bắn đến nước Anh, chúng tôi có tên lửa Korolev Р-5. Nhưng đến Mỹ? Tên lửa phòng không Lavochkin được đặt quanh Moskva. Nhưng đây là hoàn toàn khác. Con trai của tôi, Sergei, đến làm việc với Chelomey, nhưng tên lửa của cháu xuất hiện sau này. Phải tiêu một khoản tiền lớn để bảo vệ Moskva bằng một vành đai tên lửa để địch không đột phá thủ đô. Sau này thay thế những tên lửa tĩnh, mất nhiều thời gian chuẩn bị phóng, chúng tôi xây dựng tổ hợp cơ động dễ hơn phân tán, đến mức trinh sát địch khó xác định vị trí của nó. Việc xây dựng vành đai phòng không là công khai cho mọi người biết. Người nước ngoài, khi bay trên máy bay hành khách, từ trên cao nhìn thấy tất cả, mặc dù chúng tôi cũng đã nguỵ trang nó. Chính tôi, khi bay, nhiều lần thấy từ trên cao những tên lửa này và con đường dẫn đến nó.



Sau đó chúng tôi quyết định xây dựng một vành đai phòng thủ như thế ở Leningrad. Khi xuất hiện tên lửa phòng không cơ động, chúng tôi bỏ việc xây dựng vành đai phòng không Leningrad. Khi Stalin còn sống tôi bản thân chưa biết Korolev. Chúng tôi với ông, khi tên lửa của ông chuẩn bị xuất xưởng. Lúc đó Ustinov trình tôi rằng nhà thiết kế Korolev mình tới xem tên lửa đạn đạo của ông. Chúng tôi quyết định đến đó với toàn bộ Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng. Tại nhà máy người ta chỉ cho chúng tôi quả tên lửa này. Thề rằng, những người lãnh đạo đất nước nhìn vào nó như lạc vào rừng. Trong nhận thức, chúng tôi không thể nào hiểu là một cái ống lớn trông như điếu xì gà bay được đến một chỗ nào và ffánh bại ai đấy bằng một sức nổ. Korolev giải thích cho chúng tôi, nó bay như thế nào, có thể đạt được cái gì. Nhưng chúng tôi đi quanh quanh nó, như ông nông dân ra chợ mua miếng vải hoa.: sờ mó, nắm những mấu, suýt nữa thì liếm nó. Có thể nói, những kẻ dốt nát như thế lại có mới quan hệ kỹ thuật. Than ôi, trong những tháng này không chỉ có những người dốt nát những chúng tôi, mà còn tất cả những người, lần đầu tiên đụng đến kỹ thuật tên lửa.



Lãnh đạo tin Korolev. Korolev nói rằng tầm bay xa của tên lửa của ông khoảng 7 nghìn kilomet. Điều này làm vừa lòng chúng tôi, vì rằng nó phủ một phần đáng kể lãnh thổ Mỹ. Tất nhiên chúng tôi chưa định bắt đầu chiến tranh nếu nhận được tên lửa này. Chúng tôi chỉ muốn đe doạ bằng tên lửa của mình để đánh trả, nếu Mỹ nghĩ đến tấn công chúng tôi. Mỹ khi đó tiến hành chính sách cực kỳ hung hăng. Korolev phóng tên lửa của mình. Ông gọi nó là “số bẩy.



Nó bay thành công, mặc dù chiếc đầu bị nổ. Về sau, tai nạn hiếm dần, cả trên đất, cả khi bay, nhưng không có nạn nhân. Không có tai nạn, những kỹ thuật mới hiếm được đưa vào cuộc sống. Thậm chí cố ý tránh. Cuối cùng, Korolev làm rất tốt nhiệm vụ của mình. Tên lửa trở nên bay một cách tin cậy, và chúng tôi năm 1957 phóng vào vũ trụ một vệ tinh nhân tạo của quả đất. Tất cả thế giới giật mình. Người ta vui mừng và ca ngợi chuyến bay này, cũng có người kinh ngạc rằng chúng tôi đạt mức kỹ thuật đến như thế. Tên lửa chúng tôi làm người Mỹ run sợ. Giờ đây Liên Xô trở nên có khả năng bắn qua đại dương bom hạt nhân bằng tên lửa, trong thời gian không chê vào đâu được. Hồi xưa, tôi phát biểu trước cho công chúng rằng chúng tôi xây dựng tên lửa chống tên lửa, có thể trúng một con ruồi. Vâng, đây đơn giản là câu nói hay mà thôi. Tôi sử dụng câu này để bút chiến, để làm tỉnh táo đối phương và biểu thị rằng chúng tôi có tên lửa cũng như các phương tiện tấn công, các phương tiện bảo vệ. Về lý thuyết tên lửa có khả năng đánh chặn. Trong vũ trụ có đường giáp ranh tên lửa, tiếp theo, và tên lửa này có thể tiêu diệt tên lửa kia, nếu đặt đúng. Nhưng đây là một nhiệm vụ khó. Nhưng trong những năm ấy còn không có tên lửa tầm xa, thì chưa ai nghĩ tới đánh chặn chúng.



Việc phóng tên lửa của Sergey Pavlovich Korolev làm Chính phủ Liên Xô thở phào nhẹ nhõm. Sự thật, không phải lập tức vấn đề quốc phòng được giải quyết. Chúng ta có quá ít tên lửa, và chúng lại quá đắt. Chúng tôi chế tạo chúng theo cách phòng thí nghiệm, bằng những thợ cả. Chưa thể sản xuất hàng loạt. Ngoài ra, chuẩn bị tên lửa để phóng trong điều kiện chiến đấu đòi hỏi nhiều thời gian. Vì thế “số bẩy” và không trở thành tên lửa chiến đấu tầm xa. Việc phóng nó rất phức tạp, trước khi phóng phải đặt thiết bị dẫn đường đến mục tiêu. Nhưng để đảm bảo bắn trúng, đòi hỏi thiết bị đặt ở khoảng cách 500 kilomet từ vị trí xuất phát.



“Số bẩy” được phóng từ bệ có dạng cái bàn. Tôi đặt nhiệm vụ trước Sergei Pavlovich:



- Nếu xảy ra chiến tranh, khi chúng tôi dùng tên lửa, thì kẻ địch không để cho chúng tôi thời gian để chuẩn bị. Liệu có thể làm thế nào để tên lửa chuẩn bị nhanh hơn để vào trạng thái chiến đấu?



- Không, hiện thời chúng tôi không thể làm điều này - ông trả lời.



Bí mật nằm ở chỗ nhiên liệu cho tên lửa. Chúng tôi phóng chúng bằng kerosin và ô-xy, người Mỹ - hydro và ô-xy. Với hydro các chuyên gia xử lý một cách khác nhau, hydro có nhiệt năng cao và vì thế, tốt hơn. Tuy nhiên chúng ta chưa thiết bị chế tạo hydro cần thiết. Ý nghĩ về sự nhất thiết giữ tên lửa ở tư thế sẵn sàng khiến tôi nói và những nhân vật khác. Qua Ustinov, đến tai Yangel. Yangel khi đó chưa mấy tên tuổi. Nhưng sau một thời gian Ustinov báo cáo rằng Yangel làm tên lửa hoạt động tức khắc bằng a xít, để lên nòng.



Tôi nắm lấy đề nghị này. Thật đúng là thiếu nó chúng tôi không thể đảm bảo phòng thủ Liên Xô! Sự thật ăn mòn thùng chứa, và tên lửa không thể đứng lâu được. Lại còn việc nạp cũng cần thời gian, mà kẻ địch có thể không cho.



- Chúng ta hãy nghĩ tới thùng chứa thay được, - tôi nói - Tên lửa đứng được bao nhiêu lâu, khi axit chưa kịp ăn mòn kim loại? Chúng ta vứt thùng chứa cũ, thay bằng thùng mới đằng nào cũng thế.



Khi Yangel nói là ông tính đến khả năng giải quyết bài toán cách gắn tên lửa một ngòi khởi động, Korolev chẳng bao lâu biết về điều này. Korolev coi mình là đàn anh trong việc chế tạo tên lửa. Và bỗng nhiên việc giải quyết vấn đềmà ông từ chối, lại rơi vào tay một nhà thiết kế chưa có tên tuổi? Korolev gặp tôi:



- Tôi đề nghị đưa tên lửa này cho tôi - ông nói - tôi sẽ làm nó bằng axit, và nó sẽ đứng trong tư thế sẵn sàng phóng thậm chí không cần thiết bị dẫn đường đặt cách tên lửa 500 kilomet.



- Rất tốt, làm đi - tôi trả lời - những chỉ bằng ô-xy thôi, nghĩa là tên lửa tốt nhất của ông. Nhưng trao cho ông tên lửa chạy bằng axit, mà Yangel đề nghị, tôi sợ rằng ông ta giận. Ông đã từ chối, Yangel nhận việc, còn bây giờ ông muốn thu tất cả về tay mình. Điều này không thể. Ý tưởng được đẻ ra ở Xưởng của ông ta, cứ để ông ta giải quyết vấn đề của mình. Bắt đầu thi đua: ông chế tạo ô-xy tên lửa, hoạt động tức thì, còn ông ta - bằng axit.



Korolev là người khí phách, nét mặt của ông rõ ràng là không hài lòng với lời của tôi. Nhưng ông một người thông minh, hiểu rằng tôi nói đúng, và đồng ý. Thế là bắt đầu giải quyết vấn đề chế tạo tên lửa tầm xa, xuyên lục địa. Nhưng hiện thời chỉ có tên lửa ở Korolev, còn ở Yangel - mới chỉ là ý tưởng. Tuy nhiên, xích lại công việc là là Lavochkin. Không lâu sau, ông báo cáo rằng tên lửa phức tạp của ông sẵn sàng đem thử. Sau này, chúng tôi biết nó cũng tương tự như cách đi của Mỹ. Rõ ràng, suy nghĩ chung từ những số liệu khoa học mà tất cả các nhà thiết kế và nhà khoa học sử dụng nó. Tôi không nghĩ rằng đó là kết quả gián điệp. Đáng tiếc, tên lửa Lavochkin thua Korolev về chất lượng chiến đấu. Sau đó cả Miassev cũng đề nghị làm. Tên lửa của ông gọi là “Buran”.



Thật ra, ông phát biểu đề nghị của mình, khi chúng tôi tin tưởng tên lửa Korolev và cho là chính nó là vũ khí vượt đai châu của chúng tôi trong tương lai. Hơn nữa, chúng tôi từ bỏ chế tào máy bay ném bom tầm xa và đề nghị ngừng công việc đó, chỉ làm những chiếc dở dang. Một số chiếc máy bay này tham gia diễu binh. Ở phương Tây người ta gọi nó là “Bizon”.



Than ôi, “Bizon” chúng ta không thoả mãn chúng tôi.



Và chúng tôi ưu tiên giải quyết vấn đề chế tạo tên lửa xuyên lục địa bởi bốn Phòng thiết kế; nếu một Phòng không được, thì lấy phòng kia, chúng tôi có khả năng chọn những giải pháp thành công nhất, sau đó tổ chức sản xuất hàng loạt tên lửa xuyên lục địa. Khi Korolev chứng minh ưu thế tên lửa của mình, chúng tôi đóng và cắt giảm chi phí của các công việc khác nằm ở giai đoạn bắt đầu. Chính những Phòng thiết kế này ngốn rất nhiều tiền của nhân dân. Có những thí nghiệm trị giá hàng tỷ rúp. Nói riêng, đóng cửa cả việc chế tạo “Buran”.



Miassev đau khổ nhiều. Ông không thành công máy bay ném bom tầm xa, còn bây giờ lại đóng tên lửa của ông. Có thể, ông chế tạo nó, nhưng chúng tôi không có ý định mất tiền và thời gian, khi mà chúng tôi có tên lửa Korolev. Than ôi, đôi khi chúng tôi làm mất không những tiền, và hơn thế nữa, những tài sản quý giá: Lavochkin, nhà thiết kế thiên tài, chết yểu, công lao của ông trước tổ quốc vẫn chưa tìm thấy trong các tài liệu tham khảo.



Sinh thời, Stalin thời gian quyết định xây dựng nhà máy ngầm để sản xuất bom mguyên tử. Sau đó đề nghị nó thành nhà máy lắp ráp tên lửa, nói riêng, không tồn tại, nếu không tính tên lửa Р-5. Việc xây dựng tiến hành ở Siberi, một nửa nhà máy được trang bị. Tôi đề nghị Đoàn chủ tịch BCHTƯ bay đến Sibiri để làm quen tại chỗ quá trình làm việc. Trong thời gian chiến tranh tôi người ủng hộ nhà máy ngầm và, khi công tác tại Ukraina, đã viết một báo cáo cho Stalin, đề nghị xem xét thiết kế những mỏ than mới, nơi có những vỉa than dày, để khai thác thêm. Đặc biệt tại những hầm mỏ, tương tự Svetlisa, đặt dưới hồ bơi ngoại ô. Trong báo cáo, tôi nói có điều kiện lý tưởng cho nhà máy ngầm. Cả ở những chỗ khác, khai mỏ, có thể củng cố thêm bằng bê tông và biết chỗ này thành xưởng quân đội.



Hittler cũng sử dụng nhà máy ngầm tương đối rộng rãi. Kinh nghiệm còn in đậm dấu ấn ở nước ta. Đến Sibiri, tôi và những nhà lãnh đạo địa phương xem những công trình bằng đá hoa cương, chắc và tốt. Nhưng nó lại ít có tác dụng trong sản xuất hiện đại. Nói khác đi là không thể: xẻ đá hoa cương nguyên một nhà máy! Nhưng chủ yếu, tôi đã thấy nó không giải quyết được vấn đề. Nghĩ sử dụng nó như thế nào? Sản xuất trong thời kỳ chiến tranh tên lửa?



- Ý tưởng này hoàn toàn vô căn cứ - tôi nói - Nếu bắt đầu chiến tranh hạt nhân-tên lửa, thì nó là cuộc chiến tranh tức thì. Tại sao chúng ta lại tính đến thời gian dài, để sản xuất tên lửa? Tất cả các nhà máy cung cấp linh kiện sẽ bị phá huỷ. Ở đây xem ra chỉ có lắp ráp. Chúng tôi cần máy móc lớn, thiết bị, hàng nghìn thứ. Nhưng việc vận tải sẽ bị loại khỏi vòng, và các ông sẽ tuyệt vọng. Có thể thua cuộc chiến tranh tương lai đúng sau một số ngày. Thậm chí nếu tiếp tục hoạt động du kích, thì nhà máy, đằng nào cũng thế, bị loại ra khỏi vòng. Ý tưởng nhà máy ngầm là vô căn cứ, nó làm kiệt quệ tiền, nhưng không giải quyết được nhiệm vụ. Chúng tôi phí công, phí tiền, tuy nhiên chúng tôi không tin rằng nó đảm bảo phòng thủ đất nước. Nhưng bao nhiêu tên lửa trong một năm mà nhà máy này chế tạo được?



Họ cho tôi một con số. Lúc ấy tôi tiếp tục:



- Chúng tôi phải làm nhiều hơn nữa. Thậm chí hàng trăm tên lửa cũng chưa giải quyết được nhiệm vụ. vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Phải tìm kiếm giải pháp khác.



Việc xây dựng nhà máy này do Vanikov đảm nhận theo đường lối của Bộ chế tạo máy hang trung. Thế mà cũng tiêu đến một nửa số tiền bỏ vào, khoảng 3 tỷ rúp (trong số 6 tỷ) theo giá cũ.



- Đây là số tiền ném qua cửa sổ - tôi nói - ông tính thế nào, đồng chí Vanikov?



Vanikov là người thông minh. Ông cười và đồng ý. Thậm chí tôi chưng hửng:



- Tại sao lại....



- Chúng tôi - Vanikov nói - không xung phong làm cái này, đây là ý tưởng của Stalin.



Và khi đó tôi đề nghị:



- Hãy sử dụng một số nhà máy đang làm máy bay tiêm kích (chúng cũng gần với việc chế tạo tên lửa), và chuyển chúng sang chế tạo tên lửa. Việc chế tạo thiết bị cho nó, chúng tôi cũng chia các nhà máy và chúng tôi sẽ làm điều này khẩn trương, quốc phòng không thể được trì hoãn, không thể lặp lại sự ngơ ngác của mình trước chiến tranh vệ quốc vĩ đại,



Vấn đề được thảo luận tại BCHTƯ Đảng, không ai bực tức cả. Sau đó, trao phần việc cụ thể. Xác định công việc mới cho những nhà máy sản xuất máy bay tiêm kích và máy bay ném bom, những xí nghiệp lớn. Giờ đây việc chế tạo tên lửa và phóng chúng, trước tiên là tên lửa Korolev, tất cả đã được hoàn thiện hơn. Tự vững chắc rằng tên lửa - cách duy duy nhất tin cậy để bảo vệ Liên Xô. Tất nhiên cùng với bom khinh khí, đang được sản xuất. Những vụ nổ thử cho chúng tôi khả năng giảm chi phí đầu đạn, tiếp đó cho phép cũng một lượng vật liệu, làm được nhiều đầu đạn hơn. Các nhà khoa học cố gắng đạt được sức nổ lớn. Nhưng chúng tôi có thể xây dựng những đầu đạn công suất khác nhau. Tôi giành rất nhiều thời gian sức lực cho sự hiện đại hoá quân đội. Tất nhiên là nhà tổ chức, mà không phải là nhà chuyên môn. Đối với lãnh đạo, quan trọng là nghe ngóng kịp thời, ủng hộ ý nghĩ sáng suốt và hướng đúng cho mọi người.



Tên lửa ban đầu đứng như cây nến, chờ đến thời điểm hành động. Nhưng kẻ địch có thể giáng đòn đầu tiên. Một đầu đạn hạt nhân rơi vào nơi đóng quân bộ đội tên lửa (tên lửa đóng theo nhóm), có thể sóng nổ thổi baytất cả, loại ra khỏi vòng chiến đấu và tước đoạt khả năng chúng ta giáng trả. Tôi hình dung điều kiện phóng. Từ thời Stalinе chưa lần nào nhìn thấy bức ảnh kết quả thử vũ khí nguyên tử và tất cả kinh khủng mà nó mang lại. Tất nhiên nó giết gia súc, chó, cừu, đặt trong các hào trên những khoảng cách khác nhau từ tâm nổ. Bức tranh kinh hoàng! Tôi chưa nói đến phá huỷ vật chất. Ở đó có cả xe tăng, cả máy bay, và những vũ khí khác nhau để kiểm tra khoảng cách mà vụ nổ gay tác động. Là công nhân mỏ và người tham gia xây dựng xe điện ngầm, tôi biết cụ thể công việc hầm mỏ. Và у tôi sinh ra ý nghĩ đặt tên lửa vào hầm. Nếu chúng tôi đào thành giếng, sau đó lót thành gỗ và đặt tên lửa vào bê tông, thì chúng nằm ở vị trí kín có nắp đậy. Điều này cũng cải thiện bảo quản ở mọi thời tiết. Nếu địch tấn công vào vùng này, để phá huỷ tên lửa cần phải trúng trực tiếp, cái đó ít có khả năng.



Tôi đề nghị các nhà thiết kế nghĩ tới sơ đồ này. Sau đó họ báo cáo tôi rằng không thể làm được. Tôi ngạc nhiên. Với tôi ý tưởng không những hiện thực, mà còn cần phải lưu tâm đến chúng. Và tôi không tin rằng họ đúng. Khi Yangel tuyên bố rằng có thể chế tạo tên lửa, trong đó chất ô-xy hoá không phải là ô-xy, mà là axit, thì tôi nghỉ ở miền nam. Chúng tôi gặp ông ở bên bờ Hắc hải. Ở đó tôi bày tỏ suy nghĩ của mình cho ông:



- Đồng chí Yangel, các nhà chuyên môn tên lửa trong hầm là không hiện thực. Nhưng tôi đề nghị ông, là nhà thiết kế, hãy nghĩ xem. Cứ để các nhà chuyên môn của Phòng thiết kế của ông trả lời xem liệu có thể đặt tấm ghi kim loại kích thước xác định và với khe hở và đặt tên lửa vào. Giữa ghi sắt và thành vẫn còn khe hở để khí phụt ra sau khi phóng, đập vào đáy hầm hầm, vượt qua khe hở và thoát qua ghi sắt ra ngoài.



Tôi nghĩ căn hầm cũng có tác dụng đẩy tên lửa.



- Xem đây - tôi lấy hai cái cốc đường kính khác nhau - chúng ta lồng vào nhau sao cho khí không làm hỏng tên lửa và có lối thoát ra ngoài, như tay áo.



Yangel nói:



- Tôi không hiểu, vì sao các đồng nghiệp của tôi từ chối ý tưởng này. Tôi thích nó.



Sự thật lĩnh vực kỹ thuật này không phải là của ông. Barmin lãnh đạo hướng đã nêu. Ông cho đến bây giờ tiếp tục những hoạt động hữu ích của mình. Nhưng khi đó Barmin từ chối ý tưởng của tôi. Một lần, con trai tôi Sergei, kỹ sư, có liên quan đến tên lửa và công việc thử nghiệm trước đây, biết được ý tưởng của tôi. Tôi và con trai thường thảo luận vấn đề này. Theo tài liệu của Mỹ, cháu kể cho tôi rằng trong một tạp chí của Mỹ có mô tả chiếc hầm phóng tên lửa đạn đạo. Tôi vui mừng vì sự trùng hợp như thế, mà còn buồn. Chúng tôi phí công mất nhiều thời gian. Tôi đưa những đề nghị khả thi, còn các nhà chuyên môn gạt đi. Lúc ấy tôi mời một người đến và nói:



- Người ta nói cho tôi rằng không thể thực hiện ý tưởng của tôi. Trong khi người Mỹ cũng làm cách này và sẽ xây hầm.



Và yêu cầu nhanh chóng bắt tay thực hiện. Nhưng thợ khoan núi đề nghị chế tạo mũi khoan thích hợp để họ khoan đất.



Họ lao động tỷ mỷ. Trước tiên Zasiadko báo cáo cho tôi việc áp dụng các máy trong vùng Musketovo. Và tôi gửi ông bản đề nghị:



- Hãy lấy máy, khoan sâu và đường kính cần thiết.



Khi tôi làm việc tại mỏ №21 ở Donbass, thì độ sâu của giếng đạt 250 xa-gien (1 xa-gien = 3,134 mét). Cuối cùng các kỹ sư công nhận sự đúng đắn của tôi. Đáng tiếc, họ chỉ công nhận kinh nghiệm của Mỹ. Thậm chí sau khi tôi từ chức việc xây dựng hầm vẫn dùng khoan, khoan giếng, còn sau đó lèn chặt. Tôi hài lòng rằng chúng tôi có thể bố trí một lượng lớn vũ khí hạt nhân-tên lửa sẵn sàng chờ phóng ở bất kỳ thời điểm nào. Thậm chí sau khi chúng tôi bị tấn công vẫn bảo toàn được lực lượng, và chúng tôi có thể đánh trả.



Đóng góp nhiều sức và kiến thức vào tên lửa nguyên soái tuyệt vời của chúng tôi, Nedelin, chết yểu. Là pháo binh kinh nghiệm, ông làm việc về vũ khí hạt nhân từ khi còn manh nha và trong số pháo thủ biết tốt nhất các loại vũ khí mới, một người lương thiện, người cộng sản tốt, làm việc với tên lửa với nhiệt huyết. Khi chúng tôi có mặt tại bãi thử tên lửa phóng đi, nói với nhau:



- Chói tai, không phải nhạc pháo - mà là hoà âm. Khi khai hoả, nghe dễ chịu. Nhưng ở đó - có trời mới biết: bụi, khói, tiếng nổ, thực chất là gì?



Không phải tất cả khi đó đánh giá đúng vũ khí mới. Có cả những việc khác phủ nhận ấn tượng lặt vặt phi lý. Khi phóng tên lửa, một đám bụi bốc lên. Những người này sợ, rằng chỗ phóng có thể bị lộ. Nhưng phóng từ hầm thì không có bụi, vì rằng tất cả trong be tông và kim loại. Thứ hai, bụi ở mức thứ cấp. Pháo khi bắn có khả năng bị lộ trên chiền trường. Nhưng đối với tên lửa đạn đạo điều này không có ý nghĩ, nó được phóng các xa hàng nghìn kilomet. Tất nhiên bây giờ có vệ tinh thám sát mặt đất, họ chụp ảnh tất cả và biết các hoạt động. Máy móc cho phép theo dõi lãnh thổ. Sao nào? Tên lửa cũng bay.



Chúng tôi vui sướng vì Yangel sau này chế tạo tên lửa của mình, tương đối mạnh. Điều này lập tức biến chúng tôi thành cường quốc hạt nhân-tên lửa. Chúng tôi cảm thấy đủ sức đánh trả bất kỳ bọn xâm lược nào. Giờ đây chúng tôi dùng nó để trước hết chế tạo tên lửa và phóng vệ tinhcố gắng gây sức ép lên giới quân sự nước ngoài. Người Mỹ trước thời gian, vũ khí chủ yếu là máy bay ném bom tầm xa để mang bom hạt nhân. Và họ trước tiên lo chỉ có các căn cứ không quân của họ - ở quanh Liên Xô. Lãnh thổ Mỹ vẫn còn an toàn. Việc chế tạo vũ khí hạt nhân-tên lửa, chúng tôi ngang bằng về khả năng. Không phải theo số lượng, mà theo cùng khả năng. Việc đẩy mạnh tẹc tiếp thiết kế tên lửa, thử nghiệm thành công và đưa chúng vào sản xuất tại các nhà máy máy bay trước đây, chúng bây giờ tôi không thua kém Mỹ. Trước đó cũng đã cắt giảm chi phí cho hàng không. Tiếp tục sản xuất cả máy bay tiêm kích, cả máy bay ném bom, nhưng ưu tiên cho tên lửa.



Sự thật tại độ cao thấp máy bay cường kích có thể đột phá qua hàng rào tên lửa. Chiến tranh Việt nam và chiến tranh giữa Pháp và Ai Cập xác nhận điều này. Chừng thiết bị phòng không chưa hoàn thiện, thì nó đành chịu. Ở độ cao thấp và tốc độ lớn, radar vị mù, hoặc khi phát hiện được mục tiêu, còn lại quá ít thời gian để phản ứng. Sau đó giải quyết vấn đề này và quân đội các nước quay về sử dụng cao xạ bắn nhanh. Trong tương lai sẽ có tên lửa có thể bắn máy bay thấp. Nhưng tốt nhất - là đạt được thoả thuận giữa các nước về giải trừ vũ khí và bằng các cuộc thương thuyết. Đừng để chiến tranh xảy ra! Mơ ước ngàn đời của mọi người.



Quân sự, khoa học và thiết bị quốc phòng


Bây giờ tôi muốn nói về Sakharov làm bom khinh khí. Ông là người tài năng, rất trẻ trong công việc, ông thể hiện khả năng của mình và suy nghĩ sâu. Lúc đó ý tưởng bom khinh khí còn mới lạ. Cả Mỹ và Anh không có bom này. Chính phủ Liên Xô áp dụng tất cả các biện pháp để tạo điều kiện cho công việc Sakharov và chuẩn bị công nghiệp để thực hiện ý tưởng của Sakharov, thể hiện vào đời sống các kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân xô viết đầu thập niên 50.



Trước đó chúng tôi cũng bắt đầu thảo luận một hiệp ước với Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ về ngừng chạy đua vũ trang, đề nghị ngừng thử vũ khí hạt nhân để ngừng ô nhiễm môi trường, nhưng không nhận sự đáp lại. Lúc đó chúng tôi quyết định đơn phương tuyên bố ngừng thử vũ khí hạt nhân và kêu gọi các nước khác noi gương chúng tôi làm những điều hữu ích cho nhân loại. Vì lẽ môi trường - không phải chẳng một quốc gia, một dân tộc, mà là của nhân loại.



Như vậy, chúng tôi ngừng thách. Nhưng người Mỹ tiếp tục cho nổ để hoàn thiện và tích luỹ vũ khí này. Cùng thời gian ấy, các nhà khoa học chúng ta đã hiện đại hoá các đầu đạn và đạt được kết quả lớnđạt tới công suất nổ lớn với trọng lượng nhỏ đầu đạn. Không có các vụ nổ thí nghiệm, kiểm tra đầu đạn trong thực tế, chúng tôi không thể chế tạo vũ khí mới. Ngừng đơn phương thử vũ khí này, hy vọng rằng dư luận thế giới ủng hộ chúng tôi gây áp lực lên những chính phủ đang tiến hành thử vũ khí làm ô nhiễm đầu độc môi trường. Nhưng Chính phủ Mỹ vẫn nỏ ngoài tai ý kiến xã hội.



Trước chúng tôi có một vấn đề: tiếp tục ngừng thử vũ khí không? Vì không có sự đáp ứng, chúng tôi thiệt thòi, tụt hậu so với các nước đang hoàn thiện vũ khí hạt nhân, và chúng tôi bắt buộc phải tuyên bố: nếu ý tưởng của chúng tôi không nhận được sự ủng hộ của các nước đang chế tạo và tàng trữ vũ khí hạt nhân, và nếu họ còn tiếp tục nổ thử nghiệm, то chúng tôi cũng bắt đầu thử lại.



Giới quân đội và khoa học khoa học, làm việc trong lĩnh vực quốc phòng, có gây áp lực lên Chính phủ phải tiến lên phía trước, phải thử bom nguyên tử và khinh khí đã được thiết kế từ trước. Và chúng tôi tuyên bố rằng chúng tôi sẽ lại thử bom. Một ngày trước việc này, viện sỹ Sakharov gọi điện thoại cho tôi để nói chuyện. Tôi với ông là người quen, và ông cho tôi một ấn tượng rất tốt. Và không những cho tôi. Như người ta nói, hạt đá quý sáng chói số tất cả các nhà khoa học. Sakharov yêu cầu tôi như Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô không thử bom khinh khí:



- Tôi biết các vụ thử bom gây thiệt hại nặng nề cho nhân loại, nên không thể đồng ý tiếp tục thử chúng. Trên cơ sở chính sự tìm tòi khoa học của tôi mà làm được bom nhiệt hạch, nhưng tôi là nhà khoa học bây giờ phát biểu chống các vụ thử bom.



Ông thuyết phục tôi khá lâu. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thôi thúc rất tốt, thuần tuý nhân văn đã lái ông. Một nhà khoa học, trung thành với khoa học và ý tưởng tốt cho hoà bình, ông không muốn giết người và nói chung không muốn ô nhiễm môi trường.



Tôi trả lời ông:



- Đồng chí Sakharov, theo thực chất tình thế quốc gia và chính trị, tôi không có quyền từ bỏ thử bom. Điều này không phải là nguyeejn vọng của cá nhân tôi, mà là quyết định của tất cả Ban lãnh đạo Liên Xô. Ông biết rằng chúng tôi cố gắng không thử bom và kêu gọi đối phương không ràng trữ vũ khí hạt nhân. Nhưng họ không nghe chúng tôi. Ông biết rõ họ đang tiến hành thử bom.



Vì Sakharov tiếp tục vật nài, do muốn trung thực trước Sakharov, tôi nói với ông ta:



- Thông cảm với đề nghị của ông, nhưng cá nhân tôi, chịu trách nhiệm quốc phòng đất nước, không có quyền từ bỏ thử vũ khí hạt nhân. Nếu không làm thế, là tội ác trước đất nước và nhân dân. Ông có biết, chiến tranh thế giới thứ 2 đem lại đau khổ cho Liên Xô như thế nào. Không thể một lần nữa chịu rủi ro, mà từ bỏ chế tạo vũ khí hiện đại, khi kẻ thù của ta vẫn tiếp tục chạy đua chế tạo vũ khí giết người mới. Tôi đề nghị ông hãy hiểu cho đúng. Nghe ông - nghĩa là đưa đất nước ta đến cái chết. Chúng ta yếu hơn Mỹ và đồng minh của Mỹ.



Tôi không tin vào luận cứ của ông, mặc dù chính ông cũng không tin tôi. Chúng tôi thảo luận đề nghị của Sakharov trong toàn thể lãnh đạo đất nước và quyết định rằng không thể đồng ý với ông. Bom được thử thường kỳ. Chúng tôi chưa đạt được công suất như trước đây. Chế tạo bom tương đương 50 triệu tấn thuốc nổ TNT, đạt được 57 triệu tấn. Thật khủng khiếp. Các nhà khoa học báo cáo: nếu chế tạo “bom bẩn”, khi nó sinh ra không những sóng nổ, mà còn bức xạ, thì công suất có thể đạt đến 100 triệu tấn.



- Chúng tôi có thể dùng bom này ở đâu nhỉ? - tôi hỏi.



Người ta trả lời tôi:



- Tại Tây Đức nếu như chúng tôi buộc phải chiến tranh và bắt buộc phải giáng trả hạt nhân vũ khí, đầu đạn công suất 57 triệu tấn không đủ sức. Trong vùng này chỉ có gió từ bom khinh khí, và ô nhiễm môi trường lan sang cả lãnh thổ CHDC Đức. Thiệt hại không những dân của CHCD Đức, mà còn quân đội ta đang đóng ở đó. Có thể không có mối hiểm hoạ hậu quả đối với Liên Xô và nước đồng minh nếu ném bom này xuống Pháp, Tây Ban Nha, Pháp và, tất nhiên, Mỹ”.



Tôi nghe về vũ khí mới khủng khiếp như thế. Nhưng nó cho phép có ảnh hưởng tinh thần đến ai đang chuẩn bị chiến tranh chống Liên Xô. Nhưng sự nguy hiểm chủ yếu xuất phát từ Mỹ.



Phòng thiết kế Korolev và Yangel trong lúc này vẫn tiếp tục làm việc. Ưu tiên là vấn đề làm chủ vũ trụ, mặc dù cũng phải chế tạo tên lửa với khả năng đưa nhanh chúng sẵn sàng chiến đấu. Các vấn đề quốc phòng và vũ khí tên lửa chủ yếu nằm trên vai Yangel. Con người năng khiếu này chế tạo những tên lửa tuyệt hảo, di động được và có dùng và những mục đích khác nhau. Một số tên lửa khi đó bay được 2 nghìn kilomet. Chúng tôi gọi chúng là tên lửa chiến lược tầm gần. Sau đó xuất hiện loại 4 nghin kilomet, cũng là tên lửa chiến lược, nhưng là tầm trung. Cuối cùng, là tên lửa xuyên lục địa, có thể mang nhiều đầu đạn hạt nhân bắn tới bất cứ điểm nào trên trái đất.



Trong thời gian thử nghiệm tên lửa, xảy ra một trường hợp tai nạn chết hàng chục người và suýt nữa Yangel cũng chết. Nguyên soái Nedelin hy sinh. Khi thử hàng loạt tên lửa mới do ráp nối không đúng các chi tiết mà nhiên liệu bất ngờ bốc cháy, và tên lửa bắt đầu hoạt động, khi còn nhiều người ở quanh đó. Nedelin ngồi gần đó, chờ kết thúc công việc. Tên lửa cất lên, sau đó đổ xuống, axit tung ra và thiêu chay tất cả những gì nằm cạnh đó. Yangel thoát được một cách lạ lùng, khi ông đi đến một chỗ riêng để hút thuốc. Báo chí phương Tây thường viết rằng chúng tôi che giấu các trường hợp thảm hoạt xảy ra khi thử tên lửa. Nhưng chúng tôi không có thảm hoạ nào khác. Tất nhiên một số tên lửa có lúc rơi, nhưng không có nạn nhân, chúng tôi chỉ thiệt hại vật chất mất thời gian.



Người ta công nhận nước ta là cường quốc vũ trụ và tên lửa-hạt nhân. Sự công nhận này sau khi Liên Xô phóng Gagarin vũ trụ năm 1961. Chuyến bay của Gagarin chứng tỏ rằng chúng tôi không chỉ phóng vệ tinh. Vì lẽ, sau khi chúng tôi phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên trái đất, một tướng Mỹ đã tuyên bố, khi được hỏi xem ông ta đánh giá việc phóng vệ tinh này như thế nào::



- Chả có gì đặc biệt cả? Người ta quẳng lên vũ trụ một cục sắt.



Viên tướng này tự làm trò cười, khi chỉ ra ông biểu dương thành tựu của chúng ta, hoặc quả là ông không kiểu, nó có ý nghĩa thế nào để sau này làm chủ vũ trụ. Kỷ nguyên vũ trụ được mở ra năm 1961 luôn đánh tan sự phê phán của phương Tây đánh giá không đúng thành tựu của nhân dân xô viết trong lĩnh vực này.



Trong những năm đó, tôi nảy ra ý nghĩ rút quân đội Liên Xô khỏi lãnh thổ Phần Lan. Các căn cứ quân sự của quân đội xô viết đặt ở Porkala-Wod, dưới bụng Helsinki, thủ đô Phần Lan. Căn cứ này làm hỏng mạnh mối quan hệ của chúng ta. Tàu hoả Phần Lan chạy qua vùng đất của căn cứ, phải chịu sự khám xét, cửa sổ bị đóng, hành khách không được nhìn, hoặc chụp. Các biện pháp như thế làm cho tàu hoả dương như chạy qua lãnh thổ bị chiếm đóng. Đại sứ xô viết tại Helsinki báo cáo rằng dân chúng Phần Lan tỏ ra phẫn nộ. Tôi hiểu điều này. Cần phải tính đến rằng Phần Lan - láng giềng chúng ta. Nhưng vũ khí chúng ta có được tại thời điểm có thể bắn tới Helsinki. Và căn cứ của chúng ta mất ý nghĩa quân đội thực tế.



Nhằm cải thiện mối quan hệ, chúng tôi quyết định rằng chúng tôi không có đòi hỏi gì đối với láng giềng và mong muốn có những tiếp xúc tốt. Nhưng liệu Helsinki tin điều này, nếu bộ đội chúng tôi đóng ở bên cạnh? Bộ đội xô viết ở đó không phải là nướng thịt, câu cá và đi chợ cùng với cùng với người Phần Lan, họ là những người lính đang huấn luyện. Điều này mang lại thiệt hại chính trị và cản trở tuyên truyền ý tưởng chung sống hoà bình của chúng tôi. Tôi trao đổi ý kiến với Bulganin, Bộ trưởng quốc phòng, vừa mới điều động người đứng đầu Chính phủ. Ông đồng ý với tôi. Bộ trưởng Bộ ngoại giao Molotov nghĩ về điều này theo cách khác, và tôi, khi biết điều đó, không trao đổi ý kiến với ông, vì rằng nhìn thấy trước phản ứng của ôngm người không có sự mềm dẻo khôn ngoan và rất khó khăn có thể tỉnh táo đánh giá lại tình hình quốc tế.



Với lòng kính trọng và theo lối bạn bè tôi khi đó quan hệ với nguyên soái Zukov. Chiến tranh làm chúng tôi gần nhau. Với quan điểm này, tôi và ông không bao giờ có va chạm cả. Sau chiến tranh, có tin lan truyền Zukov bị thất sủng với Stalin, tôi thông cảm với ông. Ông cho tôi gây cho tôi ấn tượng mạnh về một người thông minh, có kiến thức quân đội và tính cương quyết. Khi hai chúng tôi, đi nghỉ, dạo bộ, tôi hỏi ông:



- Georgy Konstantinovich, anh nghĩ thế nào nếu rút quân từ Phần Lan về? Cần phải nhổ cái dằm này trong quan hệ chúng ta với Phần Lan. Nó đầu trực tiếp không những với Phần Lan, mà còn với các nước bán đảo Scandinavo. Chúng tôi thường xuyên kêu gọi tất cả các nước rút quân của mình về nước. Nhưng họ chỉ ngón tay về hướng chúng ta. Tại Hungary, CHDC Đức, Ba Lan quân đội chúng ta đóng quân trên cơ sở sự đồng ý của các nước này. Đối với Phần Lan, Hoàn toàn không phải thế.



Zukov trả lời:



- Tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Từ quan điểm chiến lược sự có mặt quân đội ta ở Phần Lan và giữ các căn cứ quân sự sát Helsinki không có ý nghĩ gì cả.



Nếu như thế, tại sao phải ở đó? Để đầu độc quan hệ hai nước? ĐCS Phần Lan không cách nào chứng minh cho nhân dân họ về sự cần thiết phải có mặt quân đội ta trên lãnh thổ của họ. Lúv này chúng tôi tốn kém tiền, xây dựng quốc phòng, nuôi quân đội. Và tôi đề nghị:



- Thôi, khi nào về Moskva, chúng ta thảo luận vấn đề này trong lãnh đạo.



Sau đó tôi trước hết thương thuyết với Molotov. Không phải ngay lập tức ông hiểu sự ích lợi của ý tưởng, nhưng không vật nài để từ chối.



Sau khi quay về Moskva chúng tôi nhanh chóng đặt vấn đề với Chính phủ lãnh đạo Đảng, còn sau đó yêu cầu Phần Lan đưa yêu cầu về việc rút các căn cứ quân sự và hiệp định về việc hợp tác hai nước. Phần Lan sẵn sàng chấp nhận đề nghị của chúng ta. Thực hiện điều này tôi coi là chiến thắng lớn trên con đường cải thiện mối quan hệ không những với Phần Lan, mà còn với các nước khác trên thế giới. Sự kiện này làm chúng tôi được sự chào đón lớn. Giờ đây chúng tôi có thể với lương tâm thanh thản tuyên truyền ý tưởng chung sống hoà bình và bỏ các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước khác. Nhưng nếu tấn công chúng tôi từ xa, chúng tôi sẽ giáng trả bằng tên lửa.



Phòng thiết kế Yangel khi đó đang thiết kế tên lửa chiến lược tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, và chúng tôi tiến hành sản xuất chúng trên dây chuyền. Với mục đích tuyên truyền, thậm chí tôi quảng cáo trên toàn thế giới những thành tựu của Liên Xô chúng bây giờ tôi làm tên lửa gần như trên máy tự động, như làm xúc xích. Điều này chỉ gần đúng thôi, vì rằng chúng tôi có thể tổ chức sản xuất trên dây chuyền, lắp ráp dây chuyền, mặc dù, tất nhiên, không phải như lắp máy kéo, ở đó băng chuyền liên tục chở các chi tiết, còn công nhân chỉ có vặn ốc chúng và máy kéo ra khỏi sau một số phút.



Sau đó mở ra một chân trời mới cho vũ khí tên lửa, xuất hiện một người mới. Nhà thiết kế Chelomey, một người còn trẻ, đề nghị gặp tôi. Ông cho tôi xem các mẫu tên lửa, mang trong túi, và nói rằng có thể làm tên lửa có cánh động cơ chạy nhiên liệu kerosin hoạt động tầm gần giống loại FAU-1 của Đức. Chí có cấu tạo khác đi khác đi, có cánh và nạp vào ông, sau động cơ khởi động phóng đi, và khi bay, cánh duỗi thẳng ra. Chúng tôi cần những tên lửa như để chống máy bay và bảo vệ bờ biển. Nó được nghĩ ra một cách độc đáo làm tôi thích thú về tính di động, xếp đặt tốt với sự phóng được tính toadsn thông minh. Tên lửa bắn đi giống như pháo. Nhiều người sau này nhìn thấy trong diễu binh, trên Quảng trường Đỏ ngang Kreml, những ống lớn. Đấy chính là tên lửa của Chelomey. Bây giờ không còn là bí mật nữa, những tên lửa thế hệ mới đã thay thế nó.



Tôi hỏi Chelomey, ai biết ông ta? Ông nói là Bulganin. Lúc đó tôi nói với Bulganinу rằng có một kỹ sư-nhà thiết kế nổi tiếng Chelomey mang đến một dự án rất đáng quan tâm về tên lửa, không hề cạnh tranh với ý tưởng của Yangel và Korolev, nhưng rất có lợi cho vũ khí quân đội ta. Bulganin phản ứng ác cảm:



- Đúng, tôi biết ông ta - và tiếp theo, ông phát biểu rất thô lỗ về Chelomey như là người luyên thuyên, chỉ biết tán phét, và khuyên tôi - Đuổi cổ nó đi!



Điều này làm tôi khó chịu.



- Nicolai Aleksandrоvich, lý lẽ của anh là chính Stalin đuổi Chelomey, không còn gì nói nữa. Chúng ta có thể nghe Chelomey bởi tất cả những người hợp lệ? Chúng ta đặt vấn đề tại cuộc họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ, cứ để ông ta trình bày cho chúng ta. Anh chỉ nghe một tai từ lời Stalin, còn Chelomey ông cho tôi xem mô hình của mình, nghĩa là ý tưởng cũng đã được hình thành. Mô hình cũng chạy được, và ông ta cũng đi gần đến chế tạo những tên lửa tự nhiên.



Thế là chúng tôi họp, mời Chelomey dự phiên họp thường kỳ Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCSLX, ông lại cho xem mô hình của mình. Nhiều uỷ viên Đoàn chủ tịch không biết gì về vũ khí, vì thế chẳng ai đặc biệt ủng hộ ông ta, người ta cũng không phản đối mạnh. Tôi đề nghị cho Chelomey xưởng, công nhân, kỹ sư, kỹ thuật viên, trả lại ông thư viện mà ông yêu cầu tại cuộc họp:



- Tôi từng có một thư viện kỹ thuật trong Phòng thiết kế. Khi tôi bị kết án và bị tước đoạt cơ sở vật chất, thì người ta đưa thư viện của tôi cho Artem Ivanovich Mikoian.



Thư viện được trả lại, còn xưởng ban đầu nghàeo nàn. Nhưng ông cũng hài lòng. Sau đó Chelomey bắt đầu làm việc tích cực và nhiều người và nhà kỹ thuật kéo đến. Ông chế tạo tên lửa mà ông hứa. Tính toán của ông là đúng. Thế là chúng tôi có thêm một Phòng thiết kế làm vũ khí cho quân đội.



Ngày nay 7 tháng sáu 1971, thứ hai. Tiếp tục hồi ký về tên lửa. Korolev, Yangel, Chelomey... tất cả họ làm việc về tên lửa tầm xa, tải trọng lớn và đầu đạn lớn. Đã chế tạo một số kiểu tên lửa như thế. Các nhà thiết kế tài năng khác cũng chế tạo vũ khí phản lực để chống xe tăng, tên lửa phòng không và tên lửa tầm gần. Chelomey đúng là đã tặng chúng ta những món quà mới: tên lửa toàn cầu, tên lửa xuyên lục địa, tên lửa hạng “biển đối đất” và “đất đối biển”.



Ông có thể làm tên lửa di động xuyên lục địa. chúng tôi có những tên lửa này này để thay thế một số tên lửa Yagel.



Tại một trong những cuộc thảo luận Chelomey, lôi ra từ trong hộp đựng giày một mảnh vải, và một chuỗi hạt, triển khai trước chúng tôi bản thiết kế của mình. Tôi nhớ, khi đó Korolev cằn nhằn: nào Chelomey thế này thế nọ... Chelomey vơ tất cả vào tay mình. Nhưng chính là đề nghị của Chelomey quả là vạn năng và có thuận lợi lớn nhất về kinh tế, và trong suy nghĩ về tính cơ động sẵn sàng chiến đấu. Sau đó ông còn đề nghị tên lửa hạng nặng, có thể đưa vào vũ trụ những tải lớn hơn tên lửa Korolev. Bây giờ những tên lửa này đang bay. Lúc ấy Korolev cũng đề nghị xây dựng tên lửa mới, siêu mạnh. Giờ đây Chelomey bắt đầu vật nài để thiết kế của ông được thực thi. Cuộc cạnh tranh sáng tạo tiếp diễn. Nó kết thúc ra sao, tôi không biết; Bây giờ tôi nghỉ hưu, chỉ biết tin tức qua báo. Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn hài lòng, tôi nghĩ tôi đúng, thời tôi tại chức, đã ủng hộ Chelomey và cho ông cơ hội quay về.



Cũng có những sự kiện khác về mặt chính trị phát triển song song. Nhiều người trút lên vai những người trẻ (hiểu là về nhà nước). Khi thay thế Malenkov, Molotov và nhóm của họ, những người nổi loạn trong BCHTƯ Đảng chống lại chính sách phê phán Stalin, do tôi đứng đầu, chúng tôi bắt buộc phải cách chức Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng của Bulganin. Người ta thuyết phục tôi giữ chức vụ này. Tôi rất không muốn, chống lại việc một người giữ hai chức Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng. Tôi thấy thiệt hại từ việc này và viện cớ rằng chính tôi năm 1956 phê bình của Stalin việc vơ về tay mình một loạt các chức vụ cao nhất. Tôi mang câu hỏi này đến hỏi những nhà sử học. Họ nói là những người nhỏ nhen bên trong có thể chĩa mũi nhọn vào những nhược điểm của tôi, bằng cách làm yếu sự chống đối của tôi.



Trước đó, khi tôi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, Bulganin đề nghị bổ nhiệm tôi làm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Điều này xảy ra không công bố công khai trên báo chí và được quyết định hoàn toàn trong nội bộ, trong trường hợp chiến tranh xảy ra. Nội bộ quân đội được biết đây là chức chỉ huy cao nhất.



Than ôi, bắt buộc chúng tôi phải tính sổ cả với Georgy Konstantinovich Zukov. Đối với tôi, đây là quyết định rất đau lòng. Tôi đánh giá cao ông, và giữa tôi và ông có những quan hệ tốt nhất. Sau thải bỏ khỏi lãnh đạo Molotov, Malenkov và những người khác muốn quay lạu trật tự thời Stalin, Zukov được đưa vào ban lãnh đạo. Ông đóng vai trò tích cực trong việc dẹp sáng kiến của nhóm nổi loạn Molotov-Malenkov. Nhưng khi Zukov vào ban lãnh đạo Đoàn chủ tịch BCHTƯ, thì ông bắt đầu thu vén lực lượng khiến lãnh đạo đất nước sinh ra lo ngại. Các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ nhiều lần phát biểu ý kiến, Zukov có xu hướng đảo chính quân sự, chộp lấy quyền lực cá nhân. Những bằng chứng như thế chúng tôi nhận được các quân nhân, người đã nói về khát vọng “Napoleon Bonapac” của Zukov. Những sự kiện dần dần tích luỹ, không thể phớt lờ sự nguy hiểm đưa đất nước quay về kiểu được thực hiện ở Mỹ Latin. Chúng tôi bắt buộc loại bỏе Zukov khỏi chức vụ. Tôi đưa ra quyết định một cách khó khắn, nhưng không còn cách nào khác.



Malinovski được cử làm Bộ trưởng quốc phòng, thay Zukov. Sự bổ nhiệm này cũng xảy ra một cách bệnh hoạn. Trong lãnh đạo Đảng, không ai chống Malinovski cả. Tất nhiên uy tín xã hội và thế giới của Malinovski có thấp hơn Zukov. Mặt khác, nguyên soái Malinovski thể hiện mình rất tốt trong thời gian chiến tranh và không phải ngẫu nhiên có tên trong giới quân sự. Về cá nhân Malinovski thua Zukov về năng lực, tính kiên trì, vì tính ông bình tĩnh, đôi lúc chần chừ. Nhưng ông thua Zukov tính lá mặt lá trái.



Mặc dù trong hồi ký phải nhắc tới Georgy Konstantinovich những lời không tốt, nhưng tôi không giận ông và phải viết những việc đã xảy ra khi đó không phải cho ông mà cho những ai lợi dụng tính cách của ông, đóng kịch với ông. Tôi còn có nhận xét xấu về những người chuẩn bị phương án đầu tiên hồi ký của ông để xuất bản. những điều được in trong đó, Zukov không thể viết khác. Ông là người đứng đắn và kiêu ngạo, không có khả năng tâng bốc Stalin. Và quả là tất nhiên không phải như trong sách đã viết, Zukov về hoạt động của một số cán bộ Đảng. Nhân thể nói thêm, tôi nhớ một đề nghị sáng suốt của Zukov không đưa vào lãnh đạo trong quân đội những người nhiều tuổi. Ông nói rằng chỉ huy quân khu phải dưới 55 tuổi, và viện cớ rằng nếu bắt đầu chiến tranh, thì họ phải có thể lực. Tôi đồng ý với ông, và chúng tôi tín hành sắp xếp lại chỉ huy cao cấp của các tập đoàn quân và hạm đội.



Sau đó Tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu nguyên soái Sokolovski ốm. Tôi đánh giá ông là một sĩ quan tham mưu hơn nhiều người khác. Đó là người thông minh tỉnh táo và có khả năng khái quát về lý thuyết, chăm lo xây dựng sự hùng mạnh quân đội. Nhưng ông bị ốm đau, phải thay thế ông. Đến lượt cả nguyên soái Konev, cũng ốm đau nặng, từ lúc bắt đầu chiến tranh, còn sau đó khi ông làm việc, thì nói chung rất chủ đạo. Zakharov được bổ nhiện làm Tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu. Ông đáp ứng với bổ nhiệm cả theo mức chuẩn bị, và cả theo phẩm chất cá nhân. Nhưng, đáng tiếc, theo tôi, nó giống chính xác hạng người mà Zukov từng nói đến: trước đây tuổi của ông chưa già, ông hay ngủ gật tại các buổi thảo luận quân sự và phiên họp Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Và chúng tôi và Malinovski quyết định không thể để Tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu là một người thường xuyên ngủ gật, tốt hơn cả tìm người có cái đầu tỉnh hơn. Người ta đưa Biriuzov. Sau đó, khi ông chết trong một tai nạn máy bay, thì Zakharov quay về chức vụ trước đây. Cá nhân tôi chống Zakharov tuyệt đối không phải là cái gì cả. Đơn giản tôi thấy ông cũng già, và tuổi nào thì sức đó.



Tình trạng Zakharov và một số tướng lĩnh khác Liên Xô liệu có thể là nguyên nhân thất bại Ai Cập trong cuộc chiến tranh sáu ngày năm 1967 с Israel, nếu tướng lĩnh tacó tiếng nói quyết định từ phía Ai Cập? Đến nay tôi không thể hiểu, tại sao người Ai cập có thể chịu thất bại hoàn toàn. Liên Xô chịu trách nhiệm lớn trách nhiệm những gì đã xảy ra. Chúng tôi có thể tránh cho Naser khỏi chiến tranh chưa được chuẩn bị, có thể đúng đánh giá tình hình sau khi bắt đầu nổ ra chiến tranh. Nói chung không tiêu diệt được sự tồn tại nhà nước Israel và đưa đến bình đẳng của những người Ả rập Palestin. Cả lực lượng Israel cũng chưa học xong. Lúc ấy lỗi ở tình báo, và ngoại giao, nhưng chủ yếu vẫn là các tướng lĩnh, vì rằng lời cuối cùng là ở họ.



Đáng giận hơn cả là sự lạc hậu của vũ khí xô viết. Mọi người biết sức mạnh tên lửa và vũ khí hạt nhân của chúng ta. Nhưng vũ khí sử dụng ở đó lại không phải là vũ khí hạt nhân, vì không cần thiết. Học thuyết Mc Namara là đúng. Hình như lực lượng chúng ta kiểu thông thường nàu là không đủ, nếu chúng tôi không thể đảm bảo làm chủ trên không. Trong trường hợp bất lợi, bản thân người Ả rập có thể giáng đòn vào quân đội Israel và bức tranh sẽ khác đi.



Tất nhiên Ai Cập không sử dụng tên lửa Liên Xô. Mặc dù chúng tôi có loại mới - bộ đội tên lửa chiến lược. Ban đầu không bên nào có quân đội như thế. Lúc đó chúng tôi xác định trong mối quan hệ đã nêu. Tên lửa chiến lược tầm xa có hạt nhân đầu đạn chúng tôi đã chấp nhận trong giai đoạn hoạt động chính trị và nhà nước của tôi, gắn vũ khí hạt nhân-tên lửa trước máy bay ném bom. Ngoài ra, thời tôi lãnh đạo, trong suốt sáu năm đã chuẩn bị đầu đạn nguyên tử cho tên lửa phòng không và tên lửa hạng “không đối biển” và “không đối đất”.



Nhưng tất cả thứ này ưa thích hơn vũ khí chiến lược, vì khi đó Liên Xô có ít vật liệu hạt nhân để làm bom nguyên tử và bom khinh khí.



Khó khăn nhất là giải quyết vấn đề vũ khí cho hải quân. Việc này làm tôi lo lắng và đặc biệt dày vò tôi. Các đô đốc nhất trí hạm đội nổi. Tất cả chúng tôi, trong đó có tôi, đau lòng khi từ bỏ chương trình xây dựng hạm đội nổi. Nhưng có thể, tôi còn đau lòng hơn những người khác. Trên biển đối phương của chúng tôi có hạm đội hùng mạnh, ưu thế tàu sân bay. Từ bỏ chạy đua trên biển có thể đưa chúng ta tình thế lép vế. Bất kỳ cuộc chiến tranh nào tới đây cũng phải không tồi hơn trước, hơn nữa trong khi có những phát minh lớn trong khoa học và kỹ thuật. Trước tình hình đó phải có thời gian dài xây dựng vũ khí. Có thể làm được làm nhanh lên nhưng chỉ sau một thời gian ngắn lại chui vào lò nóng chảy. Cần tốn một số tiền lớn để không bị lạc hậu. Chẳng hạn, khi thời kỳ cuối đời của Stalin đẩy nhanh xây dựng tàu tuần dương kiểu bình thường, tiền nhà nước bay theo gió.



Thế thì tại sao thay thế không những vũ khí cũ rích, mà còn cả những người điều khiển chúng. Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn liên quan trực tiếp với vũ khí. Khi giải quyết vấn đề, bổ nhiệm ai là Bộ trưởng quốc phòng thay thế Zukov, Zukov với bản tính thẳng đặt vấn đề thẳng thừng theo kiểu lính:



- Ông bổ nhiệm ai thay thế tôi?



Mặc dù tôi không muốn bàn với ông vấn đề này, tôi nói:



- Malinovski.



- Nhưng tôi đề nghị Konev - ông xẵng giọng.



Konev có mặt ở đó, tôi không muốn phật ý ông ta, vì phẩm chất Konev không kém Malinovski. Nhưng tôi biết Malinovski rõ hơn trong chiến tranh. Malinovski đề nghị tôi, hồi Zukov còn là Bộ trưởng, bổ nhiệm đô đốc Gorskov làm tư lệnh hải quân.



Chúng tôi khi đó ở Sevastopolе. Một số tháng trôi qua sau cuộc thảo luận tại Đoàn chủ tịch BCHTƯ chương trình của đô đốc Kuznesov. Chúng tôi thăm hạm đội Hắc hải, cả tàu chiến lẫn tầu ngầm. Hạm đội tương đối nhỏ, tầu chiến cũ. Trong số này - có thiết giáp hạm, chiến lợi phẩm của Ý bị phá hỏng, đang neo ở Sevastopol vũng. Nười cho rằng đó biệt kích phá hoại. Sau đó những nhà chuyên môn đi đến kết luận rằng đáy biển còn sót lại mìn Đức trong chiến tranh, neo tầu đụng phải, và mìn nổ.



Tại cuộc họp tôi làm quen vấn đề các cán bộ và tình trạng hạm đội. Sau đó tổ chức một cuộc diễn tập trên biển. Một sĩ quan chỉ huy vui vẻ hiên ngang báo cáo chúng tôi rằng Hải quân ta bắn chìm địch, ông ta đi theo hướng Dardanel, vào Địa Trung Hải, theo hướng châu Phi, chiếm lấy bờ bắc của nó. Khi ấy ông tính toán, hoạt động như thế nào, tôi trở nên buồn rầu. Tôi nhìn thấy ông không biết phương tiện quân đội mới được sắp xếp Liên Xô. Nhưng tôi cho rằng nếu chúng tôi làm chủ vũ khí này, thì kẻ địch cũng có thể dùng nó được. Lúc ấy có thể chạm trán với những bất lợi lớn. Nhưng người thuyền trưởng hạng nhất đánh nhau với quân thù, thậm chí chẳng quan tâm đến tên lửa bảo vệ bờ biển và máy bay mang tên lửa.



Dừng tàu, tôi nói:



- Ông báo cáo tôi một cách tự tin, là đã đánh át đối phương và làm nó thua. Ông có thể hình dung rằng khi bắt đầu chiến tranh, thì ông đã nằm dưới đáy biển không?



Ông nhìn tôi vẻ ngạc nhiên.



- Tôi nghe ông chỉ huy - tôi tiếp tục - và thậm chí ông không sử dụng vũ khí mới, và ông cũng không cho rằng quân thù cũng có những vũ khí đó. Chẳng hạn, tên lửa. Chúng ta có chúng đấy. Nhưng kẻ địch luôn luôn phải nể nó, nguy hiểm nhất - coi nhẹ khả năng của kẻ thù và đánh giá mình cao.



Thuyền trưởng ngạc nhiên:



- Đồng chí Khrusev, lần đầu tiên tôi nghê về vũ khí tên lửa.



Lúc ấy tôi đồng ý:



- Đúng thế, chúng ta có lỗi, tất cả giữ khá bí mật.



- Thưa đồng chí - tôi đề nghị - mang một số người cùng tôi đến căn cứ hải quân Krym, làm quen với tên lửa và tên lửa phòng thủ bờ biển. Rồi sau này thảo luận tiếp. Hãy để các thuỷ thủ đánh giá đúng kẻ địch.



Tiếp tục thảo luận, không quay lại vấn đề diễn tập gây tranh cãi, mà thảo luận thực chất vấn đề xây dựng Hải quân. Ở đó cũng quyết định, không thể tiếp tục đi tiếp, không thể giữ tất cả trong bí mật, giữ kín những thành tựu đối với những người làm công tác phòng thủ, kể cả những hàng ngũ chỉ huy cao cấp. Tất cả đồng lòng thay đổi hướng xây dựng Hải quân, định hướng đến các chuyên gia lớn về hạm đội tàu ngầm đang công tác tại Bộ tổng tham mưu. Cơ quan này có quan điểm riêng, không được ủng hộ. Nghe luận cứ của họ, tôi quyết định, lấy tầu ngầm làm cơ sở xây dựng hải quân. Chúng tôi từ lâu quen với hạm đội tàu nổi, còn tầu ngầm thì coi như phụ. Và tôi đặt trước hải quân vấn đề: tàu tuần dương là gì? Pháo binh nổi. Tàu tuần dương cấn phải tiếp cận gần bờ khoảng cách bao nhiêu để dội pháo và tiếp theo là đổ bộ quân? Khoảng 45 kilomet. Sức phá huỷ của đạn là không lớn sự so với tên lửa đầu đạn hạt nhân. Nhưng trên tàu tuần dương gần 1200 người làm việc, phải duy trì nó. Việc khai thác tàu tuần dương tốn kém, sự đáp ứng về mặt quân sự của nó bị mất đi.



Nước Anh có một lúc nào đó là chúa tể trên biển, có một hạm đội hùng hậu, với những tàu hạng nặng làm xương sống. Trải qua thời gian. Xuất hiện máy bay, sau đó tên lửa, rồi đầu đạn hạt nhân. Giờ đây hạm đội nổi này sẽ khó sống sót trong nếu xảy ra chiến tranh. Do đó, tuần dương không thể hoạt động đơn độc. Nhưng tàu ngầm thì lại có thể được, nó không cần được che chở. Nếu lấy hoả lực tàu tuần dương so với tầu ngầm mang tên lửa, thì tầu ngầm thắng. Tàu ngầm có thể bơi tới một khoảng cách cần thiết, bắn tới những mục tiêu sau trong lãnh thổ. Chẳng hạn, tàu “Polaris” bắn xa 2 nghìn kilomet, còn bây giờ tên lửa có thể bắn tới khoảng cách xa hơn.



Tất nhiên từ tầu ngầm khó tiến hành pháo bắn dọn đường để đổ bộ lính thậm chí cả khi có phương tiện dọn sạch ô nhiễm sau khi nổ bom nguyên tử. Tuy nhiên tàu ngầm giá rẻ nhỏ hơn tàu tuần dương, và có thuỷ thủ đoàn nhỏ hơn, có hoả lực mạnh hơn và có khả năng hành trình bí mật. Thêm nữa, hạm đội tàu ngầm đã dùng động cơ nguyên tử, có thể hoạt động một thời gian không hạn chế dưới nước. Phương tiện hoa tiêu cho phép định hường tốt cả ở dưới nước, ngay khi bơi dưới lớp lớp băng ở biển Bắc Băng Dương. Tầu ngầm chúng ta nổi lên ở khoảng không gian dưới nước, sau đó nạp tải và yên ổn quay về căn cứ.



Khi tôi lên biển Bắc, vừa vặn gặp chiếc tàu này. Chúng tôi nói chuyện với thuyền trưởng tàu và xem xét nó.



Con tàu là đáng được khâm phục so với những con tàu trước đó. Vì thế chúng tôi quyết định xây dựng hạm đội tàu ngầm, chế tạo nó trên dây chuyền. Mục tiêu - xây dựng hạm đội hùng mạnh, để đe doạ kẻ địch trên biển. Kẻ địch chính - Mỹ. Mỹ gặp khó khăn chịu một khoảng cách lớn để đến châu Âu, chở lính đổ bộ, bổ xung vũ khí và bộ đội. Tiếp theo, chưa ra được khỏi vùng biển. Hạm đội tàu ngầm đặc biệt quan trọng đối với chúng tôi.



Hạm đội nổi để duy trì cần một khoản tiền chi phí, cần tầu hộ tống, tàu phóng lôi và tàu phóng tên lửa bắn xa hàng chục kilomet. Lúc đó chúng tôi nghĩ tới tàu sân bay. Có nó là thì tốt, nhưng nó tỏ ra không phải là vũ khí. Tốt nhất là không bơi. Tàu sân bay chúng tôi có thể có một chiếc, trong lúc địch có hàng chục chiếc. Hơn nữa, đất nước chúng tôi chủ yếu là lục địa, không được quên bộ binh, tên lửa mặt đất, máy bay chiến lược, tên lửa xuyên lục địa tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Tôi cũng không che giấu rằng chính chính tôi cũng chịu gánh nặng đấu tranh, ủng hộ những lực lượng trẻ trong Hải quân chống những người già và tỏ ra chống đối.



Khi sản xuất tầu ngầm hàng loạt, chúng tôi đặc biệt chú ý tập trung xây dựng động cơ hạt nhân đảm bảo tàu ngầm bơi độc lập. Sau đó từ báo chí tôi biết rằng trong việc này chúng tôi đạt được những kết quả tốt. Tôi cho rằng điều này xảy ra do đúng cách giải quyết thời tôi công tác.



Có thể hỏi:



- Việc tấn công thì sao?



Chính sách hoà bình của chúng tôi không dại gì sao bản phương tiện chiến tranh của Mỹ. Sự thật có thể dùng máy bay thay tầu thuỷ chở hàng. Máy bay bây giờ mang hàng trăm người và trong thời hạn tương đối ngắn gian có thể tập trung những lực lượng lớn, nếu làm chủ được vùng lãnh thổ lính đổ bộ. Nhưng chúng tôi không có mục đích đổ bộ lính vào nước khác mà tập trung phòng thủ với khả năng giáng trả kẻ địch bằng tên lửa chiến lược, đấy là cách an toàn nhất tránh khỏi kẻ địch khôn ngoan. Còn kẻ địch? Ai tấn công Liên Xô hoặc các nước đồng minh của Liên Xô, thì chính họ cam chịu thất bại bởi đòn hạt nhân-tên lửa. Chiến lược này là đúng đắn và là yếu tố chính kiềm chế bọn xâm lược.



Khi thảo luận chương trình xây dựng Hải quân phát sinh vấn đề, tàu tuần dương xử lý ra sao? Đây là tình thế bế tắc. Một số tàu còn lại từ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, những tàu chạy chậm, hầu như không có vai trò gì trong chiến đấu. Nhưng trước khi Stalin qua đời, cũng đặt đóng một số tàu mới. Công việc đóng tầu chiếm hầu hết công suất công nghiệp chúng ta. Quyết định đóng những tàu này, đã tiêu tốn một khoản tiền lớn của nhân dân trong khi giá trị chiến sdấu của chúng là con số không? Chúng chỉ đẹp để hải quân diễu binh ở Leningad, Sevastopolе và Vladivostokе. Cảnh tượng đẹp và ấn tượng. Nhưng tiền chi cho Hải quân không phải để nó tham gia diễu binh. Vác nước phương Tây cho những tàu cũ làm sắt vụn và đem nấu chảy ở lò Mác tanh hoặc neo chúng ở bến để khi cần có thể mang ra sử dụng. Chúng tôi quyết định vứt bỏ những tàu cũ. Nhưng còn 3 chiếc tàu tuần dương chưa kịp đóng. Nếu như chúng được hạ thuỷ, thì cũng chẳng khuấy đục được đại dương nào cả, đối phương của chúng ta cũng chẳng khiếp sợ thế mà nó là nguồn gốc tàn phá túi tiền của dân.



Tôi không muốn chịu trách nhiệm về chúng, tham khảo những nhà chuyên môn, tôi đề nghị Bộ trưởng tự thảo luận vấn đề. Thảo luận kéo dài lâu. Sokolovski báo cáo kết quả cho tôi:



- Chúng tôi đi đến cách giải quyết duy nhất đúng - những con tàu này không đáng đóng nốt. Mặc dù vẫn còn tiêu một số tiền lớn để đưa chúng vào đội ngũ chiến đấu, nhưng vấn đề nằm ở chỗ phương tiện không dính với nội dung. Nó chỉ làm nặng đến ngân sách.



Thật khó chấp nhận một quyết định như vậy. Bao nhiêu triệu đồng đã bỏ ra và bỗng nhiên mất trắng!



Và tôi đề nghị Bộ trưởng Bộ quốc phòng, tư lệnh hải quân, vận tải biển và những người lãnh đạo hạm đội đánh cá nghĩ xem liệu cuộc sống thể sử dụng chúng được không. Có thể cải hoán thành tàu chở khách? Họ bác bỏ ý nghĩ này: không lợi về kinh tế và không hiệu quả cho công việc



- Hay dùng chúng cho đánh cá? - tôi lo lắng.



Người ta nghiên cứu vấn đề và lại bác bỏ: té ra là làm tầu mới còn rẻ hơn.



- Hay làm để nó làm chỗ du lịch?



Vượt qua mọi phương án, kết quả vẫn y nguyên.



Sự thật một số tàu tuần dương cũ chúng tôi trang bị lại, bỏ pháo cũ, và đặt tên lửa. Nhưng điều này cũng tỏ ra không hợp lý, vì rằng tàu không đảm bảo chất lượng cần thiết. Và chúng tôi bán chúng đi, tàu vớt mìn và tàu cảnh vệ. Một chiếc tàu tuần dương bán cho Indonesia. Đây là quốc đảo nên họ cần trang bị như vậy. Sau đó là vấn đề máy bay ném bom, trang bị tên lửa hạng “không đối biển”, vũ khí đánh ven biển hoạt động trên một khoảng cách lớn. Tất nhiên máy bay mang tên lửa không thể xuyên thủng qua đạn cao xạ dày đặc. Chúng tôi còn vấn đề biển Bắc Băng Dương, nhưng vào biển Bắc, chưa nói đến Đại Tây Dương, là nguy hiểm. Ở Thái Bình Dương chúng tôi cũng có thể hoạt động chỉ gần bờ. Không có máy bay bảo vệ đi kèm, máy bay ném bom trong trường hợp chiến tranh phải chịu chết. Tôi nói:



- Bay thấp được không?



Cũng có nhược điểm. Đã có pháo cao xạ tầm thấp. Bay thấp không đi xa được vì tốn nhiều nhiên liệu. Try thế, máy bay mang tên lửa được dành để chủ yếu để bảo vệ biên giới.



Có thể, ngày mai khoa học có cách khắc phục những chỗ yếu của máy bay ném bom tầm xa. Tôi nói quan điểm khả năng kỹ thuật ngày nay. Cuộc sống tự điều chỉnh thí dụ như đối với pháo pháo cao xạ. Té ra chúng thọ đến một thế kỷ, đặc biệt đạn cỡ nhỏ và tốc độ bắn. Giờ đây rõ ràng là nó là phương tiện duy nhất chống máy bay bay thấp. Người Mỹ, từng bỏ cao xạ đạn nhỏ, bây giờquay lại nó, mặc dù hiểu rằng trong tương lai chỉ còn tên lửa tự hành.



Tôi đã kể chúng tôi đã nhượng bộ chính bản thân mình như thế nào khi xây dựng một số tàu tuần dương hiện đại, trang bị tên lửa: cả xung kích - đối với tấn công, và cao xạ - để bảo vệ. hải quân chịu đựng tuyệt vọng sự thật chúng tôi tước đoạtnhững tàu tuần dương của họ, khi tôi phát biểu ý kiến, rằng chỉ làm làm một số chiếc trong phòng khi đại diện Liên Xô đi ra nước ngoài thăm thú. Nhưng cứ để những con tàu như thế đáp ứng những yêu cầu của khoa học và kỹ thuật. Sau đó quyết định tàu vớt mìn mang tên lửa và đổi tên chúng thành tàu tuần dương. Chúng tôi thử chúng ở Bạch hải. Chúng tôi và Malinovski, Gorskov, và những chuyên gia khác ra biển và quan sát sự thử nghiệm.



Chiếc tàu đầu tiên gây ấn tượng tốt về hành trình và vũ khí, nhưng không bọc thép dày, bởi vì giới quân sự nhất trí bỏ nó đi, vì rằng lớp vỏ dầy không thể đọ được với đầu đạn sức nổ lớn và chỉ làm tầu thêm nặng, làm giảm tốc độ và tính cơ động. Nhưng giá trị chiến đấu? Thời tiết tuyệt đẹp, mọi người trên tàu trong tâm trạng phấn khởi. Trong lúc vui, tôi hỏi Gorskov:



- Ông đánh giá con tàu này thế nào? Chúng ta có thể làm bao nhiêu chiếc như thế này, cần bao nhiêu. Nhưng nếu kẻ địch cũng có tàu như thế này, thì các ông có gặp khó khăn gì không?



- Không - Gorskov trả lời - nó ngay lập tức bị bắn chìm đến đáy. Chúng tôi bắn chìm nó bằng tên lửa hoặc tàu ngầm. Nếu nó công kích vào bờ, chúng tôi sẽ cho ngư lôi tên lửa bắn.



Những con tàu này trong chiến đấu cũng không được tin tưởng. Tất nhiên chẳng vũ khí nào tuyệt đối tin tưởng. Có vũ khí thì cũng có vũ khí khác chống lại. Thậm chí tên lửa xuyên lục địa với đầu đạn hạt nhân có thể bị tên lửa khác bắn hạ. Có thể cả vệ tinh cũng bị bắn hạ. Nhưng việc tiêu diệt những con tàu như thế không phải là khó đối với những nước phương tiện hiện đại tấn công và bảo vệ. Chúng tôi có bốn chiếc tàu tương tự. Nhưng chúng tôi hỏi hải quân:



- Cái này chỉ có đưa khách đi chơi trên biển thôi.



Một chiếc ở Baltic, chiếc thứ hai ở Hắc hải, thứ ba ở Vladivostok, thứ tư ở biển Bắc. Bây giờ xem báo đưa tin Đoàn đại biểu quân sự nước ta đi thăm hữu nghị các nước khác nhau, tôi gặp đúng tên những chiếc tàu vừa kể. Theo cơ quan báo chí, các nước khác cũng có những công nghiệp tàu mang ý nghĩa này.



Những năm hoạt động cuối cùng của tôi, có vấn đề: liệu đã đến lúc hải quân phải có tàu sân bay, cũng như tàu mẹ mang tên lửa? Các quân nhân không ủng hộ ý tưởng, và tôi làm chậm xây dựng chúng. Lúc đó nảy ra vấn đề có mặt hạm đội nước ngoài tại các lục địa. Вот người Mỹ thường xuyên duy trì hạm đội 6 và hạm đội 7 ở châu Phi và châu Á. Nhưng liệu chúng tôi có nên gửi đến đó hạm đội của mình để kiềm chế các lực lượng xâm lược Chúng tôi trao nhiệm vụ cho Bộ tham mưu lo thành phần hạm đội và xác định giá cả. Malinovski sau này phát biểu chống điều này. Té ra là chi phí xây dựng hạm đội là không đúng. Nếu như chúng tôi chạy đua với Mỹ lĩnh vực này, chúng tôi tốn nhiều tỷ hầu như vô bổ. Tốt nhất, cứ để kệ đó, mặc dù và giới quân nhân vẫn còn bị cám dỗ.



Nếu không kiểm soát giới quân nhân và cho họ khả năng quay về thoả mãn riêng, thì họ làm rỗng ngân sách nước ta. Đừng để bụi rơi bào mắt họ. Họ cố gắng lấy sức mạnh địch để doạ Chính phủ. Và không những ở nước ta. Ở Mỹ và các nước phương Tây khác cũng thấy bức tranh như vậy. Chính phủ Mỹ cũng theo con đường của chúng ta. Tàu ngầm của họ sẵn sàng phóng tên lửa từ dưới nước đến khoảng cách xa.



Liệu chiến tranh thế giới mới có dùng vũ khí hạt nhân không? Câu hỏi này tôi thường xuyên được hỏi khi tại chức. Tôi nghĩ rằng không thể. Nếu nó quả là chính trị thế giới. Khi hạt nhân cường quốc tham gia chiến tranh, thì mó như chết đuối vớ phải cọng rơm và nhấn nút hạt nhân. Vì thế phải làm tất cả để không xảy ra thảm hoạ cho nhân loại. Chúng tôi cũng thử những phương án tương tự trong thời gian khủng hoảng Caribe và thoát ra một cách bình yên từ sợ hãi chung. Mặc dù tên lửa tầm gần trước đó chúng tôi có nhiều đủ để đánh Pháp, Tây Đức, Pháp, Tây Ban Nha và các nước Tây Âu. Nhưng Liên Xô và Mỹ khi đó công nhận khả năng bằng nhau trong chiến tranh hạt nhân. Xảy ra sự kiện lịch sử, cần phải là bài học cho tương lai.



Vấn đề xe tăng. Có nên đẩy mạnh làm xe tăng, khi những viên đạn chống tăng xuyên thủng nó như hạt dẻ? Nhưng không làm nghĩa là hy vọng chỉ ở những người lính. Bây giờ tôi không thể xác định quan điểm của mình, khi nhiều lần tôi phát biểu phát triển xe tăng, Còn pháo binh gần như được thay bằng tên lửa, trong số này và cả pháo đánh gần, kèm bộ đội. Xu hướng thế được bảo toàn đến bây giờ, loại trừ khả năng thua trên không. Người Mỹ khi đó có pháo bắn đầu đạn nguyên tử. Quân đội chúng tôi nhận được từ chính phủ đơn đặt hàng súng cối và pháo khi chứng minh rằng bắn trúng bộ binh kẻ địch.



Tôi ngờ vực. Đây là cố pháo rất nặng, khó vận chuyển. Một khó khăn vô cùng phức tạp là đầu đạn nguyên tử. Đòi hỏi một lượng lớn nhiên liệu nguyên tử. Các nhà khoa học đã nói rằng đầu đạn nguyên tử nhỏ cần thể tích nhỏ, ngược lại, một lượng lớn nhiên liệu hạt nhân để có được công suất nổ đặt ra. Từ một đầu đạn дcho pháo có thể về nguyên tắc làm được đầu đạn công suất lớn gấp đôi ba lần. Tuy nhiên chúng tôi cũng chế tạo những pháo như thế. Nhưng sau này thực tế là vô dụng. Tại những khoảng cách xa, làm tên lửa dễ hơn. Tuy bắn không chính xác đích kém hơn, nhưng đối với đầu đạn nguyên tử thì trúng đích cũng không đòi hỏi.



Tôi quyết định nói chuyện với Vanikov, người có nhiều kinh nghiệm sản xuất pháo và súng thông dụng. Chúng tôi mang pháo nguyên tử tham gia diễu binh ở Quảng trường Đỏ. Công chúng được họ gây ấn tượng mạnh. Những nhà chuyên môn thì chê loại pháo này: khó nguỵ trang, bắn ở khoảng cách tương đối gân. Cuối cùng chính các pháo thủ cũng thú nhận rằng vũ khí đó không đúng tiêu tiền cho nó. Và chúng tôi ngừng sản xuất nó, mặc dù các pháo thủ thở dài buồn rầu. Nhưng không phải chỉ pháo nguyên tử mà nói chung pháo dần dần được tên lửa thay thế. Việc chế tạo tên lửa đánh dấu bước ngoặt nhảy vọt để xây dựng dạng mới của vũ khí: tên lửa xuyên lục địa, tên lửa chiến lược và tên lửa chiến thuật với đầu đạn đa dạng và công suất khác nhau.



Không phải là không có sự cố. Nguyên soái Grechko kiên trì đòi tên lửa có đầu đạn nhỏ. Tôi hiểu rằng sẽ tốt, nếu bộ đội tin tưởng hơn khi tấn công xã hội tên lửa như thế. Nhưng không thể đòi hỏi đầu đạn hạt nhân trang bị đến tiểu đoàn. Chúng tôi không có đủ nhiên liệu nguyên tử, và pháo với đầu đạn hạt nhân nhỏ không phải là bỏ túi. Hơn nữa chúng tôi không muốn đối địch với kẻ thù ở cánh đồng, mà mục tiêu chủ yếu của chúng tôi: thành phố, công nghiệp, và toàn bộ lãnh thổ của họ.



Những vấn đề quân sự và hoà bình


Như đã biết, chúng tôi tiến hành cắt giảm lính trong quân đội. Đó là cũng là một trong những vấn đề đâu đầu. Sinh thời, Stalin cho rằng chúng tôi ở ngưỡng cửa cuộc tấn công từ phía Mỹ. Liên Xô phải sẵn sàng chiến đấu. Và quân đội chúng ta rất lớn, hơn 5 triệu người. Rất tốn kém trong thời gian hoà bình có quân đội như thế. Nhưng không thể chiến đấu dù cắt giảm vũ khí, có một quân đội đông đảo. Không ai có thể tin lời đó được. Và không thể giữ bí mật quân đội, khi đó tình báo cũng biết bây giờ cũng biết quân đội của cả hai bên. Người Mỹ nói chung không giữ bí mật những số liệu cơ bản, bằng cách đưa trên trên báo chí. Chúng tôi che giấu, nhưng kết quả. Khi tôi đọc tóm tắt của báo nước ngoài hoặc tư liệu mật, thấy người Mỹ biết chính xác quân đội chúng tôi, và vũ khí của nó và thậm chí dạng vũ khí mới. Tôi có lần hỏi Malinovski:



- Cái gì thế này? Điệp viên nước ngoài nằm trong bộ tổng tham mưu của chúng ta? Làm sao kẻ địch biết nhanh chong tất cả tin tức của chúng ta?



Malinovski ưõn ngực:



- Có lẽ do công lao của trinh sát trên không và phương tiện kỹ thuật khác.



Chúng tôi muốn cho các nước đồng minh trước đây tin rằng cần từ bỏ chiến tranh như một áp lực chính trị và sự can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác, kêu gọi cắt giảm quân đội, còn sau đó và giải trừ quân bị toàn diện. Quyết định biểu thị ý định hoà bình của mình, dỡ bỏ căn cức quân đội ở Phần Lan và rút quân đội từ Trung Quốc. Sau đó nghĩ tới cắt giảm số người trong quân đội. Chúng tôi tích luỹ một số đơn vị vũ khí hạt nhân và tên lửa mang, công suất nổ tăng gấp nhiều lần. Nhưng sức mạnh quân đội không phải là số lượng lính: chính sức mạnh của vũ khí sẽ đánh bại kẻ địch. Vì thế chúng tôi cho rằng chẳng có gì là liều lĩnh cả. Ngược lại, cắt giảm quân đội, làm giầu ngân sách và có khả năng sử dụng tài nguyên để phát triển sản xuất và nâng cao mức sống nhân dân. Đặc biệt vấn đề gay cấn về nhà ở. Đòi hỏi số tiền khổng lồ để xây dựng nhà ở, xoá bỏ sự thiếu thốn nhà ở và điều kiện sống cực khổ của nhân dân.



Kết luận là có thể cắt giảm quân đội xô viết, chúng tôi giảm bớt thậm chí số quân đóng ở CHDC Đức. Bản thân Đông Đức có khi đó quân đội không lớn. Nói chung chúng tôi giữ số lượng quân không quá 2,5 triệu. Quân đội Mỹ trong thời gian đó cũng khoảng chừng như thế, Tây Đức ban đầu có lực lượng nhỏ, sau đó tăng lên và bây giờ có tất cả các loại vũ khí, trừ vũ khí hạt nhân. Dù chúng tôi đã làm gương, nhưng các nước đồng minh cũ của chúng tôi vẫn từ chối một hiệp định nghiêm túc.



Người Mỹ đề nghị kiểm soát song song trên không tất cả các nước. Chúng tôi lúc đó không thể đồng ý, vì lực lượng vũ trang còn yếu hơn Mỹ và đồng minh của họ, và không muốn phơi bày điều này. Cho phép kiểm soát mình nghĩa là cho phép kẻ địch mạnh hơn thăm dò chúng tôi đóng quân và cân nhắc lực lượng hai bên có thể phát động chiến tranh. Chúng tôi chỉ có nhượng bộ cho kiểm soát một phần biên giới. Nếu ở khu vực biên giới có kiểm soát sâu, nó cho phép biết trước các tấn công bất ngờ của quân đội thường trực, và nói chung loại bỏ sự tấn công bất ngờ vào các nước láng giềng. Chúng tôi đồng ý thiết lập kiểm soát qua lại các sân bay có khả năng tập kết bộ đội theo hướng cần. Nhưng điều này cũng không đạt tới sự hiểu biết, hiệp định không đạt được.



Liên Xô còn một lối thoát duy nhất: tiếp tục tăng cường khả năng phòng thủ và phát triển vũ khí. Nhưng phát triển một cách hợp lý. Nhưng vũ khí nhanh chóng lạc hậu, sau đó phải chế tạo mới, tiêu thêm khoản tiền mới, và như thế không bao giờ kết thúc. Chạy đua vũ trang dẫn đến kiệt quệ đất nước và giảm mức sống của nhân dân. Tất nhiên giới quân nhân luôn luôn phát biểu hh tái vũ trang. Nhưng phát sinh vấn đề. Một người mà tôi rất kính trọng là Varensov, năm 1961 là nguyên soái pháo binh. Đường công danh của Varensov chấm dứt vì phản bội trung tướng thân cận của mình Penkovski, chỉ huy tình báo. Varensov đau lòng chịu đựng việc chuyển từ pháo sang tên lửa. Ông có câu nói nổi tiếng về điều này: “Tiếng pháo là bản nhạc, tiếng tên lửa là chói tai”.



Tất nhiên Varensov bực tức chống cắt giảm pháo. Vụ việc phức tạp ở chỗ các giới quân sự tranh cãi đã lâu, phương tiện chuyên chở tên lửa là bánh xích hay bánh hơi? Đây không phải vấn đề tào lao, mà là tầm đi xa, thời hạn phục vụ, tốc độ di chuyển. Các khoa học và các nhà thiết kế quyết định đúng, dùng bánh hơi. Nhưng đối với bộ binh, thì cần không những xe chở hàng, mà còn cả xe chở quân được bọc thép. Tuy nhiên nó làm phương tiện nặng nề, bù lại nó tạo bảo vệ chiến sĩ về tinh thần và thân thể. Chẳng cần phải cãi nhau. Tranh luận chỉ xích hay lốp chỉ là cớ. Còn nhiều xe bánh hơi chất lượng cao. Sau đó đặt vấn đề vận tải hàng không lượng lớn và tải lớn. Rồi máy bay lên thẳng. Nhà thiết kế Mil thiết kế họ máy bay lên thẳng độ bền cao, tin cậy và chở tải nặng. Trong các cuộc nói chuyện với ông tôi hướng Phòng thiết kế máy bay lên thẳng vào mục đích hoà bình, đặc biệt để khai thác đường dẫn dầu và khí đốt, tại những nơi khí hậu khắc nghiệt. Và cả những máy móc bổ xung vận tải hậu cần, vũ khí, phương tiện và bộ đội.



Ngoài Mil, trong lĩnh vực này còn có Kamov, nhà thiết kế thử nghiệm lão thành. Khi sang thăm Mỹ, tổng thống Mỹ Eisenhower và tôi cùng bay từ Washington đến Camp-Davide, đề nghị ông tác động để mua hai máy bay lên thẳng cho Chính phủ Liên Xô. Chúng tôi mua hai chiếc. Vì tôi muốn các nhà khoa học thiết kế chúng tôi học hỏi tốt kỹ thuật Mỹ, phải mua máy bay. Tôi không ít lần bay trên những chiếc máy bay lên thẳng sản xuất trong nước. Tuy nhiên độ bảo vệ khuyên tôi không nên dùng nhiều, vì thỉnh thoảng xảy ra tai nạn. Tôi sẽ không so sánh các máy bay lên thẳng khác nhau thuần tuý về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, khi bán máy bay lên thẳng cho Ấn độ, chúng tôi tổ chức ở đó thử các loại máy bay lên thẳng Liên Xô, Mỹ, và các mác khác. Máy bay của chúng ta chiếm vị trí số 1, sau đó Ấn Độ trở thành bạn hàng chính. Sau đó tại Krym và Kavkaz tổ chức đi tham quan bằng trực thăng tại các khu nghỉ mát. Trong những năm tôi lãnh đạo, không xảy ra một tai nạn trực thăng tại Liên Xô. Phi công, và phục vụ kỹ thuật ở mức tốt.



Nedelin phụ trách vấn đề xây dựng bộ đội tên lửa, rồi sau cũng phụ trách vấn đề chống tên lửa. Sau khi Nedelin chết, Moskalenko lên thay, rồi sau đó Krylov thay ông. Bởi vì sử dụng tên lửa, đương nhiên phát sinh vấn đề tên lửa chống tên lửa. Đây là việc phức tạp và đắt tiền. Nhưng chúng tôi bắt buộc bắt đầu công việc và xây dựng các Phòng thiết kế đứng đầu Kisunko. Đội ngũ của ông chế tạo tên lửa chống tên lửa những những vũ khí khác nhằm chống tên lửa của kẻ địch. Để động viên nhân dân và doạ địch, tôi công khai nói rằng chúng tôi có khả năng bắn trúng một ruồi trong vũ trụ, mặc dù chưa thể làm được như thế cho dù có phóng nhiều đầu đạn. Có chăng, diễn giải rằng chúng tôi cũng bỏ tiền để xây dựng lực lượng chống tên lửa.



Làm việc trên lĩnh vực này, ngoài những người khác, còn Chelomey. Thời tôi còn công tác, việc chống tên lửa cũng chưa làm được. Việc đạt được thoả thuận ngừng công việc chống tên lửa ép buộc bởi khuynh hướng không để đất nước bị chịu đe doạ của thảm hoạ chiến tranh và đồng thời không làm hao mòn tài nguyên. Thậm chí chẳng bao giờ có thể bảo vệ được tuyệt đối cho dù tốn kém thế nào. Các khoa học kẻ cho nghe về triển vọng các tia vũ trụ và laser. Tôi không biết, bây giờ công việc này ở mức nào, nhưng tôi giả thiết rằng khôn ngoan nhất, là thoả thuận được với tất cả các nước ngừng mọi công việc vũ khí chống tên lửa. Thời tôi và chẳng bao lâu sau, đó tổng thống Mỹ Jhonson ngừng cực đoan, và không tiền hành những công việc như thế. Khi Nixon vào Nhà Trắng tuyên bố bắt đầu xây dựng hệ thống chống tên lửa. Điều này buộc Liên Xô chạy đua vũ trang, yiêu hôa sức người, làm hao mòn kinh tế và ngân sách.



Báo chí nước ngoài khi gặp tôi tại cuộc họp báo, các nhà báo vác nước thường nâng vấn đề: có thể Liên Xô cùng hợp lực với Mỹ đẳy mạnh các chuyến bay lên mặt trăng và nói chung trong làm chu vũ trụ? Tôi thích ý tưởng này. Vào thập niên 60, chúng tôi làm rung động thế giới bằng việc phóng lên quỹ đạo và về phía mặt trăng một vệ tinh nhân tạo. Sau Gagarin là tiếp những người khác. Lúc ấy chúng tôi vượt Mỹ. Không phải ngẫu nhiên khi đó chúng tôi có ý nghĩ về hợp sức Liên Xô chia sẻ kinh nghiệm xây dựng tên lửa và động cơ. Tôi ở đây не tôi nói đến yêu cầu chính thức của các cơ quan Chính phủ các nước, nhưng thỉnh thoảng các nhà báo thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ nước mình đưa ra ý tưởng, mà Chính phủ dường như không trả lời họ, tuy nhiên coi như ý tưởng này được phía kia chấp nhận.



Liên Xô vượt Mỹ động cơ tên lửa tàu vũ trụ. Tôi hiểu rằng đây chỉ là hiện tượng tạm thời. Những người khác không tưởng tượng được, vì rằng nguồn gốc xây dựng tàu vũ trụ khắp mọi chỗ là như nhau - khoa học và kỹ thuật. Nhưng về bản chất là chung. Và nếu thời kỳ này, lĩnh vực này chúng tôi vượt người kia, thì sau này người kia cố sức, cóthể lại vượt chúng ta. Chính thế, tôi nghĩ thoả thuậnь với Mỹ và các nước khác về việc xây dựng một tổ chức quốc tế làm chủ vũ trụ để mà tất cả chia sẻ không những vinh quang, mà cả vật chất. Tuy nhiên lúc tôi tại chức, chưa làm nổi việc này: hai bên còn giữ bí mật, và chưa cân bằng vũ khí. Mỹ tích cực tích luỹ nhiều vũ khí hạt nhân. Sự thật họ gắn trên máy bay ném bom, nhưng chẳng bao lâu sau gắn vào tên lửa.



Tuy nhiên đối với tôi không cần tranh cãi gì: người Mỹ đã thực hiện chương trình mà tổng thống Kenedi chuẩn y. Kenedi đặt trước các nhà khoa học và thiết kế nhiệm vụ làm tên lửa đưa người lên mặt trăng, và họ làm được. Các nhà du hành vũ trụ Mỹ đã ở trên mặt trăng. Nhưng bây giờ báo chí và TV chúng ta thuyết phục mọi người rằng, dường như chúng tôi ở phía trước. Điều này không nghiêm túc. Tất nhiên “Luna-16” và “Luna-17” làm việc từ lâu, làm chủ bề mặt mặt trăng và thông báo về cho quả đất - cũng là thành tựu lớn của các nhà khoa học chúng ta. Và tất cả những người đặt chân lên mặt trăng, không so sánh với máy móc thông minh với ở lại của con người, bởi vì nó là vật nhân tạo. Con người ở trên mặt trăng nhìn nó, chắc chắn biết thế giới mới tốt hơn là máy móc. Tôi ước mơ, người đầu tiên bay lên mặt trăng là Ivan của chúng ta. Nhưng đến năm 1964 tôi сoi khả năng thoả thuận được với Mỹ và các nước khác về một cơ quan tổ chức tập thể làm chủ vũ trụ. Vì lợi ích nhân loại, nên tập hợp sức mạnh hợp lý hơn. Điều này tạo điều kiện tiến bộ khoa học, kỹ thuật và xoá bỏ sự căng thẳng giữa các nước. Tôi cho rằng cần dũng cảm hơn hơn nhiều để đi lên phía trước.



Nhân đây tôi nói về Kurchatov. Không cần phải nói đến phẩm chất của ông như nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Nhưng tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình về con người này. Tôi và ông gặp nhau nhiều lần và nghe ông nói không chỉ lề vật lý hạt nhân. Ông đến với tôi vì việc khác. Biết chỗ đóng quân của tôi gần ông, ông nhiều lần đề nghị giúp đỡ phải triển một ngành khoa học nào đấy. Tôi luôn luôn lắng nghe ông, tin ông, và cho rằng ông là người rất đứng đắn. Nhà khoa học cũng thỉnh thoảng hoàn toàn ích kỷ giống nhau với mọi vấn đề, cố gắng là một cái gì đó một điều gì đó để trội lên. Kurchatov không phải vậy, ông trước hết nghĩ về khoa học và thúc đẩy nó lên phía trước.



Kurchatov nổi bật hơn những nhà khoa học ở sự hiểu biết cần thiết san sẻ phương tiện với vũ khí. Ngay trước khi chết ông gặp tôi nói:



- Nếu còn xem tôi còn có ích, hãy chính thức chuẩn y là cố vấn cho ông về các vấn đề khoa học, nghĩa là cố vấn Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.



Tôi rất hài lòng, ý nghĩ này đáng­ xem xét. Chúng tôi sẽ thảo luận, và cuộc gặp tới, phát biểu cho ông ý kiến của chúng tôi.



Than ôi, chúng tôi không gặp ông. Một vài ngày sau, con người thông minh và tuyệt vời đã qua đời đột ngột.



Khi Kurchatov đề nghị coi mình là cố vấn, tôi hiểu rằng chính tôi cần ông, người mà tôi hoàn toàn tin tưởng. Ông làm Chính phủ và giới khoa học gần nhau hơn. Điều này có ich cho khoa học và quốc phòng. Ông giúp đỡ lãnh đạo đánh giá đúng sự kiện và chia xẻ phương tiện cần thiết cho tiến bộ của hướng khoa học khác. Đúng là tôi chấn động với dự án của Sakharov xây dựng bom khinh khí. Tính toán của ông hoàn toàn đúng. Như được biết, sau này giữa lãnh đạo và ông có bất hoà về vấn đề thử bom khinh khí. Ở đây ông, khác với Kurchatov, thể hiện sự thiếu hiểu biết vì quyền lợi quốc gia. Bom khinh khí không phải dùng để tấn công nước khác, mà chỉ có để quốc phòng. Tôi và Sakharov không bất đồng theo thực chất vấn đề, và tôi đề nghị hiểu vị trí của tôi, khi tôi là một chính khách, một trong những nhà lãnh đạo đất nước nhất thiết dùng tất cả những gì có sẵn để tăng cường sức mạnh phòng thủ đất nước.



Các nhà khoa học và thiết kế bom nguyên tử cũng chưa được nêu tên, mặc dù không thể, chẳng hạn, khi ấy Zeldovich, Hariton và Budker. Zeldovich cùng tập thể cấu trúc bom khinh khí. Ông đã giúp chúng ta ngang với Mỹ về vũ khí hạt nhân. Người Mỹ trong một số trường hợp thậm chí cần nghĩ đến phòng thủ. Họ gọi nó là kiềm chế. Sau đó vai trò không nhỏ trong phòng thủ Liên Xô là các nhà khoa học làm động cơ nguyên tử cho hạm đội tầu ngầm. Tôi đôi lần gặp ông và biết họ. Động cơ nguyên tử cho tầu ngầm làm mơ ước ngàn đời, với động cơ này hạm đội tàu ngầm có thể hoạt động ở tất cả các đại dương. Không cần các căn cứ. Chỉ có động cơ nguyên tử mới cho phép tàu ngầm hoạt động lâu dài.



Người nước ngoài có giúp đỡ chúng tôi không? Phải nhắc đến Etele và Julius Rozenber, ở Mỹ, trao lại cho chúng tôi một số bí mật. Stalin rất nhận xét tốt về họ. Còn có những người khác, thân thiện với Liên Xô. Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn với những người hy sinh cuộc sống của mình, giúp đỡ tổ quốc Xô viết đương đầu với đế quốc.



Chúng tôi nghe các nhà khoa học về vũ trụ và vũ khí tên lửa hạt nhân, thường Keldys phát biểu. Keldys và Kurchatov lúc ấy khăng khít với nhau xây dựng tên lửa đạn đạo và đầu đạn hạt nhân. Vì thế chúng tôi kính trọng Keldys. Tại một phiên họp Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, có mời chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô Nesmianov, mọi người phát biểu phê phán ông. Nesmianov bình tĩnh và rất lịch sự đề nghị:



- Có thể thay thế tôi, bổ nhiệm Keldys làm tchủ tịch Viện hàn lâm khoa học?



Chúng tôi ủng hộ ông:



- Chúng tôi sẽ bàn, suy nghĩ.



Chẳng bao lâu đi đến kết luận rằng quả là đưa Keldys làm chủ tịch Viện hàn lâm là có lợi. Nesmianov từ chức, giới khoa học ủng hộ Keldys, bầu ông làm chủ tịch.



Tin đồn rằng dai dẳng đến bây giờ là không phải tất cả các nhà khoa học hài lòng Keldys. Điều này không làm ai sửng sốt: giữ chức vụ như thế, khó làm vừa lòng hết mọi người. Trong khoa học nói chung mỗi người một tính, có hiểu biết và những yêu cầu riêng. Các đề nghị không thể là giống nhau đối với chủ tịch Viện hàn lâm. Tôi xem rằng đưa Keldys làm chủ tịch Viện hàn lâm là quyết định rất thành công.



Sự kính trọng cao phó chủ tịch Viện hàn lâm Liên Xô Lavrentev. Tôi và ông quen nhau, khi ông còn làm việc tại Viện hàn lâm CHXHCN Ukraina, với chức vụ phó chủ tịch. Tôi thích ông ở tính cứng rắn, kiên trì thực hiện chương trình và thiên tài trong khoa học. Ông cũng đóng góp nhiều cho quốc phòng đất nước, như cố vấn hàng loạt vấn đề xây dựng quốc phòng. Hình như, chính ông đưa ra ý tưởng xây dựng đạn nổ định hướng. Đạn nổ định hướng là vũ khí rất tác dụng chống vỏ thép xe tăng. Sau chiến tranh người ta hoàn thiện nó. Một lần Lavrentev đề nghị tôi đến thăm việc thử vũ khí:



- Tôi sẽ cho ông thấy đầu đạn có thuốc nổ, đặt nó lên tấm thép, chúng tôi nổ nó, và nó đâm thủng tấm thép này.



Tất cả xảy ra như vậy. Lavrentev giải thích rằng đầu đạn này không xuyên qua, mà làm nóng chảy thép. Ông đã làm một việc có lợi cho đất nước.



Thập niên 1950 tôi ủng hộ đề nghị của ông chi nhánh đặc biệt của Viện hàn lâm tại Novosibirskе. Tôi không quên một nhà khoa học lớn, sống đơn giản đi ủng, sống trong lều ở Siberi để xây dựng Viện hàn lâm. Sự tỉnh táo thông minh và sức kiên trì Lavrentev - làm tôi hài lòng. Tôi nhớ rõ, ông chứng minh cần phải xây dựng chi nhánh Viện hàn lâm ở Siberi, nói là đất nước ta rộng lớn, mà chỉ có một trung tâm khoa học lớn nhất ở Moskva, là không hợp lý và không đúng. Ông là người có ích xây dựng thành phố khoa học ở Novosibirskе, sau đó những thành phố khác cũng mở những trung tâm khoa học như thế. Tôi hỏi ông:



- Ai trong số các nhà khoa học đến đó? Đây là Sibiri, sau khi Stalin chết, vẫn còn là nơi lưu đày những người bị tù.



- Có, có người đấy.



Và ông chỉ một danh sách dài:



- Họ, đặc biệt là những thanh niên, sẵn sàng đến Sibiri.



Chúng tôi đưa vấn đề này ra Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng và ủng hộ đề nghị Lavrentev, cung cấp phương tiện cần thiết. Cần rất nhiều tiền, đặc biệt xây dựng cơ quan để thời hạn ngắn nhất xây dựng cơ sở chi nhánh. Xây dựng khoa học - một quá trình liên tục phát triển khoa học, đòi hỏi có những phòng thí nghiệm cần, xây dựng những điều kiện sống và làm việc cho các nhà khoa học. Lavrentev là người có tinh thần mới. Tôi đôi lần thăm thành phố khoa học, khi có mặt ở Siberi, và xem xét tại chỗ công việc xây dựng. Lavrentev mang cả gia đình đến đó và sống rất nhũn nhặn, tềnh toàng, như tôi đã thấy, ông ăn trưa. Bây giờ cả nước tự hào về Novosibirsk! Sau đó ông đề nghị bắt đầu xây dựng trung tân như thế ở Viễn Đông. Nhưng theo khả năng vật chất, thì chưa đến lúc và tôi nói:



- Đừng vội, đất nước còn rất nghèo, tập trung vào trung tâm khoa học ở Novosibirsk, khi nào giàu có hơn, chúng tôi sẽ thảo luận đặt một Viện hàn lâm mới.



Vài lời về Kapisa. Tôi muốn sau khi tôi chết, còn lại cái nhìn đúng của tôi về nhà bác học lớn này, mà ở nhân dân ta người ta cho là lý lịch kinh tởm. Thời Stalin người ta đối xử không tốt với ông. Nhưng cả sau khi Stalin chết người ta tiếp tục tỏ ra thận trọng đối với к Kapisa. Liệu có cơ sở, khi chúng tôi tuôn ra những câu nói, biểu hiện sự không tin ông hoặc thậm chí trực tiếp nói rằng ông dường như là gián điệp? chẳng có chứng cớ nào cả, và cá nhân tôi không bao giờ nghi ngờ về lòng trung thực của ông. Một lần tôi ngẫu nhiên trở thành người làm chứng khi giải quyết việc bắt giữ Kapisa tội hãm hiếp ở Liên Xô. Trước đó, tôi không nghe một tý gì về việc này. Lúc tôi ở văn phòng Stalin, Stalin gọi phó Chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên Xô Valeri Mezlauk đến. Tôi rất kính trọng Valeri Ivanovich và tôi vô cùng tiếc rằng ông chết một cách thảm khốc bởi sự đàn ápcủa Stalin cũng như nhiều người vô tội khác. Khi Mezlauk trở thành Chủ tịch Uỷ ban kế hoạch nhà nước Liên Xô, tôi thường xuyên tiếp xúc với ông, và ông gây một ấn tượng tốt và là chính khách, hiểu biết công việc, và là một con người thực thụ.



Lúc ấy có một cuộc thảo luận giữa các nhà khoa học. Kapisa đến dự. Ông làm việc ở nước Anh, nhưng là công dân Liên Xô. Stalin trao cho Mezlauk nói chuyện với Kapisa, và sau đó Mezlauk báo cáo cho Stalin, Kapisa có ý không muốn ở lại Liên Xô. Kapisa chứng minh rằng để mà ông có được những kiến thức tốt, cần phải có những điều kiện tương ứng: thiết bị, dụng cụ, vân vân..., không có nó thì nhà khoa học không thể làm việc thực thụ, như ông làm với nhà khoa học Reserford và dưới sự hướng dẫn. Tại nước Anh, ông có tất cả những điều kiện. Stalin nói với Mezlauk:



- Nhắn lại cho Kapisa rằng chúng tôi sẽ làm tất cả để xây dựng những không được mong muốn cho ông ấy, chúng tôi sẽ làm, xây dựng cho ông ấy một viện đặc biệt, nhưng hãy nói thẳng rằng ông ấy sẽ không quay lại nước Anh đâu, chúng tôi không giải quyết cho ông ta đến đónữa.



Mezlauk truyền đạt như vậy và Kapisa ở lại.



Cá nhân tôi và ông cách xa nhau. Các uỷ viên Bộ chính trị và những người khác, thuộc về cơ quan nhà nước được phép nhận các tin tức tóm tắt của báo chí, biết rằng ở nước ngoài Kapisa được đánh giá rất cao. Tôi nghĩ Stalin đúng, vì lợi ích của đất nước. Chúng tôi cần dùng mọi khả năng để nâng cao khả năng chiến đấu và lôi cuốn các nhà khoa học xây dựng quốc phòng. Khi đó Kapisa làm một vấn đề cụ thể gì, tôi không biết. Khi có mặt tôi, Mezlauk trình cho Stalin:



- Vừa phấn khởi­ và đau lòng, nhưng Kapisa tựa như đồng ý ở lại.



Lúc ấy Stalin đề nghị xây dựng cho ông một viện ở đồi Barobev. Trước đó mảnh đất này được lấy để làm chỗ xây Đại sứ quán Mỹ. Đại sứ Mỹ tại Liên Xô là Bullit. Ông ban đầu được Stalin rất tín nhiệm và đưa ý tưởng xây dựng Đại sứ quán Mỹ ở đồi Barobev. Người dành ra một mảnh đất. Nhưng khi Bullit tỏ ra không phải là người mà chúng tôi muốn, Stalin bực mình và đề nghị:



- Chúng tôi xây dựng ở mảnh đất, nơi định xây cất Đại sứ quán Mỹ, một viện cho Kapisa.



Người ta thu hồi đất. Khi tôi về Moskva, tôi thích dạo chơi trên đồi Barobev, nhìn thấy một viện hoàn chỉnh và vui sướng nghĩ:



- Đây là chỗ của nhà khoa học-phù thuỷ dưới sự lãnh đạo Kapisa làm một công việc khoa học khác thường”.



Họ làm việc gì ở đó, tôi không biết, và cũng không hỏi. Thời Stalin có tồn tại một uy tắc: nếu người ta không nói cho anh, thì đừng hỏi, vì anh không liên quan đến điều này. Đâu như cuối chiến tranh vệ quốc vĩ đại Stalin tỏ ra không hài lòng Kapisa: dường như, Kapisa không cho cái gì có thể, không tỏ ra xứng đáng lòng tin cậy của chúng ta. Lời khiếu nại của Stalincũng có cơ sở đến chừng mực nào thì tôi không thể biết được, nhưng tôi tin Stalin: nếu ông nói thế, nghĩa là, phải như thế. Khi quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ nổ, rõ ràng là chúng tôi lạc hậu. mối quan hệ đồng minh rạn nứt, bắt đầu “chiến tranh lạnh.



Nhưng khi chúng tôi nổ quả bom nguyên tử đầu tiên của mình, ồn lên trong báo chí tư sản: người Nga nhận quả bom này từ tay Kapisa, ông thật đáng khinh thế này, một nhà khoa học lớn, sống ở Anh, chỉ có ông mới có thể làm bom nguyên tử. Stalin thậm chí tức giận:



- Kapisa tuyệt đối chẳng có tham gia một chút gì vào việc đó, nói chung ông ta không quan tâm đến vấn đề này”.



Sau khi Stalin chết tôi vẫn giũ quan hệ hai mặt với Kapisa: một mặt, là nhà khoa học nổi tiếng thế giới, mặt khác - không giúp chúng tôi làm bom nguyên tử và không tham gia làm bom cho Liên Xô. Và vì thế tôi quan hệ với ông rất thận trọng. Một lần Kapisa đề nghị với tôi tiếp. Tôi lắng nghe ông chăm chú, ông kể về một đề tài quan trọng mà ông đang làm, và yêu cầu sự giúp đỡ ông, bởi vì ông bị sa thải khỏi viện. Tôi hỏi hai nhà khoa học, kể cả Kurchatov, thì họ giải thích rằng đề tài đã nêu không là trọng điểm khoa học của nhà nước. Chúng khi đó xem đề tài trọng điểm khoa học là những đề tài làm tắng khả năng quốc phòng, chủ yếu là đề tài quân sự.



Sau một thời gian Kapisa lại đề nghị tôi tiếp, tôi tiếp ông và nói với ông ta:



- Đồng chí Kapisa, tại sao ông không nhận lấy một đề tài có giá trị quốc phòng? Chúng tôi rất cần cái đó.



Ông dài dòng văn tự giải thích cho tôi mối quan hệ của mình với vấn đề quân đội:



- Tôi không thích làm cái đó, tôi là nhà khoa học, mà nhà khoa học giống nghệ sỹ: thích những công việc mà mọi người nói, viết, hiện ra trong điện ảnh, còn đề tài quân sự lại là bí mật. Gắn với nó nghĩa là bị cách ly, tự chôn mình trong bốn bức tường của viện, tên tuổi biến mất trên báo chí. Điều mà tôi muốn công chúng biết về công việc của tôi.



Cuộc nói chuyện này cho tôi ấn tượng, và không có lợi cho Kapisa. “Chúng tôi bắt buộc - tôi trả lời - phải làm các đề tài quân sự, khi mà còn tồn tại hệ thống quốc gia đối lập. Để đứng được, chúng tôi cần làm nó, nói khác đi họ bóp cổ và xé xác chúng tôi.



- Không, tôi không muốn làm đề tài quân sự! - ông không đồng ý.



Tôi khó hiểu, một người xô viết, nhìn thấy nhân dân chúng tôi khổ sở do chiến tranh mang lại, có thể suy nghĩ như thế. Chúng tôi làm hết sức không lặp lại, đã làm tất cả để nâng đỡ kinh tế, khoa học, văn hoá. Biết rằng không có khoa học không thể xây dựng quốc phòng hùng hậu. Nhưng một nhà khoa học lớn có tên tuổi trên thế giới từ chối giúp đỡ chúng tôi? Lời của Kapisa làm tôi chết điếng. Và tôi quyết định kiềm chế bản thân, hỏi Lavrentev:



- Ông đánh giá như thế nào về Kapisa?



Lavrentev chỉ có một việc là đánh giá cao Kapisa. Nhân thể nói thêm về cuộc gặp lần thứ hai của tôi với Kapisa, ông nói rằng ông muốn ra nước ngoài. Tôi hỏi Lavrentev:



- Kapisa muốn ra nước ngoài. Ý ông ra sao?



- Cái này dở à? Cho ông ta đi.



- Ông có coi ông ta là một người trung thực không?



- Tôi tin tuyệt đối - Lavrentev nói - Ông ta là người cực kỳ đứng đắn, và không những ông, mà còn cả các con ông. Kapisa - một người yêu nước, còn con trai ông, một nhà địa lý tuyệt, cũng là ng yêu nước.



Những lời này ít nhiều làm an lòng tôi, nhưng tôi tiếp tục nghi ngờ.



- Còn quan hệ của ông với đề tài quân sự? - tôi tiếp tục hỏi.



- Kapisa là người chính trực - Lavrentev trả lời - và quả là nhìn đề tài quân sự như nói với ông.



Tôi bắt đầu nghiêng đến quyết định cho Kapisa ra nước ngoài.



- Thôi được, chúng tôi cho ông ra nước ngoài, liệu ông ta biết đề tài quân sự mà các nhà khoa học đang làm không? - tôi nêu tiếp câu hỏi.



- Tất nhiên ông ấy biết tất cả. Các viện sỹ giao tiếp với nhau, thảo luận các vấn đề khoa học, đọc sách văn học, đây là nhà bác học cỡ lớn, chẳng có gì bí mật đối với ông ta cả.



Điều này làm tôi lại chú ý.



- Liệu ở đâu đó ông ta lỡ miệng về vấn đề không mong đợi không?



- Tôi hoàn toàn khó nói về ông, nhưng tôi tin ông là nhà khoa học tốt và rất yêu nước, không bao giờ trở thành kẻ phản bội.



Tuy nhiên tôi không tin: một việc - phản bội, việc kia - đơn giản chỉ làm lộ bí mật, là hai việc khác nhau. Chúng tôi trao đổi những ý kiến trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng và quyết định không giải quyết cho ông đi.



Đầu thập niên 50, Liên Xô nằm ở thế yếu về vũ khí nguyên tử, và chúng tôi không muốn những người bất đồng biết cặn kẽ một cái gì đấy, mặc dù gián tiếp hoặc ngẫu nhiên. Chúng tôi chưa tin tưởng hoàn toàn, rằng trong những cuộc chuyện trò với những nhà khoa học quen biết mà Kapisa có ở nước ngoài rất nhiều, ông lại không nói một cái gì quá. Tiếc, nhưng vẫn phải từ chối giải quyết cho ông đi.



Về sau này ông lại ra nước ngoài, có sự ầm ỹ, trở thành viện sỹ danh dự các nước và vân vân... Tôi mừng và hài lòng vì cuối cùng ông tìm thấy ở nước ngoài chỗ đứng xứng đáng. Có thể bây giờ tôi thậm chí hối tiếc vì sự sốt sắng nào đấy là tôi, khi có thể, quyết định vấn đề nêu trên. Giờ đây có thể chẳng còn lợ gì gửi hầu như bất kỳ ai ra nước ngoài, mặc dù chúng tôi và không tin vào họ. Bí mật quả là như thế! Không có loại trừ đặc biệt trong giới khoa học cả. Nhưng trách nhiệm của tôi là Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đòi hỏi thận trọng, và tôi thể hiện như thế. Nhưng liệu đây có phải là tàn tích của thời Stalin? Có thể, có thể lắm. Bao nhiêu năm tôi làm việc dưới sự lãnh đạo của Stalin. Không phải ngay lập tức thoát khỏi những đè nặng tinh thần, thậm chí cả những người bị kết tội. Tôi không phủ nhận điều này. Cần phải có thời gian để mọi người tỉnh ngộ và dứt bỏ những cái không cần.



Về nguyên tắc, tôi nhìn thấy việc giữ đóng cửa biên giới đối với công dân của mình, đối với những người nước ngoài muốn thăm viếng Liên Xô? Sau khi Stalin chết, sau vài năm chúng tôi mở cửa tương đối rộng để qua lại từ hai phía. Qua lại là những người có suy nghĩ khác nhau và lòng tin chính trị khác nhau. Một số người ra khỏi Liên Xô không quay lại. Có những đoàn kịch ra nước ngoài và ở lại. Tôi đau lòng, nhưng đặc biệt không lo lắng. Có trường hợp, người ta không quaynlại, nhưng một thời gian lại yêu cầu giải quyết cho người ta quay về tổ quốc. Có thể chúng tôi mắc sai lầmы? Hoàn toàn. Nhưng khi tiếp cận vấn đề đứng ở vị trí của Stalin, người luôn nghi ngờ tất cả công dân xô viết là có thể bị lôi kéo, vì thế tốt hơn khoá chặt họ ở trong nước và theo dõi tất cả. Như thế sinh ra điều kiện rất nặng nề cho cuộc sống của mọi người, đặc biệt các nhà khoa học hoặc những người làm công tác nghệ thuật.



Tôi nhớ thời kỳ nội chiến. Khi tôi làm việc ở cục chính trị №9 tập đoàn quân Kuban, sống tạm ở một gia đình tư sản. một người trong gia đình là một phụ nữ ăn nói sắc sảo, thể hiện lòng dũng cảm trong cuộc nói chuyện với người cộng sản. Bà nói:



- Các ông nắm chính quyền. Các ông đốt tất cả. Chẳng có lẽ các ông đánh giá, ví dụ, nghệ thuật yếu ớt như balet?



Bà nói đúng. Chúng khi đó tôi hoàn toàn chẳng hiểu gì về nghệ thuật balet. Nếu thấy diễn hình ảnh vũ nữ balet thì tôi cho rằng phụ nữ phơi bày không lịch sự. không ít lần người ta gièm pha Lunacharski, người cống hiến nhiều sức lực để bảo tồn nhà hát cổ. Người ta cho rằng đây là nhược điểm, ra khỏi chuẩn mực cộng sản. Tất nhiên chúng tôi, công nhân, thợ mỏ và nông dân, khi đó còn xa vời với nghệ thuật cao. Bây giờ, giá tôi gặp người phụ nữ ấy, tôi nói với bà rằng:



- Bà còn nhớ cuộc nói chuyện năm 1920 không? lời tiên tri của bà chính quyền xô viết đốt hết tất cả các loại nghệ thuật? Bây giờ bà thấy, balet chế độ xô viết được nâng cao chưa?



Người ta có thể hỏi, vì sao tôi không chấp nhận thước đo này trong quan hệ Kapisa? Vì đây là vấn đề quốc phòng - không phải balet. Tôi không có quyền liều, thậm chí nếu ai đó bây giờ nói rằng Khrusev không đối xử chu đáo với nhà khoa học lớn như Kapisa. Có thể, tôi sai lầm, có thể mọi cái chết cũng sai lầm. Tuy nhiên cả Kapisa cũng sai lầm, khi ông từ chối tham gia vào công việc quốc phòng. Nghĩa là, chúng tôi hoà nhau.



Đương nhiên, nhiều thứ được coi là bí mật. Khi chúng tôi phóng tên lửa vào vũ trụ, không ai biết, trừ những người theo dõi và chế tạo chúng. Không ai biết tên Korolev, Glusko. Glusko đóng góp không ít hơn sự đóng góp của Korolev. Korolev làm vỏ và ruột tên lửa, còn Glusko làm động cơ. Động cơ của ông làm chấn động thế giới. Không có động cơ, chúng tôi không phóng được tên lửa. Giảm nhẹ vai trò của người làm động cơ, không đúng. Một phi công giỏi nói:



- Với một động cơ mạnh, tôi có thể bay trên quan tài.



Tất nhiên không cần phải có giống nhau dường như, có động cơ có thể chổi cũng bay được. Cả hai phần cân tương xứng nhau. Nhưng tôi quay về những anh hùng ẩn danh. Ai biết nhà thiết kế tầu ngầm nguyên tử xô viết. Thời tôi, không ai biết. Điều này đúng không? Hình như thế. Chính tình báo kẻ thù trước điều này cũng bị dừng lại. Tại sao lại công khai cho họ địa chỉ và tạo điều kiện cho họ tiến hành công việc chống Liên Xô? Còn Kapisa - đây là một người yêu hoà bình. Và tôi cũng là người yêu hoà bình, chỉ khi xã hội những điều kiện loại trừ chiến tranh. Chừng nào chúng tôi còn sống trên thế giới, nơi cần nhìn cả hai phía và bị ngả sang tâm lý hoà bình chỉ một bên, mà không tính đến bầu không khí quốc tế, đó làm nguy hiểm. chúng tôi sẽ thất bại.



Khi chúng tôi đẩy mạnh chế tạo tên lửa, tham gia vào kế hoạch đầu tiên là Korolev. Tôi nhiều lần gặp con người rất nể và khao khát làm việc. Quả là không thể liệt ông vào những người không chống lại tội ác. Korolev biết cách thúc đẩy những điều cần thiết, biết bênh vực ý tưởng của mình. Đây là tốt. Tôi, nghe và khâm phục ông. Ai là người đầu tiên mở đường vào vũ trụ? Lên mặt trăng? Korolev! Phải được thấy ông, khi ông báo cáo, cảm thấy sự nồng cháy của ông, cảm thấy sự thông minh nổi bật của ông. Một nhà thiết kế tuyệt vời! Sau này ông chia tay với Glusko. Đáng tiếc. Glusko cũng đóng vai trò lớn trong việc chế tạo tên lửa. Vì sao họ không đi chung với nhau nữa? Sự bất đồng đã xé tan họ, và họ khó cùng nhau làm việc.



Tôi cố gắng dàn hoà hai người. Có lần tôi mời cả hai người và vợ đến nhà nghỉ của tôi. Tôi muốn họ đem sức mình làm lợi cho đất nước, mà không phí sức cãi nhau lặt vặt. Nhưng không thành. Korolev sau này hoàn toàn cắt đứt mối liên hệ công việc với Glusko và chọn Kuznesov, một người tương đối trẻ, nhưng cũng là nhà thiết kế động cơ tài năng. Chính Korolev còn đọng lại trong trí nhớ mọi người là người đầu tiên táo bạo đưa người vào vũ trụ. Ông không được khoẻ mạnh, nhưng là người có kiến thức sâu, có khả năng tổ chức tuyệt vời, ý nguyện vô bờ và sức lực kiên trì. Ông đã chết một cách kỳ cục. Tôi biết rằng ông ở bệnh viện, và biết rằng chuẩn bị mổ. Đã nghe bác sỹ nói là ca mổ không phức tạp. Các nhà phẫu thuật đã rửa tay, cho là tất cả đã kết thúc một cách bình yên, thì bỗng nhiên do sốc, Korolev không còn nữa.



Trong số những người xây dựng ngành hàng không Liên Xô tôi biết rõ Tupolev- bố. Chúng tôi và ông quen nhau từ năm 1931, khi tôi được bầu bí thư Đảng khu vực. Tupolev lãnh đạo SAGI (Viện hàng không quốc gia) - là cơ quan duy nhất của chúng ta lúc ấy làm về hàng không. Ông nổi bật trong số các kỹ sư. Ông là nhà bác học tương đối trẻ và là nhà thiết kế, nhưng cũng được công nhận. Stalin về sau này bắt giam ông và bắt tù. Ở đó Andrey Nicolaievich tổ chức Phòng thiết kế. Tôi biết ông ở trong tù, nhưng Stalin không nói điều này, quy định của Stalin là không hỏi. Vả lại, người ta biết rằng kết tội Tupolev, là tước đi tất cả các kiến thức có lợi cho tổ quốc.



Có lần Tupolev báo cáo riêng với tôi về một vấn đề. Khi mọi người được thả, thì ông vẫn bị tù:



- Thưa đồng chí Khrusev, tôi muốn đề nghị ông một yêu cầu. Tôi còn dở dang công việc mà tôi lại ngồi trong tù? Tôi yêu cầu đúng đánh giá vai trò của tôi và minh oan cho tôi. Nói khác đi những bức tường nhà tù không những cho tôi, mà còn cho các con của tôi.



- Tất nhiên, đồng chí Tupolev - tôi trả lời - hãy bình tĩnh làm việc, tôi hứa chúng tôi sẽ thảo luận vấn đề này và sẽ nói để huỷ bỏ những tài liệu liên quan tới ông để không còn trong giấy tờ ông phải rằng ông từng bị bắt.



Tôi rất thường sau này gặp Tupolev, nghe ông nói về các vấn đề phát triển máy bay ném bom và máy bay dân dụng.



Nhà bác học lớn này cũng có một mẹo rất thực tế. Khi TU-95 tỏ ra không có khả năng thực hiện được chức năng máy bay ném bom, không chịu được phòng không của Mỹ, người ta đề nghị không sản xuất nó nữa. Tupolev gặp tôi và nói:



- Tôi hiểu các nhà quân sự đề nghị thôi sản xuất TU-95. Nhưng máy bay ném bom khác bây giờ cũng chẳng còn nữa, TU-95 vẫn còn phục vụ đất nước. Ngoài ra, có thể cải tạo nó thành máy bay hành khách.



Tôi thívj ý nghĩ này và đặt vấn đề ra Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng, và chúng tôi chấp nhận đề nghị Tupolev, sau đó ông xây dựng máy bay hành khách tầm xa TU-114, lúc ấy, đây là máy bay tuyệt vời. Nó gây ấn tượng mạnh, khi tôi ngồi nó sang thăm Mỹ theo lời mời của tổng thống Eisenhower sau chuyến bay không dừng Moskva - Washington. Điều này gây tiếng vang mạnh có lợi cho Nhà nước xô viết. Tupolev chế tạo những máy bay ném bom khác, cũng máy bay chở tên lửa. Ông là nhà thiết kế rất thành công và chế tạo hàng loạt máy bay tốt nhất.



Có lần tôi và Tupolev ngồi trên bờ biển Krym, Hắc hải. Ông mang theo bản vẽ hình ảnh chiếc máy bay đẹp tương lai TU-144. Máy bay hành khách siêu âm, và chỉ cho tôi những đặc tính của nó. Chúng tôi lúc ấy, chấp nhận nhận đề nghị của ông chế tạo máy bay ấy. Bây giờ ông đã xong phân thử nghiệm. Hiện nay trên thế giới tồn tại 2 loại máy bay tương tự “Concrord” của Pháp-Anh và máy bay của chúng tôi chẳng bao lâu nữa sẽ đưa ra sử dụng. “Concrord” cũng không tồi, còn người Mỹ chưa có loại máy bay như thế. Chưa chắc ở nước ta, ai địch nổi Tupolev.



Tất nhiên còn có các nhà thiết kế khác chế tạo máy bay ném bom, máy bay tiêm kích, máy bay dân dụng và máy bay dùng trong nông nghiệp. Antonov máy bay hành khách mạnh có tải trọng lớn và bán kính hoạt động xa. Ông còn có những máy bay có ích lợi trong nông nghiệp, và cho Bắc cực. Tôi không muốn hạ thấp phẩm chất của nhà thiết kế tuyệt vời Iliusin. Ông cũng đóng góp nhiều vào chiến thắng của chiến tranh vệ quốc, chế tạo những máy bay cường kích. Những máy bay được bọc thép này làm quân thù khiếp sợ. Sau đó ông chế tạo một loạt máy bay hành khách tốt nhất. Thời tôi, Il-62 chưa được thử nghiệm. Khi tôi con công tác, máy bay này đã lăn bánh ra sân bay, nhưng một số năm chưa đưa vào sử dụng trong hàng không dân sự bị giữ lại. Trên báo chí nhìn thấy rõ Sergei Vladimirоvich dù sao chăng nữa đạt được nguyện vọng của mình. Máy bay Il-62 đấu thập niên 70 trở thành máy bay tầm xa tốt nhất trong hạng của mình và về tải trọng, và về tốc độ.



Tôi nhớ lại buổi nói chuyện với Tupolev và đề nghị của ông máy bay ném bom động cơ nguyên tử. Khi tôi nghỉ ở nhà nghỉ cuối tuần gần Livadi, Tupolev thường tới thăm tôi, nhà nghỉ của ông đến nhà nghỉ của tôi chừng bảy phút xe. Ông thường mang theo một cặp chỉ ra một cái gì đó. Nhưng lần này ông mang đến một đề nghị cụ thể:



- Tôi muốn trình bày suy nghĩ của tôi về khả năng chế tạo máy bay ném bom động cơ nguyên tử.



Ông bắt đầu làm máy bay, còn động cơ nguyên tử thì nhà thiết kế Kuznesov làm. Kuznesov sau này tiến rất xa trong việc chế tạo động cơ cho máy bay và tên lửa. lời nói của Tupolev rất quyến rũ. Ông đề nghị làm máy bay tầm xa không hạn chế. Chúng tôi mơ ước có chiếc máy bay tầm xa 20 nghìn kilomet. TU-95 đạt được 18 nghìn, nhưng nó chưa đạt yêu cầu. Vấn đề, tuy nhiên, không những tầm xa, mà còn tốc độ, tầm cao và tải trọng.



- Chúng sẽ ra sao đây? -tôi hỏi Tupolev.



- Tầm xa hầu như không hạn chế, tầm cao cũng như TU-95, và tốc độ cũng thế, nghĩa là máy bay tốc độ dưới mức âm thanh.



- Nhưng, Andrey Nicolaievich - tôi phản đối - tầm cao và tốc độ đó chúng tôi chưa vừa lòng. Máy bay còn chịu hoả lực phòng không của địch chứ.



- Chừng nào khoa học và kỹ thuật chưa cho được những khả năng, thì chúng tôi sẽ không làm tốt hơn được.



- Tại sao lại có ý nghĩ xây dựng nó bây giờ? - tôi ngạc nhiên.



- Vâng, đây là việc của ông giải quyết, nhưng tôi báo cáo rằng có khả năng về mặt kỹ thuật làm máy bay ném bom động cơ nguyên tử.



Trong câu trả lời, tôi cố gắng biểu hiện không đồng ý, nhưng tôi không làm được.



- Có thể làm máy bay hành khách động cơ nguyên tử được không? - tôi đặt vấn đề ngược lại.



- Ồ! Không, không! Không thể nói về máy bay hành khách- Tupolev khua tay - Động cơ năng lượng hạt nhân hiện thời chưa hoàn thiện. Chúng tôi không thể đảm bảo hoàn toàn tránh cho khách khỏi bị bức xạ. Còn nhiều khó khăn và phải bảo vệ tổ lái, mà máy bay khách đòi hỏi trọng lượng rất lớn. Điều này không thể. Máy bay như thế sẽ làm ô nhiễm sân bay.



- Nếu không thể, chúng tôi từ chối.



Bây giờ chính xác tôi không nhớ, bao nhiêu chiếc máy bay như thế giá bao nhiêu tiền. Tupolev nói một con số khổng lồ. Đòi hỏi công việc thực nghiệm và khoa học khổng lồ, cũng cần tiền và thời gian dài. Andrey Nicolaievich khi đó không thể hiện sự hăng say như ông thường có, mà đơn giản chào một món hàng cho người mua, còn người mua quả là cứ tự quyết định lấy hàng hoá của ông chào không.



Chúng tôi thoả thuận gạt vấn đề này. Việc xây dựng máy bay hành khách cũng chẳng nghĩ được cái gì hơn, còn máy bay ném bom như thế chưa làm chúng tôi vừa lòng. Chúng tôi không có ý định ném tiền qua cửa sổ. Tất nhiên việc khai thác nó có thể có hữu ích trong tương lai. Nhưng bây giờ tiêu một món tiền khổng lồ sẽ làm kiệt quệ ngân sách.



- Thế này nhé - tôi nói - chúng ta giới hạn trong việc khai thác lý thuyết, bỏ tiền chỉ để cho công tác nghiên cứu. Có thể tiếp tục làm chúng, nhưng không cần phải nỗ lực. Có thể cái mà ngày nay không thể làm, thì ngày mai trở thành hiện thực.



Trong thời gian ấy, Liulka cũng xây dựng động cơ nguyên tử. Mẫu của ông ta rất nặng đến nỗi không thể cất cánh được. Chúng tôi không đặc biệt đau lòng, vì đã chấp nhận quyết định tập trung vào phóng tên lửa và tiến hành hàng loạt công việc cần thiết.



Tupolev và tôi luôn luôn có những cuộc nói chuyện thú vị. Thỉnh thoảng ở vài nhà thiết kế cũng tỏ ra như thế này, nếu không chấp nhận ý tưởng của ông, thì lập tức ông tỏ ra hờn dỗi và lạnh mặt. Ở Tupolev tôi không bao giờ cảm thấy như thế. Những cuộc nói chuyện cho tôi ấn tượng ông muốn trao đổi những suy nghĩ về vấn đề đã nêu, vì những ý tưởng hoàn toàn mới của ông chưa chín muồi. Ông nói những suy nghĩ của mình những một nhà khoa học và nhà thiết kế, còn sau đó chăm chú nghe lời lời phê bình của tôi. Chúng tôi hiểu nhau và có cách giải quyết đúng. Quay về Moskva, tôi nói với lãnh đạo đất nước về cuộc nói chuyện này (tôi luôn luôn cố gắng để những quyết định như thế được quyết định tập thể). Tính cá nhân cần phải thể hiện sáng kiến, nhưng quyết định lớn mang ý nghĩa nhà nước nhất định phải chấp nhận trên cơ sở tập thể. Khi tôi lãnh đạo Chính phủ và BCHTƯ Đảng, không bao giờ quyết định duy nhất cá nhân kiểu này được chấp nhận. Và không thể chấp nhận chúng trong điều kiện xã hội mới mà tôi đang tạo điều kiện xây dựng nó.



Trở lại thập niên 30, tôi nhớ về máy bay hành khách lớn nhất thời đó của Tupolev, tên gọi “Macxim Gorky”. Nó cất cánh mang theo hơn 50 người. Đáng tiếc, nó bị rơi, nhưng không phải do lỗi thiết kế, mà do tính ngang tàng của viên phi công đi kèm nó trên máy bay tiêm kích I-5, bay kèm bên cạnh để so sánh với kích thước của chiếc máy bay khổng lồ này. Tôi giữ nguyên trong óc sự kiện đáng buồn này, một ngày mù xuân. Tôi ở nhà nghỉ cuối tuần, nghe rằng máy bay “Macxim Gorky” rơi. Về nó, báo chí một dạo om xòm, vui mừng rằng chúng tôi có chiếc máy bay chở nặng như thế. Chúng tôi khi đó tính rằng một chiếc máy bay hành khách có thể sẽ được dùng như máy bay ném bom hoặc như phương tiện vận tải quân sự. Nhưng viên phi công ngang tàng này dường như muốn biểu diễn nhài lộn trên không, đã bay cách chiếc “Macxim Gorky”, và chính anh ta toi mạng kéo theo cái chết của tất cả hành khách đang thực hiện chuyến bay ăn mừng ngày lễ trên bầu trời Moskva.



Sau đó tôi, bí thư thứ nhất Thành uỷ Moskva tổ chức lễ tang. Stalin rất giận và trút cơn giận cho tôi và Chủ tịch Mossoviet Bulganin. Việc chôn cất tiến hành ở lò thiêu. Người ta chở xác đến, thiêu, rồi đưa tro vào gian nhà cột Dinh Liên bang. Đi đưa tang là nửa thành phố. Stalin, như để trừng phạt chúng tôi gây thảm hoạ, nói một cách độc ác:



- Hãy để Khrusev và Bulganin mang lọ tro đi khắp phố.



Nhưng tôi coi là vinh dự cho bản thân tham gia lễ tang, những trên đường tới lò hoả táng luôn nghĩ luôn nghĩ về màu đỏ nó tương phản với chiếc máy bay tiêm kích bất hạnh bị nhuộm màu.



Ngày chủ nhật hửng nắng đã khép lại, mà thứ bảy hôm trước còn mưa tầm tã. Những bó hoa trồng trong bìng đặt ở hiên. Thật ngạc nhiên: cứ ba mét có một chỗ bị mưa đá, và chỗ không việc gì, có chỗ thì những bông hoa bị gẫy dập, còn những bông khác bên cạnh vẫn nguyên vẹn, dường như bị cắt bằng dao. Thiên nhiên là như thế. Vì sao mưa đá gay khổ sở ít hơn hạn hán. Mưa đá không bao giờ lan rộng trên một diện tích lớn, còn hạn hán có thể đưa điều này đến đói khổ.



Chạy đua vũ trang hay cùng chung sống hoà bình?


Hôm nay, 8-5-1970, sáng mai nước ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng. Chúng tôi giành chiến thắng với vũ khí trong tay. Nhưng ngày nay những người mà tôi, thường hỏi tôi về chạy đua vũ trang, giữa các cường quốc thù địch. Cuộc chạy đua say mê tàng trữ vũ khí. Giá như ngừng chạy đua vũ trang, chúng tôi còn giữ được nhiều tiền, mà nhân dân buộc phải dành ra cho vũ khí. Điều này - mơ ước của lãnh đạo Liên Xô.



Thời mình, tôi có gặp tổng thống Mỹ Eisenhower, khi cả chúng tôi phát biểu vì giải trừ quân bị, tuy nhiên không đi đến kết quả chính vì rằng chúng tôi không thể thoả thuận được về ngừng chạy đua vũ trang. Nhưng ngày nay liệu có một tia loé sáng? Xuất hiện ли khả năng kéo dịch tất cả các nước về phía hiểu sự cần thiết ngừng chạy đua vũ trang? Theo tôi, có ánh sáng cuối đường hầm. Не phải nhát gan và không cho ai đe doạ mình, lãnh đạo nước ta có cái nhìn tỉnh táo về tương quan lực lượng trên thế giới để tiên đoán tương lai, dũng cảm đi theo con đường giải trừ quân bị. Nếu Chính phủ vẫn bị lôi cuốn vào chạy đua vũ trang không ngừng và không thể hiện lòng dũng cảm làm tất cả những gì để ngừng cuộc chạy đua này, thì chính sách như thế dẫn đến kiệt quệ tài nguyên đất nước, và cuộc chạy đua không có tương lai.



Tôi hiểu rằng phải tỉnh táo phân tích tình hình? Giải trừ quân bị, giữ Liên Xô trong trạng thái sẵn sàng đánh trả xâm lược? Chủ yếu là ở chỗ bây giờ các cường quốc có vũ khí toàn cầu công suất như thế, số lượng như thế có thể dễ dàng nhanh chóng tiêu diệt sạch cả thế giới. Nếu đúng đánh giá tương quan vũ khí tàng trữ, thì có khả năng hạn chế chi phí quốc phòng. Tôi nói:



- Thậm chí có thoả thuận không sử dụng vũ khí hạt nhân, nếu bùng nổ chiến tranh chỉ sử dụng vũ khí cũ, còn sau đó cuộc bắn nhau thành công bắt đầu ngả sang có lợi cho một bên, thì ở phút cuối cùng, khi bên kia không còn lối thoát, sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân.



Điều đó, tất nhiên, là xấu, vì rằng sự nguy hiểm chiến tranh hạt nhân tiếp tục lơ lửng trên đầu nhân loại. Nhưng nó có thể có vai tròtích cực, khi giới lãnh đạo tỉnh táo của các cường quốc không cho phép chiến tranh.



Ai đó nói rằng thực tế đã phủ nhận thuyết này. Chiến tranh Mỹ ở Việt nam. Có những cuộc xung đột tại những khu vực khác nhau trên trái đất. Thường xuyên đẩy cường quốc đến bên miệng hố chiến tranh. Nhưng nếu cả hai bên tránh được chiến tranh hạt nhân, thì phòng ngừa được sự tiêu diệt hoàn toàn. Cuộc khủng hoảng Cuba đúng là sự thử thách như thế, còn kết thúc bởi thoả thuận khôn ngoan. Đã đạt được cân bằng lực lượng, nói khác đi - cân bằng sự sợ hãi mà John Foster Dulles đã nói trước đây. Khi Dulles chết, Gromyko không muốn đến dự lễ tang. Tôi đã chứng minh rằng Gromyko xử lý không đúng, và khuyên ông tới dự lễ tang địch thủ cũ của mình. Và không những là chuẩn mực lễ độ vì rằng Dulles biểu thịsự thật rằng lý trí luôn luôn phải mạnh hơn bốc đồng.



Bây giờ trên thế giới tương quan lực lượng hai phe bằng nhau. Ở đây vấn đề không phải là số học mà là cái khác. Tôi nhớ lại lời tổng thống Kendedy:



- Chúng tôi, Hợp chủng quốc Hoa kỳ, bố trí vũ khí hạt nhân, có thể tiêu diệt Liên Xô hai lần. Nhưng Liên Xô cũng bố trí vũ khí hạt nhân có thể tiêu diệt Mỹ một lần, như thế lần thứ hai không cần đến nữa.



Đó là sự thừa nhận lực lượng của chúng ta. Không đòi hỏi lần thứ hai, vì rằng trước khi có lần hai, kẻ địch không còn nữa. Thậm chí khi nằm trên ranh giới chiến tranh, cần tỉnh táo xác định ranh giới này không gây tội ác không bị giết. Các vũ khí còn lại không còn là yếu tố quyết định để xác định đường lối chính trị, khi nói không phải về xung đột khu vực, mà về xung đột thế giới. Cái gì là ưu thế, chẳng hạn, bộ binh? Nghĩa là quân đội, trong khối thịt vị pháo nghiền? Bây giờ không phải là lúc số lượng bộ đội hoặc thậm chí sự tài giỏi của tướng lĩnh quyết định thành công. Ngày nay tất cả phụ thuộc vào tài giỏi điều khiển vũ khí hạt nhân. Nhưng từ đó đưa đến việc Liên Xô không áp đặt ai điều kiện của mình, trong chính sách giải trừ quân bị.



Vì sao tôi nghĩ như thế? Vì chúng tôi cắt giảm lực lượng vũ trang gần như gấp đôi. Sao nào? Yếu hơn? Chúng ta có nỗi sợ hãi nhiều hơn trước chiến tranh? Không có cái gì tương tự. Nghĩa là, bình tĩnh có thể giảm lượng vũ khí thông thường và cũ. Chúng tôi huỷ bỏ căn cứ của mình ở Phần Lan. Chẳng có lẽ dùng làm chúng tôi yếu hơn? Ngược lại, vị thế không yếu đi, mà và bầu không khí quốc tế được cải thiện.



Tôi luôn luôn có những người ủng hộ mình cắt giảm quân đội, rút tất cả quân đội mình ra khỏi lãnh thổ các nước khác, dỡ bỏ các căn cứ của mình. Điều này thuận lợi đối với tất cả mọi người. Trong tình hình quốc tế hiện nay Liên Xô hoàn toàn có khả năng tiến hành chính sách độc lập trong vấn đề vũ trang và giải trừ quân bị. Chúng tôi chẳng dại gì để bọn quân phiệt kiếm cớ khiêu khích. Các nước tư bản luôn luôn buộc chúng ta chạy đua vũ trang, buộc chúng ta có ngân sách quân đội lớn, để bằng cách như thế làm hao mòn sức lực chúng ta và không để nhân dân các nước nước xã hội chủ nghĩa dùng tiền để phát triển kinh tế nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá tăng lên không ngừng của mọi người. Chi phí quân đội - đây là cái thùng không đáy, tiêu tốn dự trữ quốc gia. Đương nhiên, tốt nhất - thoả thuận được với các nước tư bản chủ nghĩa ngừng chạy đua vũ trang và giải trừ quân bị. Nhưng điều này cần sự tin tưởng tuyệt đối. Tôi cho rằng điều này chưa đạt được. Nhưng hai bên thoả thuận được các biện pháp cụ thể, có thể chúng tôi năm 1963 đạt được thoả thuận ngừng sự thử vũ khí hạt nhân trong ba môi trường: trên không, dưới nước và vũ trụ. Những thoả thuận như thế, tổng hợp lại giảm mạnh chi phí quân sự và giảm nguy cơ chiến tranh hạt nhân.



Vâng, các nước tư bản có lợi trong chạy đua vũ trang. Chúng tôi, nếu chấp nhận chạy đua, cho họ là tiến hành đúng chính sách như vậy. Nhưng có thể nói ngược lại: nếu chúng tôi ngừng chạy đua vũ trang và sản xuất vũ khí chiến tranh sẽ nghĩa là tuân lệnh chính sách nước ngoài... Không giống nhau chút nào! Tên lửa hạt nhân kìm lại kẻ địch tấn công chúng tôi. chính sách như vậy đòi hỏi lãnh đạo Liên Xô cứng rắn và nhìn thấu suốt, không để bị lôi cuốn vào thi đấu phung phí tiền bạc vào vũ khí giết người và đồng thời có tất cả các thứ cần thiết để bảo vệ đất nước. Chúng tôi phải xây dựng ngân sách quốc phòng của mình, không bị ngả vào ảnh hưởng của giới quân đội trong và ngoài nước.



Vì sao - và cả bên trong? Vì rằng và chúng ta vẫn có những người, đang quan tâm đến việc tăng vũ khí. Họ có thể đẩy Chính phủ vào hướng sai lầm. Trước hết là những tướng lĩnh muốn chỉ huy quân đội đông người. Họ cật sức chứng minh cho Chính phủ rằng phía địch dường như có những vũ khí như thế này thế nọ mà chúng ta không có và vũ khí đó là cần cần thiết sống còn cho chúng ta. Không thể bị ngả theo ảnh hưởng của họ, Chính phủ tự quyết định chính sách quân sự. Sau đó, với những người như thế lại liên quan chặt với những người sản xuất vũ khí. Họ là những tổ hợp công nghiệp quân sự. Nhóm thứ ba của loại này là một phần dân chúng trong xã hội, bị ngả sự tuyên truyền vô lý và bắt đầu ép Chính phủ theo hướng đó. Trong những trường hợp tương tự, những người lãnh đạo có trách nhiệm cần không được sợ va chạm, như tôi không sợ va chạm với đô đốc Kuznesov, khi ông đưa ra chương trình vô dụng xây dựng hạm đội tàu chiến to lớn, hoặc với nguyên soái Barensev, lầu bầu về tên lửa, hoặc với nhà thiết kế Tupolev, thì thụt máy bay ném bom động cơ nguyên tử.



Không thể lý tưởng hoá mọi người, cho là họ những người cộng sản, thì họ tự động đứng đúng vị trí. Vớ vẩn! Stalin cũng là một người cộng sản, cái gì không ngăn cản ông trở thành tên ác ôn. Và Mao là một người cộng sản, cái gì không ngăn cản Mao tấn công người anh em Việt nam. Nếu giới quân sự và công nghiệp quốc phòng có thể buộc uân sự hoá đất nước xã hội chủ nghĩa, thì điều này không phải là cứu thoát đất nước, mà đưa đến sự sụp đổ. Trong tương quan lực lượng hiện nay, phe tư bản chưa chắc dám qg xung đọt quân sự với Liên Xô, mặc dù họ sẽ tiến hành chính sách phá hoại chống chúng tôi. Nhưng tôi cho là đây là bình thường, vì rằng chính sách như thế được gây ra bởi đối kháng giai cấp. Chúng tôi cũng không từ bỏ đối kháng tư tưởng với mọi biện pháp kèn theo nó, tuy nhiên loại trừ dẫn đến thảm hoạ.



Trong cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng chung sống hoà bình, theo tôi, là không thể, và cuộc đấu tranh này cần phải kết thúc bằng chiến thắng thế giới quan chủ nghĩa cộng sản. Nhưng sự đối đầu tơpng tự không đi ngược với lợi ích với tất cả các tiếp xúc trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá và vân vân và... Và giá như bây giờ tôi có ảnh hưởng nào đấy lối thoát của cuộc đàm phán hai bên hoặc nhiều bên, thì tôi kiên quyết tìm kiếm một hiệp định về thiết lập kiểm soát vũ khí. Ngày nay chúng ta không còn sợ kiểm soát song phương. Ngược lại, việc kiểm soát như thế trở thành yếu tố, dẫn đến làm dịu tình hình. Hiện nay trên cơ sở tương hỗ thể đi đếm sự kiểm soát rộng rãi nhất. Tất cả mọi người đều sợ cái chết, và kiểm soát cũng là cần cho tất cả mọi người. Có thể bình tĩnh thiết lập kiểm soát trên không tất cả các lãnh thổcác nước trên trái đất. Nó không cho phép ai cản trởsự có mặt của lực lượng an ninh, cần thiết để bảo vệ biên giới và lập lại trật tự.



Thoát hoàn toàn tái phạm căn bệnh Stalin, phải hình thành những cơ quan quốc tế kiểm soát vũ khí. Liên Xô công bố chương trình giải trừ quân bị, đồng ý thực hiện, mặc dù theo từng giai đoạn, với các nước tư bản chủ nghĩa và huy động cộng đồng thế giới vào cuộc đấu tranh vì hình thành trong cuộc sống.



Tôi thảo luận vấn đề này với nguyên soái Zukov, khi ông là Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Quan hệ của tôi với ông lúc ấy là cho đến khi, khi ông hành động không khôn ngoan, khiến chúng tôi cách chức Bộ trưởng quốc phòng của ông. Tôi hài lòng khi chúng tôi thảo luận khả năng đạt được với Mỹ thoả thuận cụ thể về việc giải trừ quân bị, trong số này cho phép thanh tra trên lãnh thổ chúng ta. Zukov, khác với nhiều quân nhân, không thể hiện sự cứng nhắc công chức. Ông không những đồng ý về việc cần thiết cắt giảm quân đội, mà còn đề nghị giảm lương một số ngạch quân nhân. Cả nguyên soái Sokolovski cũng lập luận nhìn thấu các vấn đề. Khi tôi làm việc với ông như Tổng tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu, sau những trao đổi suy nghĩ chúng tôi cũng luôn luôn tìn được tiếng nói chung.



Tôi muốn nói về quan hệ đối với trí thức ở Liên Xô. Chưa chắc tôi có khả năng lôi kéo tất cả mọi mặt của cuộc sống, nơi trí thức chúng tôi lao động. Nhưng cuộc sống trước tiên, tác động đến xã hội, thực hiện sự nghiệp mà ĐCS lãnh đạo. Với trí thức làm công tác kỹ thuật vấn đề có chuý đơn giản hơn. Mối quan hệ của Đảng với họ đơn giản hơn, vì những người này thể hiện năng lực và tài năng chủ yếu đối với các đối tượng cụ thể, phục vụ xã hội. Những hoạt động của họ tràn vào trực tiếp đến cuộc sống tinh thần và vấn đề hệ tư tưởng. Cổ vũ họ lao động để có lợi tăng sản xuất ở mức mới.



Hóc búa nhất là những quan hệ với giới nghệ thuật, bao gồm nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, nhà tạc tượng, nghệ sỹ... Họ không tạo ra giá trị vật chất, mà thiếu nó con người không thể tồn tại, bù lại làm xã hội hưng phấn để lao động trong các lĩnh vực khác nhau của nhân loại, tràn vào cả chính trị, cũng như làm giầu của mọi người bằng những tác phẩm văn học, nghệ thuật và trong môi trường nhân văn. Nhưng bởi vì trong hệ tư tưởng ĐCS có xu hướng độc tôn, nên việc quan tâm của Đảng là thu hút giới trí thức này theo của mình không có phải giải thích nữa.



Nhiều cái ở đây là cực kỳ chủ quan. Thí dụ, một Đảng viên có chức vụ, mở đài nghe âm nhạc, ông ta không thích nó hoặc tâm trạng xấu, và ông tắt đài. Sau đó người ta giải thích rằng tác giả bản nhạc là - Chaikovski hoặc, thí dụ, Prokofev. Tác phẩm này ra sao? Ở đây có bối cảnh, ý nghĩa, nội tâm người nghe và hấp thụ của nó và nhiều thứ khác. Thế là phải thông qua khái niệm “thích”, “rất không thích”, “không thích”.



Nhưng kết quả sau này liên quan đến số phận tác giả, và tất cả công chúng, có thể vô tình tước bỏ tác phẩm tuyệt vời. Tránh được sở thị hiếu này như thế nào? Đặc biệt nếu tính đến rằng cùng một tác phẩm có thể sống những thời kỳ khác nhau và gây một ấn tượng không giống nhau. Một số dễ hơn - tác phẩm của nhà văn. Họ như thợ nề hoặc thậm chí thợ tiện, mài dũa tác phẩm của mình từ các phía khác nhau. Nó tự động tràn vào tất cả môi trường xã hội, thông qua các nhân vật của mình. Đánh giá tác phẩm của nhạc sĩ, hoạ sĩ còn phức tạp hơn.



Tôi muốn quay về Stalin đối xử thế nào đối với trí thức. Ông hiểu ý nghĩa xã hội của họ. Nhưng chủ yếu chừng mực nào ông tỏ ra độ lượng, kiên nhẫn, tôn trọng trong từng trường hợp cụ thể. Stalin là người chủ quan chủ nghĩa. Trong khi số phận bất kỳ người nào phụ thuộc vào một lời của ông. Chủ nghĩa chủ quan của ông đôi lúc tạo điều kiện mạnh cho sự phát triển một hướng sáng tạo, đôi lúc làm tê liệt, không cho quay về và chỉ ra bản thân, đôi lúc dẫn tới cái chết và của mọi người, và tác phẩm của họ. Cũng có những nhà văn, không cảm thấy cái ách thống trị này, làm việc mà chẳng có giới hạn trong và ngoài? Rôi khó nói về họ. Vì Stalin là bạo chúa, và ý nguyện của ông quyết định chính sách quốc gia. Nhưng mọi bạo chúa cư xử tốt với văn học chỉ có ở điều kiện nếu nhà văn viết tốt về họ và thời đại của họ. Vì lẽ gì Aleksandr I và Nicolai I hành hạ Puskin? Chính những công lao lịch sử của Puskin trước tổ quốc và văn họ của ông trở nên rõ ràng ngay khi ông còn sống. Tuy nhiên ông bị đi đày không phải một năm và hối tiếc hậu quả tính khí thất thường của Sa hoàng và thuộc hạ. Những thí dụ như thế trong quá khứ nhân loại có thể tìm hàng nghìn.



Thời Stalin Vorosilov đảm nhiệm tương đối lâu trả lời về đường lối chính sách nghệ thuật xô viết. Ông là không thông minh từ hoạ sĩ Aleksandr Gerasimov. Tôi đồng ý rằng Aleksandr Gerasimov là hoạ sĩ giỏi. Tuy nhiên Vorosilov thích Gerasimov trước hết là Gerasimov ca tụng ông trong những bức tranh của mình. Cũng có thể nói về các ca sĩ. Những nhạc sĩ, sáng tác bài hát theo một phong cách và thể loại nhất định, đặc biệt nếu chúng làm nổi bật những nhân vật cụ thể, sáng tác nịnh bợ, bịa đặt, được thưởng và được cất nhắc. Bạo chúa tiến kéo họ lại về mình và bằng mọi cách cổ vũ họ. Điều này không cản trở thừa nhận tác phẩm tuyệt vời ở khía cạnh thuần tuý nghệ thuật.



Nhà văn Fadeev là người tài năng. Tác phẩm của ông “Sự thất bại” nói về những người du kích Viễn Đông gây ra ấn tượng chấn động. “Đội cận vệ trẻ” - cũng là một tiểu thuyết hay. Nhưng người ta chộp được nhà văn tài năng thậm chí thiên tài này. Cớ gì mà Stalin sau chiến tranh đặc biệt cám ơn chính Fadeev? Vì rằng trong thời gian đàn áp, Fadeev lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô, đã ủng hộ đường lối đàn áp. Và làm bay đi nhiều cái đầu của các tác giả vô tội. Chỉ cần viết rằng trong cửa hàng bán khoai tây thối, và điều này đánh giá như chống Liên Xô, người viết lãnh đủ.



Thảm cảnh của Fadeev được giải thích là ông tự sát. Ngay sau khi người ta vạch mặt Stalin và chỉ ra rằng hàng nghìn nạn nhân là hoàn toàn vô tội, thì Fadeev, một người thông minh tế nhị, không thể tha thứ cho mình vì tội phản lại sự thật. Chính giới trí thức văn nghệ cũng chết cùng với những người khác. Còn Fadeev làm chứng gian rằng người ta phát biểu thế này thế nọ chống tổ quốc. Sẵn sàng nghĩ rằng ông làm điều này một cách chân thật, tin vào sự cần thiết của cái gì đã được làm. Nhưng mọi người đứng trước giới trí thức văn nghệ trong vai trò công tố viên của Stalin. Nhưng khi nhìn thấy vòng vâykhép lại, Fadeev chấm dứt cuộc sống của mình. Tất nhiên phải chú ý rằng Fadeev trước lúc đó, đã uống rượu và vì thế đã làm mất nhiều cá tính trước đây của mình. Stalin triệu tập Uỷ ban về giải thưởng Stalin (điều này phải làm trước khi chết để chính tay ông chia giải thưởng mang tên mình), ông đọc báo cáo tặng thưởng Fadeev. Nhưng khi tất cả kết thúc, Stalin nói về Fadeev:



- Chật vật lắm mới đứng dậy được, say hoàn toàn!



Mọi người thấy điều này, tất cả biết điều này. Không ít lần lãnh đạo phải giáo dục công an và cơ quan an ninh để tìm ông trong một chỗ mua vui nào đấy. Fadeev, đau khổ vji cắn rứt lương tâm đã đi đến tình cảnh như thế này. Ông loại bỏ mình và sợ mặt đốu mặt với những nhà văn mà ông giúp Stalin dồn họ vào tù, một số trong số họ quay về nhà sau này. Biện pháp như thế chỉ là một trong nhiều sai lầm, которые có thể gây ra đối với giới trí thức văn nghệ.



Về Tvadovski. Thơ của ông trên miệng hàng triệu người - cả bộ đội đánh nhay với quân Hittler, cả nhân viên hậu cần. Thơ ông nói về Vasili Terkin, một tác phẩm bất hủ. Như mọi người biết Demian Bednyi trong thời gian nội chiến, đúng là Tvadovski nổi tiếng trong những năm chiến tranh vệ quốc. Sau đó thơ ông được viết trong nguyên bộ sách, còn các nhân vật của chúng được vẽ thành tranh. Stalin cảm động nhìn bức tranh có hình Vasili Terkin. Khi Stalin lần đầu tiên nhìn thấy tranh, lập tức đề nghị; “Treo nó ở Kreml”.



Và người ta treo nó ở đó, trước lối vào phòng Ekaerina. Nếu, ra từ phòng họp Xô viết tối cao Liên Xô, quay sang phải, то có thể thấy Terkin được vây quanh bởi các chiến sỹ sau giao chiến. Nhưng bây giờ con đường sáng tạo nghệ thuật của Aleksandr Trifonovich Tvadovski chấm dứt không có tôn vinh. Nhưng chính không phải là ở chỗ ông bây giờ chẳng ai thích. Không thể không thừa nhận vai trò sáng tạo nghệ thuật của ông. Nhân dân công nhận ông. Đây là hiện diện chủ nghĩa chủ quan thay đổi từ người lãnh đạo này tới người lãnh đạo kia.



Tôi nói vài lời về Pastenak. Tôi không bàn về nghệ thuật thơ ông và chỉ sử dụng ý kiến của các nhà thơ đánh giá rất cao thơ Pastenak, kể cả bản dịch thơ ông từ tiếng nước ngoài. Ông viết tiểu thuyết “Bác sĩ Zivago” và rất muốn người ta in nó. Vấn đề về tác phẩm này được giải quyết như thế nào? Người báo cáo tôi về nó là Suslov, lãnh đạo tuyên huấn. Không có Suslov, không thể có thể đả động đến vấn đề đó. Suslov nói tác phẩm “Bác sĩ Zivago” là xấu, không theo tinh thần xô viết. Chi tiết luận cứ tôi không nhớ, tôi không muốn nói sai đi. Tóm lại, đây là một tác phẩm không đứng đắn, không đáng in. Tôi cũng chấp nhận quyết định này. Tôi cho rằng ở mỗi giai đoạn có những biến cố, ngoài Suslov, chưa ai trong số những người có trách nhiệm, đọc tiểu thuyết này. Tôi thậm chí còn ngờ Suslov đọc nó. Suslov, có lẽ, nên trình bày nội dung tác phẩm ba trang. Tất nhiên bàn về nghệ thuật, lại kết án tác phẩm và tác giả của nó, thật không chịu đựng được! Đâu đâu người ta cũng hỏi tôi? Tôi trả lời: tôi tiếc là bây giờ kết thúc cuộc đời hoạt động của mình như một người về hưu bị đày ở nhà nghỉ cuối tuần vùng Petrovsko-Dalnee ngoại ô Moskva? Trong những năm ấy, khi tôi có khả năng ảnh hưởng đến quyết định - in hoặc không in, chấp nhận hoặc không chấp nhận quan điểm của Suslov, người báo cáo, - thì chính tôi lại chưa đọc cuốn sách này. Tôi chưa đọc, nhưng nhưng lại đưa ra những biện pháp hành chính có hại nhất trong quan hệ với giới nghệ thuật.



Đương nhiên, ở nước ngoài om xòm lên, khi bản thảo lọt ra và in nó. Tôi không biết, tác phẩm này tương xứng đến mức nào tiêu chuẩn giải Nobel, nhưng người ta tặng giải này cho Pastenak. Nảy sinh thêm chuyện ầm ĩ: Chính phủ xô viết không cho nhà văn đến nhận giải. Tôi đề nghị các đồng nghiệp:



- Hãy thông báo công khai rằng Pastenak nếu muốn, có thể ra nước ngoài để nhận giải của mình.



Nhưng Pastenak trả lời qua báo chí rằng ông không đặt vấn đề ra nước ngoài nhân danh mục đích này. Cho đến bây giờ tôi tiếc rằng, thời tôi, cuốn tiểu thuyết ấy không được in. Không thể mang phương pháp cảnh sát để phán xét những người hoạt động nghệ thuật. Cái gì đặc biệt xảy ra, nếu như “Bác sĩ Zivago” được in khi đó? Chẳng có gì cả đâu, tôi tin như vậy! mọi người phản đôi tôi:



- Anh tỉnh ngộ muộn.



Đúng là muộn thật, nhưng muộn vẫn tốt hơn không bao giờ. Không phải tôi ủng hộ vấn đề của Suslov. Cứ để bạn đọc công nhận tác giả. Nhưng công nhận theo cách khác: tác giả đã bỏ sức lao động, người ta công nhận nó trên toàn thế giới, còn ở Liên Xô bằng các biện pháp chính quyền người ta cấm đoán nó...



Tôi cay đắng là đã từng ủng hộ một trong những tác phẩm đầu tiên của Sonzenisyn. Khi tôi tiếp Tvadovski mang tác phẩm này, trình bày nội dung của nó và bày tỏ suy nghĩ của mình:



- Tôi coi tác phẩm này là cực kỳ mạnh mẽ và nhận thấy tác giả sẽ là một nhà văn lớn trong tương lai. Đề tài ông đề cập có thể gây ra những đánh giá khác nhau. Mọi người hãy đọc đi. Nhưng tôi đề nghị không in tiểu thuyết này trong tạp chí “Thế giới mới”...



Tôi không nhớ tiểu sử Sonzenisyn. Tôi được báo cáo rằng trước đây ông có thời gian dài ngồi tù. Trong cuốn tiểu thuyết, ông có những quan sát riêng. Tôi đã đọc nó. Cuốn tiểu thuyết nặng nề này để lại những ấn tượng, lo lắng, nhưng đúng sự thật. Nhưng chủ yếu gây ra sự kinh tởm những gì được tạo ra thời Stalinе, làm rung động những điều kiện tồn tại của những người dân chân chất. Không phải ngẫu nhiên mà độc giả chúng ta vồ lấy cuốn thiểu thuyết này. Mọi người tìm thấy lời giải thích tại sao những người tương tự Ivan Denisovich, lại bị nhốt vào trại tù trong những điều kiện một đất nước xã hội chủ nghĩa. Tác giả đánh thức nhận thức lơ mơ của nhiều người.



Khi về hưu, tôi đọc cuốn hồi ký của tướng Gorbatov, người từng bị đàn áp. Tôi biết Gorbatov trong chiến tranh. Cuối 1941 ông tới mặt trận của chúng tôi đóng ở Kharkov. Khi đó tôi là uỷ viên hội đồng quân sự có thảo luận với ông. Ông không kể chi tiết về nhà tù, mà chỉ nói về những vị tướng Liên Xô vô tội nằm trong tù. Ông kể tên họ. Timosenko cũng quan tâm nghe ông, vì ông cũng biết rõ những người này. Cả hai chúng tôi đã viết thư cho Stalin đề nghị thả họ và đưa họ ra mặt trận. Còn bây giờ tôi biết chi tiết, người ta phỉ báng như thế nào người chỉ huy quân sự xô viết trung thực Gorbatov. Liệu có ít chuyện thế này không?



Với Sonzenisyn, ông tiếp tục viết, nhưng không in ở Liên Xô, mà ở nước ngoài. Lúc ấy ông ở “điều kiện đặc biệt”.



Tuy nhiên một bộ phận trí thức chúng ta cảm thông với ông và thậm chí còn là liều nữa. Người ta nói ông sống ở nhà nghỉ cuối tuần của Rostropovich, một nhạc sĩ tuyệt vời, một tay violon nổi tiếng. Khi quyết định bước đi này, Rostropovich tự đặt mình vào tình thế không thuận lợi, nói mềm đi. Điều này chứng minh phẩm chất nhân văn và tinh thần mạnh mẽ của Rostropovich. Sonzenisyn không có một tội gì cả. Ông phát biểu suy nghĩ của mình, viết về những gì mình chịu đựng, đánh giá cá nhân về những điều kiện ông giết thời gian những ngày ngồi tù. Và nói chung, ý kiến của ông hoàn toàn đúng: Stalin là tội phạm, mà là bọn tội phạm thì phải khép tội dù chỉ là về tinh thần. Phiên toà mạnh nhất - phỉ nhổ chúng trong tác phẩm nghệ thuật. Ngược lại, tại sao người ta coi Sonzenisyn là tội phạm? Nếu ông viết dở, người ta không đọc ông. Nếu ông vu khống, có thể bắt ông chịu trách nhiệm, nhưng trên cơ sở luật pháp. Hình như không lôi cuốn vì điều này. Nhưng sợ stj. Mặt nghệ thuật trong trường hợp đã nêu chẳng can hệ gì. Chẳng hạn, tôi không thích tác phẩm “Cung điện Materin” của Sonzenisyn, nhưng đây chỉ là việc sở thích. Đừng cản trở người ta bằng thu thập ý kiến.



Nói chung khổ sở nhất là dân chúng xô viết - trí thức chúng ta. Cá nhân văn nghệ sỹ đoạt trong tác phẩm của mình định đoạt những quan hệ giữa con người, chịu đựng về tinh thần của họ, sự tiếp xúc của họ với chính quyền và những người xung quanh. Ở đây nhà văn hiếm khi rơi vào tình thế nặng nề. Người ta bắt đầu can thiệp vào công việc của anh ta, kiểm soát ânh ta, kiểm duyệt. chúng ta vẫn nói là không có kiểm duyệt. Đây là chuyện vớ vẩn! Chuyện trẻ con. Tại Liên Xô không những có thật, mà tôi nói thậm chí còn là kiểm duyệt cực kỳ khắc nghiệt. Tôi nhớ số phận cuốn sách Kazakevich “Quyển vở xanh”.



Một cuốn sách hay. Sau này nó được làm thành phim, tôi xem phim này hai lần trên TV. Sự thật, Zinovev trong phim là nhút nhát. Sau những biến cố rháng 7-1917 ở Petrograd, ông cùng với Lenin náu mình trong lều. Tác giả cuốn sách gửi cho tôi một bức thư ngắn và đề nghị tôi làm quen với bản thảo. Người ta không chấp nhận in bản thaeo này. Tôi đọc, và tôi thích. Tô không nhận xét một cái gì cả có thể cho là không chấp nhận in nó.



Khi đó, tôi nghỉ ở Kavkaz, gần chỗ Mikoian nghỉ. Tôi gọi cho Mikoian và nói:



- Anastas Ivanovich, tôi gửi anh bản thảo, tôi đề nghị anh đoc nó, sau đó chúng ta gặp nhau và trao đổi những suy nghĩ.



- Ý kiến của anh ra sao? - tôi hỏi, khi chúng tôi gặp nhau.



- Tôi - Mikoian trả lời - tôi cho rằng cuốn sách viết tốt đấy. Tôi không hiểu, vì sao bộ phận kiểm duyệt không cho phép in.



- Được thôi, khi về Moskva, chúng tôi đặt vấn đề để thảo luận trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ - tôi nói.



Người ta gửi cuốn sách cuốn sách này cho tất cả uỷ viên Đoàn chủ tịch, và vấn đề của nó được đưa vào nghị sự phiên họp thường kỳ.



- Ai có ý kiến gì không? Vì sao cuốn sách này không được in? - tôi hỏi.



- Thưa đồng chí Khrusev - Suslov phân vân - làm sao có thể in cuốn này được? Tác giả viết Zinovev gọi Lenin “đồng chí Lenin”, còn Lenin gọi Zinovev “đồng chí Zinovev”. Vì Zinovev- kẻ thù nhân dân.



Lời của ông ta làm tôi kinh ngạc. Chẳng lẽ có thể xuyên tạc hoạt động và mô tả những sự kiện lịch sử không phải như thế sao, như chúng đã xảy ra? Thậm chí nếu chúng tôi vứt bỏ những tình tiết, kẻ thù hoặc không phải kẻ thù nhân dân Zinovev, thì sự thật này cũng chẳng cần tranh cãi: quả là, trong lều Lenin và Zinovev cùng sống với nhau. Họ giao tiếp với nhau thế nào? Họ thảo luận các vấn đề nóng bỏng hoặc nói chuyện với nhau khi uống trà trong lều? Hình như họ gọi nhau bằng từ “đồng chí”.



Nhưng thậm chí tôi nghĩ rằng Lenin gọi Zinovev bằng tên - Grigori, vì ở họ khi đó là quan hệ gần gũi. Những tháng đầu tiên sau cách mạng tháng Hai họ giữ chung nhau một ý kiến về mọi vấn đề.



Và tôi nhận xét:



- Nhưng xin nghe, họ là những người bạn và sống trong cùng một lều. Họ nhiều năm chung nhau chống chính quyền quân chủ. Nói khác đi có thể họ gọi nhau là bạn? Làm gì khi một người sau này bị kết án? Zinovev bạn chiến đấu Lenin. Cách thể hiện, được tác giả sử dụng, là tất nhiên và bình thường. Có thể, tất nhiên, làm phụ chú nhắc đến thân phận Zinovev sau này. Nhưng điều này là sự ngu ngốc. Những người tỉnh táo chẳng cần những phụ chú như thế.



Các uỷ viên Đoàn chủ tịch ủng hộ tôi. Quyết định không không cản trở xuất bản, và cuốn sách đưa vào in. Liệu bây giờ nó gay ra ngờ vực nào đấy? Có thể các nhà phê bình không được hài lòng. Tuy nhiên đây là việc hoàn toàn khác. Việc phê bình để cổ vũ tạo điều kiện nâng cao tay nghề của văn học. Nhưng bỗng nhiên dùng biện pháp cảnh sát: kìm hãm và không dân chủ!



Suslov vẫn thực hiện chức năng cảnh sát giống như trong quá khứ và hiện nay. Tất nhiên ông là người trung thực và trung thành ý tưởng cộng sản. Nhưng sự hạn hẹp cảnh sát của ông mang lại thiệt hại lớn. người ta nói với tôi:



- Sao ông quá nhẫn nại ngồi cùng Suslov trong ban lãnh đạo đất nước?



Đúng, tôi sai lầm. Đơn giản tôi cho rằng nếu Suslov làm việc trong tập thể, thì chúng tôi có ảnh hưởng đến ông và ông trở thành có ích. Vì thế tôi không đặt vấn đề thay ông, mặc dù nhiều người khi đó cảnh báo rằng Suslov phủ nhận vai trò. Trí thức quan hệ xấu với ông.



Một lần nữa nhớ lại số phận cuốn sách “Bác sĩ Zivago”, không thể tha thứ cho mình việc cấm nó ở Liên Xô. Tôi có lỗi là không đặt vấn đề cuốn sách đó như đối với “Quyển vở xanh.



Sự khác nhau (mặc dù cũng không đúng) là ở chỗ tôi đã đọc “Quyển vở xanh” và nhìn thấy tận mắt sự ngu ngốc của kiểm duyệt. Tôi đề nghị họ cho lời giải thích với Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Họ tỏ ra vô căn cứ, thậm chí nhạo báng, và chúng tôi không đủ mạnh để sửa lại cách hành xử cảnh sát. Nhưng “Bác sĩ Zivago” tôi không đọc, và không ai trong lãnh đạo đọc cả. Người ta cấm cuốn sách, những người thực hiệc làm theo nghĩa vụ công việc theo dõi tác phẩm nghệ thuật. Chính việc cấm đoán này gây ra nhiều tội ác, gây ra thiệt hại trực tiếp cho Liên Xô. Đả lích chúng tôi là những trí thức ở nước ngoài, trong số này có cả những người không thù địch về nguyên tắc chủ nghĩa xã hội, nhưng họ được tự do phát biểu ý kiến.
Bây giờ - về Erenburg. Tôi gặp ông ta không phải một lần. Một nhà văn giỏi, tài năng. Ông vẫn đọng lại như thế trong văn học. Nhưng ở ông có một cái gì đó dĩ hoà vi quý với những phương pháp lãnh đạo của Stalin. Có thể, tôi quá khe khắt với Erenburg. Cuộc sống là như thế, không hoà giải có lẽ ông không sống nổi. Ông không đủ kiên trì bênh vực những hiểu biết riêng những biến cố, quan điểm của mình. Không phải luôn luôn như thế, thỉnh thoảng ông cũng thể hiện sự cứng rắn. Tôi nhớ, khi Stalin có một lần cần đến phát biểu công khai rằng Liên Xô không bài người Do thái, và Stalin quyết định tuyển mộ nhóm của ông, chính xác hơn, là chữ ký của ông (các tác giả khác Stalin hoàn toàn lo được chữ ký) Erenburg và Kaganovich. Kaganovich đúng là xoay xở tất cả, khi Stalin nói chuyện với ông theo lý do này. Có cảm giác rằng Kaganovich không muốn làm điều này. Nhưng Kaganovich lại làm tất cả những gì mà Stalin nói với ông. Sau đó Stalin giao cho ai đó nói chuyện này với Erenburg. Erenburg thẳng thừng phản đối ký vào văn bản ấy. Điều này chứng tỏ rằng ông có cá tính và dám đương đầu với ý định của Stalin, mặc dù Stalin với ông không trực tiếp nói chuyện này.



Erenburg đem ra dùng từ “trời ấm lên”.



Ông cho rằng sau khi Stalin chết cuộc sống của mọi người ấm lên. Tính cách đó không phải là tích cực. Hoàn toàn, làm yếu đi. Nếu nói theo ngôn ngữ cảnh sát chúng tôi bớt đi sự kiểm soát, mọi người phát biểu tự do hơn. Nhưng ở chúng tôi vẫn có cuộc đấu tranh hai cảm nhận. Một mặt, việc bớt hà khắc phản ánh tinh thần mới, mà chúng tôi hướng tới điều này. Mặt khác, trong số chúng tôi, còn cod những nhân vật cật sức không muốn làm ấm lên và quở trách: giá như Stalin còn sống, thì ông không cho phép làm điều như thế. Rõ ràng giọng điệu chống sự ấm lên. Nhưng Erenburg trong tác phẩm của mình rất biết rõ quan sát khuynh hướng ngày nay, đem lại đặc tính tương lai. Tôi cho rằng từ của ông phản ánh hoạt động, mặc dù chúng tôi phê bình khái niệm “trời ấm lên”.



Sự phát triển tương tự những biến cố có thể trong công việc chính trị. Vì thế chúng tôi tựa như kiềm chế “trời ấm lên”. Chúng tôi sợ bị tước đoạt khả năng trước đây điều khiển đất nước, kiềm chế những tâm trạng, không vừa lòng quan điểm lãnh đạo. Chúng tôi sợ rằng lãnh đạo không có khả năng làm đúng chức năng của mình và lái sự tiến bộ để giữ xô viết tồn tại. Chúng tôi giải phóng sức sáng tạo của mọi người, nhưng sao cho những tác phẩm mới phải giúp phòng thủ CNXH. Tựa như muốn bú, và mẹ không cho.



Có lần chúng tôi thảo luận trong BCHTƯ Đảng với trí thức văn nghệ. Erenburg cũng được mời. Tôi không nhớ, có mặt Simonov không, nhưng tôi nhớ có Tvadovski, Evtusenko, Ernst Neizvetnyi. Nói riêng, thảo luận về điêu khắc. Cả Galina Serebriakova cũng có mặt tại cuộc thảo luận. Bà phát biểu rất mạnh chống Erenburg. Erenburg, nghe bà nói, đúng là như đỉa phải vôi, nhẩy cẫng lên, còn bà vẫn quất túi bụi, gọi ông là kẻ nịnh bợ nịnh bợ Stalin và lên án ông khi Stalin chặt đầu và lưu đầy nhà văn, Erenburg phát biểu ủng hộ chính sách Stalin trong quan hệ với văn nghệ sỹ. Erenburg rất bực tức. Tôi hiểu Serebriakova, một tác giả tài năng của bộ sách 3 quyển về Marx và Ăng-ghen. Bây giờ Serebriakova biến mất khỏi chân trời, từ lâu tôi không nghe tên bà, trên bìa sách thoáng qua không có tên bà. Có thể, tác phẩm của bà có những lời thú nhận và nhìn thấy ánh sáng?



Bây giờ tôi tiếc nhiều người không có mặt tại buổi thảo luận. Khi phê bình Neizvetnyi, thậm chí tôi tỏ thô lỗ, nói rằng ông lấy cho mình cái họ như thế không phải vô cớ. Họ của ông làm tôi tức giận. Trong mọi trường hợp, từ phía tôi thể hiện sự thô lỗ, và nếu như tôi gặp ông bây giờ, thì tôi đề nghị ông tha thứ. Hơn nữa khi đó, tôi giữ chức vụ cao và không kiềm chế, không còn là cuộc trao đổi mà là quát mắng. Evtusenko phát biểu rất hăng, ủng hộ Neizvetnyi. Chủ nghĩa trừu tượng không phải là hướng mới trong văn hoá, nó có từ lâu và cũng từ lâu, một bộ phận trí thức đấu tranh chống xu thế này. Nó đặc biệt phát triển ở nước ngoài, mặc dù cả ở nước ta cũng có những người theo chủ nghĩa trừu tượng và những người khác khuynh hướng vị lai (tương lai). Một người trẻ tuổi theo chủ nghĩa vị lai là Maiakovski đi trong áo len vàng.



Tôi vẫn chưa tán thành trào lưu đó trong văn học, kịch, và điêu khắc. Nhưng tôi không nói gì. Không thể bằng biện pháp hành chính chống lại những gì nảy sinh trong môi trườngvăn nghệ sỹ: kịch, điêu khắc, âm nhạc... Evtusenko khi đó nêu một thí dụ cụ thể chẳng hạn ở Cuba những những người theo trường phái trừu tượng và những người theo trường phái hiện thực phát biểu cùng với nhân dân bảo vệ thành quả cách mạng, chống xâm lược.! Và mặc cho những chứng cứ thông minh của Evtusenko, người ta vẫn phê bình Neizvetnyi rất mạnh. Neizvetnyi sau này nhắn tôi qua cán bộ Agitprov (không phải BCHTƯ Đoàn thanh niên cộng sản) rằng ông chuyển sang quan điểm hiện thực chủ nghĩa. Tất nhiên tôi hài lòng. Thật là Neizvetnyi - một người tài năng. Bây giờ báo chío viết rằng ông sáng tác một loạt tác phẩm tốt. Tôi cũng vui mừng. Chừng mực nào mà phê bình có thể giúp ông? Có thể, chính bản thân ông quay về vị trí hiện thực trong sáng tạo của mình.



Tôi hối hận về cách phê bình Neizvetnyi, theo bản chất, thì tôi và không đồng ý với những người theo chủ nghĩa trừu tượng. Đơn giản là tôi không hiểu, và chống. Tôi theo xu hướng hiện thực chủ nghĩa. Tôi nhớ, khi ở Anh, tôi sống ở nhà nghỉ cuối tuần ngoại ô và bàn bạc với Anton Iden. Ông nhân thể hỏi tôi:



- Ngài Khrusev, Ý kiến của Ngài thế nào về chủ nghĩa trừu tượng và những trào lưu mode khác trong nghệ thuật hiện đại?



Tôi trả lời:



- Tôi không hiểu những thứ đó, thưa ngài Iden. Tôi đứng vững ở vị trí nghệ thuật hiện thực.



- Và tôi cũng không - Iden nói - và cũng ở vị trí hiện thực chủ nghĩa.



Sau đó ông cười và nói thêm:



- Những người cộng sản cộng yêu Picasso, sao nhỉ? Picasso không phải là người theo chủ nghĩa hiện thực.



Tôi nói với ông:



- Đúng, Picasso - hoạ sĩ lớn, tác giả bức tranh nổi tiếng “Chim bồ câu hoà bình”, là biểu tượng đấu tranh cho hoà bình.



Tôi chẳng phê bình mà cũng chẳng bênh Picasso.



Tôi kính trọng Sostakovich. Bây giờ tôi không nhớ, Zdanov đã phê bình cụ thể cái gì trong tác phẩm của ông. Nhưng tôi không thể nói rằng Sostakovich nói chung bị ruồng bỏ thời Stalin. Ông viết nhiều tác phẩm hay, cả trong thời gian chiến tranh, khi ông sáng tác kiệt tác của mình - bản giao hưởng phòng thủ Leningrad. Về công lao, ông có vị trí nổi bật trong số nhạc sĩ và là một trong những nhạc sĩ giỏi của âm nhạc. Thời còn làm lãnh đạo Liên Xô tôi không hiểu Sostakovich tại sao ông ủng hộ nhạc jazzz. Nói thẳng là ông đúng. Không thể đấu tranh với âm nhạc, kể cả jazz bằng biện pháp hành chính. Hãy để chính nhân dân biểu hiện mối quan hệ với nó.



Tôi không phí thời gian phê bình Utesov. Hồi còn trẻ, khi mọi người hát những bài hát của Utesov, thì báo Sự Thật chửi rủa Utesov. Tôi có một người bạn Lev Rimski, một người cộng sản trong trắng. Ông thường hát hát “Bánh mỳ vòng nóng ròn đây”, và kể cho tôi nghe những người bạn của ông làm việc ở xưởng in báo “Sự Thật”, chuẩn bị in những bài báo phê phán Utesov, nhưng chính họ lẩm nhẩm hát trong thời gian những bài hát thịnh hàng. Đây là sự đánh giá của nhân dân! Tôi không phân tích sáng tạo nhiều mặt của Utesov, trong số này có những bài hát “tiếng lóng của bọn du đãng.



Ngược lại, tôi rất hài lòng, lại xuất hiện những đĩa bài hát Utesov trong cửa hàng, mà tôi thường nghe.



Còn cả những thứ khác. Tôi thường tắt radio khi phát bản jazz làm đâu đầu. Không phải là âm nhạc, mà là những tiếng chói tai. Tôi không hiểu những nhạc sĩ người như thế lại thích được nhạc này. Nhưng đây là việc của tôi. Nhưng có người nghe nó, vỗ tay và bốc lên sự thích thú. Tiếp theo, họ thích? Vì thế các áp dụng biện pháp hành chính cho nghệ thuật là không thể. Người phát biểu phải là khán giả. Tôi là người già, được giáo dục theo khuôn mẫu khác nghệ thuật âm nhạc. Tôi thích những bài dân ca, những điệu múa nhân dân, âm nhạc nhân dân. Tất nhiên và cả nhạc cổ điển. Nhưng không phải là jazz. Tôi ở đây tựa như mang sự sám hối, không phải tuyệt đói như thế: mà là thừa nhận những sai lầm của tôi, khi tôi có ủng hộ hoặc cấm trào lưu nghệ thuật nào đấy. Trong thâm tâm tôi bây giờ cũng chống một số trong chúng. Đơn giản tôi nhấn mạnh rằng không đấu tranh như thế với cái mà mình không thích.



Có lúc những cô gái mặc váy ngắn. Sau đó lại xuất hiện váy dài. Mode thay đổi cả trong âm nhạc và còn lại tất cả. Phải có kiên nhẫn với sự thay đổi này. Nhưng có phải họ làm yếu hệ tư tưởng cộng sản? Theo tôi, hoàn toàn không! Ở đây Evtusenko đúng. Chúng tôi từng phê bình Maiakovski, còn Maiakovski để lại cho đất nước những tác phẩm cho đến bây giờ vẫn là vũ khí của ĐCS trong cuộc đấu tranh cho tương lai tốt đẹp. Chẳng hạn, không ai trong số các nhà thơ viết về Lenin truyền cảm hơn ông. Mặc dù Maiakovski theo phong cách thơ của mình đối với tôi rất khó. Khi tôi mang nó ra đọc, thì thơ ông tác động đến tôi không phải khi tôi nghe. Khi ngâm, những vần thơ vang lên nghiêm túc và được thúc giục. Tôi nói điều này để xác nhận Evtusenko nói đúng. Nhưng chính những vần thơ của Evtusenko liệu có làm tôi thích không? Đúng, tôi thích. Vả lại, tôi không thể nói về tất cả những bài thơ của ông mà tôi chưa đọc. Tôi biết rằng một số đã thành lời bài hát. Chẳng hạn, “Người Nga muốn chiến tranh phải không?”.



Một số người phát biểu phê phán lời bài hát này: dường như thơ của Evtusenko nói chung phủ nhận chiến tranh và làm rã đám tinh thần bộ đội. Họ sai. Lời thơ của ông thể hiện bản chất cuộc đấu tranh chống quân sự hoá và cảnh báo nếu buộc chúng tôi phải chiến tranh, thì nước Nga có thể đường hoàng đánh trả. Tôi cho rằng Evtusenko là nhà thơ rất khả năng, mặc dù và tính ông ngang tàng. Và lại sự ngang tàng là khái niệm phụ thuộc vào quan điểm.



Đơn giản là con người ta không phải luôn luôn đặ trong khung, nếm mùi bởi kiểm duyệt, nghĩa là những những người tất cả phải chịu sự thần phục và làm vừa lòng người ta người ta. Nhưng nếu mọi người viết như nhau, dùng những luận cứ như nhau, xuất phát từ cùng một hiểu biết như nhau, thì chẳng bao giờ sinh ra nghê thuậtcả. Cuối cùng tất cả mọi người chỉ nhai đi nhai lại một thứ. Các tác phẩm như thế chỉ làm cho người đọc nôn mửa. Nhất định phải dũng cảm hơn tạo ra điều kiện cho văn nghệ sỹ phát biểu, hành động, sáng tác. Hãy sáng tác!



N. S. Khrusev


Hồi ký của Khrusev bị ngắt ở đoạn văn này được ghi trong số đầu tiên tháng 9-1971. Ngày 5-9-1971, ông bị đột quỵ lần thứ ba, ngày 11-9-1971 ông qua đời. Chương cuối cùng cuốn hồi ký “Tôi không phải quan toà...” không làm tác giả thích. Khi nghe băng, ông đề nghị xoá đi để có thể đọc lại. Nhưng số phận không điều khiển được. Chương này chứng minh tác giả đánh giá và đánh giá lại một số sự kiện trước đây, thỉnh thoảng không đồng ý với chính mình.

HẾT
______________________________

Синьцзяна: Tân Cương
Порт-Артур с Дальним: cảng Lữ Thuận
Чжан Цзолиня: Trần Độc Tú?