Hồi ký Khrushchev

Nikita Sergeyevich Khrushchev, 1970
Những năm đầu tiên sau chiến tranh
Năm 1944 tất cả Đông Ukraina được giải phóng khỏi tay bọn xâm lược Hittler và các đồng minh của Đức. Đàn ông trong độ tuổi được gọi vào Hồng quân, vì, khi quân ta tiến lên phía trước, bổ xung người chủ yếu là ở huy động những người trước đây nằm lại ở lãnh thổ bị địch chiếm. Những người này, đa số có hiểu biết về nghĩa vụ công dân, và không cần phải đặc biệt “thuyết phục” họ đi đánh nhau với Đức Hittler. Một phần những người nằm lại ở nhà - người già, tàn tật, và vô dụng với quân đội, chủ yếu phụ nữ, ngay lập tức phục hồi kinh tế quốc dân, đặc biệt nông nghiệp.
Trong công nghiệp, trước hết là than và luyện kim, một phần công nhân và nhân viên kỹ thuật không phải tham gia bộ đội. Tuy nhiên trong công nghiệp vẫn động viên nhiều phụ nữ, đặc biệt những cô gái trẻ. Đồng thời họ thích thú đi đến đó. Sự giải thích điều này bằng hai cách: một mặt, chủ nghĩa yêu nước và dân vận ĐCS đóng vai trò lớn rằng cần khôi phục công nghiệp, rằng đây là sự cứu toát duy nhất đáng giá, khả năng nâng cao mức sống nhân dân. Mặt khác, ở miền đông Ukraina, sự cung cấp dù sao chăng nữa cũng được tổ chức; chẳng hạn thực phẩm cho dân chúng là tốt hơn tại các vùng khác của Ukraina, đặc biệt năm 1946.
Phụ trách công nghiệp than là Egor Trofimovich Abakumov, một người rất am hiểu vùng Donbass được biệt phái đến chỗ chúng tôi. Lúc đó có một khoá học về xây dựng các mỏ nhỏ, khai thác các vỉa trên, hoặc, như các thợ mỏ gọi nó, những cái đuôi, nghĩa là những vỉa lộ thiên. Những mỏ không sâu trong chế độ cũ gọi không bẫy chuột. Đã hoạch định đưa hàng trăm mỏ như thế vào cơ giới hoá một phần những khai thác không sâu và những họng dốc để nhanh chóng có lượng than cần thiết. Và số than này đã nhận được!
Cũng khôi phục cả luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp địa phương. Sự phục hồi diễn ra với nhịp độ nhanh. Sự kiên trì của mọi người có thể đáng kinh ngạc, họ có sự hiểu biết cần thiết để áp sát hết sức sao cho thời gian ngắn nhất làm hồi sinh công nghiệp và nông nghiệp. Chính là chiến tranh đã kết thúc, lễ mừng Chiến thắng và sự sung sướng của nhân dân dần dần qua đi, những người lành lặn quay về nhà máy, hầm mỏ, nông trường và nông trang. Sự phục hồi bây giờ diễn ra còn với nhịp độ nhanh hơn. Nhưng phải qua trở ngại.
Năm 1946, hạn hán lớn, nông nghiệp Ukraina thiệt hại nặng. Thiệt hại cả ở những nước cộng hoà khác, mà tôi chỉ nói chút ít về nó. Nhưng Ukraina thì tôi biết. Đến mùa thu năm ấy, đã nhìn thấy rõ vụ mùa tệ hại khủng khiếp. Tôi làm tất cả Stalin kịp thời hiểu điều này. Chưa có vụ mùa nào bị điều kiện thời tiết nặng nề như thế này, ngoài ra, cơ giới hoá nông nghiệp còn yếu, không có máy kéo, ngựa, bò do chiến tranh tàn phá. Không đủ sức kéo. Tổ chức công việc cũng rất kém; bộ đội phục viên tham gia công việc, nhưng vẫn chưa quen chịu chỗ của mình, người thì và mất mát tay nghề, người thì hoàn toàn không có. Do chúng tôi đã có một vụ mùa rất tệ.
Tôi không nhớ rõ, khi đó chúng tôi đã đặt một kế hoạch: một khoảng 400 triệu pud hoặc thậm chí hơn. kế hoạch được lập ra bằng ý chí, mặc dù ở các cơ quan báo chí ở các tài liệu chính thức, nó “được dựa trên” những số liệu khoa học, nghĩa là xoá bỏ thước mét và tính toán vụ mùa theo sinh học với trừ hao mất mát riêng, do tiêu tốn công của mọi người, gia súc và trưng thu hàng hoá. Khi ấy không xuất phát chủ yếu là sẽ trồng ra sao, mà là về nguyên tắc có thể nhận được bao nhiêu, bắt nhân dân nộp đưa vào kho nhà nước. Và thế là bắt đầu việc bắt nộp Tôi thấy đe doạ thảm hoạ. Tất cả sẽ kết thúc như thế nào, khó đoán trước được.
Khi triển khai thu mua và hoàn toàn thấy rõ vụ mùa, có thể ít nhiều chính xác xác định khả năng thu mua ngũ cốc vào quỹ nhà nước. Để làm điều này đã phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể áp dụng được. Nông trang viên hiểu biết phải hoàn thành nghĩa vụ của mình và người ta đã làm tất cả hết sức mình để cung cấp bánh mỳ cho đất nước. Dân Ukraina hoàn toàn chịu khổ sở tình cảm như thế cả trong nội chiến, và cả khi tập thể hoá, cả khi nước cộng hoà này bị chiếm đống. Họ hiểu, đất nước cần bánh mỳ, và hiểu giá của cho nó, hiểu rằng không có bánh mỳ không thể phục hồi công nghiệp. Ngoài ra, họ hao mòn tín nhiệm với ĐCS, dưới sự lãnh đạo của đảng đã mang lại chiến thắng. Nhưng giới chóp bu thì lại khác. Tôi nhận một bức thư của Chủ tịch nông trang rất lâm ly. Chẳng hạn, ngắn gọn:
- Thưa đồng chí Khrusev, chúng tôi hoàn thành kế hoạch thu mua lúa mỳ hoàn toàn, đã giao nộp tất cả, và bây giờ chúng tôi chẳng còn lại một cái gì. Chúng tôi tin rằng cường quốc và Đảng không quên chúng tôi, và họ sẽ giúp đỡ chúng tôi.
Tác giả bức thư, tiếp theo, cho rằng số phận nông dân phụ thuộc vào tôi. Chính lúc ấy tôi là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, và ông nghĩ rằng tôi cầm đầu cường quốc Ukraina, thì tôi không quên nông dân. Tôi thấy ông bị lừa. Chính tôi không thể làm được một cái gì, với tất cả lòng mong muốn của mình, vì rằng, khi bánh mỳ giao cho điểm nhận của nhà nước, thì tôi không có quyền phân phối nó nữa, còn bản thân tôi cũng buộc phải van nài để lại một lượng ngũ cốc nào đấy mà chúng tôi cần. Một chút gì cho chúng tôi, nhưng ít.
Tôi cũng thấy rằng kế hoạch nhà nước về bánh mỳ sẽ không thực hiện được. Tôi gặp một nhóm các nhà nông học và kinh tế để tính toán. Đứng đầu nhóm là Stachenko, một cán bộ giỏi, một người trung thực. Tôi nghĩ nếu đệ trình thẳng thắn tất cả cho Stalin và chứng minh sự tưởng những suy nghĩ của mình vào những con số thì Stalin sẽ tin chúng tôi. Và tôi có được trong một số vấn đề, khắc phục sự chống đối quan liêu của bộ máy và khiếu nại trực tiếp lên Stalin. Nếu tôi hành động trước, bằng cách gom góp tư liệu và xây dựng một cách logic những chứng cớ của mình, thì sự đúng đắn của nó sẽ nổi lên. Lúc đó Stalin ủng hộ tôi. Tôi hy vọng rằng lần này tôi cũng chứng minh rằng chúng tôi là đúng, và Stalin hiểu rằng dây không phải là sự phá hoại ngầm. Loại thuật ngữ này không bắt buộc tôi phải chờ đợi ở Moskva, nơi luôn luôn có biện minh đối với sự đàn áp, và đối với sự trưng thu sản phẩm nông trang.
Bây giờ tôi không nhớ, lượng bánh mỳ tôi tính toán khi đó có thể thu mua luôn luôn bao nhiêu. Hình như, trong thư mà chúng tôi trình lên trên, chúng tôi viết là 180 hoặc hơn 200 triệu pud. Đây là, tất nhiên, rất ít, vì rằng trước chiến tranh Ukraina có mức hàng năm 500 triệu pud. Mọi người biết rõ ràng là đất nước đang cực kỳ cần thực phẩm. Và không những đối với đòi hỏi trong nước,: Stalin muốn giúp đỡ các nước cộng hoà mới, và đặc biệt Ba Lan và Đông Đức, những nước này không thể nhúc nhích nếu thiếu sự giúp đỡ của chúng tôi. Stalin thấy rõ việc xây dựng các nước đồng minh tương lai cả trong điều kiện hoà bình, và cả trong những trường hợp khác. Ông cũng muốn khoác áo tổng chỉ huy quân sự của các cuộc hành binh có thể trong tương lai.
Hiện thời cần giải quyết nạn đói. Tôi gửi tài liệu đã chuẩn bị cho Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô phơi bày sự nghèo đói của chúng tôi. Chúng tôi muốn người ta cho chúng tôi khoai tây với sự đảm bảo từ trung ương không những cho thành phố mà và cho cả dân chúng nông thôn một lượng thực phẩm và đôi chỗ tổ chức thức ăn cho những người đang bị đói. Tôi không nhớ bao nhiêu triệu pud khoai tây mà chúng tôi đề nghị. Nhưng tôi nghi ngờ nó thành công, vì tôi biết Stalin, sự tàn nhẫn và thô lỗ của ông. Mọi người cố gắng thuyết phục tôi:
- Chúng tôi thoả thuận rằng nếu ông ghi tên Stalin lên tài liệu này (tất cả những tài liệu như thế trực chỉ Stalin), thì Stalin thậm chí không cầm nó đâu. Chúng tôi quy ước với Kosyghin (khi đó Kosyghin phụ trách vấn đề này). Ông nói rằng chừng này triệu khoai tây có thể cho chúng tôi”.
Tôi dao động lâu, nhưng cuối cùng cũng ký tài liệu. Khi tài liệu về Moskva, thì Stalin nghỉ ở Sochi. Malenkov và Beria biết tài liệu. Tôi nghĩ rằng họ quyết định dùng sự việc để làm mất uy tín tôi trước Stalin, và thay thế bằng giải quyết vấn đề (họ có thể khi đó giải quyết các vấn đề mang tên Stalin: nhiều tài liệu, mà Stalin không nhìn, nhưng cũng được phát đi với chữ ký của ông), họ gửi tài liệu của chúng tôi cho Stalin ở Sochi. Stalin gửi cho tôi một bức điện lời lẽ thô lỗ, thoá mạ nói rằng tôi là người đa nghi: tôi viết thư, trong đó tôi chứng minh rằng Ukraina không thể thực hiện được thu mua, và tôi đề nghị số lượng lớn khoai tây để nuôi sống mọi người. Bức điện này làm cho tôi chết điếng. Tôi hiểu thảm hoạ treo lơ lửng không những trên đầu tôi, mà còn trên đầu nhân dân Ukraina, trên đầu nước cộng hoà: nạn đói không tránh khỏi và chẳng bao lâu nữa bắt đầu.
Stalin từ Sochi quay về Moskva, và tôi từ Kiev đến Moskva. Tôi dã nhận quát mắng, chỉ có thể như thế thôi. Tôi cũng đã sẵn sàng tất cả, thậm chí bị liệt vào hàng ngũ kẻ thù nhân dân. Lúc đó việc này được làm chỉ trong nháy mắt - chỉ kịp chớp mắt, là cửa khép lại, và anh có mặt ở Lubianka. Mặc dù tôi tin những tài liệu mà tôi gửi, đã phản ánh tình thế thực của sự việc và Ukraina cần được giúp đỡ, nhưng chỉ có thế mà Stalin nổi cơn giận. Chúng tôi không nhận được một cái gì cả từ trung ương. Nạn đói kéo đến, đã có tín hiệu cho thấy có người chết đói. Đây đó bắt đầu có chuyện ăn thịt người. Người ta báo cáo tôi rằng họ tìm thấy đầu và bàn chân người dưới cầu Vasinkov (một thành phố nhỏ của Kiev), nghĩa là xác đã đã thành đồ ăn. Sau đó trường hợp như thế cũng thường xuyên xảy ra.
Kirichenko (khi đó là bí thư thứ nhất tỉnh uỷ Odessa) kể rằng khi ông đến kiểm tra một nông trang, như mọi người qua mùa đông, họ kể cho ông nghe để ông tới gặp một nữ nông trang viên. Ông nói:
- Tôi gặp một cảnh kinh khủng. Tôi thấy người phụ nữ này đang cắt xác đứa con của mình, không phải thằng bé, mà là một con bé, và bà ta lẩm bẩm: “Thế là người ta ăn hết con bé Maneska rồi, còn bây giờ ăn Vaneska”. Còn đủ thời gian.
Người phụ nữ này bị loạn óc vì đói và xẻ thịt những đứa con của mình. Anh có thể hình dung được điều này không?
Tôi báo cáo tất cả điều này cho Stalin, nhưng ông trả lời trong sự cơn giận dữ:
- Đồ nhu nhược! Người ta lừa ông, cố tình báo cáo để làm mủi lòng và che dấu nguồn dự trữ.
Có thể Stalin nhận được những bằng chứng khác, lúc đó ông mới tin hơn? Tôi không biết. Tôi biết rằng ông nhìn nhận tôi dường như tôi bị ngả theo ảnh hưởng địa phương Ukraina, rằng tôi bị áp lực và tôi chút nữa thành người dân tộc chủ nghĩa, không xứng đáng sự tin cậy. Với thông báo của tôi, Stalin bắt đầu có quan hệ thận trọng thấy rõ. Nhưng những bằng chứng khác từ đâu đến tay ông? Báo cáo những chứng cớ ấy cho là những nhân viên Cheka hoặc những thanh tra của BCHTƯ ĐCS(b), những người này đi khắp mọi vùng. Những thông tin đúng như thế có thể lọt đến tai Stalin, nhưng thông thường người ta rất sợ đưa nó và ỉm đi để “không chạm trán”, không phải chịu trận, vì rằng Stalin phản ứng rất khắc nghiệt. Stalin cho rằng tất cả mọi người dưới trướng ông đều thịnh vượng. Như Sevchenko viết: “Từ người Moldavi đến người Phần Lan tất cả mọi tiếng nói, mọi người đều ngậm miệng, thịnh vượng”.
Chỉ có điều Sevchenko viết thời gian Nicolai I, con bây giờ Iosif I.
Stalin đặt vấn đề cần triệu tập Plenum BCHTƯ Đảng bàn về nông nghiệp. Quả là tôi không nhớ, bao nhiêu năm không tổ chức Plenum. Có lẽ, từ năm 1938 khi bàn cãi vấn đề đấu tranh với kẻ thù nhân dân, còn sau đó có sự thái quá trong cuộc đấu tranh này. Stalin khi đó đóng vai trò cao thượng chống sự thái quá, do chính ông tổ chức. Như vậy, cuối cùng bây giờ ông đặt vấn đề Plenum về việc đẩy mạnh nông nghiệp. Bắt đầu bàn cãi xem trao cho ai làm báo cáo. Tại cuộc họp Bộ chính trị, Stalin lập luận đọc to thành tiếng:
- Ai làm báo cáo?
Khi đó phụ trách nông nghiệp là Malenkov.
- Malenkov? Ông phụ trách việc này. Ông làm báo cáo như thế nào, nếu thậm chí không biết cả từ ngữ về nông nghiệp?
Việc này liên quan đến Malenkov. Hoàn toàn đúng. Lạ lùng ở chỗ Stalin biết Malenkov như thế, mà còn trao cho ông ta phụ trách nông nghiệp. Điều này tôi để ý từ lâu. Trả lời khó. Ở Stalin, mọi thứ đều có thể...
Bỗng nhiên ông nói với tôi:
- Ông sẽ làm báo cáo.
Tôi khiếp sợ việc uỷ nhiệm này:
- Đồng chí Stalin, xin đừng trao cho tôi, tôi xin ông.
- Vì sao?
- Tôi có thể làm báo cáo về Ukraina, ví tôi biết nó. Nhưng tôi không biết Liên bang Nga. Về Siberi nói chung tôi không hiểu, tôi chưa bao giờ ở đó và chưa làm việc này. Nói riêng, trước Ukraina tôi nói chung chưa bao giờ phụ trách nông nghiệp, bản thân tôi là công nhân, chỉ quan tâm nhiều đến công nghiệp, cũng có phụ trách kinh tế công cộng ở Moskva. Nhưng Trung Á? Đúng là tôi chưa bao giờ thấy bông mọc như thế nào.
Stalin nài:
- Không, Ông sẽ làm báo cáo.
- Không đâu, đồng chí Stalin, tôi thiết tha đề nghị ông, tha cho tôi. Tôi không muốn làm phiền BCHTƯ, không muốn đặt mình vào tình thế ngốc nghéch dây vào việc làm báo cáo vấn đề mà tôi đặc biệt không biết. Xin trình bày Plenum là tôi không thể”.
Stalin lại nghĩ:
- Thôi, được, trao cho Andreev.
Andreev có thời phụ trách nông nghiệp và tự phụ trong Đảng là người am hiểu nông thôn. So với các uỷ viên khác Bộ chính trị, ông, tất nhiên, biết nông nghiệp tốt hơn, mặc dù tôi không đáng giá cao kiến thức của ông. Ông là người tương đối khô khan và là người hình thức, thường sử dụng các tờ trình và làm các thông báo của mình trên cơ sở tờ trình của những khác am hiểu nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, tôi hài lòng tôi thoát được thế bí. Và Andrey Andreev chắc chắn là người báo cáo BCHTƯ tại Plenum. Lúc đó ông là uỷ viên Bộ chính trị và bí thư BCHTƯ. Còn có thêm một Uỷ ban về nông nghiệp - chồng chéo giữa BCHTƯ và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Andreev là Chủ tịch hoặc uỷ viên Đảng uỷ Uỷ ban. Người thay thế này là do Stalin cử, nhưng tôi không biết ông là bị buộc phải làm và vai trò của ông được kết luận cụ thể.
Sau một thời gian, khai mạc Plenum. Andrey Andreev làm xong báo cáo. Báo cáo đâu ra đấy, hàng lối rõ ràng, có logic, như ông thường làm. Plenum tiến hành ở gian Sverlov, Kreml, Đoàn Chủ tịch nhỏ chỉ có các uỷ viên Bộ chính trị ngồi. Tôi ngồi cạnh Stalin và thấy, ông chăm chú nghe. Tuyên bố nghỉ. Chúng tôi chạy ùa vào phòng nghỉ nơi các uỷ viên Đoàn chủ tịch uống trà. Có lần lại ăn trưa, cùng trao đổi những suy nghĩ. Ngồi ở, chúng tôi nhâm nhi trà, và Stalin hỏi tôi:
- Anh có ý kiến gì về bản báo cáo?
Tôi nói:
- Người báo cáo đã làm sáng tỏ tất cả các vấn đề.
- Nhưng ông ngồi hoàn toàn bàng quan. Tôi đã quan sát ông.
- Nếu ông muốn tôi nói hết sự thật chô ông, thì, theo tôi, trong báo cáo cần nêu ra những vấn đề khác. Có đụng chạm đến tất cả những khuôn sáo.
Stalin nổi khùng:
- Thế mà ông từ chối báo cáo, còn bây giờ thì lại chỉ trích.
Tôi thấy Stalin không hài lòng về tôi.
Kết thúc báo cáo. Nhiều người phát biểu tranh luận, tôi cũng thế. Hoàn toàn tôi không nhớ, tôi đã đề cập các vấn đề tôi gì, trước tiên, tôi nói công việc phục hồi kinh tế Ukraina. Tôi nói chỉ có về điểm này thôi. Lúc đó tôi coi quan trọng nhất là vấn đề cơ giới hoá và hạt giống. Khi đó luật “điều răn đầu tiên” của nông trang viên có hiệu lực: đầu tiên thực hiện nghĩa vụ cung cấp cho nhà nước, sau đó hạt giống và quỹ, sau đó - phân bố theo lao động. Tôi cho rằng cần huỷ bỏ điều răn này do Stalin nghĩ ra, và trước tiên phải đủ hạt giống. Dưới chế độ cũ, nông dân cá thể, thà chết, không ăn hạt giống, vì rằng đây là tương lai, đây là cuộc sống. Chúng tôi thu những hạt giống này của nông dân, sau đó bắt buộc đưa cho họ gieo hạt? Nhưng cũng không biết, hạt giống này là hạt loại gì, mọc ở đâu, chừng mực nào họ quen thổ nhưỡng.
Lời phát biểu của tôi làm Stalin nổi giận. Một Uỷ ban đặc biệt được thành lập do Andrey Andreevlàm Chủ tịch, nhưng tôi cũng ở trong hội đồng này. Nhưng còn thêm một đám mây đen nặng nề treo trên đầu tôi sau lời phát biểu của Malssev, một cán bộ dầy dạn kinh nghiệm, quả là một người hiểu rõ nông nghiệp Ural. Ông lãnh đạo đạo tuyệt vời kinh tế của mình, kể rằng công việc ở họ ra sao và ông thu hoạch luá mỳ vụ xuân tốt như thế nào. Ngay khi ông nói về luá mỳ vụ xuân, tôi lập tức cảm thấy cú giáng vào chỗ đau của tôi. Tôi biết rằng Stalin, không sắp xếp, lôi ra vấn đề luá mỳ vụ xuân và quăng nó vào mặt tôi. Tôi phát biểu chống việc gieo luá mỳ vụ xuân theo một trật tự nhất định, nó sản lượng thấp tại Ukraina, đặc biệt ở miền nam, mặc dù ở một số nông trang, nó thu được cũng không tồi. Vì thế tôi cho rằng cứ để cho một số nông trang nào có thể gieo nó, nhưng không ghi nhất thiết ghi vào quyết định rằng mọi ông trang cần phải trong phần trăm xác định gieo luá mỳ vụ xuân: chính có lần thậm chí hạt giống không mọc. Stalin không biết điều này và không muốn biết. Mặc dù trước chiến tranh tôi có lần báo cáo ông về luá mỳ vụ xuân, và khi đó ông đồng ý với tôi, sau đó được chấp nhận quyết định không nhất thiết tất cả nông trang Ukraina gieo luá mỳ vụ xuân.
Ngay khi tuyên bố nghỉ và chúng tôi đi vào phòng nghỉ, Stalin cáu và độc ác nói vào mặt tôi:
- Đã nghe, Malssev nói gì chưa?
- Đúng, đồng chí Stalin, nhưng ông ta nói về nói Ural. Nếu tại Ukraina, cây lương thực có sản lượng cao nhất- lúa mì thu, thì ở vùng Ural hoàn toàn không gieo được nó, mà ở Ural chỉ gieo được luá mỳ vụ xuân. Họ đã nghiên cứu nó, biết gieo trồng nó và nhận được vụ mùa tốt. Đúng và điều này không phải tất cả là kinh tế. Malssev - đây là thợ cả, viện sỹ trong công việc của mình.
- Không, không, nếu ở đó vụ xuân cho thu hoạch như vậy, thì chỗ ông - và Stalin giáng vào bụng tôi - đất đen dày như thế, thì vụ mùa còn phải tốt hơn. Phải viết vào nghị quyết.
Tôi nói:
- Nếu viết, thì cứ viết rằng tôi phản đối. Mọi người tất cả đều biết tôi chống luá mỳ vụ xuân. Nhưng nếu các ông cứ coi như thế, thì khi đó hãy viết cả Bắc Kavkaz và tỉnh Rostov. Họ cũng ở cùng tình thế giống chúng tôi.
- Không, chúng tôi viết chỉ cho ông thôi!
Dường như, tôi cần phải nảy ra sáng kiến để người khác cũng đi theo tôi. Uỷ ban nói trên làm việc, khi bàn cãi vấn đề này, tôi cũng chấp nhận tham gia, nhưng không đi đến cuối. Plenum kết thúc, tất cả về địa phương mình, và tôi cũng phải ra về. Ký nghị quyết này chỉ có Malenkov và Andreev.
Khi tôi ra về, thì Uỷ ban đặt vấn đề cần bãi bỏ quyết định về “điều răn đầu tiên” của nông trang viên, và đề nghị quỹ hạt giống cho gieo song song ngũ cốc nhà nước ở một tỷ lệ nhất định. Tất nhiên có sự nhượng bộ từ phía tôi. Nhưng tôi cho rằng thậm chí cũng có ích nói chung không cái gì còn tại cảо. Tất cả theo phần trăn hạt của và nhà nước, và quỹ hạt. Tôi ra về. Sau vài ngày Malenkov gọi cho tôi và nói:
- Nghị quyết đã xong. Đề nghị của anh về thứ tự gieo quỹ hạt ở nông trang và nong trường trong nghị quyết không có, chúng tôi sẽ báo cáo Stalin. Anh nghĩ sao, báo cáo đề nghị của anh riêng biệt hay hoàn toàn không nói gì cho ông ấy?
Rõ ràng đây là vấn đề khiêu khích. Mọi người kể cả biết rằng tôi đưa vấn đề này ra Uỷ ban, đấu tranh vì nó, còn bây giờ, khi đặt vấn đề, có báo cáo cho Stalin hay không, nếu như tôi nói không báo cáo, té ra tôi nhát gan. Tôi nói:
- Không, đồng chí Malenkov. Tôi đề nghị trình đồng chí cho Stalin quan điểm của tôi.
- Được!
Họ trình lên. Từ cuộc gọi mới và Malenkov, tôi biết Stalin rất bực mình và không chấp nhận đề nghị của tôi. Stalin nổi khùng thật sự, khi biết về điều này. Sau Plenum, Stalin đặt vấn đề phải giúp đỡ Ukraina:
- Phải củng cố Khrusev, giúp đỡ ông ta. Ukraina thì tiêu điều, mà đây là một nước cộng hoà lớn và có giá trị đất nước.
Ông nghiêng hướng nào?
- Tôi cho rằng phải cử Kaganovich đến đó, giúp Khrusev. Ông nghĩ thế nào? - Ông hỏi, khi nói chuyện với tôi.
Tôi trả lời:
- Kaganovich từng là bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, biết Ukraina. Tất nhiên Ukraina - đây là một đất nước đủ không những cho hai người mà còn cho cả hàng chục người.
- Được, cử đến đó Kaganovich và Patolichev.
Patolichev có thời bí thư BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b). Tôi trả lời:
- Xin cứ việc, tốt thôi.
Và ghi như thế. Stalin đề nghị tách đôi chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Có thời người ta hợp nhất những chức vụ này, nhưng khi đó tôi chứng minh không cần làm điều này. Điều đó được làm tại Ukraina và Belorussia. Tôi không biết các nước cộng hoà khác có thế không. Stalin đề nghị:
- Khrusev sẽ là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ukraina, còn Kaganovich - Bí thư thứ nhất BCHTƯ. Patolichev sẽ bí thư BCHTƯ về nông nghiệp.
Tôi lại nói:
- Tốt.
Chúng tôi họp Plenum tại Ukraina. Plenum chuẩn y sự bổ nhiệm, mỗi người ngồi tại chỗ của mình và phụ trách công việc của mình.
- Trước hết - tôi nói với Kaganovich và Patolichev, chúng tôi phải chuẩn bị trồng trọt. Chúng tôi không còn hạt. Ngoài ra, chúng tôi phải nhận một cái gì đó để nuôi dân: họ đang chết đói, xuất hiện việc ăn thịt người. Không thể nói trồng trọt thế nào, nếu chúng tôi không tổ chức thực phẩm xã hội. Chưa chắc bây giờ chúng tôi nhận được lượng ngũ cốc, để cho vay, nuôi dân để họ không chết đói. Rồi cả hạt giống cũng phải nhận.
Chúng tôi đặt vấn đề trước Moskva. Để đảm bảo vụ mùa năm 1947 và đặt hạt giống năm 1948, phải cấp tốc nhận được hạt giống. Nếu chúng tôi không nhận hạt giống, chúng tôi không làm được gì cả, vì rằng người ta đã chở đi mọi thứ từ nông thôn theo điều răn đầu tiên do Stalin nghĩ ra.
Chúng tôi một lần nữa yêu cầu Stalin và nhận một lượng hạt và thực phẩm. Trời đã sang tháng hai. Lúc ấy ở miền nam bắt đầu lác đác gieo hạt, trong tháng ba nhiều nông trang phía nam gieo lúa mỳ. Thế là tháng ba, đáng ra chúng tôi phải chuẩn bị gieo đại trà ở miền nam, con ở tỉnh Kiev kết thúc gieo hạt vào tháng tư. Tôi nói với Kaganovich:
- Hãy nghĩ cái gì đề làm chứ.
Ông nói:
- Phải đi khắp Ukraina.
Tôi trả lời:
- Phải, nhưng điều này bây giờ không phải là chính. trước đây anh không ở Ukraina, mà giờ lại đi, nhưng tôi nằm lại Kiev. Bây giờ không quan trọng không phải là tôi đi hoặc tôi sẽ ở đâu đó trong một, hai, ba hoặc năm nông trang. Điều này không có giá trị gì hết. Người ta chuyển Xô hạt giống bằng tầu hoả, hất chúng từ các tỉnh, còn từ tỉnh hất về nông trang - đấy mới là điều chính, mà thành công trồng trọt phụ thuộc vào.
Chúng tôi cũng thoả thuận như thế. Kaganovich đi đến tỉnh Poltava, tôi nằm lại ở Kievđiều phối qua điện thoại - thúc đẩy hạt giống và chuyên chở, liên quan với sự đảm bảo trồng trọt: phụ tùng, nhiên liệu và dầu bôi trơn.
Kaganovich, khi đi thăm nông trang, tin rằng chức vụ của ông Bí thư thứ nhất bắt buộc với nhiều người: tình thế rất nặng nề, nhiều nông trang viên làm ăn láng cháng, không có khả năng làm việc, kiệt quệ sức lực vì đói. Sau đó ông chia xẻ với tôi ấn tượng về một nông trang và Chủ tịch nông trang này Moginichenko.
- Ông là người thế nào, tôi không hiểu. Nghiệt ngã, kiên trì. Có lẽ ông ta sẽ có vụ mùa. Khi tôi ra đồng, mọi người đang cày ruộng Tôi nhìn thấy rằng đất cày ít quá và nói:
- Sao các anh cày ít thế?
Cần phải biết Kaganovich để hiểu khi ông nói: nạt nộ Chủ tịch nông trang. Nhưng ông chủ tịch, người hiểu biết công việc của mình, trả lời:
- Bò cũng phải ăn, người cũng phải ăn.
- Bây giờ anh cày ít, rồi mai sau anh xin bánh mỳ của nhà nước?
- Tôi á, không bao giờ, đồng chí Kaganovich, tôi không xin bánh mỳ của nhà nước. Chính tôi cho nhà nước bánh mỳ.
Từ trước tôi đã đề nghị Kaganovich:
- Anh đến làng, đi cùng với Koval. Là nhà nông học, ông ta biết rõ nông nghiệp, và vì thế anh đề nghị ông vào hội đồng, ông ta sẽ bầy cho anh. Đây là người biết công việc của mình.
Koval lúc đó là Bộ trưởng ruộng đất CHXHCN Ukraina. Và Koval nhìn thấy, “đánh chúng tôi”, đánh Bí thư thứ nhất, và ai đánh? Chủ tịch nông trang. Ông nói với tay chủ tịch:
- Ông nói gì thế, đồng chí Mogininchenko? Tôi - nhà nông học, Bộ trưởng ruộng đất Ukraina, và tôi cho rằng anh cày bừa không đúng.
Mogininchenko ngó nhìn ông và trả lời:
- Thế ra ông là nhà nông học và Bộ trưởng? Tôi, як трэба, так và tôi sẽ gieo.
Và còn lại ở sự tin tưởng của mình. Sau một năm tôi đi đến và làm quen với ông và nông trang xem. Dúng, con người này quả là biết việc của mình. Tôi nhìn thấy nông trang giàu có, không những không còn tồn nợ thuế, mà chỉ nửa năm trước còn giao nộp trước cho nhà nước tất cả thực phẩm nông nghiệp.
Kaganovich lo ngại cái gì? Kaganovich nói:
- Tôi sợ quả là ở ông ta sẽ có một vụ mùa tốt theo việc cày bừa nhỏ.
Vấn đề là ở chỗ Kaganovich nhúng tay vào cuộc đấu tranh chống cày nhỏ. Đứng lúc đó đang tiến hành đúng những bản án của toà án chống lại dụng cụ bukker đối với lớp đất cày trên mặt đất trồng. Người ta huỷ bỏ và tiêu diệt những người ủng hộ cày đất bằng bukker. Nhưng bỗng nhiên Kaganovich bắt gặp cày nhỏ. Chống lại luật pháp! Nhân thể nói thêm, có thời gian ở tỉnh Saratov phát triển thuyết cày bukker, và có giáo sư bị thiệt hại vì nó, bị kết án nghiêm khắc.
Thế là một lần nữa bắt đầu những hoạt động chung của chúng tôi với Kaganovich, bây giờ chính tại Ukraina. Ông tìm khả năng nào đấy để thể hiện mình và quyết định rằng cần trội hơn rằng Ukraina vượt mức kế hoạch về tăng sản phẩm công nghiệp, đặc biệt công nghiệp địa phương. Khi Uỷ ban kế hoạch CHXHCN Ukraina đề nghị những con số, tôi nhìn chúng trước (vì là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) và đưa ra tại phiên họp Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Kaganovich tại phiên họp luôn nhìn vào những con số, rồi nhìn tôi xem tôi có đồng ý với ông không? Tôi nói:
- Lazar Moiseevich, có thể chấp nhận những con số này, có thể.
- Không, anh xem đi, tăng trưởng như thế nào!” - Đây không phải là mức tăng trưởng hàng năm trong điều kiện bình thường, còn kế hoạch hàng năm phục hồi công nghiệp và tăng trưởng sản xuất sản phẩm trên cơ sở này. Vì thế điều này là hơi mạnh. Năm qua chúng tôi đã thêm phần trăm thế này.
Nhưng thay việc tăng con số, ông đồng ý chấp nhận nó, hoặc sợ, những con số ấy đảm bảo ông không bị đổ: ông không muốn nhận kế hoạch, mà sẽ không được hoàn thành, mà muốn kế hoạch thấp hơn thực hiện vượt mức nó. Dễ nhất là nhét những con số đã hạ thấp vào kế hoạch, còn sau đó hét lên rằng kế hoạch không những được hoàn thành, mà còn hoàn thành vượt mức. Đáng tiếc, điều này là cách làm gì rất phổ biến hoạt động trong kinh tế chúng tôi. Tôi nghĩ rằng bây giờ cách này được sử dụng tương đối rộng rãi.
Tôi không gặp may: khi đó tôi bị cảm và bị viêm thần kinh toạ chân, nằm thở ôxy, chật vật sống sót. Điều này ở mức độ nào đấy giúp Kaganovich nhận khả năng quay về những hoạt động của mình không cân do dự, vì rằng tôi dù sao chăng nữa liên quan với ông và ông buộc phải coi trọng tôi. Nhưng ông quá trớn, đồng thời tự cho mình được phép tục tằn. Đúng tục tằn. Ông xử sự chẳng hạn đối với Patolichev đến nỗi, ông này đến gặp tôi, khi tôi còn nằm trên giường, không lâu, sau cuộc khủng hoảng, và than vãn:
- Tôi không thể! Tôi không biết ra sao nữa.
Sau đó ông không kìm được và viết một bức thư cho Stalin yêu cầu rút ông khỏi công việc tại Ukraina, vì rằng ông không thể sống bên cạnh Kaganovich. Người ta cử ông, có lẽ, về công tác ở Rostov. Patolichev ra đi từ Ukraina.
Sức khoẻ của tôi hồi phục. Tôi vẫn còn nằm, có lẽ, hai tháng, hoặc hơn, và quay về công việc. Tuy nhiên và tôi có những quan hệ rất xấu với Kaganovich, thực chất những quan hệ không chịu nổi. Ông triển khai những hoạt động điên cuồng theo hai hướng: chống những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina và chống người Do Thái. Chính ông là người người Do Thái, và chống người Do Thái? Có thể là, ông có hướng chống những người Do Thái có quan hệ hữu nghị với tôi? Nhanh chóng, đúng như thế. Làm việc ở chỗ chúng tôi, nói riêng, Trokunov chủ bút một tờ báo. Kaganovich cách chức Trokunov. Ông không những khinh rẻ Trokunov, mà còn thật sự nhạo báng ông. Trokunov là một người trung thực, trong thời gian chiến tranh chủ bút một tờ báo mặt trận, và trong cuộc thi các báo mặt trận người ta thừa nhận báo ông hay hơn. Tôi nhớ Trokunov, còn về Yuzovk, khi tôi học khoa lao động, Yuzovk cũng làm việc ở báo. Hình như, thậm chí tôi bảo đảm cho ông, khi ông vào đảng.
Cái gì quan hệ với những người dân tộc chủ nghĩa, то, khi tôi đứng dậy được sau trận ốm, những lời phàn nàn của nhiều người về tôi ngay lập tức đến. Nó đụng chạm đến các vấn đề tính cách chính trị, và tôi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thực tế không quan tâm đến. Các vấn đề này nằm thẩm quyền ban lãnh đạo Đảng nước cộng hoà. BCHTƯ chúng tôi xem xét chúng, đôi lúc sự việc đến cả tôi, nhưng chủ yếu họ được quyết định ở Ban thư ký BCHTƯ, mà sự làm việc của nó tôi chấp nhận không tham gia. Tại phiên họp Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina các vấn đề này ít khi đặt ra. Tuy nhiên tất cả những gì tôi có thể làm, để giảm áp lực của Kaganovich đối với những người giả danh dân tộc chủ nghĩa, tôi đã làm.
Một loạt tài liệu của Kaganovich gửi cho Stalin về “những câu hỏi có vấn đề”.
Cuối cùng, có một lần Stalin gọi tôi:
- Tại sao Kaganovich gửi cho tôi những tài liệu, còn ông lại không ký những tài liệu này?
- Thưa đồng chí Stalin, Kaganovich - bí thư nước cộng hoà BCHTƯ, và ông ta viết cho cho ông với tư cách Tổng bí thư BCHTƯ. Vì thế không cần chữ ký của tôi.
- Điều này không đúng. Tôi nói với ông nói rằng chúng tôi sẽ không nhận một bức thư nào nữa nếu thiếu chữ ký của ông.
Ngay khi Stalin đặt ống nói, Kaganovich gọi cho tôi:
- Stalin gọi anh?
- Vâng.
- Ông nói gì với anh?
- À, điều là bây giờ chúng tôi hai người cần phải ký những tài liệu gửi về Moskva.
Kaganovich thậm chí không hỏi, Stalin còn nói gì thêm nữa không: chúng tôi hiểu nhau chỉ nửa lời. Tuy nhiên hầu như chẳng có tài liệu nào đưa đến tôi ký, vì rằng dòng tài liệu này khô kiệt: Kaganovich biết rằng các tài liệu của ông không đời nào tôi ký. Những tài liệu mà ông đưa tôi, hoặc coi như xong, hoặc tôi từ chối ký, và chúng không đi đâu tiếp.
Đối với cá nhân tôi, kết luận chủ yếu là ở chỗ Stalin quay lại tín nhiệm tôi. Chuông điện thoại của ông đối với tôi là tín hiệu tương ứng. Điều này cải thiện tình trạng tinh thần của tôi: tôi khôi phục hoàn toàn quyền lực không những về chức danh uỷ viên Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b).
Đối với kế hoạch: kế hoạch thu mua lúa mỳ chúng tôi hoàn thành, được khoảng 400 triệu pud ngũ cốc. Vụ mùa trong thời gian ấy là không tồi. Sự thật kế hoạch cũng không lớn, nhưng chính là kinh tế nước cộng hoà bị chiến tranh phá huỷ. Vì thế trên bình diện chung của nông nghiệp Liên Xô sau chiến tranh, đây là những con số tốt.
Mùa thu 1947, Stalin gọi tôi và Kaganovich về gặp ông. Trước đó, khi chúng tôi hoàn thành kế hoạch, chúng tôi đề nghị ông tiếp chúng tôi ở Sochi, nơi ông nghỉ. Chúng tôi bay đến chỗ ông. Còn bây giờ, khi Stalin quay về Moskva, chính ông gọi chúng tôi và đặt vấn đề Kaganovich không làm gì làm tại Ukraina, phải rút ông ta về Moskva. Như thế, tôi phục hồi và là Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Tôi, tất nhiên, vui và với lòng nhiệt thành lớn nhận công việc đã quen. Công việc ở chúng tôi tiến hành tốt. Nông nghiệp tại Ukraina khôi phục nhanh một cách đáng kể so với các chỗ khác, bị chiến tranh tàn phá. Chúng tôi thi đua với Belorussia. Ukraina vượt Belorussia trong mọi quan hệ. Tất nhiên Belorussia bị phá huỷ nặng nề. Và tất cả những sự thật này nâng giá trị cùng với uy tín của ban lãnh đạo Ukraina. Tôi hài lòng.
Năm 1949 - năm cuối cùng của tôi tại Ukraina. Stalin gọi tôi về Moskva, và nói rằng tôi lần thứ hai quay về công tác tại thủ đô toàn Liên bang. Nhìn quanh, tôi nhận thấy nhân dân Ukraina đối với tôi rất tốt. Tôi ấm lòng. Tôi nhớ những năm đã qua ở đó. Đó là thời kỳ rất xứng đáng, nhưng thú vị vì rằng đem lại sự thoả mãn: phát triển nhanh, tăng trưởng cả nông nghiệp, và công nghiệp của nước cộng hoà. Stalin không ít lần trao cho tôi làm báo cáo về Ukraina, đặc biệt về các vấn đề tiến bộ sản xuất thịt, còn sau đó cho những báo cáo này công bố trên báo Sự Thật, để, theo lời ông, những người khác cũng làm những gì mà chúng tôi chúng tôi đã làm tại Ukraina. Vả lại, tôi chưa đánh giá vai trò cá nhân. Toàn nước cộng hoà lao động căng thẳng.
Tôi biết Ukraina không tồi. Và trước đây tôi đã coi và bây giờ tôi cũng coi rằng so sánh với những nước nước cộng hoà khác, thì Ukraina có mức phát triển phát triển nông nghiệp cao và ruộng đất trồng trọt tương sđối cao. Tôi không biết, thật ra, đánh giá như thế nào trồng bông Trung Á. So sánh Ukraina với các nước cộng hoà khác (không kể các nước Bantic, vì rằng các nước Bantic mới vào trong thành phần Liên Xô chưa lâu), tôi nói rằng Liên bang Nga, Belorussia và những nước cộng hoà khác thua Ukraina. Điều đó, hình như đã từng có trong lịch sử. Liên bang Nga tách rời phía tốt nhất Kuban: ở đó cũng có đất tốt và trồng trọt cao, chế biên nông sản. Thành công CHXHCN Ukraina tôi ghi nhận tất cả nhân dân Ukraina.
Bây giờ tôi không phổ biến tiếp tục các chủ đề đã nêu, nhưng điều này về nguyên tắc rất dễ chứng minh. Tôi là người Nga và tôi không muốn phật ý người Nga, đơn giản xác nhận rằng tại Ukraina ruộng đất trồng trọn nhiều hơn. Bây giờ đang diến ra sự bình chuẩn, khắp mọi chỗ đưa ra sự tăng cường mạnh mẽ để nâng cao ruộng đất, tốn kém nhiều tiền hơn. Kỹ thuật mới, phân bón vô cơ, tất cả những nguyên tố khác mà mức sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nó, bị tăng chi phí, để mà làm thăng bằng đất trồng trọt ở nước cộng hoà và nâng nó lên hàng nămcao hơn và cao hơn đảm bảo hoàn toàn nhu cầu của nhân dân trong các sản phẩm nông nghiệp.
Lại về Moskva
Lý do triệu hồi tôi từ Ukraina về Moskva năm 1949 - theo tôi, là kết quả sự buồn phiền nào đấy trong đầu óc Stalin. Tôi lúc ấy ở Lvov. Những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina giết nhà văn quốc tế Galana, còn tôi chủ toạ hội nghị sinh viên Đại học lâm nghiệp. Người sinh viên, giết Galana, đang học trong trường Đại học này, vì thế tôi quyết định nói chuyện với đồng môn của nó.
Bỗng nhiên Malenkov gọi tôi nói là Stalin muốn tôi tức tốc về Moskva.
- Ngay cơ à?
- Ngay! Sáng mai bay.
Hôm sau tôi có mặt ở Moskva. Stalin gặp tôi rất niềm nở.
- Chà, anh định ngồi lâu tại Ukraina đấy à? Ở đó anh bị biến thành nông dân Ukraina mất. Giờ là lúc anh quay về Moskva.
Rồi ông bắt đầu kể:
- Chúng tôi cho rằng anh lại phải giữ chức Bí thư thứ nhất Uỷ ban Đảng bộ Moskva. Ở đây công việc điều hành rất kém - ở Leningad, chúng ta tiến hành bắt giam người mưu phản. Có cả mưu phản ở Moskva. Chúng tôi muốn Moskva là chỗ dựa BCHTƯ Đảng, vì thế anh làm việc ở đây hữu ích hơn. Anh trở thành bí thư lập tức Đảng uỷ Moskva và BCHTƯ Đảng.
Tôi, tất nhiên, tự hào vì sự tín nhiệm. Tôi nói rất hài lòng về Moskva, vì rằng công việc trước đây của tôi tại thủ đô, 11 năm trước đây. Tôi cho rằng thời hạn cgr tại Ukraina hoàn toàn tử tế và chuyển đi sẽ có ích cho tôi.
Khi tôi từ chỗ Stalin về nhà, Vasilevski và Korheychuk, đang ở Moskva, rẽ vào chỗ tôi. Tôi kể cho họ cuộc nói chuyện vừa xong. Vanda Lvovna khóc, đúng là khóc rống lên. Tôi chưa từng bao giờ thấy bà trong trạng thái này. Bà khóc:
- Anh vừa từ Ukraina về phải không? Ở đấy thế nào?
Người phụ nữ Ba lan than khóc vì sự kiện một người Nga từ Ukraina về! Hơi kỳ quặc. Hình như điều này được giải thích tôi có quan hệ rất tốt, hữu nghị với bà. Tôi rất kính trọng nà. Đó là phụ nữ tuyệt vời, một nữ cộng sản tuyệt vời. Và bà cũng kính trọng tôi. Tôi không che giấu nét này, có thể tý chút háo danh, hoàn toàn, thú vị đối với tôi. Những sự kiện đã qua nổi bật trong trí nhớ tôi, và tôi quyết định nói hết với bà.
Theo kiểu cách Stalin, ông giải quyết: trong sự việc xác nhận điều không may công việc ở Moskva, ông trao cho tôi một tài liệu:
- Đấy, làm quen đi, còn sau đó chúng tôi sẽ nói chuyện.
Tôi không đọc ở đấy - đây là một tài liệu dày - và đặt nó vào túi túi. Hôm sau tôi đọc quaл. Té ra đó là một tố cáo nặc danh mặc dù có ký tên, nhưng là nặc danh theo tính chất của nó. Bây giờ tôi không nhớ những chữ ký ấy là của ai. Thư và rằng ở Moskva có một nhóm người mưu phản chống BCHTƯ và Chính phủ xô viết, mà cầm đầu nhóm này là bí thư Thành uỷ Moskva và BCHTƯ Đảng - Popop. Thêm nữa còn chỉ ra ai tham gia vào nhóm: các bí thư đảng uỷ khu vực, Chủ tịch khu vực, giám đốc các nhà máy, các kỹ sư. Tôi lập tức cảm thấy người viết thư này có ý nghĩ điên rồ, либо kẻ đểu cáng. Tôi cho tài liệu vào tủ và quyết định không nói cho Stalin về nó một thời gian nào đấy, cho là càng nhiều thời gian không đả động đến cuộc nói chuyện như thế, càng tốt hơn.
Khi tôi về Ukraina để làm giấy tờ chuyển về Moskva, Stalin nói với tôi:
- Anh nhớ về quay về Moskva dịp tôi 70 tuổi? (nghĩa là vào tháng 12).
- Chắc chắn, tôi sẽ về, bây giờ tôi sẽ tổ chức Plenum BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, bầu ban lãnh đạo mới, và tôi quay về.
Trước đó, tôi thoả thuận với ông là tôi sẽ giới thiệu Bí thư thứ nhất BCHTƯ Melnikov. Stalin đồng ý, mặc dù cũng không biết ông ta: vì Stalin tin tôi. Tôi đi đến về Moskva trước ngày sinh nhật của ông, 21 tháng 12. Chúng tôi làm lễ kỷ niện vị lãnh tụ 70 tuổi, tôi được bầu bí thư tỉnh uỷ và thành phố Moskva và nhận công tác.
Chẳng bao lâu sau, Stalin hỏi tôi:
- Tôi đưa cho ông tài liệu. Ông đã làm quen với nó chưa? - Và ông nhìn tôi chăm chú.
- Tôi đã làm quen.
- Thấy thế nào?
Stalin có thói quen như thế này: nhìn vào mình, sau đó hếch mũi lên trên:
- Thế nào?
Tôi trả lời:
- Một thằng vô lại nào đấy đã viết hoặc điên rồ.
- Như thế nào?
Ông rất không rất hài lòng, khi người ta không tin vào các tài liệu kiểu như thế.
- Thưa đồng chí Stalin, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tài liệu đã đưa không có một tý nào chung với hoạt động. Cá nhân tôi biết nhiều người, mà được gọi là những người mưu phản. Đây là những người lương thiện nhất. Ngoài ra, tôi hoàn toàn tin rằng Popop cũng không phải là người mưu phản. Ông không khôn ngoan giữ mình. Đồng ý là ông ta tỏ ra không ở chức vụ cao được. Nhưng ông ta không phải là người mưu phản, mà là một người trung thực, điều này tôi đã và đang không nghi ngờ. Nhưng nếu như thậm chí ông trở thành người mưu phản, thì những người, như đã viết trong tài liệu, tham gia vào nhóm mưu phản của ông, bản thân tôi không biết họ có tạo dựng với ông.
Hình như giọng tự tin của tôi ảnh hưởng đến Stalin:
- Ông cho rằng tài liệu này không đáng lưu ý?
- Hoàn toàn đúng, thưa đồng chí Stalin, không đáng. Theo tôi, ở đây có sự khiêu khích hoặc điên rồ.
Stalin chửi rủa, và tất cả kết thúc. Anh hãy tự hình dung: nếu như muốn lấy lòng Stalin, muốn trội hơn và chiếm được sự tín nhiệm của ông, điều này rất dễ làm. Chỉ cần nói:
- Đúng, đồng chí Stalin, đây là một tài liệu nghiêm túc, phải được phân xử và có biện pháp.
Khá đủ với lời phát biểu từ phía tôi, và bây giờ Stalin ra lệnh bắt Popop và “nhóm của ông”.
Họ, tất nhiên bị hỏi cung “hiểu rõ”, nhóm mưu phản ở Moskva, nhưng tôi trở thành một người có thể, người ta tố thêm rằng rằng dường như, ông đến, ngó nhìn, lập tức khám phá và làm thất bại người mưu phản. Thật là đê tiện! Con trong thực tế người ta xảy ra ở những người khác ở Leningad.
Tôi bắt đầu công tác ở Moskva. Nhưng người ta biết rằng lần này Stalin chĩa vào Popop, mà ông xem là người mưu phản, và ông chưa yên tâm chừng nào chưa nhổ được Popop. Chúng tôi trình với Malenkov, và tôi đề nghị:
- Đưa Popop ra khỏi Moskva, chọn cho ông ta một chức vụ tốt.
Chúng tôi đã làm như thế, cử ông đi, với một khoảng thời gian đệm, làm giám đốc một nhà máy lớn ở Kuibysev. Stalin đôi lúc nhớ lại:
- Popop ở đâu nhỉ?
Đã từng có lúc, Popop là người được Stalin quý. Tôi trả lời:
- Ở Kuibysev.
Và Stalin yên tâm. Hình như Stalin nghĩ:
- Liệu Khrusev có lầm không, người mưu phản này không còn ở gần, và liệu ông không tiếp tục những hoạt động của mình tại thủ đô?
Stalin không bao giờ thoả hiệp với điều này nhưng khi biết rõ là Popop ở cách xa, thì ông yên tâm.
Sau này người ta chuyển cho tôi về sự căm tức của Popop chống tôi. Ông chết ông, kết tội ông cái gi? Ông không hiểu rằng ông không cần chửi tôi, mà ngược lại. Nếu như không phải là tôi, thì ông đã chết, vì rằng Stalin chuẩn bị làm điều này. Ведь và chính Stalin gọi tôi để nhận tài liệu chống Popop và tin vào tài liệu này. Tôi cứu Popop, nhưng có tình huống một người không hiểu và không hài lòng bởi vấn đề gì đó, thì người ta quay lưng về người bảo vệ mình. Nhưng chính khi đó tôi cũng liều. Nếu Stalin không tin tôi, có thể ông nghĩ rằng và tôi cũng tham gia vào âm mưu cùng với Popop.
Sau chiến tranh chúng tôi dần dần quay lại cối xay thịt năm 1937, quay trở về những phương pháp “làm việc” thời ấy.
Khi tôi trở thành bí thư BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) và thành uỷ Moskva, thì Kuznesov-Leningradski (giữa chúng tôi với nhau, gọi ông ta như thế) bị bắt. Triển khai săn lùng những người Leningrad. Tổ chức Đảng Leningrad bị công kích. Stalin, nói rằng tôi cần phải về Moskva, khi đó tôi được cử đến Leningad để khám phá vụ mưu phản. Stalin nói chung cho rằng Lenigrad - thành phố có âm mưu làm phản.
Khi đó nhiều người tỉnh Gorky được đưa về Moskva. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Nga (bây giờ tôi không nhớ họ tên của ông) cũng từ Gorky. Tôi nghĩ rằng Zdanov, người nhiều năm công tác ở đó và hiểu biết cán bộ địa phương, đã đưa họ về. Ông chủ tịch là người tốt, tôi thích ông: trẻ, đầy sinh lực, có suy nghĩ riêng, triển vọng. Nhưng cũng bị bắt. Và không những ông, nhiều người cũng bị bắt. Tôi nhiều năm không công tác ở Moskva và vì thế không biết những người trong số bị bắt. Ít nhiều biết Kuznesov. Người biết rõ Voznesenski. Voznesenski vẫn còn chưa bị bắt, khi tôi về Moskva, nhưng ông cũng đã được chuyển khỏi chức vụ trước đây. Ông đi lại, không có công việc và chờ đợi điều này kết thúc ra sao và người ta mang đến cho ông cái gì ngày hôm sau.
Stalin trước đây quan hệ rất tốt với Voznesenski, rất tín nhiệm và kính trọng ông. Đúng và với cả Kosyghin, và Kuznesov, với tất cả bộ ba này. Lúc đó cho rằng bộ ba trẻ tuổi - Voznesenski. Kuznesov và Kosyghin. Họ sẽ thay thế chúng tôi. Stalin bắt đầu cất nhắc họ. Kuznesov cần thay thay thế Malenkov. Stalin đưa Voznesenski là phó chủ tịch thứ nhất hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, nghĩa là phó thứ nhất của mình, và trao cho ông chủ toạ phiên họp Hội đồng Bộ trưởng. Kosyghin phụ trách vấn đề công nghiệp nhẹ và tài chính. Tôi giả thiết rằng việc chết của những người này (trừ Kosyghin) được xác định chính xác bởi Stalin cất nhắc họ để chuẩn bị thay thế lớp cán bộ lão thành. Trước tiên, nghĩa là, thay Beria, Malenkov, Molotov, Mikoian. Những người này, Stalin không còn tin như trước đây.
Đã có sự moi móc, phá hoại sự tín nhiệm của Stalin đối với những người trẻ tuổi, xúi Stalin đối với những người được ông cất nhắc, tôi bây giờ khó nói. Tôi chỉ kết luận từ những quan sát của mình và những phản ứng riêng rẽ, mà tôi nghe được trong những cuộc nói chuyện giữa Malenkov và Beria. Ngoài ra, tôi thấy, Malenkov và Beria tự dẫn dắt ở Stalin, khi nói chuyện về những người này. Tôi có ấn tượng, Malenkov và Beria trình ra hết sức, để dìm họ. Chủ yếu là Beria hành động, còn Malenkov, Beria sử dụng ông như chiếc búa, vì rằng ông ngồi ở BCHTƯ Đảng và ông gửi tất cả thông tin và tài liệu, được chuyển cho Stalin. Một loạt tài liệu đuổi theo mục đích theo hướng cơn giận dữ của Stalin chống “nhóm trẻ.
Mọi người biết trước Stalin phản ứng như thế nào.
Khi đó ngồi trong tù là Sakhurin, Dân uỷ công nghiệp hàng không trong thời gian chiến tranh. Tôi biết rất rõ Sakhurin, khi ông làm công tác Đảng và nói riêng, là Đảng uỷ BCHTƯ nhà máy sản xuất máy bay. Với tư cách Dân uỷ, Dementev thay thế ông. Tôi biết người này người nọ quan hệ tốt với ông, cho là họ những kỹ sư rất thông minh và là những nhà tổ chức sản xuất. Sakhurin ngồi tù vì rằng trong thời gian chiến tranh dưới sản xuất “máy bay kém”.
Điều này xảy ra, khi tôi còn công tác ở Ukraina, và vì thế tôi không biết chi tiết. Sau đó Malenkov kể cho tôi dường như Vasili Stalin (con trai Stalin) viết một bức thư (hoặc cá nhân ông ta nói điêu với bố mình): người ta đã làm máy bay như thế và họ có khuyết điểm như thế, và người có lỗi trong việc này Dân uỷ Sakhurin.
Gián tiếp chịu trách nhiệm vụ này có cả Malenkov, người theo đường lối của Bộ chính trị trong thời gian chiến tranh được trao trách nhiệm theo dõi công nghiệp hàng không. Giờ đây ông bị quy tội bảo kê cho Dân uỷ làm việc tồi. Một cái gì đó công minh, vì rằng chạy theo số lượng đi đến làm kém chất lượng. Nhưng chính chiến tranh xảy ra! Trong nhiều ngành công nghiệp cũng xảy ra những hiện tượng như thế. Những sự phán xét kiểu ấy dẫn đến việc bắt giam Sakhurin và cách chức Malenkov tại BCHTƯ. Ông được đưa về, hình như, Taskent. Nhưng ông ở đó ngắn ngủi và nhanh chóng được quay về. Nhiều người bây giờ cũng không nhớ xảy ra sự thật như thế. Beria đưa Molotov về Moskva. Khi Malenkov không đứng ở Moskva, Beria, như chính ông kể, tiến dần từng bước đưa tới Stalin ý tưởng cho Malenkov quay về. Cuối cùng ông đã đưa Molotov quay về, và ông lại chiếm lại chức cũ là Bí thư BCHTƯ Đảng.
Cũng có một cớ khác để bắt Kuznesov và những người khác? Tôi không thể biết chi tiếс, nhưng một điều gì đó tôi biết và tôi muốn nói hết về điều này. Bây giờ có nhiều ý kiến không thực tế và thậm chí gây ra ngạc nhiên rằng nguyên nhân có thể gây ra cái chết cái chết của nhiều người và cả cụm tổ chức Đảng bị nghi ngờ. Đấy là sự thật. Ngay từ trước chiến tranh (tôi không nhớ năm nào) trong BCHTƯ thành lập Đảng uỷ của Liên bang Nga. Lãnh đạo Đảng uỷ đó, hình như, Andrey Andreev Andreev. Tôi không biết tình tiết Đảng uỷ này ngừng tồn tại, và lại nảy sinh tình thế là Liên bang Nga không có tổ chức Đảng cao cấp của mình, để phân tích các vấn đề kinh tế và v.v... Tất cả được Dân uỷ Liên Xô giải quyết, chỉ có các vấn đề quốc tế bậc ba mới được xem xét ở Hội đồng dân uỷ Liên bang Nga. Nói riêng, cũng do Liên bang Nga làm việc này kém hơn những nước cộng hoà khác.
Có lần sau chiến tranh, từ Ukraina về, tôi tới gặp Zdanov. Ông bắt đầu phát biểu cho tôi suy nghĩ của ông:
- Tất cả các nước cộng hoà có BCHTƯ của mình, bàn luận các vấn đề tương ứng và giải quyết chúnh hoặc trình lên BCHTƯ Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Họ hoạt động dũng cảm hơn thảo luận về các vấn đề trong nước, giải quyết chúng và huy động mọi người. Do đời sống là mấu chốt, điều này tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, công tác Đảng. Liên bang Nga thực tế không có lối thoát tới các tỉnh của mình, mỗi tỉnh hoạt động theo cách riêng của mình. Việc tổ chức cuộc họp thảo luận trong Liên bang Nga, không thể làm được. Và cũng không có một cơ quan nào đứng ra tổ chức thảo luận trong khuôn khổ nước cộng hoà.
Tôi đồng ý với ông:
- Đúng thế. Liên bang Nga bị đặt trong những điều kiện không bình đẳng, và lợi ích của nó bị thiệt hại.
Zdanov tiếp tục:
- Tôi suy nghĩ về vấn đề này. Có thể phải quay về kiểu cũ, thành lập Đảng uỷ Liên bang Nga? Tôi cảm thấy điều đó dẫn tới sự hiệu chỉnh công tác Đảng ở Liên bang Nga.
Tôi nói:
- Tôi cho rằng điều này là có lợi. Thậm chí ngay khi Lenin còn sống ở Liên Xô cũng không có BCHTƯ Đảng của Liên bang Nga. Điều này và đúng, vì rằng nếu như Liên bang Nga có một tổ chức Đảng trung ương được bầu ra như ở các nước cộng hoà khác, thì có thể nảy sinh sự tương phản. Liên bang Nga là khá mạnh theo dân số, công nghiệp, nông nghiệp. Như thế ở Moskva lập tức tồn tại hai hai Uỷ ban trung ương: một - giữa các nước cộng hoà, hai - đối với Liên bang Nga. Lenin không làm điều này. Hình như ông không muốn xây dựng hai trung tâm, không muốn đụng chạm của các trung tâm ấy, mà có xu hướng chỉ có một sưl lãnh đạo Đảng và chính trị mà thôi. Như thế BCHTƯ Liên bang Nga không cần thiết, tốt hơn là chỉ có Đảng uỷ.
- Đúng - Zdanov nói - hình như xây dựng Đảng uỷ như thế là hợp lý.
Zdanov trước khi đến Vanday, nơi ông nghỉ và chữa bệnh, gọi về Kiev cho tôi:
- Lúc ông ở Moskva, nhưng tôi với ông không kịp trò chuyện. Tôi có một vấn đề quan trọng. Khi nào đây tôi từ Vanday về, chúng ta sẽ nói chuyện.
Tôi chúc ông mọi điều tốt lành. Nhưng sau một thời gian ngắn, tôi nhận tin Zdanov chết. Như thế điều mà ông muốn nói, vẫn còn là bí ẩn đối với tôi. Ông ít khi gọi về Kiev cho tôi và tôi cũng ít khi gọi cho ông từ Kiev. Ở chúng tôi phát sinh những vấn đề cán bộ hoặc về nông nghiệp. Chuông điện thoại gọi cho tôi ở Moskva vẫn có, nhưng không phải từ Zdanov mà từ Malenkov. Còn bây giờ người ta buộc tội “nhóm Kuznesov” ở Leningad, dường như ở đó xuất hiện “chủ nghĩa dân tộc Nga” và tương phản với BCHTƯ Liên Xô. Một điều gì đó trong tâm hồn toi, chính xác tôi không nhớ, còn tài liệu thì tôi không thấy. Vì sao ở tôi lạ có ấn tượng như thế? Tôi đã nghe đã nghe giữa Malenkov và Beria, và một lần khác cũng ở Stalin. Stalin đặt cho Malenkov các vấn đề nào đấy, và cuộc nói chuyện của họ đàm phán xoay quanh vấn đề này.
Tôi có lần nói chuyện với Malenkov. Khi đó tôi đang nghiên cứu vấn đề xây dựng tại Ukraina Bộ công nghiệp than và công nghiệp luyện kim. Khi Lenin còn sống, sau nội chiến tại Ukraina đã thành lập Uỷ ban về công nghiệp than đá do Semen Svars, một bolsevich lão thành lãnh đạo. Trong thời gian ấy, tôi còn phục vụ trong hồng quân. Hình như cuối năm 1921 và đầu 1922. Khi tôi trở về khu mỏ và công tác ở khu mỏ Rutchenkov, thì người lãnh đạo công nghiệp than Donbass là Georgy Piatakov, một chính khách và nhà kinh tế lớn. Ông được coi là nhà kinh tế thực thụ và uy tín nổi tiếng. Sau đó người ta thay thế ông tôi không biết chính xác, vì lý do gì, nhưng lý do chính, tất nhiên, là chính trị, vì rằng Piatakov là người gần gũi với Troski, khi đó có cuộc đấu tranh mạnh với ông ta. Hình như cũng có tin rằng người ta chuyển Piatakov khỏi Donbass. Thay chỗ ông là Chubar. Lúc đó hội nghị đảng bộ tỉnh người ta hát nhiều câu vè về sự độc ác. Gặp nhau, chào hỏi thế này:
- BCHTƯ cho chúng ta Chubar. Còn cái gì ở chúng ta bị thay đổi?
Than trong những năm ấy chủ yếu được khai thác tại Donbass. Có lẽ, than Donbass chiếm 80% sản lượng than Liên Xô. Tôi cho rằng nên xây dựng tại Ukraina một sự chỉ huy thống nhất về than, quay trở lại thời Lenin. Tại Ukraina có công ty “thép miền nam”. Lãnh đạo nó là Ivanov, cũng một bolsevich lão thành. Một người tương đối béo. “Thép miền nam” trụ sở ở Kharkov, còn Uỷ ban công nghiệp than đá ở Bakhmut (bây giờ Artemovsk). Sau đó ông cũng chuyển về Kharkov, và người thay thế ông là Rukhimovich, còn Chubar trở thành Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina.
Tôi rất kính trọng Rukhimovich. Đây là một người tuyệt vời, một bolsevich lão thành, rất mộc mạc và dễ chịu, quyết đoán và thông minh. Những thợ mỏ Donbass - kể cả ban lãnh đạo của họ, tiếp xúc với những người lãnh đạo - rất kính trọng Rukhimovich. Ông thường tiến hành thảo luận với cán bộ công nghiệp than và, tôi luôn luôn đến các cuộc thảo luận này, khi tôi là đại diện lãnh đạo đảng khu vực Stalin. Rukhimovich biết tôi và quan hệ tốt với tôi. Hình như tôi là có ích cho ông, vì rằng tích cực làm việc trong khu vực của mình. Tôi từng là người địa phương, lớn lên trong những thợ mỏ và hiểu biết điều kiện sản xuất cũng các mỏ cả nhà máy công nghiệp luyện kim.
Và tôi muốn cuối thập niên 40 xây dựng một cái gì đó ở Ukraina về than, kim loại và giao thông đường sắt. Tôi đến Moskva và trước hết ký các văn bản và gửi cho Stalin, đề nghị nói chuyện với Malenkov. Tôi nhìn hấy, Malenkov nhìn tôi lạ lùng và mắt ông ta trố lên:
- Anh làm gì thế? Anh làm sao thế?
- Gì cơ ạ?
- Cất ngay các tài liệu này đi và đừng nói với ai cả về nó nữa. Anh có biết bây giờ ở Leningad xảy ra một cái gì... không? Người ta buộc tội những người Leningrad, rằng ở họ xuất hiện tính tự lập: họ tự ý mở ra ở Leningad những chợ và cho bán hết hàng hoá tồn đọng.
Nhưng tôi chẳng nhìn thấy ở đó tội ác nào và chẳng có xuất hiện chủ nghĩa dân tộc nào cả. Chính chúng tôi đã làm điều này ở Kiev. Ở đó có chợ bán hàng tồn đọng, mà trong các cửa hàng không có cho người mua, mà ở đây giá thấp, khuyến mãi. Có cả những hàng hoá kém chất lượng, không được kiểm tra khi sản xuất trong thời gian sau chiến tranh. Tôi thoát khỏi vụ này. Và đó là việc không mất lòng ai và có ích, có lẽ, có hình thức tương xứng đem lại cho Stalin lóp sơn chính trị.
Ai đã làm điều này? Tất nhiên là Beria và Malenkov. Stalin nói chung hơi ốm yếu và đa nghi. Cuộn chỉ bắt đầu được gỡ ra. Quả là tôi không biết cụ thể nó được gỡ như thế nào, nhưng đã gỡ ra thật, được gọi là bồng bột. Theo quan điểm của Stalin, cần phải liệt vào “hành động thù địch”, trước tiên bắt Kuznesov và Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên bang Nga (tôi nhớ họ tên của ông - Rodionov). Họ còn đặt vấn đề xây dựng một tổ chức nào đấy của nước cộng hoà, dường như làm việc, không chịu chỉ đạo của các cơ quan Liên Xô. Tóm lại, họ mắc lỗi vì gây sự tương phản quanh trung tâm.
Bắt đầu các vụ bắt bớ. Bắt hàng loạt người ở Leningad, còn những ai mà BCHTƯ lấy từ Lenigrad, được điều động lên chức vụ mới, ở chỗ khác. Chẳng hạn, ở Krym khi đó ban lãnh đạo gồm những người Leningrad, và ở đó cũng bị bắt hết. Cách chức Voznesenski, vì ông cũng người Leningrad. Nói chung người ta đã khám phá ra cuộn len, như người ta thường nói, nghĩa là ổ tội ác. Người ta đã tưởng tượng ra cái ổ mưu phản ở Leningrad, cái ổ này, dường như, theo đuổi âm mưu chống xô viết. Lại phát sinh tình thế thảm khốc trong nước, và trong Đảng. Căn bệnh đàn áp có thể dễ dàng lôi kéo ai muốn.
Bây giờ tôi nảy ra suy nghĩ: phải chăng người ta không sản xuất bức thư, mà Stalin đưa tôi đọc, qua Beria và qua điệp viên của ông để de doạ Stalin rằng không những Lenigrad, mà cả Moskva có người mưu phản? Stalin khi đó quyết định gọi tôi về để tôi lãnh đạo Đảng bộ Moskva. Nhưng nếu thì tôi, làm quen với bức thư, chặn đứng vụ việc đối với người Moskva, nói một cách tự tin cho Stalin rằng đây là chuyện bịa đặt của những kẻ hám quyền hoặc là những lời hoang tưởng của kẻ điên rồ. Nếu thế, nghĩa là, tôi hoá ra là vật trở ngại để bắt tràn lan ở Moskva. Không chỉ ở Moskva, tôi không biết, bao nhiêu họ giết bao nhiêu người cốt cán về kinh tế và Đảng.
Sự thật tại thủ đô, quá trình bắt bớ ở mức độ nào đấy cũng bắt đầu. Khi tôi quay về Moskva, đã có vụ vụ bắt bớ lớn các cán bộ ZiC (Nhà máy sản xuất ô tô mang tên Stalin). Lãnh đạo “tổ chức mưu phản gián điệp Mỹ” là người trợ lý giám đốc ZiC Likhachev. Tôi không nhớ bây giờ họ tên ông, nhưng tôi biết người con trai này, người Do Thái gày gò, ốm yếu.
Tôi quen với ông một cách ngẫu nhiên, sau chiến tranh. Có lần tôi gặp Ivan Aleksseevich Likhachev và hỏi thăm sức khoẻ ông. “Vẫn làm việc - ông nói - nhưng cảm thấy không khoẻ lắm".
- Anh đến Kiev với tôi, nghỉ ngơi, chỗ chúng tôi rất tốt, cứ đến khi nào anh muốn, tôi luôn luôn vui mừng, tạo cho anh điều kiện nghỉ ngơi.
- Cám ơn, tôi sẽ tận dụng lời mời này.
Và có một lần Ivan Aleksseevich gọi cho tôi:
- Tôi có thể đến. Muốn đem theo trợ lý.
- Cả trợ lý đi theo, xin cứ việc, anh muốn đem theo ai cũng được.
Tôi tổ chức cho họ nghỉ ở Kiev.
Likhachev cùng trợ lý thường đến chỗ căn hộ tôi hoặc ở nhà nghỉ cuối tuần trong những ngày nghỉ. Như thế tôi cũng làm quen với người trợ lý. Một người bình thường cần mẫn thực hiện công việc được Likhachev giao cho. Tôi cũng không nghĩ, ông là, như sau này người ta buộc tội ông, là người cầm đầu nhóm gián điệp Mỹ, qua những người này tổ chức công việc của mình ở Liên Xô. Ông bị bắt, và ông, tất nhiên, thú nhận. Tôi biết, người ta “thú tội” như thế nào, rằng họ là điệp viên Anh, điệp viên Hittler và điệp viên của các nước khác. Đây là không phải sự thừa nhận, mà là sự tra khảo buộc phải nhận tội bở người đuổi theo mục đích vụ lợi.
Vụ việc động đến Likhachev. Likhachev khi đó là Bộ trưởng, hình như, bộ giao thông đường bộ. Stalin trao nhiệm vụ cho Beria, Malenkov và tôi thẩm vấn Likhachev. Người ta gọi Likhachev, và thẩm vấn ông. Tôi đau lòng khi nhìn thấy điều này, nhưng tôi không làm được gì cả, vì rằng điều buộc tội dựa trên “những số liệu giấy trắng mực đen”, dựa tên “chứng cớ” của những người, từng làm việc với Likhachev. Điều này được xem như bằng chứng không thể chối cãi. Người ta thẩm vấn ông ở phòng dùng để họp Đảng uỷ Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ở Kreml, trên tầng ba. Ở đó trước đây là phòng làm việc của Lenin, có đặt một chiếc bàn và ghế bành. Và bây giờ, theo tôi, ở một góc riêng có đặt một chiếc ghế, được buộc bằng những băng đen.
Khi người ta buộc tội ông, Likhachev trở thành một bắt đầu nói một cái gì đó để biện minh, còn sau đó bị run lên và ngất ngã. Nhưng ta dùng nước lau cho ông, để ông tỉnh và đưa về nhà, vì rằng cũng không thể thẩm vấn được. Chúng tôi kể cho Stalin, chuyện xảy ra như thế nào. Stalin nghe, nhìn thẳng vào chúng tôi và chửi rủa Likhachev. Trước đây Stalin đối xử rất tốt với Likhachev. Stalin gọi ông là “Likhach”. Stalin bắt chước điều này từ Sergo Ordzonikidze. Likhachev cũng được Sergo quý, và Sergo luôn luôn gọi ông “Likhach”. Và Stalin cũng gọi ông là “Likhach”.
Hình như lúc ấy tâm trạng của Stalin tỏ ra là tốt, và ông để yên cho Likhachev. Ivan Aleksseevich quay về công việc và sống lâu hơn Stalin.
Nhưng những người ở nhà máy ZiC cũng bị trấn áp. Abakumov, là Dân uỷ an ninh quốc gia, tự tiến hành điều tra. Nhưng quả là nếu Abakumov đích thân thẩm vấn, đích thân tiến hành công việc, thì tất cả mọi người nhanh chóng thú nhận họ là kẻ thù điên cuồng đối với Liên Xô. Và tất cả đều bị bắt. Bầu không khí như thế tồn tại ở Moskva trong thời gian ấy, khi tôi lần thứ hai từ Ukraina về. Stalin già đi. Tính đa nghi bắt đầu thúc đẩy ông mạnh hơn, và nó là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi nhìn ông không như trong những năm đầu phanh phui “kẻ thù nhân dân”, khi cho rằng ông có thể nhìn xuyên qua tường và sắt. Sự tín nhiệm đối với ông đã bị lung lay. Nhưng sau thất bại của Hittler, quanh Stalin luôn là vừng hào quang vinh quang và thiên tài.
Tôi nhớ hôm Voznesenski bị cách chức, tôi lại có mặt tại bữa ăn ở Stalin. Tôi thấy không phải con người mà tôi biết trước đây: thông minh, quyết đoán, thẳng thắn, và dũng cảm. Chính lòng dũng cảm của ông đã giết ông, vì rằng ông thường chộp lấy Beria, khi lập kế hoạch kinh tế quốc dân thường kỳ. Beria có các Dân uỷ dưới quyền cũng thường cần những món tiền lớn cho họ, còn Voznesenski là Chủ tịch Uỷ ban kế hoạch muốn phát triển nhiều mặt kinh tế đất nước. Không phải ông, thì nước ta không có khả năng thoả mãn yêu cầu của các các Dân uỷ, dưới sự lãnh đạo của Beria. Nhưng không phải các Dân uỷ phát biểu chống Voznesenski, mà Beria.
Beria, thân cận Stalin, có nhiều khả năng lớn. Cần biết Beria, sự tháo vát của ông, sự người quỷ quyệt của ông. Ông có thể chờ đợi, chọn đúng thời điểm để bồi thêm cho Stalin một điều tốt hoặc một điều xấu, sự phụ thuộc quyền lợi riêng, và khôn khéo tận dung điều này.
Trong bữa trưa, ngồi ở Stalin không phải Voznesenski, mà là cái bóng Voznesenski. Mặc dù Stalin cách chức ông, tuy nhiên ông vẫn còn lưỡng lự, có lẽ tin vào lòng trung thực của Voznesenski. Tôi nhớ, có lần Stalin hỏi Malenkov và Beria:
- Thế nào nhỉ, vẫn chưa có gì cho Voznesenski? Và ông ta không làm gì cả? Phải cho ông ta công việc, các ông còn chần chừ gì?
- Vâng, chúng tôi sẽ suy nghĩ”, họ trả lời. Sau một thời gian, và Stalin lại nói:
- Vì sao không cho ông ta việc? Có thể giao cho ông Ngân hàng nhà nước? Ông là nhà tài chính và nhà kinh tế, ông ta hiểu biết việc này. Hãy để ông ta lãnh đạo Ngân hàng nhà nước.
Không ai phản đối, nhưng thời gian trôi đi, đề nghị ấy vẫn không thực hiện.
Thời gian trước đây, Stalin không kìm được việc ăn nói láo xược, bắt Molotov hoặc Malenkov cầm bút chì, như ông thường làm, và áp đặt quyết định, ký nó. Giờ đây ông chỉ nói: “Nào, đưa việc cho ông ta”, nhưng không ai cho một cái gì cả. Kết thúc vụ này là người bắt giam Voznesenski. Lời buộc tội trực tiếp là thế nào và điều này phục vụ cho điểm này, tôi cũng không biết. Hình như Beria lén vứt một tài liệu mới nào đấy chống Voznesenski, và, khi cốc nước tràn đầy, Stalin ra lệnh bắt giam ông.
Beria có thể làm việc này từ các phía khác nhau. Theo con đường Đảng, thì Malenkov lén vứt tài liệu, theo đường Chekistкой - thì Abakumov. Gốc của tất cả giả thiết là Beria, một thông minh và chuyên nghiệp, nhà tổ chức chuyển nghề. Ông có thể làm tất cả! Nhưng ông phải gạt bỏ Voznesenski khỏi Hội đồng Bộ trưởng. Ông sợ Stalin có thể dùng lại Voznesenski, và Beria quyết tâm tiêu diệt Voznesenski, hoàn toàn trút tôi cho Voznesenski và đào bới để Voznesenski không thể quay lại được. Do mưu mô đó, Voznesenski bị bắt. Rồi điều tra. Ai chỉ đạo Beria? Tất nhiên Stalin. Nhưng người đóng vai trò đầu tiên “làm việc” trực tiếp nằm trong tay Beria, mặc dù Stalin nghĩ rằng ông đích thân lãnh đạo tất cả.
Vì sao tôi coi như vậy? Vì rằng Abakumov - đây là con người được Beria dạy dỗ. Stalin bổ nhiệm Abakumov vào Bộ An ninh quốc gia, khi Beria rời chỗ này để tập trung vào Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Stalin muốn Bộ an ninh quốc gia trực tiếp báo cáo cho ông tất cả các vấn đề, và Abakumov đích thân báo cáo cho ông. Stalin có thể cũng không biết, nhưng tôi tin rằng Abakumov không đưa một vấn đề nào trước Stalin, không hỏi han Beria trình cho Stalin như thế nào. Beria đưa chỉ thị, còn sau đó Abakumov báo cáo, không dựa vào Beria, nhận sự khen ngợi của Stalin.
Bầu không khí ngột ngạt. Ở nước ta, có người cho rằng những vấn đề lớn, nghiêm trọngđược thảo luận ở Bộ chính trị, hoặc ở Hội đồng Bộ trưởng. Sự thảo luận như thế là cần thiết để tránh những sai lầm lớn. Nhưng điều này tuyệt nhiên không có. Không có phiên họp nào được triệu tập. Tụ tập ở Stalin là các uỷ viên Bộ chính trị, họ nghe ông, còn ông ông đi đi lại lại ra chỉ thị. Có lần ông cũng nghe, nếu như những ý kiến của họ làm ông hài lòng, hoặc ông gầm gừ vào họ để không ai hỏi, ông tự giải nghĩa văn bản quyết định hoặc nghị quyết của BCHTƯ hoặc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, sau đó đưa ra công bố. Điều này cũng sự điều hành hoàn toàn cá nhân, đây là sự chuyên quyền. Tôi không biết, gọi điều này như thế nào, nhưng đây là sự thật.
Tôi nhớ Stalin không ít lần đưa vấn đề Sakhurin, người kết tội. Cả nguyên soái không quân Novikov cũng bị bắt, và cũng bị giam giữ sau chiến tranh vì tội nhận “máy bay kém chất lượng ”, nghĩa là theo vụ án về sản xuất máy bay.
Tôi biết Novikov. Suốt chiến tranh ông chỉ huy không lực chúng tôi. Tôi nói về nhược điểm của ông: uông rượu hơi quá mức. Nhưng đây là một người con, trung thành với tổ quốc, trung thực, một phi công đích thực hiểu biết công việc của mình. Stalin, hình như nếm náp những mối quan hệ к Sakhurin và Novikov. Ông nhìn vào Beria và Malenkov và nói:
- Novikov và Sakhurin ngồi tù? Có thể tha họ được không nhỉ?
Tựa như ý nghĩ được đọc to thành tiếng. Không ai, tất nhiên, trả lời ông về điều này. Hai người này sợ nói “loanh quanh”, và việc này kết thúc. Một thời gian sau, Stalin lại đặt vấn đề ấy ra:
- Các ông nghĩ, có thể là thả họ được không? Họ ngồi tù làm gì? Họ vẫn còn có thể làm việc.
Ông hỏi Malenkov và Beria, vì rằng chính họ phụ trách việc này.
Khi chúng tôi Stalin ra về, tôi nghe tin có phản ứng giữa Malenkov và Beria. Beria nói:
- Stalin đích thân đặt vấn đề vụ máy bay này. Nếu thả họ, thì có thể lan cả sang những vụ khác.
Họ nói chuyện nhà vệ sinh, nơi chúng tôi rửa tay trước bữa trưa và thỉnh thoảng trao đổi suy nghĩ. Nhà vệ sinh là nơi đôi lần chúng tôi gặp nhau trước phiên họp, và sau phiên họp. Trước phiên họp, thì nói về cái gì sẽ dưa ra, còn sau bữa ăn là bàn cãi xem bản án có hậu quả như thế nào.
Khi ngẫm nghĩ vấn đề này, tôi nảy ra ý nghĩ: Beria nói về các vụ nào khác? Beria hình như lo rằng nếu Sakhurin và Novikov được tha, thì liệu Stalin có quay lại vấn đề Kuznesov và Voznesenski, mà vụ này vẫn còn chưa đưa ra toà. Cả Beria lẫn Malenkov đều sợ điều này. Lúc đó “Vụ án Leningrad” đang là một vấn đề nóng. Mặc dù họ đồng ý, hình như, thả Sakhurin và Novikov, những người không đứng trên con đường đi của Malenkov lẫn Beria. Sự thật Malenkov lo ngại cả lời về Sakhurin và Novikov mà ông đã thốt ra, vì rằng người ta cũng buộc tội ông về vụ này. Chính ông là chỗ dựa cho Dân uỷ công nghiệp hàng không và đã xuất xưởng nhiều máy bay“chất lượng xấu”, do đó chúng tôi làm mất nhiều cán bộ trong thời gian chiến tranh.
Stalin chưa khi nào nước cho tôi về “vụ Leningrad”, và tôi chưa nghe thấy ở chỗ nào đó ông công khai bày tỏ quan điểm của mình. Chỉ có một lần ông đụng chạm vấn đề này, khi gọi tôi từ Ukraina chuyển về Moskva và bàn bạc với tôi về “những người mưu phản ở Moskva.
Malenkov và Beria không thả Sakhurin và Novikov. Tiếp theo, cũng không thả những người bị bắt trong “vụ Leningrad”.
Do không biết chi tiết vụ này, tôi phỏng đoán rằng trong các tài liệu đấu tranh về vụ này, có thể trong số những chữ ký của những người khác, còn có cả chữ ký của tôi.
Khi ngẫm nghĩ vấn đề này, tôi nảy ra ý nghĩ: Beria nói về các vụ nào khác? Beria hình như lo rằng nếu Sakhurin và Novikov được tha, thì liệu Stalin có quay lại vấn đề Kuznesov và Voznesenski, mà vụ này vẫn còn chưa đưa ra toà. Cả Beria lẫn Malenkov đều sợ điều này. Lúc đó “Vụ án Leningrad” đang là một vấn đề nóng. Mặc dù họ đồng ý, hình như, thả Sakhurin và Novikov, những người không đứng trên con đường đi của Malenkov lẫn Beria. Sự thật Malenkov lo ngại cả những lời buông thốt ra về Sakhurin và Novikov, vì rằng người cũng buộc tội ông trong vụ này. Chính ông là chỗ dựa cho Dân uỷ công nghiệp hàng không và để cho xuất hiện nhiều máy bay “chất lượng xấu”, do đó chúng tôi làm mất nhiều cán bộ trong thời gian chiến tranh.
Stalin chưa khi nào nói với về “vụ Leningrad”, và tôi không nghe ông bày tỏ công khai quan điểm của mình. Chỉ có một lần có một lần ông đụng chạm vấn đề này, khi gọi tôi từ Ukraina chuyển về Moskva và bàn bạc với tôi “vụ những người mưu phản Moskva”.
Malenkov và Beria cũng không thả Sakhurin và Novikov. Rồi cũng không thả những người bị bắt ở “Vụ Leningrad”.
Do không biết chi tiết vụ này, tôi phỏng rằng trong các tư liệu điều tra có thể có chữ ký của tôi trong số các chữ ký của người khác.
Thường là như thế này: khi kết thúc ụ việc, Stalin, nếu thấy cần thiết, ngay tại cuộc họp Bộ chính trị ký tài liệu và đưa cho các uỷ viên Bộ chính trị xung quanh ký. Những người này, không dám liếc nhìn, mà dựa chỉ dựa trên thông tin của Stalin, cũng ký. Đấy là quyết định tập thể. Sự thật “vụ Leningrad”, nếu xem xét thực tế trước đây đấu tranh với “kẻ thù nhân dân”, thì người ta áp dụng những thủ tục tố tụng như sau: không những chỉ điều tra viên tiến hành điều tra, mà còn cả công tố viên đến, sau đó tổ chức phiên toà, mời các cốt cán của Đảng bộ, tiến hành thấm vấn những người bị cáo tại toà, sau đó cho họ nói lời cuối cùng. Thế là cái gì? Nhưng vào thập niên 1930 chẳng có lẽ làm khác sao?
Người ta kể cho Stalin (tôi có mặt lúc ấy) rằng Voznesenski, khi bị tuyên bố xử bắn, đã nói một bài dài. Trong đó ông nguyền rủa Lenigrad, nói rằng Peteburg thấy tất cả những người âm mưu - như Biron, và Zinovev, và thấy phản ứng có thể, còn bây giờ thì ông, Voznesenski, lại rơi vào Lenigrad. Ở đó ông học ở đây, còn quê ông ở Donbass. Và nguyền rủa vái ngày, ông chui về Lenigrad. Hình như con người ta cũng mất lý trí và nói nhảm nhí. Vụ việc không phải ở Leningad. Thời Zinovev? Trong thập niên 1920 cuộc đấu đá chính trị hoàn toàn khác: đấu tranh về quan điểm cái gì xây dựng CNXH Liên Xô, khi đó có thể người theo chỗ này, người theo chỗ kia. Tôi cũng khi đó ủng hộ Stalin và chống Zinovev. Nhưng Biron nói chung ở thời khác. Điều này sự ỷ biết không trùng nhau.
Tôi không nhớ, Kuznesov và những người Leningrad khác đã nói gì ở toà, thực tế họ bị kết án khá lâu trước khi hình thành phiên toà này và ký bản án. Stalin kết án tử hình họ ngay từ khi người ta vừa bắt họ. Nhiều người chết chính tại Leningradе, và tại những nơi mà họ đến từ Lenigrad để làm việc ở chỗ khác. Kosyghin cũng treo trên sợi tóc. Stalin gửi cho các uỷ viên Bộ chính trị những chứng cớ về những người Leningrad bị bắt, trong đó nói nhiều về Kosyghin. Kuznesov và Kosyghin là họ hàng: hai bà vợ của họ cũng có những quan hệ máu mủ. Như thế, họ đã đóng những cái nêm vào Kosyghin. Ông buộc phải thôi các chức vụ trước đây nhận sự bổ nhiệm chức vụ khác của một Bộ. Trước đây ông là người thân cận của Stalin, thì bỗng nhiên tất cả quay ngược lại và dầy đặc những lớp sơn trong “chứng cớ” đối với Kosyghin, tôi cũng không thể giải thích làm sao ông còn được giữ lại và vì sao Stalin không ra lệnh bắt ông. Kosyghin, thậm chí khi bị thẩm vấn, có lẽ ông cũng viết lời giải thích. Mọi thứ nhảm nhí, mọi điều buộc tội kỳ cục đổ lên đầu ông ta. Nhưng Kosyghin, như người ta nói, kiếm được chiếc vé may mắn.
Điều này có thể xảy ra đối với bất kỳ người nào trong chúng tôi. Tất cả phụ thuộc vào Stalin thoáng nhìn vào anh hoặc anh xuất hiện tại thời điểm ấy. Thỉnh thoảng ông nói:
- Vì sao anh không nhìn thẳng vào tôi? Mắt anh làm sao chạy đi đâu đấy.
Hoặc đại loại một cái gì đó kiểu này. Và tất cả điều này được thốt lên với sự độc ác như thế! Điều tra viên khôn ngoan không đưa mình thậm chí với tên tội phạm say máu, còn thốt ra trong trong bàn hũu nghị. Chúng tôi ngồi, ăn, còn ông bỗng nhiên khen bởi cách đối đáp của mọi người, mời ông ngồi vào bàn của mình và nói chuyện với ông. Thời gian thật nặng nề!
Xung những người nổi tiếng
Serbakov thò tay vào một việc không tốt này. Tôi muốn nhớ lại một cảnh, khi Serbakov nổi tiếng “thợ xây dựng sũng cảm” của Hồng quân, khi rơi vào hàng ngũ những thợ xây dựng ấy, không nổi tiếng vì cái này. Trong thời kỳ quân ta rút lui ở mặt trận, đặc biệt đầu năm 1942, đã có nhiều bài báo phê bình, trong đó mổ xẻ những khuyết điểm của hồng quân và phê phán những chứng cớ có thật của việc rút lui. Những bài báo phê phán rất mạnh đó, nói riêng, là của Aleksandr Petrovich Dovzenko, một nhà đạo diễn điện ảnh tuyệt vời, một nhà báo tốt. Ông có sự thông minh thực sự và ngòi bút dũng cảm. Vì thế bài báo của ông làm cú quất đau, đồng thờ chúng vạch ra sự tâng bốc và khoác lác ở Stalin. Năm 1943 ông viết kịch bản phim “Ukraina trong đạn lửa.
Rất một kịch bản rất ấn tượng. Đa số các cảnh trong kịch bản ông mượn trong số những bài báo của mình. Bản thân tên gọi “Ukraina trong đạn lửa” cũng lôi cuốn sự chú ý. Quả là, khi đó tất cả Ukraina nằm trong đạn lửa. Tác giả không tiếc những lời phê bình gay gắt với Hồng quân, mà đặc biệt phê bình những người từng có trách nhiệm về sự chuẩn bị cho Hồng quân chiến đấu, và chỉ ra rằng việc chuẩn bị đó không xứng với điều kiện hiện thời.
Dovzenko trình kịch bản cho BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Tôi làm quen với ông. Đọc kịch bản này có cả Malenkov và những nhân vật khác, bây giờ tôi cũng không nhớ ai là chính. Dovzenko muốn in nó để rồi trên cơ sở của nó, dựng thành phim. Có một lần Stalin gọi tôi về Moskva, hỏi:
- Ông đọc kịch bản của Dovzenko chưa?
- Vâng, tôi có đọc.
Thật ra, tôi chưa đọc hết, nhưng đã nghe qua. Đích thân Dovzenko đọc nó cho tôi nghe. Lúc đó là những phút căng thẳng đối với tôi (vì lý do khác), và tôi không thể tập trung chú ý đến nó. Điều này xảy ra khi bắt đầu cuộc tấn công bọn Đức vào vòng cung Kursk, tháng bẩy 1943. Ba phần tư suy nghĩ của tôi dành cho cuộc chiến đấu này, còn Dovzenko đọc hết cho tôi nghe tất cả và đôi lúc nói rằng tôi hoàn toàn có thể lấy các bài báo này, bài báo kia của ông để đọc. Tôi biết được rằng đây là một tác phẩm sắc bén, tốn nhiều thời gian, mổ xẻ khuyết điểm. Stalin gọi tôi:
- Anh làm quen với kịch bản chưa?”- ”Có ạ.
Tôi kể cho Stalin, trong bối cảnh như thế để ông có thể làm quen với nó. Stalin cho rằng đây là sự thoái thác đơn giản của tôi, và bắt đầu phê bình kịch bản. Ông quát mắng Dovzenko đến nỗi làm tôi làm ngạc nhiên: chính Stalin trước đây có quan hệ rất tốt với tác giả này, đánh giá và ủng hộ ông, dù rằng trước đó gặp một số người từng theo dõi Dovzenko hoặc thậm chí trực tiếp buộc tội ông là người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraina và những tội khác. Những tội khi đó có thể đào bới, cả những tội có tồn tại và những tội không tồn tại, hầu như ở một một người có văn hoá của dân tộc Ukraina. Trong thời gian hoạt động của mình tại Ukraina, Kaganovich cũng có phần đóng góp. Ông tuyên bố rằng mỗi người Ukraina - một người dân tộc chủ nghĩa tiềm tàng. Thật là ngu ngốc!
Có lần, vào buổi chiều Stalin mời tôi đến gặp ông. Serbakov cũng đến đó. Serbakov bắt đầu xem xét kịch bản đã nêu. Lúc ấy tôi hiểu là có chuyện rồi. Malenkov không im lặng, mặc dù biết kịch bản và chúc mừng Dovzenko. Theo tôi, cá nhân Serbakov chấp nhận Dovzenko. Serbakov có một bài nói nói giọng điệu công tố, kích Stalin và chửi mắng tác phẩm của Dovzenko là “dân tộc chủ nghĩa cực đoan”, trong đó dường như phê bình tất cả cơ sở xô viết. Stalin lập tức nổi khùng: Tôi sẽ không nói về mình. Nhưng hiểu tính Stalin, tôi phải trải qua cái gì trong trường hợp này. Còn Stalin không cần sự xem xét, đề nghị tôi gọi một loạt lãnh đạo Ukraina, thành viên Chính phủ và bí thư BCHTƯ về tuyên huấn, ngoài ra, cả Korneychuk, Bazan, Tychin và, hình như, Rylski. Dovzenko cũng có mặt. Stalin đánh Dovzenko tơi tả. Kết thúc là tương lai của Dovzenko là người hoạt động nghệ thuật bị treo giò, đe doạ thậm chí to hơn. Stalin đề nghị tôi rằng, trên cơ sở “trao đổi những suy nghĩ” này, chúng tôi ra nghị quyết về tình thế không ổn định trên mặt trận tư tưởng Ukraina.
Chúng tôi, lãnh đạo Ukraina, lập nghị quyết và qua hai, ba ngày đem nộp Stalin. Chúng tôi tự làm. Ngoài chúng tôi, không ai trong số uỷ viên BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) tham gia trong vụ. Chúng tôi trao nghị quyết cho Stalin, còn ông ông nhìn dự án này thấy nhiều người tham gia. Ông rất lấy làm thoả mãn, nói:
- Đúng, tốt, hoàn toàn chấp nhận được!” Sự thật nghị quyết được chúng tôi thảo ra một cách tự phê bình trong một số địa chỉ riêng. Nhưng nhị quyết là tốt vì chúng tôi tự thảo nó, như người ta nói, tự mình đâm mình, tuy nhiên sao cho nó không đâu, và nghị quyết ấy được chấp nhận. Serbakov cảm thấy mình như ở trên mây. Sau này tôi lâu-lâu lại bị ho bởi tác phẩm này của Dovzenko. Trong tất cả trường hợp thuận lợi, Serbakov độc ác xui khiến Stalin, để Stalin nhớ về kịch bản.
Tôi từng nghe, khi Gorky lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô, người ta đã đặt Serbakov là Bí thư cho Hội, và lo toan vấn đề hệ tư tưởng để mọi công việc trong Hội nhà văn Viên Xô do Gorky lãnh đạo theo đúng đường lối. Tuy nhiên Macxim Gorky không phải là người như vậy để Serbakov cưỡi cổ ông. Kết thúc là Gorky yêu cầu đuổi Serbakov đi. Đây là một trong số những bằng chứng tính thâm độc, ác nghiệt của Serbakov. Tôi lần đầu tiên biết ông, khi ông năm 1942 là Cục trưởng tổng cục chính trị Hồng quân. Những hoạt động của ông tiến hànhchủ yếu là rút ra được bằng cả bằng cái đúng lẫn cái sai, gom góp quá trình chiến dịch hàng ngày (để làm việc này ông có một Đảng uỷ riêng) và, tận dụng sự tín nhiệm đối với Stalin, trao chúng sớm hơn Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu. Nhưng chính đây mới đúng chức năng của bộ phận tác chiến! Như thế tất cả cán bộ cục tác chiến đặt vào tình thế phụ thuộc với Serbakov. Chẳng bao lâu bắt đầu thời kỳ chiến thắng của chúng tôi trên mặt trận. Giải phóng các thành phố Liên Xô, bộ đội ta tiến lên thành công - Serbakov là người đầu tiên hiến tất cả những điều này cho Stalin và ông “đảm bảo” điều ông nó. Điều này lố bịch bây giờ, nhưng khi đó chính là như thế và công việc như thế. Tôi đánh giá công lao của Serbakov, đồng thời với những mặt rất xấu. Tất nhiên người có lỗi chính, dù sao chăng nữa, là Stalin. Ông xây dựng một bầu không khí, trong đó những thứ như thế có thể nảy sinh.
Dovzenko lập tức dường như ngồi trong giếng nước lạnh. Tinh thần ông sa sút, những quan hệ trước đây đã thay đổi với ông. Tóm lại, ông bị thất sủng. Điều này cũng ảnh hưởng đến cả hoạt động của ông. Tôi thật đáng tiếc nhìn ông, nhưng tôi không thể làm được điều gì, vì rằng còn phải chịu một sự phê bình lớn hơn Aleksandr Petrovich. Và tình thế đó được giữ hầu như đến khi Stalin chết. Sau đó chúng tôi lại đề cao công lao Dovzenko và đưa ông trở lại, chừng mực nào điều này có thể, với những hoạt động có ích. Ông lại bắt đầu sáng tạo phim, sau khi ông chết kịch bản của ông, người vợ của ông Solnsevaia làm được một cuốn phim rất tốt. Tôi thật sự hài lòng, khi xem nó. Phim này quả là phảng phất tư tưởng của Dovzenko.
Tôi coi Dovzenko là người lương thiện, trung thành và thẳng thắn. Có lần, ông phát biểu những việc không làm hài lòng các nhà lãnh đạo. Nhưng chính đây lại là tốt, vì rằng nghe tất cả từ một người trung thực tốt hơn từ quân thù. Có thể giải thích cho một người bạn, nếu ông không đúng, hoặc tính đến lời phê bình đúng của ông. Sau cái chết của Aleksandr Petrovich, tôi đề nghị người Ukraina:
- Đặt tên xưởng phim Kiev mang tên Dovzenko, vì rằng ông làm rất nhiều để phát triển điện ảnh ở Ukraina, làm việc rất nhiều và hoàn toàn xứng đáng để tên ông làm đẹp cho xưởng phim Kiev.
Việc này được thông qua.
Còn một cảnh nữa, điển hình cho Dovzenko. Ngay sau khi Beria bị bắt, Dovzenko đề nghị gặp tôi và kể câu chuyện thế này:
- Tôi muốn ông biết về sự thật, mà tôi rất quan tâm. Có một lần đạo diễn điện ảnh Chiaurely mời tôi đến chỗ ông ta. Ông ta là tác giả phim “Berlin thất thủ”.
Chiaurely ựa vào sự ủng hộ của cá nhân Stalin và Beria. Không phải ngẫu nhiên ông dựng cảnh Stalin thực hiện công việc chính của người đứng đầu Tổng hành dinh trong gian phòng ở đó chỉ có những chiếc ghế trống. Chỉ có Stalin hiện diện với ông Poskrebysev, Trưởng ban an ninh BCHTƯ Đảng.
“Một tác phẩm nịnh bợ của nghệ thuật!”. Tôi tự nhủ thế. Sau khi Stalin chết và bắt giam Beria, chúng tôi đề nghị Chiaurely, ra khỏi Moskva. Ông đến đâu đó ra vùng ngoại ô và tiếp tục công việc. Tôi không biết, ông ta ngày nay chiếm vị trí nào trong nghệ thuật và chừng mực nào có kết luận đúng cái điều mà người ta chỉ cho ông.
Aleksandr Petrovich Dovzenko tiếp tục câu chuyện:
- Chiaurely nói với tôi: “Đồng chí Dovzenko, tôi khuyên ông đi gặp đồng chí Beria. Beria rất quan tâm đến ông đấy. Anh sẽ có lợi ở chỗ ông ta và nghe ông ấy”. Vì cái gì Chiaurely đề nghị tôi điều này? Tôi không đến và không ở chỗ Beria, vì rằng tôi không có vấn đề gì liên quan tới Bộ nội vụ. Vì cái gì tôi phải đến đó?
Còn tôi nói với Aleksandr Petrovich Dovzenko:
- Chiaurely nói ông đến đó để ông làm điệp viên của Beria. Beria cho rằng Dovzenko - một người có ảnh hưởng cả ở Ukraina, cả trong nghệ thuật. Trong những bước đi mà Beria dự tính ở Ukraina, hắn muốn biến ông thành đồng minh, dựa vào cả ông để tiến hành những cuộc đàn áp đẫm máu. Chiến dịch này chỉ có thể đẫm máu, vì rằng Beria không chấp nhận các phương pháp khác.
Serbakov vẫn tiếp tục những hoạt động hèn mạt của mình. Tôi không biết, ở mức độ nào đó, ông có tật nghiện rượu. Nhưng tôi không nghĩ rằng ông bản thân ông thích thú gì rượu. Nhưng bởi vì Stalin thích rượu, nên chính ông và phải chịu uống rượu mạnh và khác lôi kéo những những người khác nghiện rượu để làm vừa lòng Stalin. Tôi nhớ một sự cố. Beria, Malenkov và Mikoian đã nói cô gái bưng bê rượu vang để cô ta mang cho họ những chai rượu vang, nhưng đổ nước vào đấy và thêm chút ít rượu vang hoặc nước hoa quả ép để có mầu. Như thế, trong cốc vại nhìn thấy thứ nước có màu cần thiết: nếu vang trắng, thì pha chất lỏng trắng, nếu vang đỏ - thì nước đỏ. Nhưng những thứ này thực chất là nước lã, và họ uống nó. Nhưng Serbakov vạch mặt họ. Serbakov uống “rượu vang” từ những chai như thế, nếm và thét lên:
- Họ uống không phải vang!
Stalin nổi khùng vì họ lừa ông, và một vụ scandal lớn đối với Beria, Malenkov và Mikoian. Tất cả chúng tôi tức giận Serbakov, vì rằng không muốn uống vang, nhưng nếu quả là phải uống, thì cũng uống một lượng tối thiểu để thoát khỏi Stalin, nhưng không bị say rượu, không tự giết mình. Serbakov cũng khổ sở vì điều này. Tuy nhiên không những chỉ có con người xun xoe, độc ác này nịnh bợ mà còn cả những người khác và những người khác cũng làm như ông ta. Ông chết một cách thảm hại. Beria khi đó nói rằng Serbakov chết vì uống quá nhiều. Uống nhiều thì chết.
Thật ra Stalin nói rằng Serbakov ngu - vừa mới khỏi ốm xong, ngay sau đó không nghe lời khuyên của bác sỹ và chết vào đêm, khi cho phép mình làm tình với vợ. Nhưng chúng tôi biết rằng ông chết vì uống quá nhiều để chiều lòng Stalin, mà không phải ham muốn rượu vang. Tôi vẫn có ấn tượng khó chịu nhất về con người, vô kỷ luật và có khả năng đối với tất cả những gì có lợi. Ông không có lấy một chút lương tri. Có thể làm tất cả để nâng bản thân mình, và sẵn sàng làm người ta chìm trong lừa dối. Nhưng Stalin lại khoái điều này. Stalin thích chúng tôi sợ, và ông dung túng và củng cố thâm nhập tư chất đểu giả của Serbakov.
Khi chuyển về Moskva công tác, đối với tôi, tất nhiên, có vinh sự lớn làm việc trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Stalin và trực tiếp giao thiệp với ông. Tôi nói rằng đây là có lợi cho công việc. Chính từ Stalin, chúng tôi gom góp được những điều lợi không nhỏ, vì ông chính khách lớn. Đặc biệt tốt, khi đầu óc ông ông tỉnh táo và khoẻ mạnh. Lúc đó ông cho những người thân cận những lời khuyên và chỉ dẫn có ích. Tôi nói thật rằng tôi đánh giá cao về ông và rất kính trọng ông. Nhưng tôi chịu khổ sở ở đây nhiều hơn ở Ukraina, tách xa đây. Hầu như chiều nào cũng có chuông điện thoại:
- Đến đây đi, chúng ta cùng ăn cơm.
Đấy là những bữa ăn thật lạ lùng, đáng sợ. Tôi về nhà vào buổi sáng, trong lúc chính tôi cần giải quyết công việc. Tôi cố gắng ngủ đến 10 giờ, sau khi ăn cơm trưa, tôi cố ngủ một chút, luôn luôn treo một mối đe doạ: không ngủ, mà Stalin gọi, thì sau này sẽ bị lơ mơ. Ngồi cùng bàn ăn với Stalin mà lơ mơ, đều kết thúc xấu.
Thật không tưởng tượng được những điều mà thỉnh thoảng Stalin làm. Ông ném cà chua vào mọi người, chẳng hạn trong thời gian chiến tranh, khi chúng tôi ngồi trong hầm tránh bom. Chính mắt tôi nhìn thấy. Khi chúng tôi tới gặp ông về vấn đề quân sự, thì sau khi chúng tôi báo cáo xong, ông nhất định mời về hầm của ông. Bắt đầu ăn, và bữa ăn thường kết thúc bằng việc ném hoa quả, đôi lúc vào tường và vào trần, bằng tay bằng muôi, bằng dĩa. Điều này làm tôi giận:
- Tai sao một lãnh tụ đất nước và một người thông minh có thể uống say đến thế này và cho phép mình làm những điều như thế?
Các tư lệnh mặt trận, bây giờ là các nguyên soái Liên Xô, cũng gần như phải trải qua những thử thách ấy, nhìn thấy cảnh tượng xấu hổ như thế. Việc này bắt từ năm 1943 và xảy ra sau này, khi Stalin tin chắc chúng tôi chiến thắng. Nhưng trước đây ông đi lại như một con gà rù. Lúc đó tôi không nhớ, liệu có bữa ăn nào đấy có uống rượu không. Ông bị ức chế đến nỗi, một hối tiếc đơn giản cũng không có.
Có một chi tiết, đặc trưng cho tính cách Stalin. Nhưng là mặt khác. Sau chiến tranh ở Ukraina nghề mỏ phát triển nhanh. Ukraina khôi phục nông nghiệp, công nghiệp, và cải thiện thích hợp mối quan hệ của Stalin với ban lãnh đạo Ukraina, kể cả tôi - Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ CHXHCN Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Một lần, cãi nhau kịch liệt về nhà máy sản xuất máy kéo. Mikoian nói về máy kéo diesel KD-35, sản xuất tại Belorussia. Đây là máy kéo tốt, nhưng đắt. Mikoian khen ngợi máy kéo này. Stalin hỏi ý kiến tôi, và tôi cũng khoác lác với ông. Sự thật tôi thấy, máy kéo ấy vẫn còn chưa hoàn hảo công suất nhỏ, tuy động cơ diesel. Stalin cũng thích máy kéo diesel, vì rằng nhiên liệu rẻ hơn. Và bỗng nhiên Stalin nảy ra ý nghĩ (hoặc ai đấy đã nói với ông), rằng nên chuyển cho nhà máy khác sản xuất máy kéo diesel. Và Stalin đề nghị chuyển việc sản xuất những máy kéo ấy trước hết cho nhà máy Kharkov.
Tôi cố gắng chứng minh rằng không thể làm điều này. Dân uỷ máy kéo công nghiệp Akopov cũng phát biểu chống lại việc này và giúp tôi những số liệu cần thiết. Nhưng Stalin không nghe và ghi ý tưởng của mình vào nghị quyết Bộ chính trị.
Ý tưởng của ông, tuy nhiên, không được phổ biến cho thậm chí tất cả uỷ viên còn lại Bộ chính trị, trong số này có cả Beria, một điều hiếm xảy ra, cho nên họ cũng đứng về phía chúng tôi. Tranh luận kịch liệt. Sau một thời gian Stalin nhớ lại, hỏi:
- Đã chuyển cho nhà máy Kharkov sản xuất KD-35 chưa?
- Không - tôi nói - chưa chuyển.
Stalin nổi giận. Akopov bị khiển trách vì không thực hiện nghị quyết. Lúc ấy Beria, Malenkov và Mikoian giơ tay: họ tính rằng đừng làm một cái gì cả một khi Stalin muốn điều này.
Tôi vẫn tiếp tục đấu tranh. Một lần Stalin, đang nghỉ ở Sochi, gọi tôi từ Ukraina đến đó. Tôi đến. Ở đó đã có Malenkov, sau đó thêm Beria và Molotov tới. Ông lại đặt vấn đề về vụ máy kéo và quát mắng tôi, như người ta nói là đánh tơi tả. Nhưng tôi chứng minh cho ông:
- Thưa đồng chí Stalin, đừng làm điều này, sẽ gây ra thiệt hại. Hãy nhìn xem, KD-35 có 35 mã lực, mà chúng tôi bây giờ cũng đã sản xuất tại nhà máy Kharkov máy kéo 54 mã lực. Mỗi ngày xuất xưởng 100 máy kéo. Nếu bắt đầu chuyển sang model mới, thì lại bắt đầu từ con số không, mất nhiều thời gian, và chính là chúng ta không đủ máy kéo. Nông nghiệp bị thiệt hại, giảm giảm năng suất lao động. Bây giờ một thợ lái lái máy kéo 54 mã lực, lại hoá ra lái máy kéo 35 mã lực. Máy kéo 54 sức ngựa kéo bộ cày 5 lưỡi, còn chiếc 35 ngựa trong trường hợp tốt nhất kéo được bộ cày 3 lưỡi, bình thường chỉ 2 lưỡi thôi. Như thế giảm năng suất lao động hơn 2 lần khi cày.
Nhưng Stalin vẫn khắc nghiệt.
Beria và Malenkov nói thầm với tôi:
- Đừng cãi nữa. Anh đâm đầu nhảy vào lửa đấy à? Anh cũng nhìn thấy, điều này là không thực tế.
Tôi vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Và cũng đáng chú ý (đây cũng là tính cách của Stalin): con người này khi giận dữ có thể phạm tội ác lớn. Nhưng khi anh chứng minh sự đúng đắn và đưa cho ông những số liệu sống động để ông hiểu rõ, thì ông trở nên có ích và ủng hộ. Tôi hơi bất ngờ, mùa thu Stalin về Moskva và tôi cũng từ Kiev về. Chúng tôi gặp nhau. Tôi thấy Stalin ở tâm trạng tốt. Ông đi đi lại lại trong phòng làm việc của mình. Chúng tôi ngồi vào chỗ của mình. Bỗng nhiên ông nói:
- Thế nào, chú nhóc? (Ít khi ông dùng từ này). Có thể, chúng tôi nhượng bộ anh, đồ quỷ? - và chìa tay cho tôi.
Tôi quay về chứng minh sự cư xử tốt của ông.
- Được - ông tiếp tục - chúng tôi nhượng bộ anh về vụ máy kéo.
Nhưng sau này tôi nói với ông:
- Đồng chí Stalin, ông đã làm một việc tốt. Chúng tôi mất hang nghìn máy kéo, vì rằng thực tế nhà máy Kharkov ngừng sản xuất chúng.
Vâng, có những trường hợp như thế, khi kiên trì phản đối ông, và nếu ông vào sự sự đúng đắn của anh, thì ông sẽ từ bỏ quan điểm của mình và chấp nhận quan điểm của người đối thoại. Điều đó, tất nhiên, là phẩm cách tích cực. Nhưng, đáng tiếc, có thể đếm trên đầu ngón tay những trường hợp, xảy ra như thế. Thường là như thế này: quả là nếu Stalin nói, khôn hoặc dại, lợi hoặc hại, đằng nào cũng thế, bắt người ta làm. Và người ta đã làm như thế!
Một số người stalinit cho rằng đây là phẩm cách tốt đối với lãnh tụ. Tôi cho rằng đây là phẩm chất xấu. Bây giờ, khi tôi viết hồi ký của mình và cố gắng nhớ lại những thời điểm rõ ràng nhất của thời đã qua, thì tôi nhớ đến cả những người bị hại được kể trong đời sống xã hội. Về mặt tích cực trong cuộc sống Liên Xô, bây giờ tôi nói đến vì rằng nó được viết nhiều trong báo chí chúng tôi, có thể là, thậm chí có chút đánh bóng và tô hồng. Chính vì lịch sử phát triển nhà nước xô viết, chiến thắng CNXH ở Liên Xô mà chỉ nói đến những điều tích cực. Nếu ngoảnh lại nhìn con đường chúng ta đã đi sau 50, chúng ta đã trải qua và trưởng thành thì tất cả sẽ rõ hơn.
Có sự khác nhau trong việc đánh giá con đường đã qua ở chỗ một số cho rằng tất cả mọi chiến thắng - đúng là công lao của Stalin. Đúng, trong những thành công đó, công lao của Stalin cũng lớn. Nhưng đây là thành công của nhân dân, mà cơ sở của nó - Lenin, ý tưởng của ông. Bởi vì áp dụng ý tưởng của Lenin, họ cho những kết quả tich cực, dùng Stalin bóp méo quan điểm của Lenin và những chỉ dẫn của Lenin. Học thuyết Mác-Leninlà học thuyết tiến bộ nhất, làm phong phú nhân dân chúng tôi, củng cố và trang bị cho họ. Chính trên cơ sở học thuyết này chúng tôi đạt được những kết quả của mình.
Nhiệm vụ của một người viết hồi ký, tôi cho rằng phải nói hết những tặy tiêu cực của những sự kiện. Lúc ấy không phải là sai lầm, một là sự lạm quyền. Nếu như không có sự lạm quyền, mà Stalin đã làm, thì chúng tôi có có nhiều lần hơn những thành tựu cao. Chính thế tôi tập trung hồi ức lại để giúp đỡ loại trừ khả năng lặp lại những thiệt hại đối với cả giai cấp công nhân, cả nông dân, cả trí thức xô viết, tất cả nhân dân lao động Liên Xô và cả các nước xã hội chủ nghĩa khác, vì rằng Liên Xô đã đem những sai lầm của mình và sự lạm quyền của Stalin tới tất cả các nước anh em.
Suy nghĩ của tôi về Stalin
Thường những người quen, các đồng chí hoặc những người tình cờ tôi gặp, nói chuyện có hỏi tôi có viết hồi ký không. Tôi thường trả lời:
- Không.
Họ tỏ ra tiếc và trách tôi: bảo là cuốn hồi ký như thế rất cần trong tương lai, để mà phán xét tốt hơn và sâu hơn trong nước, Đảng, nhân dân ở thời kỳ, khi tôi sống, làm việc, và nhiều năm là người gần gũi với lãnh đạo, rồi sau đó tham gia vào giới lãnh đạo. Trước đây, có thể là, tôi không hiểu điều này và không nhận làm việc đó. Nhưng, hình như mọi người đúng, và tôi muốn viết một cái gì đó bổ xung những chuyện kể ở trên. Ở đây tôi nêu vấn đề về Stalin ở dang tổng quát.
Nhiều người hỏi Stalin là người thế nào, hỏi về thói quen của ông, và về phong cách lãnh đạo của ông. Trong đầu nhiều người vẫn rối bòng bong về vấn đề Stalin, vì rằng người ta nói về ông cả những điều tốt và những điều xấu. Nó đã như thế và sẽ như thế, có lẽ, với nhiều nhân vật lịch sử khác. Hơn nữa trong chính cuộc đời Stalin cũng đan quyện điều này điều khác. Đòi hỏi phải phân tách! Và tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình về vai trò chung của Stalin trong chiến tranh thế giới 2 và ý nghĩa lãnh đạo đất nước của ông thời kỳ ấy, trả lời vấn đề khó cái gì xảy ra nếu như hoàn toàn không có Stalin. Vấn đề này rất khó khăn, và không những vì rằng những việc xảy ra không làm lại được, mà còn vì rằng không tìm thấy một ông chánh án xác định trên cái cân chính xác, ai đúng và ai không đúng. Kết luận của tôi dựa trên những tiếp xúc lâu và gần gũi với Stalin cả từ trước khi bắt đầu chiến tranh, cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh. Tôi có thể quan sát, từ suốt thời gian ấy sự tính cách của Stalin, đánh giá những biến cố khác nhau và những hoạt động của ông, vai trò của ông trong chiến tranh. Tôi đã mắt thấy tai nghe, ông tham gia cái gì, nói cái gì trong thời gian thất bại và trong thời kỳ chiến thắng.
Một số người phản ứng trước tiên những tình tiết nói Stalin gây nhiều tội ác đối với Đảng và đối với nhân dân, đã giết nhiều người lương thiện, thậm chí cả những anh hùng, trung thành sự nghiệp của Đảng, những người tham gia tích cực xây dựng CNXH. Dù họ dám chắc đó là sự thật, nhưng nghĩ rằng trong cuộc chiến tranh lớn, chúng ta giành chiến thắng chủ yếu do sự lãnh đạo của Stalin, nếu như không có Stalin, thì không biết, liệu chúng tôi có thể địch nổi kẻ thù và chiến thắng nó được không. Quan điểm này tôi không cách nào đồng ý, thậm chí bỏ qua những gì tôi nhìn thấy Stalin, không phụ thuộc vào việc Stalin có vai trò như thế nào trong việc tổ chức chống cự kẻ thù, đánh tan những đạo quân lớn Hittler. Tôi không thể đồng ý với cách lý giải như thế đối với những biến cố vì rằng đây là quan điểm mù quáng.
Chỉ có nô lệ, những người không thể cất nổi đầu gối và liếc nhìn những cái đầu của các ngài, chắc chắn là cần cho ai đấy, người nghĩ về họ, tổ chức cho họ, và trút tất cả lên họ những bất hạnh của tội lỗi và có thể ghi công khi thắng lợi. Đây là tâm lý mù quáng. Tâm lý này không những hoàn toàn vô căn cứ, mà còn rất nguy hiểm. Đó, nói chung, không phải là tâm lý mác xit và không phải tâm lý khoa học, mà là triết học thiển cận. Cần nhớ rằng Stalin chết, còn cuộc sống, cuộc đấu tranh vẫn không ngừng, tiếp tục, xã hội được thay đổi, được thúc đẩy, không đứng tại chỗ.
Nếu bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới mới, thì nó sẽ đổ máu nhiều hơn, nhiều nạn nhân hơn, thậm chí khó hình dung, vì rằng nạn nhân của chiến tranh theo sự tiến bộ hình học ứng với thời kỳ, khi nó xảy ra, và với vũ khí mà quân đội sử dụng. Bây giờ vũ khí nguyên tử, tên lửa. Một người chết, khi mọi người đánh giáp lá cà và đánh nhau bằng, rồi giáo mác và cung nỏ. Khi xuất hiện súng trường và súng máy, nói chung vũ khí bắn nhanh, chiến tranh có thêm nhiều nạn nhân hơn, vì rằng phương tiện sự giết người đã hoàn thiện hơn. Khi xuất hiện máy bay và máy bay ném bom, nhiều người cho rằng bây giờ chiến tranh trở thành không tưởng tượng được, nó huỷ diệt biết bao nhiêu mạng sống! Nhưng không, cuộc chiến tranh vừa qua giết chết hàng chục triệu người. Riêng Liên Xô mất hơn 20 triệu người.
Nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân-tên lửa, thì thậm chí khó tự hình dung, nó giết bao nhiêu người. Đó không phải là chiến tranh trên chiến trường, nghĩa là quân đội không giáp mặt nhau. Chiến tranh sẽ tiến hành ở hậu phương sâu xa, trên toàn bộ lãnh thổ đất nước, vì rằng bây giờ, việc sử dụng phương tiện giết người không bị hạn chế bởi không gian, và có thể bắn và tiêu diệt đúng mọi điểm trên quả địa cầu này.
Nếu không có Stalin thì chúng tôi ra sao? Ai sẽ nghĩ cho chúng tôi? Ai tổ chức quân đội, đất nước, công nghiệp? Rõ ràng là đây là sự bàn luận dốt nát. Nhân dân vẫn là lực lượng chính. Tất nhiên vai trò cá nhân trong lịch sử nhân loại, kể cả tổ chức quốc phòng, là lớn. Nhưng thần thánh hoá ai đấy, là điều không thể. Không những vì đây là xuyên tạc sự đánh giá đúng, mà còn vì rằng điều này làm nhụt chí quần chúng, làm yếu đi sự đóng góp của họ cho chiến thắng, làm kìm hãm sáng kiến. Không có anh hùng, ông biến mất, và chúng tôi chết? Tất nhiên điều này không đúng. Không phải vô cớ người ta hát rằng: “Chúng tôi tự làm sự giải phóng bằng chính tay mình”.
Nếu che chở, như lá chắn, như anh hùng nào đấy, còn sau đó, tước đoạt người anh hùng này, tựa như bắt phải chịu cái chết, thì đó sẽ chính là sự bị hại.
Vai trò của Stalin, tiêu cực hay tích cực? Ở mặt chủ quan hoạt động của ông, vai trò là tích cực theo nghĩa ông còn lại là một người mác xit dựa trên sự giống nhau của lịch sử, trung thành lý tưởng mác xit, làm tất cả cho chiến thắng của sự nghiệp giai cấp công nhân, trong trường hợp đã nêu - đánh bại Hittle. Đấy là mong muốn chủ quan của ông. Một câu hỏi khác, ông đưa điều này trong thực tế như thế nào. Bằng cái gì, mà sự xấu xa thực sự của ông đánh lừa đất nước, như tôi đã nói. Lúc ấy ông giết các tư lệnh, và giết các hạt nhân của Đảng bolsevich. Bị giết trước tiên là thế hệ bolsevich lão thành theo đường lối Lenin. Điều này làm nước ta yếu đi? Hoàn toàn, làm yếu đi.
Sau khi triệt hạ những hạt nhân tiên tiến của những người được hun đúc thời bí mật Nga hoàng, dưới sự lãnh đạo Lenin, thì triển khai mạnh và rộng khắp các vụ giết những người cán bộ lãnh đạo Đảng, xô viết, nhà nước, khoa học, quân đội, cũng như hàng triệu người, mà cách sống và ý nghĩ của họ không làm cho Stalin vừa lòng. Ai giết họ? Stalin. Vì sao? Ông cho rằng sự nghiệp được làm nhân danh lý tưởng của Đảng, nhân danh xã hội mới. Ông không tin tất cả những người này. Một số người trong số này, tất nhiên, ngừng ủng hộ ông, khi nhìn thấy, ông kéo lê họ đi đâu. Stalin hiểu rằng có một nhóm lớn nhân vật tầm cỡ, có tâm lý chống ông.
Những người đối lập không có tư tưởng chống xô viết, chống Đảng, chống mac xit. Đơn thuần là họ muốn thay thế Stalin trong ban lãnh đạo. Chính Lenin cũng muốn làm điều này. Đây không phải là những người chống Lenin, mà là những người ở vị trí Lenin, cho rằng về mặt tính cách thì Stalin không thể ở lâu hơn ở chức vụ trước đây, mà cần thay ông ta. Những người cộng sản, có mặt tại Đại hội 17 đã bỏ phiếu chống Stalin, muốn thực hiện chính cái điều mà Lenin trình ra chúc thư của mình.
Và Stalin đã giết họ. Vì sao? Vì ông coi mình là không thể thay thể được, là người duy nhất là mác xit và có quyền lãnh đạo đất nước. Sự thèm khát quyền lực của ông cũng thôi thúc. Lenin đã nói trong chúc thư trước khi mất về những ác quỷ trong tính tình Stalin: khả năng lạm dụng quyền lực. Và Stalin lạm dụng quyền lực làm hại Liên Xô và người cộng sản trên toàn thế giới. Ông giáng một đòn vào các cán bộ Mác-Lenin không những trong nước, mà còn cả các Đảng anh em, Quốc tế cộng sản, và tất cả những ai mà ông nghi ngờ có thể họ cảm thấy không đồng ý với ông. Và họ ngay lập tức trở thành chống mác xit, phản cách mạng và “kẻ thù nhân dân”.
Ông nghĩ ra và gây sợ hãi trong nhân dân, để nó đóng vai trò của mình. “Kẻ thù nhân dân”! “Người làm hại”! Ông doạ dẫm và làm rối trí những người đã tin ông vô bờ bến, đã tin rằng ông làm tất cả cho lợi ích của Đảng và nhân dân. Tất nhiên khó phán xét. Trước đây quả là có kẻ thù cách mạng, và kẻ thù nhân dân lao động, và kẻ làm hại. Nhưng đây không phải là những người, mà ông rút gươm chém họ và như thế làm yếu Đảng và quân đội, tạo cho kẻ thù khả năng gây tổn thất lớn cho Liên Xô. Nếu Stalin không cầm quyền, thì (tôi hoàn toàn tin như thế) quân ta có đủ sức và phương tiện để đánh bại quân thù ngay ở biên giới, nếu như chúng cả gan tấn công nước ta. Về kết cục như thế đã có những lời huyên thuyên của Dân uỷ Vorosilov hay “xạ thủ Vorosilov”: “Không một tấc đất cho kẻ thù! Không lùi một bước! Nếu chiến tranh, thì nó sẽ tiến hành trên đất kẻ địch!” Sau đó cái gì xảy ra, mọi người đều biết.
Tất nhiên Stalin muốn chiến thắng. Nhưng khi ông nhìn thấy kết quả “lao động” của mình giết cán bộ, nhìn thấy, quân đội làm bị suy kiệt và yếu hẳn đi, những người đưa vào bộ máy lãnh đạo, không đủ kinh nghiệm, không được đào tạo và không có khả năng chỉ huy; và thậm chí trước đó ông nhìn thấy quân ta bị tổn thất trước chống cự kiên cường của nước Phần Lan nhỏ bé, nhân dân Phần Lan anh hùng tuyệt vời, dũng cảm bảo vệ đất nước của mình. Nhìn thấy tất cả điều này, Stalin sợ hãi trước Hittler. Và ông làm tất cả chiều lòng Hittler. Nhưng Hittler có những kế hoạch của mình. Hittler đặt mục tiêu tiêu diệt những người bolsevich. Dỗ dành ông, không thể khước từ khỏi chiến tranh. Lúc ấy ý chí của Stalin bị tê liệt trước ý chí quân thù.
Tôi nhớ câu chuyện Beria kể về Stalin hôm 22 tháng sáu 1941, khi ông bắt đầu đối mặt với chiến tranh. Ban đầu ông không muốn tin vào điều này và bấu níu hy vọng rằng đây là khiêu khích, ông thậm chí ra lệnh không nổ súng, hy vọng vào phép thần, cố gắng che giấu vỡ mộng. Sau đó các tướng lĩnh chứng minh để ông tin rằng thực sự bắt đầu chiến tranh với Đức rồi. Ông được nghe báo cáo về quân đội Hittler tiến quân thắng lợi. Lúc ấy mới lộ ra rằng ông che giấu tất cả mọi người về sự hoảng hốt của ông trước Hittler. Stalin trông có vẻ già đi, ủ dột, bối rối. Ông nói với các uỷ viên Bộ chính trị, tụ hợp tại phòng làm việc của ông:
- Tất cả nhưng gì mà Lenin làm được và những gì mà ông để lại cho chúng tôi, chúng tôi... tất cả... chết...
Và, ông không nói thêm được gì nữa, bước ra khỏi phòng, đi về nhà nghỉ của mình, rồi sau đó có lúc không tiếp ai cả.
Beria kể rằng mọi người còn lại ở trong tình trạng bối rối. Nhưng sau này họ quyết định phải có một vài biện pháp thực tế. Chiến tranh đang xảy ra, phải hành động. Thảo luận công việc, họ quyết định kéo tới chỗ Stalin. Bây giờ tôi không nhớ, ngoài Beria thì còn ai đến đó, nhưng ông không phải một mình. Stalin tiếp họ, và họ bắt đầu thuyết phục ông rằng vẫn chưa phải mất hết tất cả, rằng nước ta là một nước lớn, chúng ta có thể gom góp sức lực để chống cự cho kẻ thù, và thuyết phục ông quay lại lãnh đạo và điều hành phòng thủ đất nước. Stalin đồng ý, quay về vào Kreml và lại khởi đầu công việc, sau đó phát biểu trên đài phát thanh. Đây là lời phát biểu nổi danh của ông ngày 23 tháng sáu 1941. Nhưng suốt thời gian dài ông không ký một chỉ thị nào cả. Tất cả tài liệu đều ký: “Tổng hành dinh”.
Nhưng ông bắt đầu ký với chức danh Tổng tư lệnh tối cao chỉ khi bộ đội chúng tôi chống cự được bọn phát xít. Đấy là câu chuyện Beria kể về trạng thái của Stalin ngày đầu chiến tranh.
Tất nhiên với tâm trạng như thế, khó kiên quyết thực hiện một cái gì đó cản được sự xâm lược của Hittler. Nếu Stalin chết trước khi bắt đầu chiến tranh thế giới 2, nghĩa là năm 1939, thì cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại có thể theo con đường khác. Đất nước được chuẩn bị tốt hơn cho chiến tranh. Nhưng ông vơ tất cả về mình và mắc sai lầm. Thậm chí khó đánh giá gần đúng những tội ác mà ông gây ra cho đất nước. Ông muốn giết tất cả những ai mà ông cho là chống lại ông. Ông nhìn, đôi khi, vào một người gần ông và nói “Mắt anh chạy đi đâu rồi?”.
Có trường hợp, sau câu hỏi ấy, nhiều người tự sát. Mọi người phụ thuộc vào tâm trạng của ông. Không cần toà án, không cần chứng cớ, không cần sự phân tích thật sự. Chỉ cần một ngón tay út của ông lay động theo một hướng nào thì người ta sẽ bị trấn áp. Và ông cũng quen thói này khi sau chiến tranh nói, quyết định trấn áp Tito:
- Ngón tay tôi nhúc nhích, sẽ không còn Tito nữa.
Ông không với được tới Tito. Nhưng trong nước ông làm chết hàng triệu người.
Như thế nếu tính cộng lại tất cả thành tổng số, thì tin rằng: giá như Stalin không tồn tại, thì chiến tranh phát triển đối với chúng tôi là thành công hơn. Trong lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh. Napoleon cũng tấn công nhân dân Nga, sử dụng một đội quân lớn, và cũng tấn công một cách phản bội. Không chỉ một lần xảy ra chiến tranh, bắt đầu cuộc tấn công phản bội. Năm 1812 Aleksandr I, chính ông đi đến cách giải quyết khôn ngoan hoặc người ta khuyên ông, đã bỏ mặt trận và chạy về Peteburg, bổ nhiệm Kutuzov chỉ huy. Kutuzov là người đã già, thường ngủ gà ngủ gật tại phiên họp hội đồng quân sự. Nhưng nhân dân tin ông, và ông biết dựa vào lòng tin của nhân dân. Nhân dân làm tất cả để đánh đuổi quân Pháp, và đạt được điều này dưới sự lãnh đạo Kutuzov. May mắn cho đất nước và cho Kutuzov, một tổng tư lệnh, khi đó phương tiện liên lạc khá bị hạn chế, và Aleksandr 1, đi về Peteburg, nhưng thể xác mất khả năng can thiệp trực tiếp chỉ huy. Nhưng Stalin, ở Moskva, có khả năng can thiệp trực tiếp trong mọi việc và đôi khi sự can thiệp của ông đáng giá nhiều sinh mạng trên mặt trận. Nhưng cuối cùng chúng tôi dưới sự lãnh đạo của Stalin đã giành được chiến thắng, nhưng với số nạn nhân lớn quá đáng, thiệt hại vô cùng to lớn. Không có của Stalin, kẻ thù rõ ràng bị thất, mà chúng tôi tổn thất ít hơn.
Nếu xảy ra chiến tranh trong tương lai, nếu sử dụng đúng tài nguyên đất nước, biết cách tổ chức công việc chuẩn bị chiến tranh thì chúng tôi sẽ chiến thắng trong cuộc chiến tranh mới. Có thể sự hùng mạnh của chúng tôi giúp sớm tránh được chiến tranh. Mỗi nước có tình báo và thông tin ít nhiều về vũ khí và trạng thái chung của địch thủ của mình. Viễn cảnh va chạm với một quân đội được chuẩn bị tốt tập đoàn quân sẽ làm nguội bất kỳ cái đầu nóng nào. Tôi không thể nói rằng có thể loại trừ chiến tranh nói chung. Đây là vấn đề giai cấp. Chừng nào còn tồn tại giai cấp, thì cũng có nguy cơ chiến tranh. Vì thế cần chuẩn bị chiến tranh. Nhưng nếu Đảng hiểu đúng nhiệm vụ của mình, gắn bó với quần chúng, biết tổ chức quần chúng, công nghiệp và nông nghiệp, thì Đảng có thể và phải đạt được đánh gục bất kỳ cuộc chiến tranh từ phía bên kia dám công tấn công Liên Xô.
Một lần nữa tôi nhắc lại, rằng tôi không chấp nhận tư tưởng mù quáng: Stalin được sinh ra, và chúng tôi trao số phận của mình cho ông. Lúc đó chấp nhận rằng nếu ông chết và đất nước bị mất đầu, bị mất hết những gì mà chúng tôi có được. Đó là ngu ngốc! Đấy là Marx, và là Lenin, còn Stalin không xứng với Lenin. Lenin quả là lãnh tụ, người thấy trước tất cả từ nhiều năm trước. Ông, cùng với Plekhanov đặt nền móng xây dựng Đảng, tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp công nhân ở nước Nga. Đúng như thế và công nhận rằng Lenin thiên tài xác định trước tất cả. Nhưng ông sống ngắn ngủi, nhưng cũng kịp đưa đất nước thoát ra khỏi nội chiến, thời ấy đã nảy sinh những anh hùng. Đó là những người của chủ nghĩa nhiệt thành, họ sống bởi lý tưởng Lenin, bản thân họ đôi khi không được phân tích sâu về bản chất sự nghiệp. Nhưng họ muốn thắng lợi của nhân dân và tin rằng Lenin đứng về phía nhân dân, chống tư sản và địa chủ. Và nhân dân dưới sự lãnh đạo Lenin giành chiến thắng kẻ thù cách mạng.
Sau đó Lenin xác định sự phát triển tiếp đất nước ta, công nghiệp và văn hoá. Đáng tiếc, ông mất rất sớm. Nhân dân khóc ông, nhưng đất nước vẫn sống và tiến lên. Chúng tôi cải tổ kinh tế, giáo dục, văn hoá, đạt được nhiều thắng lợi. Nếu như Stalin không gây ra thiệt hại cho Liên Xô, khi ông giết cán bộ, sự tiến lên phía trước của chúng tôi còn thành công hơn. Bắt đầu cuộc chiến tranh với dân chúng là năm 1934, khi giết Kirov. Ông bị giết, tôi tin điều này, theo chỉ thị của Stalin, để lung lạc nhân dân, đe doạ nhân dân: Đấy, dường như, kẻ thù thò tay và giết Kirov, bây giờ đe doạ tất cả giới lãnh đạo đất nước và Đảng.
Nhân dân tin rằng có “kẻ thù” và ủng hộ tên bạo chúa, tên này theo cách chọn riêng, như trong đàn cừu, lựa chọn và cắt cổ người ta, một cách thẳng thừng, mà biến mất đơn giản không vết tích. Chẳng có lẽ đây là hành động của một người mác xit thực sự? Đây là sự xấu xa của tên bạo chúa hoặc kẻ bệnh hoạn. Nhan danh cách mạng, nhân danh nhân dân ông giết những tinh hoa của những người lãnh đạo nhân dân và Đảng, và thậm chí giết chính quần chúng nhân dân. Những hành động tương tự như thế không thể biện minh được. Xảy ra những vụ việc đáng sợ, thế mà bây giờ một số người nói rằng chỉ có con người như thế mới có thể đưa chúng ta đến thắng lợi, còn nếu như không có Stalin, thì chúng tôi có lẽ chết. Không, không và không! Tôi không đồng ý, đây là sự hiểu biết mù quáng đi ngược học thuyết Mác-Lenin. Và rất tiếc rằng một số những người có uy tín trong khoa học, chính trị, quân sự rơi vào sai lầm này.
Mặt khác, Stalin về nguyên tắc (không phải trong sự xấu xa cụ thể) vẫn là một người mác xit. Và, nếu loại trừ tính đa nghi bệnh hoạn, sự tàn nhẫn và sự phản bội của ông, thì ông đánh giá tình hình đúng và tỉnh táo. Chính ông nhiều lần khi có mặt tôi đã phỉ nhổ thái độ bợ đỡ xun xoe, nói:
- Triết học tương phản cá nhân anh hùng cho đám đông - đó là triết học cách mạng. Những người đứng ở vị trí như thế - không phải là những người mác xit. Nhưng chúng tôi tin vào quần chúng, vào nhân dân, luôn luôn tách rời trong thời gian cần thiết lãnh tụ của mình.
Chỉ có lời nói của ông tách rời công việc. Vì thế, khi nói về quá trình lịch sử, phải giữ được những chứng cớ, đối chiếu chúng, không lờ đi một cái gì, và khi đó vai trò của mỗi cá nhân trong từng giai đoạn ấy sẽ rõ ràng. Tôi muốn giữ đúng nguyên tắc này, mặc dù đôi khi là khó, vì rằng một người cảm nhận những biến cố đó hoàn toàn chủ quan.
Khi Stalin chết và chúng tôi còn lại không có ông, chúng tôi ban đầu than khóc tình thế của mình, trong tâm trạng sốc. Không phải mọi người biết rằng chúng tôi làm gì khi mọi việc tiến hành không có Stalin. Chỉ có Beria hân hoan. Đa số giới lãnh đạo đánh giá Beria là hình ảnh tội ác. Mọi người biết ảnh hưởng xấu xa của ông đối với Stalin. Và mọi người cũng biết không phải Beria nghĩ ra Stalin, mà Stalin nghĩ ra Beria. Trước Beria, trong NKVD là Yagoda. Stalin biến Yagoda thành tội phạm, cho tay chân mình giết Kirov. Sau Yagoda là Ezov, Stalin cũng giết ông ta. Sau Ezov đến Beria và sau này là Abakumov, một người chẳng tốt hơn Beria là mấy, chỉ ngốc hơn. Beria trong số này là người nguy hiểm nhất, vì rằng ông là hiểu biết và có có khả năng tổ chức. Tuy nhiên tôi lạc hướng về những việc sau chiến tranh.
Quay lại thời gian trước chiến tranh, một lần nữa tôi nhớ rằng chúng tôi bắt đầu chiến tranh thiếu vũ khí và không cơ động, quân đội hoàn toàn không chuẩn bị, mặc dù chính Stalin biết rõ rằng chiến tranh không tránh khỏi. Nhưng ông là bị tê liệt trước Hittler, như thỏ đứng trước sói, sợ cả việc tăng cường phòng thủ biên giới, cho là Hittler có thể đánh giá việc này như chúng tôi chuẩn bị tấn công ông ta. Ông cũng nói như thế với chúng tôi, khi chúng tôi và Kirponos đề nghị huy động nông trang viên để đào hào chống tăng dọc biên giới và tăng cường phòng thủ. Stalin tuyên bố rằng điều này sẽ là khiêu khích, không thể làm. Nghĩa là, mặc dù Stalin tin là Hittler tấn công chúng tôi, ông trông mong rằng ông có thể là, né được đòn tấn công. Kết cục thế nào, ai cũng biết. Và ông không có giáng trả, và bỏ ngỏ đất nước.
Quan điểm cho rằng chỉ có cá nhân Stalin mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng do chiến tranh gây ra, và quân ta chiến thắng do sự lãnh đạo thiên tài của Stalin, là hoàn toàn vô căn cứ. Quân đội ta chiến thắng không cần Stalin, và thậm chí thiệt hại còn ít hơn. Chính quân đội ta chiến đấy vì mảnh đất của mình, vì nhân dân của mình, vì cuộc sống của mình, vì tương lai của mình, mà hoàn toàn không phải vì Stalin. Khẩu hiệu “Vì Stalin!” - đây là kết quả không đúng tri giác.
Stalin tự mình thổi phồng vai trò của mình và dạy dỗ người ta tinh thần nịnh bợ, buộc những người gần ông phải có ý tưởng suy tôn cá nhân mình. Dù ông không cản Kaganovich, người đứng ở bàn Stalin luôn luôn tuyên bố đanh thép:
- Đấy là Stalin! Stalin là thế này, Stalin thế kia, không có Stalin chúng tôi chẳng là ai cả.
Lúc ấy thường Stalin cất giọng và nói rằng đây là quan điểm cách mạng, và chính ông thúc đẩy Kaganovich đến “hoạt động” lớn.
Tôi chân thật tiếc cho những ai kém hiểu biết tin rằng không có Stalin, chúng tôi không đạt được một kết quả tốt nào cả. Sự thiếu chín chắn nhận thức trong xã hội có thể trong tương lai dẫn đến tái phạm có hại. Không ai cần tính rằng nhân dân quên tất cả, khi nghĩ về những người lãnh đạo trong quá khứ. Có nhiều bài viết về Chinggiskhan. Mao Trạch Đông, chẳng hạn, người ta gọi ông là anh hùng. Cũng mô tả nhiều mặt tốt Napoleon, dù rằng ông làm chết hàng trăm nghìn người. Họ là những kẻ sát nhân tầm cỡ nhà nước. Họ tổ chức chiến tranh nhân dân, tổ chức quân đội và đưa họ đến cái chết vì quyền lợi của mình. Đây không phải là kẻ sát nhân, vào ban đêm dùng dao găm và súng lục giết một hai người để trấn lột. Không, những người đó trấn giết toàn bộ nhân dân, gây thiệt hại cho cả nhan loại. Phải tiến hành việc giáo dục lòng tin để kết án việc này, định hướng đúng lớp trẻ, dạy dỗ nhân dân có hiểu biết đúng vai trò của cá nhân trong lịch sử, trách nhiệm của họ trước lịch sử và vinh danh không phải những tên giết người, những tên bạo chúa, mà vinh danh những người sáng tạo trong những điều kiện cuộc sống hoà bình.
Tôi muốn bây giờ nói hết về những người sống theo lý tưởng Mác-Lenin và đem hết sức lực mình để giữ vững lý tưởng này. Có thể có trường hợp những người tốt của chúng tôi trải qua cùng với con đường vĩ đại của Lenin từ việc xây dựng Đảng bolsevich đến làm cuộc cách mạng tháng Mười, đã bị chết dưới cái mác “kẻ thù nhân dân”, kẻ thù của Đảng, kẻ thù lý tưởng CNXH và chủ nghĩa cộng sản? Chẳng lẽ Lenin không thể phân xử được, khi ông chọn những người này và làm việc với họ? Chẳng lẽ Lenin lầm à? Tất nhiên vĩ nhân cũng có thể sai lầm. Trong Đảng từng có nội gián của mật vụ Roman Malinovski, người được Lenin tin dùng. Cũng có cả những nội gián khác. Nhưng hiến binh mật phái chúng. Những người, mà tôi nói về họ, đã trải qua con đường đấu tranh thực sự cùng với Lenin và tỏ ra trước và sau cách mạng trung thành với sự nghiệp ĐCS. Và chính họ bị hành hạ, chết, bị giết không có xét xử, không có điều tra dưới thời Stalin. Một số trong những người này cũng được ra toà, nhưng là toà án do Semiakin làm chánh án, ông này làm tất cả những gì người ta ra lệnh cho ông. Đây là toà án gây ra sự trấn áp để làm vừa lòng một cá nhân.
Tôi sẽ cố gắng một cách chủ quan làm rõ vấn đề phức tạp này, bởi tôi hiểu những gì đang xảy ra những gì tôi được biết ngay sau khi Stalin chết. Sau Đại hội 20 ĐCSLX, thành lập một Uỷ ban xem xét riêng nghiên cứu vấn đề này. Họ báo cáo kết quả điều tra cho tôi, là bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng. Cái gì được sáng tỏ? Vì sao Stalin, cũng là người gần gũi với Lenin và cũng cùng với Lenin và dưới sự lãnh đạo Lenin chuẩn bị lễ mừng công lý tưởng Mác-Lenin, tỏ ra vô căn cứ như vậy trong sự xấu xa của mình? Stalin liên quan gì với người khác? Có thể Stalin bị biến chất và nói chung chống lý tưởng CNXH, sau đó cũng tiêu diệt những người ủng hộ ông? Hoàn toàn không. Stalin về nguyên tắc vẫn tin vào lý tưởng CNXH. Nhưng về tính cách, ông là nhà độc tài, là một con người không nghe và không muốn nghe ai trừ bản thân ông. Lúc ấy, là đặc điểm của cá nhân ông. Nếu đặc điểm ấy nằm ở con người nhỏ, thì gây khổ sở cho gia đình và láng giềng. Nếu đặc điểm này rơi vào người có địa vị cao, làm khổ quần chúng.
Người ta muốn ý nghĩ, muốn phán xét, muốn biết rõ. Điều này là bình thường. Nhưng nếu sự bàn luận không trùng với hiểu biết của Stalin về công việc, thì bắt đầu cuộc đấu tranh tự nhiên về tư tưởng. Thông thường mối quan hệ xã hội chỉ là cãi nhau. Nhưng do đặc điểm cá tính của Stalin thì những người như thế trở thành kẻ thù riêng của Stalin, mà đã là kẻ thù của ông, thì ông gọi là kẻ thù của CNXH. Đã là kẻ thù, thì phải tiêu diệt. Và ông giết họ. Một số người nói:
- Chính Stalin phát biểu vì cách mạng, vì chủ nghĩa cộng sản, sao ông có thể làm như thế?
Một số khác nghi ngờ Stalin trừng phạt sự lạm quyền. Dường như, những người có lỗi là Yagoda, Ezov, Beria, Abakumov và những người khác.
Những phán xét tương tự là vô căn cứ, vì rằng chẳng phải Ezov, chẳng phải Beria, thực chất là của bản thân Stalin. Họ không chọn sếp, mà sếp chọn họ theo khẩu vị của mình. Nếu Ezov hoặc Beria không làm Stalin vừa lòng, ông dễ dàng thay thế họ, điều này không khó gì đối với Stalin. Stalin cần những người như Yagoda, Ezov, Beria, Abakumov để che giấu cái đuôi của mình; ông đưa Ezov để giết Yagoda, đưa Beria và dùng tay hắn giết Ezov. Hơn nữa ông cho rằng bây giờ tất cả sự tham gia của cá nhân ông vào cái trò tạo ra một cái đèn cù, luôn luôn được giấu kín. Ban đầu mọi người đổ tội cho “bọn Ezov”. Sau đó đổ cho “bọn Beria”, vì rằng Beria tiếp tục công việc này và với sự hung bạo như Ezov. Stalin chưa kịp vứt nốt Beria - thì ông chết.
Mọi việc bắt đầu từ cái gì? Vì sao Stalin chọn con đường này? Những năm đầu sau khi Lenin chết, trong đấu tranh, Stalin vẫn còn sử dụng phương pháp của Đảng. Có đấu tranh, có tồn tại ý kiến đối lập, tiến hành thảo luận, tiến hành tranh cãi. Chúng diễn ra khắc nghiệt, nhưng trong khuôn khổ của Đảng. Các Đảng viên có khả năng được tranh cãi theo những quan điểm khác nhau, nghe hướng này hướng kia, theo lãnh tụ này theo lãnh tụ kia, và mỗi một đảng viên có thể xác định mối quan hệ của mình họ. Trong các cuộc tranh cãi ấy, Stalin chiến thắng, và Đảng ủng hộ ông. Tất nhiên những người thất bại tức giận và không được Stalin hài lòng.
Và chúng tôi nói về tình hình trước khi triệu tập Đại hội 17. Tôi nhớ Đại hội này. Tôi tham gia tất cả các hội nghị Đảng và Đại hội Đảng, bắt đầu từ Đại hội 14 (trừ Đại hội 16, tôi không có mặt, do học tại Học viện công nghiệp, nhưng có mặt tại các phiên họp của nó). Trước Đại hội 17, triển khai thảo luận, như thường lệ, trong Đảng bàn cãi dề cương báo cáo tổng kết, chuẩn bị các Đảng viên hiểu đúng cách giải quyết, được chấp nhận tại Đại hội. Đại hội này là Đại hội đặc biệt ở ý nghĩ rằng đến năm 1934 vẫn chưa có một học thuyết đối lập nào trong Đảng. Các vấn đề công nghiệp hoá và tập thể hoá nông nghiệp không phải là chủ đề thảo luận, mà là cơ sở hoạt động thực tế của Đảng và nhân dân. Vì thế Đại hội diễn ra rất tốt.
Khi đưa ra ứng cử viên BCHTƯ, họ cũng đề cử tôi. Tôi chịu đựng cảm giác đặc biệt, khi bỏ phiếu, và tôi cũng ngang hàng với những người khác nhận thẻ bầu. Tôi nhớ, Kaganovich nói với tôi rằng cần bỏ gạch một số ứng cử viên được đề cử vào BCHTƯ. Ông giải thích rằng những đại biểu này có thể bỏ phiếu chống Stalin, vì thế phải làm đừng để những người khác thu được phiếu nhiều hơn Stalin. Để tất cả ở mức độ nào đấy ngang nhau, phải bỏ phiếu chống họ. Tôi khó nói, liệu Stalin có trao nhiệm vụ như thế cho Kaganovich, hay là Kaganovich hành động theo lý trí của ông ta.
Khi biết rõ hơn Kaganovich, sau này tôi nghĩ ông làm điều này cũng từ quyền lợi riêng: nếu những người không số phiếu bầu nhiều hơn Stalin, thì trong tất cả mối quan hệ điều này có lợi cho Kaganovich, bởi vì họ không có số phiếu nhiều hơn Kaganovich. Tất cả các phiếu bầu được phân phát cho các góc phòng họp, mọi người xem danh sách và gạch tên ai mà họ muốn. Nhưng một số đi thẳng đến thùng phiếu và lập tức bỏ phiếu bầu. Tôi thấy, Stalin hiên ngang đi tới hòm phiếu và thả phiếu bầu. Thậm chí ông cũng chẳng nhìn vào nó nữa. Điều này không có gì ngạc nhiên, vì rằng danh sách từ trước Stalin không những đã xem, mà còn được ông tán đồng nữa. Chẳng việc gì mà phải mất thời gian xem lại chúng một lần nữa? Chính là có những người theo dõi điều này để ngoài những người được đề cử, không ai rơi vào trong danh sách.
Nghỉ xong. Uỷ ban kiểm phiếu thực hiện công việc của mình. Phiên họp được triệu tập để nghe kết quả kiểm phiếu. Đó là những phút mừng và căng thẳng. Thậm chí tôi không biết, có cái gì hơn: mừng hoặc phấn khởi, đặc biệt đối với người trúng cử vào cơ quan lãnh đạo. Có thể tôi truyền đạt chỉ có tâm trạng riêng của mình, nhưng tôi nghĩ rằng những người khác cũng lo lắng. Chủ tịch hội đồng kiểm phiếu đề nghị mọi người cất bút chì và sổ tay và không ghi gì cả, chỉ nghe thôi. Ông tuyên bố, tại Đại hội có mặt chừng này đại biểu và chừng này trong số đó tham gia bỏ phiếu. Sau đó bắt đầu đọc theo thứ tự abc, ai và bao nhiêu phiếu đã bầu mình. Đến lượt Stalin. Tôi tính: ông thiếu sáu phiếu. Đến lượt tên tôi. Tuyên bố tôi cũng thiếu sáu phiếu. Nghĩa là sáu đại biểu gạch tên tôi. Tôi tự nói với mình: người ta cho mình sáu con giun và cả cho Stalin - cũng sáu con giun (như thường nói hồi đó).
Lần đầu tiên tôi được vào BCHTƯ. Theo tuổi tác và thâm niên Đảng, thậm chí tôi chưa dến được điều này. Chức vụ như vậy đối với tôi là khá cao. Và tôi rất hài lòng được bầu vào BCHTƯ, còn sáu phiếu không bầu tôi, tôi cũng chẳng chút lo ngại, hơn nữa trên bình diện này, Stalin cũng đã nhận sáu phiếu “chống”.
Tôi tức giận chỉ có là ai đấy không bầu Stalin. Việc bầu bán tiến hành như thế. Nhưng vì sao tôi dừng lại tỷ mỷ ở đấy, vì nó rõ ràng hơn từ các Đại hội sau.
Kết thúc Đại hội. Tất cả mọi người về chỗ của mình và nhận việc. Chúng khi đó công tác với nhiệt huyết lớn. Mỗi người (tôi tự xét bản thân tôi) sống không phải cì cuộc sống của mình, mà là vì cuộc sống của Đảng, vì lợi ích nhân dân. Tiền nong chúng tôi không chú ý. Chúng tôi nhìn vào tiền chỉ có mà chết đói. Tất cả những thứ còn lại là vì lợi ích sự nghiệp, còn chúng tôi chỉ cần những thức cần thiết nhất. Bây giờ điều này đối với một số người quan liêu, có lẽ, lạ lùng. Nhưng đấy là sự thật. Trước cách mạng tôi làm thợ nguội và kiếm được 40-45 rúp một tháng, thế nhưng về vật chất thì tốt hơn khi làm bí thư tỉnh uỷ Moskva và Đảng bộ thành phố. Tôi không hối tiếc mà đơn giản chỉ minh hoạ chúng khi đó tôi sống như thế này. Chúng tôi sống cho sự nghiệp cách mạng, vì tương lai chủ nghĩa cộng sản, tất cả mọi người chúng tôi đềuchịu điều này. Quả là chúng tôi sống khổ. Nhưng chúng tôi hiểu rằng chúng tôi là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng chủ nghĩa xã hội và vì thế thắt lưng buộc bụng, để dành tiền cho công nghiệp hoá đất nước. Nếu khác đi lý tưởng chính cách mạng bị đánh gục và kẻ thù bóp cổ chúng tôi. Thời gian ấy sao tuyệt vời đến thế! Không có khó khăn vật chất nào có thể so sánh với lý tưởng vĩ đại mà chúng tôi tận tâm phục vụ!
Tôi đặc biệt hài lòng công tác ở Moskva, thủ đô lớn. Trước đây tôi chưa đụng chạm với kinh tế thành phố. Đối với tôi là mới mẻ chừng nào, thú vị chừng nào cả trong kinh tế, cả ở người dân, mà tôi giao tiếp, xem xét và giải quyết các vấn đề khác nhau của cuộc sống và cải tổ thành phố Moskva. Đó là công việc say mê, và tôi được cống hiến cho nó hoàn toàn. Tôi về nhà muộn vào ban đêm và, ra đi rất sớm. Nhưng trong những ngày, mà tôi đã kể, mọi việc tiến hành bình thường, nhưng đột ngột thay đổi vào đầu tháng 12-1934, khi chuông điện thoại réo và tôi nghe giọng Kaganovich:
- Đến ngay Kreml và vào phòng khách của Stalin.
Ở đó người ta nói cho tôi biết Kirov bị giết. Bọn sát nhân là bọn Troskit, bị tình báo nước ngoài lôi kéo. Rõ ràng là Kirov bị giết bởi kẻ thù cách mạng, kẻ thù của Liên Xô. Vì thế lời kêu gọi tinh thần cảnh giác vang lên từ miệng Stalin đối với chúng tôi là đương nhiên.
Những sự đàn áp mới được triển khai sau vài năm. Stalin gọi tất cả những người, không đồng ý với ông là “kẻ thù nhân dân”, những người muốn quay vềtrật tự cũ trong đó “kẻ thù nhân dân” gắn chặt với bọn phản động quốc tế. Sau đó hàng trăm nghìn người lương thiện bị giết. Lúc đó tất cả mọi người sống trong sự sợ hãi. Người ta những tiếng gõ cửa vào ban đêm, và tiếng gõ cửa đều đều này mang đến điều bất hạnh! Không phải ngẫu nhiên Gamarnik, bị gõ cửa vào ban đêm, đồng chí tự sát. Sau đó, vụ tự sát của Gamarnik làm cơ sở cho Stalin xác nhận ông là kẻ thù chưa bị vạch mặt, hiểu rằng không muốn bị đánh chết, không muốn đưa tay cơ quan luật pháp, đã tự sát. Nhưng nếu như Gamarnik đưa tay vào còng thì sao? Đằng nào cũng thế, người ta cũng bắn ông. Gamarnik là một người thông minh, hiểu cái gì đang đợi ông. Ông được minh oan sau Đại hội 20, cũng như nhiều người khác.
Nhưng trước tại Đại hội 20 cũng đặt vấn đề minh oan những người vô tội và về sùng bái cá nhân của Stalin, trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ xảy ra cuộc đấu tranh lớn. Thẳng thừng chống việc đưa ra vấn đề này là Molotov, Vorosilov và Kaganovich. Điều này tôi không sửng sốt, vì rằng những người này, đặc biệt Molotov và Vorosilov, cùng với Stalin chịu trách nhiệm về tất cả những việc làm vô luật pháp. Tôi tin rằng Stalin hội ý với họ, và họ cùng nhau chấp nhận quyết định. Vô điều kiện, không phải tất cả các ứng cử viên, khổ sở vì giết chóc, có một ý kiến thống nhất. Nhưng họ là một khối theo hướng biện pháp - giết hại dã man các Đảng viên. Họ là tác giả khẩu hiệu đấu tranh khét tiếng với “kẻ thù nhân dân”.
Khi chúng tôi xây dựng Uỷ ban nghiên cứu tỷ mỷ tài liệu liên quan với sự đàn áp, phát hiện trong số thư của Ezov gửi Molotov. Trong đó ghi họ tên các bà vợ của một loạt “kẻ thù nhân dân”, đề nghị đầy họ đi khỏi Moskva. Molotov đưa ra quyết định:
- Bắn.
Và họ đã bị bắn. Điều này thật là khủng khiếp: thậm chí NKVD viết là chỉ phải mang họ đi đầy; tiếp theo, không làm một tội ác nào khác. Tài liệu này, cũng như và một loạt tài liệu khác, xác nhận rằng Molotov ngang hàng với Stalin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự chuyên quyền, về sự giết người. Như thế họ đã giết hại những người không làm vừa lòng Stalin, những người này những người lương thiện những đảng viên, những người tốt, trải qua trường học đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo Lenin. Và mọi người bây giờ phải tha thứ và quên tất cả? Không bao giờ!
Một lần nữa nói về Beria
Trước đây tôi nhiều lần nói về Beria, nhưng chủ yếu là các sự kiện liên quan tới ông hoặc liên quan tới những người khác. Nhưng bây giờ tôi muốn nói hết riêng về Beria, vai trò và ảnh hưởng của ông đối với xã hội xô viết. Trong quá trình làm quen và gặp riêng với ông dần dần vạch trần và để lại cho với tôi những hiểu biết hơn về diện mạo chính trị của ông. Thời gian đầu, ông gây cho tôi ấn tượng rất tốt. Chúng tôi và ông tại những Plenum BCHTƯ luôn luôn ngồi bên cạnh, trao đổi ý kiến, có lần đùa nhau như giữa những người bình thường có những quan hệ tốt.
Còn sau đó, thì bắt đầu! Cũng không phải ngay lập tức. Khi Stalin nảy ra ý nghĩ, thay thế Dân uỷ nội vụ Yagoda bằng Ezov, vì Yagoda làm không đúng. Ezov là người lãnh đạo công tác cán bộ BCHTƯ Đảng. Tôi biết rõ ông. Từ năm 1929, khi tôi theo học tại Học viện công nghiệp, và đặc biệt sau khi tôi được chọn bí thư đảng bộ, Ezov ở mức độ nào đấy là người lãnh đạo tôi, vì rằng Học viện công nghiệp thuộc cơ quan Ban tổ chức cán bộ BCHTƯ và chịu sự lãnh đạo của BCHTƯ thông qua Ezov. Tôi như chi bộ cơ sở phải báo cáo về tình hình công việc tại Học viện công nghiệp cho ông. Nếu tiến hành động viên học viên Học viện thu thập tài liệu hoặc tiến hành chiến dịch chính trị gì đấy, thì BCHTƯ cũng trực tiếp qua tôi, và không ai có quyền sắp xếp họ, tập hợp mọi người để tiến hành chiến dịch chính trị nào đấy và v.v... tất cả được làm chỉ theo quyết định BCHTƯ. Các điều kiện được tạo ra như thế, nên tôi ít nhiều thường gặp Ezov. Ông gây cho tôi ấn tượng tốt, một người đáng chú ý. Tôi biết rằng Ezov - công nhân Piter và từ năm 1917 là Đảng viên. Cái mác “Piter công nhân” có giá trị cao!
Khi Ezov được điều động về NKVD, tôi cũng không biết cơ quan này hoạt động kiểu gì và lập luận của Stalin ra sao. Bản thân tôi quan hệ không tồi với Yagoda và không cảm thấy ông có hoạt động gì chống Đảng. Nhưng khi Ezov được bổ nhiệm thì việc đàn áp mạnh hơn. Đúng là bắt đầu giết chóc cả những cán bộ quân sự, cả dân thường, cả Đảng viên, cả cán bộ kinh tế. Ordzonikidze lãnh đạo công nghiệp nặng, Kaganovich lãnh đạo giao thông liên lạc. Ở nơi đó cũng xảy ra việc bắt bớ mọi người tràn lan. Nhân thể nói thêm, Ezov có những quan hệ bạn bè với Malenkov và cùng làm việc với ông. Nhưng Malenkov lại không đứng ở phía “bè lũ Ezov”.
Đầu năm 1938 Stalin gọi tôi và đề nghị làm việc tại Ukraina: nói rằng Kosior ở đó kém cỏi. Tôi rất kính trọng Kosior. Biết ông từ lần đầu tiên làm việc tại Ukraina là Tổng bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina sau Kaganovich, năm 1928. Kaganovich về BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b), còn Kosior đến thay chỗ ông. Năm 1929 tôi đề nghị cho tôi theo học tại Học viện công nghiệp, chính Kosior chấp nhận về vấn đề này. Việc Stalin đề nghị tôi thay thế Kosior, làm cho tôi chết điếng. Tôi đánh giá cao Kosior và cho rằng tôi không thể nào thay thế ông được, rằng tôi chưa lớn đến mức như thế. Và vấn đề dân tộc cũng có vai trò. Tôi, tất nhiên, từng công tác tại Ukraina và thậm chí ở Kiev. Sự thật Chính phủ CHXHCN Ukraina vẫn còn nằm ở Kharkov. Nhưng, đằng nào cũng thế, tôi là người Nga, tôi cảm thấy mình cũng không tháo vát. Tôi quan hệ tốt với người Ukraina - và những người cộng sản, và những người không đảng viên, tuy nhiên tôi thường xuyên cảm thấy còn nhược điểm là không thể phát biểu bằng tiếng Ukraina. Và tôi trả lời cho Stalin:
- Chưa chắc cử một người Nga đến đấy là hợp lý đâu.
Tuy nhiên Stalin chứng minh, người Nga chẳng có gì kém hơn người Ba Lan. Kosior là người Ba Lan tại Ukraina, vì sao người Nga lại kém hơn?
Tôi rất lo lắng vì không làm nổi. Nhưng không phủ nhận rằng đề nghị này làm tôi sung sướng: thế là BCHTƯ tin tôi, một chức vụ cao đến như thế! Và tôi đến Ukraina. Kosior trao lại công việc cho tôi, tôi nhận. Ông rời Ukraina và được bổ nhiệm đến chỗ Molotov là phó chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên Xô. Thời gian trôi qua, và cuối 1938 hoặc đầu 1939 bỗng nhiên vấn đề bổ nhiệm tôi cũng làm phó cho Molotov. Ban đầu, Molotov gọi cho tôi nói điều này, sau đó Stalin gọi, khi tôi đến Moskva:
- Này, Molotov vật nài xin ông về làm phó cho ông ấy. Hình như phải nhượng bộ Molotov thôi. Ông nghĩ xem?
Tôi đề nghị đừng làm điều này: vừa mới đến Kiev, người Ukraina có những quan hệ tốt với tôi. Chứng cớ chủ yếu nhất là ở chỗ chúng tôi sắp có chiến tranh, nhưng tôi ít nhiều biết Ukraina, nếu bây giờ cử đến đó một người mới, thì tất cả việc tổ chức sẽ phức tạp với ông ta, giá như chiến tranh nhanh chóng bùng nổ. Vì thế việc ra đi của tôi chưa chắc sẽ vì lợi ích sự nghiệp; còn đưa về Moskva, cứ nhặt những người khác còn dễ hơn. Stalin đồng ý tại cuộc họp Bộ chính trị:
- Thôi ngừng cuộc nói chuyện này lại, cứ để Khrusev ở lại Ukraina.
Năm 1938 Stalin đặt vấn đề phải “củng cố” Ezov, bằng cách đưa cho ông một người phó thứ nhất, và hỏi Ezov về điều này. Ezov trả lời:
- Tốt thôi.
- Ông chọn ai?
- Tôi yêu cầu cho tôi Malenkov làm phó thứ nhất.
Cuộc nói chuyện như thế phát sinh đôi lần, nhưng vấn đề không được quyết định. Cuối cùng Stalin nói Ezovу:
- Không, ông không được lấy Malenkov, vì rằng Malenkov bây giờ lãnh đạo Ban cán bộ BCHTƯ và ở đó cần hơn.
Khi Malenkov lãnh đạo Ban cán bộ BCHTƯ, Ezov vẫn còn là sếp trên Malenkov. Như thế, Ban tổ chức cán bộ lúc ấy thực tế vẫn dưới sự điều khiển của Ezov. Đây là thời kỳ mà Đảng bắt đầu loại bỏ những nhân vật trước đây và Đảng bắt đầu chịu sự lãnh đạo của Dân uỷ nội vụ. Ranh giới là giữa thập niên 30.
Tôi cho họp hội nghị Đảng bộ Moskva vào năm 1937. Tất cả các ứng cử viên được dự kiến đưa vào Đảng bộ tỉnh Moskva và thành uỷ Moskva, từ trước đã được xem xét và “được hoá phép” bởi Dân uỷ nội vụ. Không phải BCHTƯ, hơn nữa cũng không phải những đảng viên giải quyết, mà chính NKVD! Ông phát biểu lời cuối cùng phẩm chất của người được chọn nào đấy, về khả năng làm việc của người ấy trong cơ quan Đảng. Thề rằng, chúng khi đó tôi cho rằng đây là giúp đỡ tổ chức Đảng nghiên cứu cán bộ tốt hơn và vạch mặt kẻ thù, có thể luồn thậm chí vào ban lãnh đạo. Thời ấy, chúng tôi được giáo dục như thế!
Có một trường hợp. Tại một Học viện quân sự chính uỷ là một người cộng sản có bộ râu đẹp, khoảng 50 tuổi. Theo quan điểm Đảng bộ Moskva, ông là hoàn toàn xứng đáng chỗ của mình. Và hội nghị chấp nhận ông ta một cách tuyệt vời, khi bàn cãi vấn đề đưa ông vào danh sách ứng cử viên để bầu. Bỗng nhiên trước khi bỏ phiếu, Ezov gọi tôi và nói:
- Phải làm tất cả để làm bại người này. Ông ta không xứng đáng lòng tin, ông liên quan với kẻ thù nhân dân và sẽ bị bắt chẳng bao lâu nữa đâu.
Chúng tôi làm theo đề nghị của người ta. Nhưng xảy ra một sự rạn nứt về tinh thần và xấu xa đến mức ảnh hưởng đến các đại biểu hội nghị! Người ta bầu, người ta vỗ tay (còn ông đến đúng lúc dưới những tràng vỗ tay như pháo), và thế là chúng tôi phải chứng minh cho mọi người họ đừng bỏ phiếu cho ông. Chúng tôi đánh đổ ông. Ông giận dữ: Việc gì thế này? Đêm hôm sau, ông bị bắt, vấn đề đối với tất cả mọi người được sáng tỏ.
Một trường hợp khác. Emelian Jaroslavski - một lão thành bolsevich, một người được kính trọng trong Đảng. Ông được đưa làm ứng cử viên Đảng bộ Moskva ĐCS toàn Nga (b). Trong thời gian đó, Đảng bộ Moskva bầu nhiều uỷ viên Bộ chính trị và những nhà lãnh đạo khác của Đảng. Chính Stalin và những người khác cũng vào đấy, nhưng không phải tất cả. Người ta đưa cả Jaroslavski, còn ông là khi đó bí thư Hội đồng kiểm tra và được coi là nhân vật hoàn hảo về mặt Đảng. Bỗng nhiên Ezov (không phải Malenkov) gọi cho tôi và nói rằng phải đánh đổ Jaroslavski. Đây là một việc cực kỳ nặng nề đối với cá nhân tôi, tuy nhiên tôi phải thực hiện nhiệm vụ và nói với Bí thư chi bộ để họ tuyên truyền tương ứng trong Đoàn đại biểu của mình, để không bỏ phiếu cho Jaroslavski. Khi kiểm phiếu, té ra là Emelian dù sao chăng nữa vẫn được bầu, bất chấp hành động của chúng tôi, hình như, chỉ có “dư” một phiếu. Tôi nhớ, ngay sau hội nghị này, bà Zemlachka, người mà tôi kính trọng, gửi một bức thư lên BCHTƯ, buộc tội tôi, Thành ủy Moskva ĐCS toàn Nga (b) ở hội nghị tiến hành vận động chống Jaroslavski. Tôi không thể giải thích cho bà ngay lập tức rằng tôi thực hiện ý kiến của BCHTƯ. Sau này bà hiểu việc đó. Tất nhiên tuyên bố của bà không gây hậu quả xấu cho tôi.
Tình hình là như vậy. Các cơ quan NKVD có tiếng nói quyết định mọi sự điều động hoặc thuyên chuyển các cán bộ Đảng, nhà nước và kinh tế, và họ luôn luôn được sự đồng ý từ NKVD. Tất nhiên đây là hiện tượng xấu hổ, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng! Cuối cùng, Stalin đề nghị bổ nhiệm Beria là phó thứ nhất Beria cho Ezov. Trước thời kỳ này tại các cuộc tuần hành thường có các các tranh cổ động vẽ một chiếc găng nhọn. Cái lệ này đặt ra sau khi Stalin nói:
- Ezov - đây là găng của Ezov, đây là Ezov thân yêu.
Và ông bình phẩm tốt về hoạt động của Ezov. Nhưng khi Stalin bổ nhiệm Beria, thì sự thật là việc thay thế Ezov đã được hoạch định. Ezov hiểu đúng tất cả. Ông hiểu rằng ông đã hết thời và ngôi sao của ông vụt tắt. Nhưng ông từng trải và biết các cử chỉ này, cảm thấy việc này cũng có thể kết thúc cả sự tồn tại của ông. Tuy vậy, ông nói:
- Tất nhiên, đồng chí Beria là người đàng hoàng, ở đây không có vấn đề. Beria có thể không những là phó, mà còn Dân uỷ viên.
Stalin phản đối:
- Dân uỷ viên, tôi cho rằng, Beria không thể được, còn làm phó cho ông sẽ là tốt.
Và thế là Beria được chuẩn y làm phó Ezov.
Bởi vì у tôi có mối quan hệ tốt với Beria, tôi đến gặp ông sau cuộc họp và chúc mừng ông nửa đùa nửa thật. Ông trả lời:
- Tôi không nhận lời chúc mừng của anh.
- Vì sao?
- Anh cũng không đồng ý, khi có vấn đề anh và người ta lôi anh về làm phó cho Molotov. Như thế tại sao tôi phải vui việc tôi được bổ nhiệm phó cho Ezov? Với tôi, tốt hơn cả là cứ ở Gruzia.
Tôi không biết, ông nói điều này chân thật đến mức nào. Nhưng khi Beria chuyển về NKVD, thì thời gian đầu ông không ít lần nói chuyện với tôi:
- Cái gì thế này? Chúng tôi bắt giam tất cả mọi người liền tù tì, thậm chí nhiều nhà hoạt động nổi tiếng cũng ngồi tù, rằng chẳng lâu nữa sẽ không còn ai nữa, phải kết thúc việc này thôi.
Xuất hiện quyết định về “thái quá”. Nó được viết bởi ảnh hưởng của Beria. Nhân dân cho rằng Beria đến NKVD, sắp xếp, trình cho Stalin và Stalin nghe ông. Plenum của BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) có phê bình mạnh. Mỗi người phát biểu phê bình một ai đấy. Trong số này, tôi nhớ lời phát biểu Malenkov. Khi đó ông phê bình một trong những bí thư Đảng Trung Á (người này sau đó bị bắt). Sự phê bình nhằm chống sự khoe khoang. Malenkov nói rằng những nhà leo núi thực hiện cuộc leo núi lên đỉnh cao nhất trong dãy núi ở Trung Á và đặt tên của Bí thư Đảng Trung Á cho đỉnh núi này.
Người duy nhất, có chức vụ tương đối cao trong ban lãnh đạo Đảng cũng vì một lý do nào đó không tránh khỏi bị phê bình, đó là Khrusev. Nhưng người phát biểu là Yakov Arkadevich Yakovlev, lãnh đạo nông nghiệp của BCHTƯ Đảng, và phê bình tôi. Vả lại, cách phê bình của ông cũng tương đối cổ điển: ông mắng tôi vì rằng trong Đảng bộ Moskva đều gọi tôi là Nikita Sergeevich. Tôi cũng phát biểu và giải thích, đây là tên tôi và phụ danh, như thế người ta gọi đúng. Người ta cũng bóng gió nói rằng ngay tên ông không phải là Yakovlev, mà là Epstein. Ngay sau cuộc họp, Mekhlic đến với tôi, lúc ấy ông còn chủ bút báo Sự Thật, và phẫn nộ về lời phát biểu Yakovlev. Mekhlic là người Do Thái, biết truyền thống cổ của nhân dân mình và nói với tôi:
- Yakovlev - người Do Thái, nên ông cũng không hiểu rằng ở người Nga cũng thậm chí gọi nhau một cách chính thức theo tên và phụ danh.
Lời phát biểu Grigori Naumovich Kaminski là thế này. Lúc ấy Grigori Naumovich là Dân uỷ viên y tế Liên Xô. Đó là một đồng chí rất đáng kính có thâm niên trước cách mạng, nhiều lần gặp gỡ với Lenin. Tôi làm quen với ông, khi ngay khi bắt đầu công tác ở Đảng bộ Moskva. Ông lúc ấy là một trong những bí thư một đảng bộ Moskva ĐCS toàn Nga (b), sau đó là Chủ tịch đảng bộ tỉnh, sau đó người ta đưa ông vào làm Dân uỷ y tế nước Nga và sau đó là Liên Xô. Đây là một người thẳng tính, chân thật, có cảm giác thiêng liêng tính Đảng và biết lẽ phải. Ông nói:
- Ở đây tất cả mọi người phát biểu đều nói về cái gì họ biết về người khác. Tôi cũng muốn nói rằng để Đảng được biết điều này. Năm 1920 tôi được cử đến Baku và làm việc ở đó là bí thư BCHTƯ ĐCS Azerbaizan và Chủ tịch Xô viết Bankin, đã có tin đồn rằng đồng chí Beria trong thời gian Baku bị chiếm đóng, đã cộng tác với cơ quan phản gián của Musavist mà trước đó nó là phản gián Anh.
Không ai phát biểu phủ nhận. Thậm chí Beria cũng không phát biểu để chỉnh lại theo lý do này. Im lặng, và tất cả để đó... Nhưng chẳng bao lâu Kaminski bị bắt và mất tích. Vấn đề này sau này vẫn dằn vặt tôi lâu, vì rằng tôi tuyệt đối tin Grigori và biết rằng ông không bao giờ nghĩ ra một cái gì và phí công nhắc lại nó. Nhưng ai có thể cự được với NKVD và những những người lãnh đạo nó?
Khoảng một tháng sau một phiên họp BCHTƯ Đảng, mọi người tản ra ăn trưa. Tôi bị chậm một chút và không kịp đi. Lúc ấy Stalin gọi giật tôi:
- Khrusev, đi đâu thế?
- Đi ăn trưa.
- Đi với tôi, chúng ta cùng nhau ăn.
- Cám ơn.
Khi chúng tôi ra, Yakovlev lượn quanh Stalin. Ông tựa như không có lời mời lẽo đẽo theo Stalin và cũng xuất hiện ở nhà riêng của Stalin. Hai chúng tôi ăn trưa. Stalin nói chuyện, còn Yakovlev rất bồn chồn. Cảm thấy ông đang chịu đựng nhức nhói trong nội tâm. Có lẽ ông sợ người ta sẽ bắt giam ông, và muốn tìm kiếm sự bảo vệ ở Stalin. Tôi biết Yakovlev từ khi công tác tại Ukraina, tôi làm quen với ông ở hoàn cảnh thú vị. Lúc đó, vào giữa thập niên 20, cần giải quyết cánh đối lập Zinovevо-Kamenov. Khi chúng tôi đi đến Đại hội Đảng, thì Yakovlev đến gặp chúng tôi và thông báo cho chúng tôi về tình hình có thể nảy sinh tại Đại hội. Ông nói Zinovev, hình như sẽ là người đồng báo cáo. Điều này được thông báo theo cách để chúng tôi hiểu rằng ông là người được Stalin tin tưởng thông báo cho chúng tôi. Tôi nhắc đến điều này để thấy rằng con người này gần gũi Stalin và cống hiến tất cả sức lực để đấu tranh chống phe đối lập, còn sau đó cố gắng làm tập thể hoá. Dù thế, đối với ông ta, bây giờ tình hình khó khăn, mặc dù tôi không biết vì sao. Và ông cũng không nhầm, ông bị bắt, cho dù nhã nhặn, lịch thiệp trao đổi ý kiến với Stalin trong thời gian ăn trưa tại nhà riêng Stalin, và chẳng bao lâu cũng chết.
Plenum, mà tôi đang kể, vừa đúng ra quyết định, kết tội thái quá trong công tác NKVD. Plenum này đem lại cho nhân dân niềm tin kết thúc sự chuyên quyền man rợ, bao trùm trong nước và gây ra mất lòng tin ở mọi người: liệu người ta có còn sống không, liệu có thể bị giết không, hoặc liệu có bị mất tích không. Tôi, và nhiều người khác, hết lòng hết dạ tin vào Stalin, và chúng tôi tự buộc tội mình rằng chúng tôi như người mù, không nhìn thấy và không cảm thấy kẻ thù, không thính về chính trị, không có hiểu biết sâu sắc về đấu tranh giai cấp, không biết cách vạch mặt kẻ thù như đồng chí Stalin đã làm điều này. Dần dần tôi bắt đầu hiểu rằng tất cả còn xa lắm.
Một lần, tôi từ Ukraina về Moskva. Tôi ngồi ở chỗ Stalin, một phòng ở Kreml. Điện thoại réo chuông. Stalin đến máy, nói với ai đó, sau đó đặt ống nghe xuống và, tiến sát chúng tôi nói rằng Chubar gọi điện cho ông: khóc, lo lắng, chứng minh rằng ông là một người trung thực; còn giọng của Stalin nhại giống Chubar. Stalin tỏ ra thông cảm nỗi chịu đựng của Vlasa Yakovlevich. Và tôi rất ngạc nhiên, đúng hôm sau Chubar bị bắt, còn sau đó chết. Tôi biết Chubar khi công tác tại Ukraina, nơi ông là Chủ tịch Hội đồng dân uỷ. Tôi gặp ông tại Đại hội ĐCS Ukraina, để thảo luận công nhân mỏ than (có một thời gian ông lãnh đạo công nghiệp than Donbass). Mọi người kính trọng Chubar. Khi cả ông, cả tôi làm việc bên cạnh nhau ở Moskva, thì khi gặp nhau ông cũng luôn luôn gây ấn tượng rất tốt, đặc biệt trong ý nghĩ tính Đảng. Và bỗng nhiên?
Sau Plenum đã nói trên, đánh dấu sự giảm bớt việc bắt bớ, giam cầm, nhưng cũng không giảm không rõ nét. Mọi người tiếp tục cánh cánh sự mất tích, tựa như ở trên băng: có những vết nứt không có dấu vết, và không ai quay trở lại. Tôi chưa quen việc chuyển từ đảng bộ này sang Đảng bộ khác lôi kéo về mình những người, công tác với tôi trước đây: kéo lê cái đuôi như đã nói khi đó. Tôi lên án những phương pháp như thế. Tuy nhiên, khi về Ukraina, ở đó trong tư tưởng cán bộ, gọi là tinh khiết: không có Bí thư tỉnh uỷ, không Chủ tịch tỉnh, không Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ, không có phó của ông. Đấy là sự thất bại hoàn toàn sự lãnh đạo của Đảng, xô viết kinh tế. Tôi miễn cưỡng đề nghị Stalin quyết định cho lấy người từ Moskva.
Trong số những người như thế có cả Lusakov. Tôi biết ông công tác ở Moskva, dưới sự lãnh đạo của Badaev, ông phụ trách bộ phận hoa quả và rau và làm tôi hài lòng vì sự hợp tác, tinh thần vì công việc và tháo vát. Tôi xin Stalin, cho Lusakov làm Dân uỷ viên thương nghiệp tại Ukraina. Stalin đồng ý. Sau đó Lusakov cũng bị bắt. Đối với tôi đây là điều rất khó chịu. Thứ nhất, tôi biết rất rõ Lusakov, sau này tôi nói Stalin về việc của ông. Cái lần ông bị bắt, có thể được lý giải xấu rằng: tôi giới thiệu và nhận kẻ thù nhân dân. Thời gian trôi qua, và Lusakov được thả (khi đó hiện tượng này là hiếm). Ông về Ukraina, ông bị hành hạ, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Ông kể cho tôi, rằng ông bị hành hạ và người ta đòi hỏi ông phải chỉ tôi: tôi, dường như, tổ chức một âm mưu nào đấy. Té ra, lúc còn ở Moskva tôi làm tờ chứng nhận để cử Lusakov sang Ba Lan và Litva để mua hạt rau. Và thế là bây giờ người ta bắt ông phải chỉ ra rằng việc gửi ông ra nước ngoài nhằm phục vụ thiết lập một liên lạc chống các tổ chức xô viết. Ông kiên trì, không nhận và được tha. Tôi kể cho Stalin về điều này. Stalin nói với tôi:
- Đúng, có những điều quái gở. Và người ta cũng thu thập tài liệu gửi tôi. Ezov thu thập.
Một thời gian trôi qua, và vấn đề về Ezov lại đặt ra. Vị thế của ông bị lung lay. Sự sụp đổ hoàn toàn của Ezov xảy ra trước tình tiết như sau. Stalin gọi tôi:
- Có chứng cớ về Dân uỷ nội vụ Ukraina Uspenski, và chúng tôi không có nghi ngờ gì.
Tôi nghe qua điện thoại tưởng Stalin nói Usenko, một cán bộ Đoàn thanh niên. Stalin nói:
- Có thể bắt ông ta không?
- Có thể, nếu có lệnh.
- Bắt đi!
Nhưng khi Stalin bắt đầu giải thích thêm chi tiết, tôi hiểu rằng đang nói về Uspenski. Tôi chưa kịp đặt ống, Stalin lại gọi:
- Về việc Uspenski, không cần làm cái gì cả. Tự chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi sẽ gọi ông ta về Moskva và trên đường chúng tôi sẽ bắt giam.
Tôi chuẩn bị đi đến Dnepropetrovsk. Khi tôi đến, Uspenski đi về Moskva. Tôi có linh tính rằng ông Uspenski không về Moskva, vì ông đoán được rằng có thể bị bắt. Và, ông chạy trốn, tôi nói với Korochenko, Chủ tịch Hội đồng dân uỷ Ukraina:
- Anh giả vờ gọi cho Uspenski về công việc, theo dõi ông ta, chính anh thay tôi làm việc này.
Buổi sáng tôi đi đến Dnepropetrovsk, thì Beria gọi tôi. Chính Beria, mà không phải Ezov:
- Này, anh chạy đi khắp ngả đi, Uspenski của anh bỏ chạy rồi.
- Sao?
- Hắn bỏ chạy, thế thôi!
Tôi cấp tốc quay về Kiev. Quả là, Uspenski không thấy đâu. Sau đó, khi tôi có mặt ở Moskva, Stalin nói với tôi hình như Ezov cảnh báo Uspenski:
- Ezov nghe trộm chúng tôi, khi tôi nói chuyện với ông, và cảnh báo Uspenski qua điện thoại.
Trước đó Stalin từng không ít lần phát biểu tỏ ý không hài lòng những hoạt động Ezov, ngừng tin Ezov và muốn gạt bỏ ông. Sau này Ezov bị bắt. Và các phó của ông cũng bị bắt. Nói chung bất kỳ ai quan hệ với Ezov cũng bị bắt. Lúc đó mây đen treo trên đầu Malenkov, bạn thân của Ezov. Stalin biết điều này. Và tôi cũng biết Ezov là bạn với Malenkov đã nhiều năm. Chúng tôi làm việc cùng với nhau từ lúc công tác Đảng bộ Moskva. Tôi nhận thấy người ta nghi ngờ Malenkov trong trường hợp thế này. Có lần tôi từ Ukraina về Moskva, Beria mời tôi đến nhà nghỉ của ông:
- Đến đi, tôi ở một mình, không có ai hết. Cùng nhau dạo chơi, anh và tôi ngủ ở đây.
- Được thôi, đằng nào cũng thế, tôi cũng một mình.
Tôi đến, chúng tôi đi dạo trong công viên. Và Beria nói với tôi:
- Nghe nhé, anh không nghĩ gì về Malenkov à?
- Nghĩ cái gì cơ?
- Ezov bị bắt ấy mà.
- Có lẽ đúng, họ làm bạn nhau - tôi nói - Nhưng cũng như anh đánh bạn với tôi, và tôi cũng vậy. Tôi nghĩ rằng Malenkov - là người trung thực, hoàn hảo.
- Không, không, nghe đây, cứ nghĩ đi, anh bây giờ cũng gần với Malenkov, nghĩ đi!
Ừ, tôi nghĩ, nhưng tôi chẳng làm kết luận gì đặc biệt cả và tiếp tục kết bạn với ông. Khi về Moskva, trong những ngày nghỉ tôi luôn luôn ở chỗ ở nhà nghỉ cuối tuần Malenkov. Tôi cho rằng Stalin nói để Beria cảnh báo tôi về Malenkov. Sau này Malenkov gần gũi và đánh bạn với Voznesenski, còn sau đó trở thành một người bạn không rời nhau với Beria.
Sau khi bắt Ezov, Beria nhanh chóng thu vén quyền lực. Ông quan tâm trước tiên là sắp xếp lại cán bộ. Ở Ukraina khi đó không có Dân uỷ NKVD, và Beria cử Kobulov đến nhận cương vị này. Kobulov là em trai của Kobulov đang làm phó cho Beria, Dân uỷ nội vụ Liên Xô, từng làm việc trước đây với Beria ở Gruzia. Đối với Ukraina, Kobulov vẫn chỉ là một chú nhóc, và chưa được đào tạo. Có lần ông đến BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina và nói rằng phải bóc trần nhóm người dân tộc chủ nghĩa Ukraina, vì nhóm này đang hoạt động chống lại sự nghiệp xô viết. Tôi nói với ông:
- Có thể về nguyên tắc điều này có như thế. Nhưng cụ thể là ai? Xin cho họ tên.
- Tên... tên....
Và ông nói tên một số nhà văn và những nhân vật trí thức khác. Tôi biết rõ họ. Và trong số những người ông nhắc đến, có Rylski. Tôi trả lời:
- Những người này không thể nào chống lại sự nghiệp xô viết. Họ có thể tỏ ra không hài lòng, phát biểu chỉ trích, nhưng điều này hoàn toàn không phải là những người chống xô viết. Nhưng người ta buộc tội họ cụ thể là cái gì? Nhân viên mật vụ nói với ông điều này phải không?
- Họ tụ tập nhau, uống rượu, rồi hát.
- Chỉ có thế thôi ư?
- Họ hát bài hát như thế này: “... Vâng anh đi, nguyện vọng của tôi, tôi không báo anh đâu....”
Tôi cười vang:
- Ông là người Armenia và không biết văn hoá Ukraina. Mật vụ của ông nhạo báng ông đấy, nếu họ viết những điều như thế. Mọi người đều hát bài này. Nếu chúng tôi và anh khi nào đó tụ họp thành nhóm, thì tôi không đảm bảo rằng tôi không cùng tụ hợp mọi người hát bài này. Đây là bài dân ca rất hay của Ukraina.
Thế mà ông ta là người ở chức trách Dân uỷ!
Cũng trong tuần lễ đó, một nhân vật khác được Beria bổ nhiệm về Belorussia. Beria cử đi khắp nơi cán bộ của mình. Thời kỳ này, tình hình phức tạp đến mức tất cả cán bộ được điều động đến công tác Đảng, xô viết, kinh tế hoặc quân sự đều phải qua “hoả ngục” ở NKVD. NKVD trở thành những cơ quan chủ yếu của đất nước. Nhưng bất kỳ một cán bộ lãnh đạo nào nói chung được đưa ra chỉ với sự đồng ý sơ bộ của Beria. Dần dần chúng tôi và Beria rất hay gặp nhau ở chỗ Stalin, và tôi bắt đầu biết rõ hơn về Beria. Khi đó tôi với Beria còn tốt với nhau và chỉ sau này tôi bị thất bại bởi lá mặt lá trái của ông. Một thí dụ. Beria có thể ở Stalin ăn trưa, đặt một vấn đề gì đấy; và, nếu Stalin gạt đi, thì Beria nhìn vào ai đấy trong số những người đang có mặt và nói:
- Tôi cũng nói với anh rằng vấn đề này không cần phải đưa ra.
Tôi há mắt và há mồm: sao điều này có thể thất thố như thế ở chỗ Stalinе? Chính Stalin mặc dù cũng in lặng, nhìn thấy và nghe được cái gì mà chính Beria vừa mới đặt vấn đề này. Và không sao! Đấy là sự phản bội. Theo cung cách Beria được “củng cố”, sự trơ trẽn và đê tiện cũng thể hiện ngày càng rõ nét hơn.
Trước đây tôi đã nghe hồi lâu rồi Redens là phó Dân uỷ nội vụ ở Gruzia ở Beria. Redens biết rõ cán bộ cũ. Tôi nhiều lần gặp ông, khi ông làm toàn quyền NKVD tỉnh Moskva. Ngoài ra, tôi thường gặp ông ta bầu không khí gia đình, trong các bữa cơm gia đình ở Stalin, vì Redens lấy Anna Sergeevna, em gái của Nadezda Sergeevna Alliluev (vợ Stalin). Chính thế Beria phải thực hiện đẩy Redens ra khỏi gia đình Stalin? Ban đầu ông đặt nhiệm vụ tống khứ Redens khỏi Gruzia, vì rằng không muốn Stalin có một người thông tin từ Gruzia ngoài ông, Beria. Và ông trao quyền cho tay chân của mình dụ dỗ Redens vào quán rượu. Họ lợi dụng tính nhu nhược của ông, chuốc rượu để ông say, sau đó dẫn ông ra và quẳng ông vào rãnh nước bên hè phố. Cảnh sát đi ngang qua, và nhìn thấy Redens nằm lăn ở tình trạng như thế, trình lên trên. Và việc việc đi tiếp! Người ta đặt vấn đề trước Stalin rằng Redens mất uy tín. Thế là Redens, bị triệu hồi từ Gruzia về tỉnh Moskva. Sau đó người ta gạt Redens khỏi Kreml, nơi sống, và nói chung là vứt bỏ.
Năm 1953, khi gạt bỏ Beria, BCHTƯ ĐCSLX đã nhận một bức thư từ một người Gruzia từng bị kết tội. Trong một bức thư dầy, ông kể bao nhiêu người ở Gruzia là nạn nhân của Beria do các vụ thanh trừng. Nhưng điều này, tất nhiên, chỉ có thể xảy ra sau khi Beria bị bắt. Nhưng trước đây chắc chắn người ta đã giữ một bức thư như thế. Cuộc chiến tranh vệ quốc đã làm tăng ảnh hưởng của Beria. Khi đó Beria có uy lực lớn. Stalin lơ là kiểm tra Beria, đặc biệt những tháng nặng nề chúng tôi rút lui trên mặt trận. Beria dần dần trở thành cán bộ Đảng đáng gờm. Ông ảnh hưởng cả đến những người quanh Stalin. Ở đó đội ngũ phục vụ bị thay. Trước đó ở chỗ Stalin làm việc chủ yếu là người Nga. Những người bồi bàn vẫn là những người Nga nhưng cũng xuất hiện cả người Gruzia. Mỡ nó rán nó, Beria thậm chí trở thành tướng như thế, và mỗi lần đến Tổng hành dinh, tôi thấy ông đeo những cuống huân chương và với cái băng - chứng thực phần thưởng kỹ năng nướng thịt. Có lần Stalin nhận xét để tôi xem xét các cuống huân chương trên ngực vị tướng mới xuất hiện, nhưng tôi không nói gì cả, và tôi cũng im lặng.
Sau chiến tranh – khỏi phải nói! Beria trở thành uỷ viên Bộ chính trị. Cả Malenkov cũng thu vén quyền lực, mặc dù tình thế của ông thay đổi cách chu kỳ cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh - Có lần Stalin thậm chí đầy ông về Trung Á. Lúc ấy, Beria cũng thò tay giúp đỡ ông, và sau đó họ thành những người bạn không rời nhau nửa bước. Stalin tại bàn ăn không hiếm khi gọi đùa họ là hai tên lừa đảo, nhưng không phải giọng thoá mạ, mà tựa như hữu nghị. Ở đây, người ta nói là, đây là hai con bài trùng lừa đảo. Lúc ấy không có Beria đúng là không giải quyết được việc gì cả. Thậm chí gần như không thể trình nổi một cái gì cho Stalin, nếu Beria không ủng hộ. Đằng nào cũng thế, Beria, nếu anh báo cáo khi có mặt ông, nhất định những việc của anh xoay quanh bởi đủ loại vấn đề và phản vấn đề, và mất uy tín trong con mắt của Stalin và sự sụp đổ.
Thời kỳ này Beria không trọng và coi thường Malenkov, chỉ theo đuổi đánh bạn với ông vì mục đích riêng. Beria bản thân có lần nói với tôi:
- Hãy nghe đây, Malenkov - một người nhu nhược. Nói chung một con dê, có thể đột ngột nhảy phốc ra, nếu không giữ nó. Vì thế tôi giữ ông ta và ủng hộ, đi với ông. Dù sao ông cũng là người Nga và có văn hoá, có thể có hữu ích khi cần.
“Có hữu ích” là điều chủ yếu ở Beria. Tôi, Malenkov và Bulganin làm bạn với nhau khi công tác Đảng ở Moskva. Chúng tôi khi đó thường cùng nhau trong những ngày nghỉ, sống cùng nhau ở nhà nghỉ cuối tuần. Vì thế, dù Malenkov thể hiện sự trơ trẽn nhỏ mọi nào đấy đối với tôi trong thời gian chiến tranh, đặc biệt khi Stalin tỏ ra không hài lòng với tôi, tôi không phá vỡ mối quan hệ với ông.
Việc Stalin không hài lòng tôi xảy ra trong thời kỳ rút lui: bỏ Ukraina? Ông tìm người có lỗi, người sẽ phải chịu tôi vì thất bại. Tất nhiên tôi là người đầu tiên cần phải trả lời, vì lúc ấy tôi là bí thư BCHTƯ ĐCS Ukraina. Mặc dù tổng tư lệnh là Stalin, nhưng ông tựa như không chịu trách nhiệm gì cả, mà chỉ những cấp dưới. Cả Malenkov cũng tốn tránh trách nhiệm. Vả lại, tôi không buộc lỗi Malenkov. Sau chiến tranh, có lần tôi đến Sochi gặp Stalin theo lời mời của ông (tôi - từ Ukraina, Malenkov và những người khác - từ Moskva) để xem xét những vấn đề nào đấy, sau đó đi dạo, tôi đi với Malenkov và nói với ông:
- Tôi ngạc nhiên, chẳng lẽ anh không nhìn thấy, và không hiểu, Beria đối xử với anh như thế nào?
Malenkov im lặng.
- Anh nghĩ đi - tôi tiếp tục - ông tôn trọng anh cái gì? Theo tôi, ông nhạo báng anh đấy.
Cuối cùng Malenkov trả lời:
- Đúng, tôi thấy, nhưng tôi có thể đành chịu?
- Tôi đơn giản muốn để anh thấy và hiểu. Nhưng chắc là bây giờ anh có thể phải chịu thôi.
Tiếp theo, tôi có những lo sợ nhất định. Đến lúc mà Stalin chết, thời điểm đó, đất nước có thể rơi vào tình thế nặng nề - không có lãnh tụ. Tôi sợ ông chết. Và còn sợ hơn nữa về hậu quả: sau này có còn Liên Xô nữa không?
Những năm ấy, dù tôi từ lâu nghi ngờ tính xác đáng của những lời buộc tội “kẻ thù nhân dân”, nói chung tôi chưa phát sinh không tin vào Stalin. Tôi cho rằng việc xảy ra là thái quá, tuy nhiên chủ yếu vẫn là đúng. Thậm chí tôi suy tôn vì rằng Stalin ông không sợ phiền toái, vẫn tiến hành thanh trừng và chính là đoàn kết, gắn chặt những người thiện. Tuy nhiên đầu thập niên 50 tôi cũng suy nghĩ khi Stalin chết cần làm tất cả để không để cho Beria chiếm thế thượng phải trong Đảng. Nếu không như thế, - Đảng kết liễu! Tôi cho rằng có thể bị mất tất cả thành quả, sự xâm chiếm cách mạng, bởi vì Beria quay sự phát triển từ chủ nghĩa xã hội sang con đường chủ nghĩa tư bản. Ý nghĩ của tôi là như thế.
Một lần, khi tôi đang ở Lvov, Stalin gọi tôi cấp tốc về Moskva. Đó là những tháng cuối năm 1949. Tôi đi và không biết cái gì đang chờ tôi. Có thể có phần thưởng bất ngờ. Bầu không khí khi đó là như thế. Tôi đi và không biết, tại sao lại đi, đi đâu và có quay lại được không. Bulganin biểu hiện những chịu đựng giống tôi, có lần sau bữa ăn ở Stalin, Bulganin nói với tôi:
- Ừ anh đến chỗ Stalin ăn cơm tựa như một người bạn, mà anh không biết liệu mình có trở về nhà hoặc người ta dắt anh đi chỗ khác.
Ông nói điều này với mức độ khá nặng. Nhưng chính lại tỉnh táo trong đầu... Bulganin phản ánh ý nghĩ của người người, nếu không phải tất cả chúng tôi. Có bầu không khí chung không tin tưởng vào ngày mai. Thế là tôi về Moskva. Stalin nói:
- Ông ngồi tương đối lâu tại Ukraina rồi đấy. Ông đã làm việc ở đó nhiều năm.
- Đúng, cũng nhiều năm. Thời gian đã trôi qua với tôi ở đó, mặc dù mối quan hệ với tôi ở đó rất tốt, và tôi cám ơn tất cả mọi người xung quanh tôi và giúp đỡ tôi trong công tác tại Ukraina.
- Chúng tôi muốn đưa ông về Moskva. Có bất ổn ở Leningad, có những mưu phản ở đó. Moskva cũng không yên, và chúng tôi muốn ông lại lãnh đạo Đảng bộ Moskva. Để Đảng bộ Moskva làm chỗ dựa cho BCHTƯ.
Tôi nói với ông:
- Nếu ông tin, thì tôi sẽ hết sức mình làm tất cả việc đó, và tôi thích quay về Moskva với tư cách Bí thư Thành uỷ Moskva.
- Đúng, không những thế, ở đây ông sẽ còn là bí thư BCHTƯ.
Cuộc nói chuyện này vừa vặn trước lễ 70 tuổi của Stalin. Và ông nói thêm:
- Ông nhớ về trước sinh nhật của tôi.
Tôi cũng đến vào những ngày của tháng mười hai. Trao lại công việc tại Ukraina, tôi quay về Moskva. Lúc ấy tôi được chọn làm bí thư Đảng uỷ Moskva, tôi bắt đầu làm việc mới. Tôi nhanh chóng nhìn thấy, rằng chuyến quay về Moskva của tôi đi ngược với đề nghị của Beria và Malenkov. Tôi khi đó có ấn tượng rằng Stalin (ông không nói với tôi điều này), gọi tôi về Moskva, muốn gây ảnh hưởng đến bố trí lực lượng tại thủ đô và giảm bớt vai trò Beria và Malenkov. Thậm chí đôi lúc tôi cảm thấy rằng bản thân Stalin cũng sợ Beria, vui sướng được được cứu thoát khỏi hắn, nhưng không biết làm thế này cho tốt hơn. Việc chuyển tôi về Moskva có lẽ là tương phản chúng tôi trói tay Beria. Stalin, như tôi cảm nhận, đối xử tốt với tôi và tin tôi. Mặc dù ông thường phê bình tôi, nhưng sau đó cũng ủng hộ, và tôi đánh giá điều này.
Cái chết của Stalin
Tháng hai 1953 Stalin đột ngột ốm. Việc này xảy ra như thế nào? Tất cả chúng tôi ở cạnh ông vào thứ bẩy. Việc này xảy ra sau Đại hội 19, khi Stalin còn “treo” số phận Mikoian và Molotov. Tại Plenum đầu tiên sau Đại hội, ông đề nghị thay thế Bộ chính trị, bằng Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng gồm 25 người và điểm tên nhiều người mới. Tôi và nhiều uỷ viên Bộ chính trị rất ngạc nhiên, cái danh sách ấy được lập ra như thế nào và ai lập? Chính Stalin cũng không biết những người đang giúp ông. Đến bây giờ tôi không biết thực chất. Hỏi Malenkov, ông trả lời rằng bản thân ông không biết. Theo tình thế ấy, Malenkov lẽ ra phải tham gia vào việc cải cách Đoàn chủ tịch, chọn người và lên danh sách, nhưng lại không được làm. Có thể tự tay Stalin làm? Theo một số dấu hiệu, tôi giả thiết rằng Kaganovich giúp Stalin chọn cán bộ mới. Bên trong Đoàn chủ tịch, có một Văn phòng hẹp hoạt động. Đoàn chủ tịch thực tế cũng không tập hợp các vấn đề, mà tất cả các vấn đề lại do Văn phòng này giải quyết. Đây là Stalin nghĩ ra một công thức hoàn toàn không có trong điều lệ: không có Văn phòng nào như thế tìm thấy trong Điều lệ Đảng.
Stalin xây dựng Văn phòng Đoàn chủ tịch để làm gì? Hình như Stalin muốn lập tức tống cổ Molotov và Mikoian, và ông làm một Đoàn chủ tịch mở rộng, còn sau đó chọn vào Văn phòng một số nhân vật. Như ông nói, là để lãnh đạo linh hoạt. Và trong Đoàn Chủ tịch Văn phòng này không có Molotov, không có Mikoian, nghĩa là “treo” họ. Tôi tin rằng giá như Stalin sống lâu thêm một thời gian nữa, cuộc đời của cả hai Molotov và Mikoian sẽ kết thúc một cách thê thảm. Nói chung, ngay lập tức sau Đại hội Đảng 19, Stalin tiến hành chính sách cô lập Molotov và Mikoian, không mời họ đi đâu cả, không đến nhà nghỉ, không đến nhà riêng, không đến xem phim mà chúng tôi trước đó thường đi cùng với nhau.
Nhưng Vorosilov được bầu vào Văn phòng Đoàn chủ tịch. Khá thú vị, có lần chúng tôi ngồi ở chỗ Stalin vì một bản án kéo dài đã lâu, bỗng nhiên ông nói:
- Vorosilov chui vào Văn phòng như thế nào?
Chúng tôi không nhìn vào ông, mắt đang cụp xuống. Thứ nhất, vì câu nói “chui vào”? Sao mà Vorosilov có thể “chui vào”? Sau đó chúng tôi nói:
- Chính ông bổ nhiệm Vorosilov, và ông là được bầu.
Stalin không phát triển chủ đề này thêm nữa. Tuy nhiên tuyên bố của ông cũng hiểu được, vì Vorosilov trước Đại hội 19, chưa lôi cuốn vào công tác như một uỷ viên Bộ chính trị: ông không tham gia các phiên họp, không nhận tài liệu. Stalin nói với chúng tôi trong vòng hẹp rằng ông nghi Vorosilov là điệp viên Anh. Không tưởng tượng được, tất nhiên, sự ngu ngốc này. Nhưng ông có lần “nghi ngờ” Molotov. Tôi có mặt nhà nghỉ cuối tuần ở Stalin tại Novo Afon. Và bỗng nhiên trong đầu ông lởn vởn ý nghĩ rằng Molotov là điệp viên của đế quốc Mỹ, bán mình cho Mỹ, vì rằng năm 1945 sang Mỹ bàn về Liên Hiệp Quốc đi trên toa xe hoả đặc biệt sang trọng. Nghĩa là, có toa riêng, như thế là bị bán rồi! Chúng tôi giải thích là Molotov không thể nào có một toa xe riêng nào cả, ở Mỹ các toa xe thuộc về các hãng xe lửa tư nhân. Đấy, đầu óc mụ mị của Stalin trong những tháng cuối cùng của cuộc đời.
Và có lần vào thứ bẩy ông gọi chúng tôi vào Kreml. Ông đích thân mời tôi, Malenkov, Beria và Bulganin. Chúng tôi đến. Ông nói:
- Chúng ta xem phim.
Chúng tôi xem. Sau đó ông lại nói:
- Đi thôi, chúng ta sẽ ăn ở một nhà nghỉ gần.
Chúng tôi đén đó, ăn tối. Bữa ăn kéo dài. Stalin gọi những bữa ăn tối như thế, một bữa ăn rất muộn là “bữa trưa”. Chúng tôi ăn xong, có lẽ, 5 hoặc 6 giờ sáng. Thời gian bình thường, khi kết thúc “bữa trưa”.
Stalin rất vui vẻ, có mối thiện cảm rất tốt về tinh thần. Không ai chứng minh rằng có thể xảy ra một điều bất ngờ gì đó. Chúng tôi từ giã và ra về.
Chúng tôi ra chỗ treo áo, Stalin, như thường lệ, đi đến chỗ chúng tôi. Ông hay đùa, giơ tay, những ngón tay thọc vào bụng tôi, gọi Mikita. Khi nào ông có mối thiện cảm tốt về tinh thần, ông luôn luôn gọi tôi theo tiếng Ukraina là Mikita. Chúng tôi cũng ra về trong tâm trạng tốt, vì rằng không xảy ra cái gì xấu trong bữa ăn, mà không phải bữa ăn nào cũng được kết thúc tốt đẹp như thế này. Chúng tôi ai nấy về nhà. Tôi chờ đợi, vì sáng mai là ngày nghỉ, Stalin nhất định gọi chúng tôi, vì thế cả ngày tôi không dám ăn, nghĩ có thể là ông lại mời sớm hơn? Sau đó tôi ăn qua loa. Không và vẫn không có chuông! Tôi không tin là ngày nghỉ có thể uổng phí thế này, điều gần như ít xảy ra. Nhưng không! Cũng đã muộn, tôi cởi quần áo, chui lên giường.
Malenkov bỗng nhiên gọi tôi:
- Một thằng nhóc ở chỗ Stalin (ông nói tên), nhân viên Cheka, vừa gọi đến cho tôi và họ băn khoăn nói rằng dường như một điều gì đó xảy ra với Stalin. Phải nhanh chóng đến đó. Tôi gọi cho anh và đã báo cho Beria và Bulganin. Đến thẳng đó nhé.
Lúc ấy, tôi cho gọi xe. Xe của tôi đang ở nhà nghỉ cuối tuần. Tôi mặc nhanh quần áo, đi ngay đến đó, mất chừng 15 phút. Chúng tôi đã quy ước với nhau là không đi vào chỗ Stalin, mà đến trực ban. Chúng tôi rẽ vào, hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Họ trả lời:
- Bình thường đồng chí Stalin vào thời gian 11 giờ, nhất định gọi mang trà cho ông. Có lúc thì ông đòi món ăn. Bây giờ không thấy điều này.
Chúng tôi cử đi bà Matrena Petrovna người đi thám thính, bà ta là người hầu phòng, một phụ nữ không còn trẻ và nhiều năm phục vụ ở chỗ Stalin, ít hiểu biết, nhưng là một phụ nữ trung thành với ông.
Nhân viên Cheka nói với chúng tôi rằng họ cũng đã cử bà đến đó xem tình thình ra sao. Bà kể là đồng chí Stalin nằm ở trên sàn, ngủ, còn dưới ông có nước. Nhân viên Cheka đỡ ông dậy, đặt ông lên đi văng ở phòng làm việc nhỏ. Ở ấy có một phòng làm việc nhỏ và một phòng làm việc lớn. Stalin nằm ở sàn phòng làm việc lớn. Tiếp theo họ đặt ông lên giường, đi qua phòng làm việc, nơi ông trượt ngã bị ướt. Khi đó họ kể cho chúng tôi cũng có lần xảy ra như thế như thế và bây giờ ông dường như đang ngủ, chúng tôi cho rằng không có lợi chúng tôi xuất hiện ở chỗ ông và ghi lại sự có mặt của mình, nhìn thấy ông ở đó trong tình thế không đẹp như thế này. Chúng tôi trở về nhà.
Một lúc sau, tôi lại nghe chuông. Một lần nữa, Malenkov gọi:
- Thằng nhóc ở chỗ đồng chí Stalin lại gọi điện nói rằng một điều gì đó với ông không phải như thế. Mặc dù Matrena Petrovna cũng nói rằng ông ngủ ngon, nhưng đây là một giấc ngủ không bình thường. Phải đến đó một lần nữa đi.
Chúng tôi thoả thuận rằng Malenkov gọi tất cả các uỷ viên Văn phòng, kể cả Vorosilov và Kaganovich là những người không có mặt trong bữa ăn và không có đến đến nhà nghỉ lần đầu. chúng tôi cũng thoả thuận gọi cả bác sỹ. Chúng tôi đến chỗ trực ban. Có mặt Kaganovich, Vorosilov, bác sỹ. Trong số bác sỹ, tôi nhớ tên giáo sư tim mạch nổi tiếng Lukomski. Nhưng cùng với ông còn có cả những nhân viên y tế mà tôi không nhớ tên. Chúng tôi vào phòng. Stalin nằm trên đi văng. Chúng tôi nói với bác sỹ để họ bắt đầu công việc của mình và kiểm traл tình trạng đồng chí Stalin. Người đầu tiên là Lukomski, rất cẩn thận, và tôi hiểu ông. Ông sờ vào tay Stalin, như là sờ cục sắt nóng, thậm chí tay giật giật. Beria thô lỗ nói:
- Ông là bác sỹ, phải biết làm chứ?
Lukomski tuyên bố rằng tay phải Stalin không hoạt động, tê liệt chân trái, và không nói được. Tình huống thật nặng nề. Lúc ấy người ta lập tức rạch quần áo Stalin, mặc quần áo mới và đặt ông lên đi văng ở phòng lớn, nơi ông thường ngủ và có nhiều không khí hơn. Lúc đó chúng tôi quyết định đặt trực ban bác sỹ bên cạnh với ông. Chúng tôi, các uỷ viên Văn phòng Đoàn chủ tịch, cũng phải thường xuyên trực. Sắp xếp như thế này: Beria và Malenkov hai người trực, Kaganovich và Vorosilov, tôi và Bulganin. Nhưng “chủ lực” là Malenkov và Beria. Họ họ trực sáng, chúng tôi với Bulganin trực đêm. Tôi rất lo lắng và, thú nhận rằng tôi tiếc là có thể mất Stalin, người đang nằm trạng thái nguy kịch. Bác sỹ nói rằng mắc chứng bệnh như thế này hầu như không ai có thể quay lại làm việc. Người ta có thể còn sống nhưng không còn khả năng làm việc, có lẽ phần nhiều những căn bệnh như thế này không tiếp tục, mà kết thúc bằng thảm hoạ.
Chúng tôi thấy rằng Stalin nằm bất tỉnh: không biết ông ở trạng thái nào. Người ta cho ông ăn bằng từng thìa nước dùng và trà đường. Các bác sỹ đứng ở đó. Họ lấy nước tiểu của ông, ông vẫn nằm bất động. Tôi nhận xét rằng khi hút nước tiểu ông cố gắng như được che chở, cảm giác không lanh lợi. Nghĩa là, có biết một điều gì đó. Một hôm Stalin hơi tỉnh. Nét mặt ông thể hiện rõ điều này. Nhưng ông không thể nói, cất tay trái và bắt đầu chỉ lên trần, rằng chỉ xuống đất, chỉ vào tường. Môi ông mấp máy tựa như cười. Sau đó bắt đầu nắm tay chúng tôi. Tôi chìa tay mình cho ông và ông chìa tay trái, tay phải không cử động. Bằng việc nắm tay, ông truyền cảm giác của mình. Lúc đó tôi nói:
- Ông biết, vì sao ông chìa tay cho chúng tôi? Trên tường treo một bức tranh, được cắt từ tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”, in lại bức tranh của hoạ sỹ này. Trong bức tranh có một cô gái đang cho thiên thần nhỏ bú một chai sữa. Nhưng chúng tôi cho đồng chí của Stalin ăn bằng thìa, và ông, có lẽ chỉ ngón tay lên bức tranh, mỉm cười: này, hãy xem, tôi trong trạng thái này cũng giống như những thiên thần nhỏ.
Ngay khi Stalin trút hơi thở cuối cùng, Beria công nhiên sùng sục những hành động độc ác chống Stalin. Beria chửi rủa ông, và nhạo báng ông. Đơn giản là không thể nghe ông được! Cũng hay, vả lại, ngay lúc Stalin có được cảm giác và hiểu có thể khỏi bệnh, Beria sán lại ông, đặt tay lên đầu gối, lắc tay ông và bắt đầu hôn tay ông. Khi Stalin lại hôn mê và nhắm mắt, Beria cất bước và nhỏ ra sàn. Chân dung của Beria đấy! Quỷ quyệt thậm chí trong quan hệ với Stalin, người mà Beria từng như tán tụng và sùng bái.
Đến phiên trực của tôi với Bulganin. Chúng tôi vào ban ngày cùng với ông đến chỗ Stalin, khi có các giáo sư, và chúng tôi trực đêm. Tôi với Bulganin khi đó là khá cởi mở hơn so với những người khác, tôi tin ý nghĩ cởi mở nhất của ông và nói:
- Nicolai Aleksandrоvich, thấy chưa, bây giờ chúng ta ở trong tình thế là Stalin chẳng bao lâu sẽ chết. Ông chắc là không qua được đâu. Và bác sỹ nói rằng ông không thể sống được đâu. Anh biết, Beria nhắm chức vụ nào cho mình?
- Chức nào?
- Hắn sẽ lấy chức Bộ trưởng an ninh quốc gia (lúc ấy Bộ an ninh quốc gia và nội vụ đã tách ra). Chúng ta không thể còn cách nào thông qua việc này. Nếu Beria nhận Bộ an ninh quốc gia - điều này sẽ là bắt đầu sự kết thúc của chúng ta. Hắn sẽ lấy chức vụ này để tiêu diệt tất cả chúng ta. Và hắn sẽ làm điều này!
Bulganin đồng ý với tôi. Và chúng tôi bàn bạc sẽ hành động như thế nào. Tôi nói với ông:
- Tôi sẽ nói chuyện với Malenkov. Tôi nghĩ rằng Malenkov cũng có ý nghĩ, ông cần phải hiểu phải một điều gì đó làm, nếu khác đi sẽ là thảm hoạ đối với Đảng.
Vấn đề này đụng chạm không những đối với chúng ta, mà còn tất cả đất nước, mặc dù và tất nhiên chúng ta không muốn rơi vào lưỡi dao của Beria. Sẽ quay lại thời kỳ 1937-1938, có thể thậm chí tệ hơn. Tôi còn một ngờ vực: tôi không coi Beria là một người cộng sản và nghĩ rằng hắn đơn giản chui qua vao Đảng. У tôi lờ mờ nhận ra lời của Kaminski rằng hắn là điệp viên nước khác, đây là con sói đội lốt cừu, tạo tín nhiệm với Stalin và chiến chức vụ cao. Chính Stalin cũng kéo hắn. Tôi cảm thấy rằng có ngày chính Stalin lại sợ Beria.
Có một sự cố đụng đến tôi theo ý nghĩ tương tự, tôi muốn kể hết về nó. Có lần chúng tôi ngồi ở Stalin. Bỗng nhiên ông nhìn vào Beria và nói:
- Tại sao bây giờ tôi những người quanh hoàn toàn người Gruzia? Tại sao lại như vậy?
Beria nói:
- Đây là những người trung thành và được ông tin.
- Nhưng cớ gì, đây là những người Gruzia được tin và trung thành? Chả lẽ người Nga không trung thành và không được tin cậy sao? Dẹp đi!
Và thời điểm ấy người ta bỏ đi những người này. Beria có khả năng qua tay chân của mình làm với Stalin những gì mà hắn đã tiến hành với người khác theo chỉ thị của Stalin: tiêu diệt đầu độc và v.v... Vì thế Stalin, có lẽ (lập luận thay cho ông) cho rằng Beria có khả năng làm những điều như thế với ông. Nghĩa là, phải dẹp đám người hầu cận, qua đó Beria có thể thâm nhập vào buồng ngủ và nhà bếp.
Nhưng vì tuổi tác đã già, Stalin không hiểu Dân uỷ an ninh quốc gia khi đó là Abakumov báo cáo ông mọi vấn đề sau khi Abakumov trình Beria và nhận những chỉ dẫn nói như thế nào cho Stalin. Stalin nghĩ rằng Abakumov sắp xếp những người mới và Abakumov làm điều này để Stalin sai bảo. Theo mặt này thì “vụ án mingrel” bị xổ tung.
Khi đó Stalin áp đặt quyết định (và nó được được công bố), rằng những người mingrel liên quan với Thổ nhĩ Kỳ trong số họ có những nhân vật nhắm hướng Thổ Nhĩ Kỳ. Tất nhiên chuyện vớ vẩn! Tôi cho rằng có xảy ra một hành động của Stalin nhằm chống Beria, vì rằng Beria - là minggrel. Như thế, Stalin cũng chuẩn bị đòn chống Beria. Lúc đó nhiều người bị bắt, nhưng Beria khôn khéo quay lại: chui vào “con dao của Stalin” và Beria bắt đầu trấn áp những người mingrel. Những người nghèo tội nghiệp. Người ta lôi họ lên đoạn đầu đài như lôi những con cừu.
Có những sự thật chứng minh sự phản bội của Beria, về sự không tin cậy của Stalin đối với Beria. Như vậy, tôi đã nói tất cả với Bulganin, kết thúc buổi trực, và tôi về nhà.
Muốn ngủ bù, vì rằng lâu không ngủ tại phiên trực. Bị mất ngủ và đau chân. Chỉ có chân chân đau, nhưng không ngủ được, nghe chuông. Malenkov nói:
- Đến ngay, Stalin xấu đi rồi. Đi ngay thôi!
Tôi gọi xe. Quả là, Stalin ở trong trạng thái xấu. Những người khác lục tục kéo đến. Mọi người thấy rằng Stalin đang chết. Các bác sỹ nói với chúng tôi rằng ông bắt đầu hấp hối. Ông ngừng thở. Làm thở nhân tạo cho ông. Xuất hiện một người đàn ông to cao, bắt đầu nén bóp ngực ông, thực hiện thao tác để giúp ông thở. Tôi thú thực rằng toi rất thương Stalin, anh ta làm ông đau. Và tôi nói:
- Nghe đây, thôi đi. Người ta chết rồi. Anh còn muốn cái gì nữa? Không thể làm ông sống lại được.
Stalin chết, nhưng chính là đau lòng nhìn người ta làm đau ông. Hô hấp nhân tạo ngừng lại.
Ngay khi Stalin chết, Beria ngay lập tức vào xe của mình từ “nhà nghỉ gần” và chạy vụt về Moskva.
Chúng tôi quyết định gọi đến đây tất cả các uỷ viên Văn phòng hoặc, nếu được, tất cả các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng. Chính xác tôi không nhớ. Trong lúc họ chưa đến, Malenkov đi đi lại lại trong phòng, vẻ, lo lắng. Tôi quyết định nói chuyện với ông:
- Egor, tôi nói - tôi phải nói chuyện với anh.
- Về cái gì? - Malenkov lạnh lùng hỏi lại.
- Stalin chết. Chúng ta sẽ sống tiếp như thế nào?
- Nói gì bây giờ? Triệu tập mọi người lại, chúng tôi sẽ nói. Để làm điều này, chúng ta triệu tập nhau lại.
Dường như đây là câu trả lời phô diễn. Nhưng tôi hiểu theo nghĩa khác, hiểu rằng mọi vấn đề đã được Malenkov với Beria dự kiến, và đã được thảo luận từ lâu.
- Thôi được - tôi trả lời - sau này chúng ta sẽ nói chuyện.
Mọi người tụ hợp. Họ cũng nhìn thấy Stalin đã chết. Cả Svetlana cũng đến. Tôi gặp cô. Khi gặp, cô rất bồn chồn và khóc, không thể thể kìm được. Tôi thật sự thương Stalin, các con của ông, từ đáy lòng tôi than khóc cái chết của ông, lo lắng cho tương lai đất nước, cho Đảng. Cảm thấy rằng bây giờ Beria bắt đầu chỉ huy tất cả mọi người. Tiếp tục bắt đầu cái vòng được chuẩn bị bởi những tên đao phủ, những tên sát nhân này. Và có sự phân bố “ghế”.
Beria đề nghị bổ nhiệm Malenkov làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, và Malenkov thôi chức vụ Bí thư BCHTƯ Đảng. Malenkov đề nghị chuẩn y phó thứ nhất của mình là Beria và chia đôi hai Bộ, thành Bộ an ninh quốc gia và Bộ nội vụ, trong Bộ nội vụ, Beria bổ nhiệm Bộ trưởng. Tôi im lặng. Bulganin cũng inm lặng. Lúc ấy tôi sợ rằng Bulganin nhảy ra không đúng lúc, vì rằng không được lộ diện sớm quá. Tôi cũng thấy tâm trạng của những người còn lại. Nếu như tôi và Bulganin nói rằng chúng tôi chống, thì bằng đa số phiếu họ sẽ buộc tội chúng tôi là người phá hoại tổ chức, là khi xác Stalin chưa nguội mà chúng tôi đấu đá giành chức vụ. Vâng, tất cả xảy ra theo hướng này hướng, như tôi nghĩ trước.
Molotov cũng bổ nhiệm phó thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Kaganovich - là phó. Vorosilov đề nghị bầu Chủ tịch Đoàn chủ tịch xô viết tối cao Liên Xô, cách chức Svernik. Beria thể hiện rất láo xược với Svernik: nói rằng dân trong nước nói chung không ai biết ông. Tôi thấy lộ diện chi tiết kế hoạch của Beria, biến Vorosilov thành người soạn thảo các quyết định mà Beria làm, khi cối xay thịt của hắn bắt đầu làm việc. Beria đề nghị tôi thôi chức Bí thư Thành uỷ Moskva để tôi tập trung những hoạt động của mình vào công tác BCHTƯ Đảng. Chúng tôi tiến hành cả những bổ nhiệm khác. Đưa ra nghi lễ chôn cất và nghi thức thông báo nhân dân về cái chết của Stalin. Như thế chúng tôi, những người thừa kế của Stalin khởi đầu hoạt động độc lập của mình điều khiển Liên Xô.
Có một thoả thuận: hai người lập chương trình nghị sự phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ - Malenkov và Khrusevу. Malenkov chủ toạ phiên họp, nhưng tôi chỉ nhận tham gia lập chương trình nghị sự. Beria vơ lấy nhiều quyền lực, sự trơ trẽn của ông tăng lên. Lúc đó xảy ra va chạm đầu tiên của các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ với Beria và Malenkov. Đoàn chủ tịch, về thành phần bị thay đổi. Chúng tôi quay trở lại nhóm hẹp các uỷ viên, còn Văn phòng do Stalin lập ra tại Plenum sau Đại hội 19, chúng tôi huỷ bỏ.
Beria và Malenkov đề nghị bãi bỏ một nghị quyết từ thời Stalinе về xây dựng CNXH ở CHDC Đức. Họ đọc tài liệu cần thiết, nhưng không đưa cho nó vào tay chúng tôi, mặc dù ở Beria có văn bản viết. Beria đọc nó nhân danh bản thân và Malenkov. Molotov phát biểu đầu tiên. Ông kiên quyết chống lại đề nghị đó và lập luận rất hay tại sao ông phản đối. Tôi mừng là Molotov phát biểu dũng cảm và có căn cứ. Ông nói rằng chúng tôi không thể làm việc này; rằng đây là một sự bỏ vị trí; rằng từ bỏ xây dựng CNXH ở CHDC Đức - nghĩa là làm mất phương hướng sức mạnh của Đảng ở phương Đông và không những ở Đông Đức, mà còn thủ tiêu triển vọng, rằng đây là đầu hàng trước người Mỹ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với Molotov và ngay lập tức cũng phát biểu, ủng hộ Molotov. Sau tôi nói với Bulganin đang ngồi bên cạnh tôi. Sau đó các uỷ viên còn lại của Đoàn chủ tịch phát biểu. Và Pervukhin, và Saburov, và Kaganovich phát biểu chống đề nghị của Beria - Malenkov đối với CHDC Đức. Lúc đó Beria với Malenkov rút tài liệu của mình. Chúng tôi thậm chí bỏ phiếu và không chép vào biên bản kết quả thảo luận. Tựa như vấn đề chưa hề có. Lúc ấy là mánh khoé, thủ đoạn.
Chúng tôi ra về sau phiên họp, nhưng về mặt tinh thần vẫn nóng bỏng. Làm sao có thể đưa một đề nghị về vấn đề quan trọng như thế này? Tôi cho rằng đây là quan điểm chống cộng. Chúng tôi hiểu, tất nhiên, Beria sử dụng Malenkov, còn Malenkov, như con bê, theo đuôi với Beria trong việc này. Kết thúc phiên họp, bộ ba ra về từ phòng họp - Malenkov, Beria và tôi. Nhưng không tranh cãi gì cả. Ngay hôm đó tôi gặp Molotov, và ông nói với tôi:
- Tôi rất hài lòng, ông có quan điểm như vậy. Tôi, thừa nhận, tôi bất ngờ, vì rằng tôi thấy ông luôn luôn với bộ ba này và cho rằng ông cũng có cùng quan điểm thống nhất với Malenkov và Beria, tôi nghĩ rằng Khrusev, có lẽ, biết trước vấn đề này. Rõ ràng ông có quan điểm vững chắc, làm tôi rất hài lòng.
Và ông đề nghị tôi gọi ông là “anh”.
Phần mình, tôi nói rằng cũng hài lòng rằng Viacheslav Mikhailovich có quan điểm đúng như thế.
Một thời gian sau, Bulganin gọi cho tôi:
- Người ta vẫn chưa gọi điện cho anh à?
Tôi lập tức hiểu ý định của ông mà không cần giải thích thêm:
- Không, người ta đã không gọi điện. Cũng sẽ không gọi điện cho tôi.
- Còn tôi người ta cũng đã gọi.
- Và anh trả lời gì?
- Họ nói rằng tôi nghĩ thêm một lần nữa: liệu tôi có muốn giữ chức Bộ trưởng quốc phòng?
- Ai gọi điện cho anh?
- Ban đầu một người, sau đó người kia. Cả hai đã gọi.
- Không, họ không gọi tôi, vì họ biết rằng chuông của họ có thể làm hại họ.
Sau đó, từ phía Beria quan hệ với tôi vẻ bề ngoài tựa như không thay đổi. Nhưng tôi hiểu rằng đấy chỉ là mánh khoé của “dân châu Á”. Trong thuật ngữ này, chúng tôi sự đóng góp vào tư duy là con người nghĩ một đằng nói một nẻo “nói dzậy những không phải dzậy”. Tôi hiểu rằng Beria tiến hành chính sách hai mặt, chơi với tôi, làm tôi yên tâm, còn hắn chờ thời điểm sẽ trấn áp tôi trước tiên, khi có thời gian thích.
Tại phiên họp Beria đưa đề nghị như thế này:
- Bởi vì ở nhiều người bị kết án hoặc bị đi đày đã kết thúc thời hạn tù hoặc đi đày và họ cần được quay về nhơi họ cư trú trước đây, tôi đề nghị chấp nhận quyết định là không ai có quyền quay về nếu thiếu quyết định của Bộ trưởng Bộ nội vụ và phải sống trong khu vực, mà Bộ nội vụ nói trước.
Tôi nổi giận và phát biểu chống, nói:
- Tôi thẳng thừng phản đối, đây là sự chuyên quyền. Sự chuyên quyền trước đây từng hoành hành. Những người này bị bắt bởi An ninh quốc gia, tiến hành điều tra cũng là An ninh quốc gia và kết án cũng là An ninh quốc gia. “Bộ ba”, được xây dựng trong An ninh quốc gia, tạo ra cái gì mà họ muốn. Không điều tra viên, không công tố viên, không toà - chẳng có cái gì cả, đơn giản là tón người ta và giết. Giờ đây những người đã quá hạn bị trừng phạt thậm chí theo kết án của “bộ ba”, lại bị tước bỏ tất cả, vẫn còn là phạm nhân, và chỗ cư trú của họ lại do Bộ nội vụ đưa ra. Điều này là không được.
Những người khác ủng hộ tôi. Beria lại khôn khéo rút đề nghị của mình. Malenkov ghi biên bản, và vấn đề này, một lần nữa, không có trong biên bản.
Có những tín hiệu khá nghiêm trọng từ phía Beria. Sau đó Beria lại đưa ra một đề nghị có vẻ tự do: thay đổi những quyết định (thay số quyết định và thời gian), dự tính trước các vụ bắt bớ và kết án những người bị “bộ ba” bắt thời hạn đến 20 tù hoặc lưu đày. Beria đề nghị giảm thời hạn xuống dưới 10 năm. Tỏ ra là một đề nghị nhân hậu. Nhưng tôi hiểu đúng Beria và nói:
- Tôi thẳng thừng chống điều này, vì rằng phải xem xét lại tất cả hệ thống bắt bớ, toà và thực tế điều tra. Đấy là sự chuyên quyền. Nhưng vấn đề, khép tội 20 hoặc 10 năm tù, không có giá trị nào cả, vì rằng có thể ban đầu khép tội 10 năm, sau này thêm 10 năm nữa và lại thêm 10 năm nữa. Có những việc như thế. Chúng tôi có những tài liệu, nêu rõ các phương pháp tương tự đã được thi hành. Vì thế tôi thẳng thừng chống.
Và Beria lại rút đề nghị của mình.
Như thế tôi tích cực phát biểu chống Beria về hai vấn đề. Vấn đề đầu tiên là ủng hộ lời phát biểu Molotov, vấn đề thứ hai, những người khác ủng hộ tôi. Như thế, tôi không còn nghi ngờ, Beria bây giờ hiểu đúng về tôi và cũng hoạch định những “biện pháp” của mình, vì rằng ông không thể giảng hoà với ai cản đường ông. Điều kiện công việc xảy ra như thế. Sau đó Beria có một đề nghị, như nhử mồi? Có lần chúng tôi đi, dạo chơi, và Beria nói ý nghĩ của mình:
- Tất cả chúng ta đi dưới một bầu trời, như đã nói trong thời kỳ cũ, chúng tôi đang già đi, mọi thứ có thể xảy ra ở mỗi một người trong chúng ta, chúng ta còn có gia đình. Phải nghĩ về tuổi già, và về gia đình của mình. Tôi đề nghị xây dựng những nhà nghỉ cho quan chức mà những nhà nghỉ này được nhà nước chuyển thành sở hữu riêng cho những ai xây dựng chúng.
Tôi cũng chẳng ngạc nhiên cách suy nghĩ này. Nó hoàn toàn gắn liền với kiểu cách Beria. Và tôi tin tất cả điều này được nói nhằm mục đích khiêu khích. Nhưng Beria tiếp tục:
- Tôi đề nghị xây dựng những nhà nghỉ này không phải ở ngoại ô Moskva, mà là ở Sukhumi. Ái chà, thành phố này đẹp như thế nào!
Và Beria tả thành phố đẹp lạ lùng như thế nào.
- Nhưng tôi đề nghị xây dựng không phải ở ngoại ô Sukhumi. Tại sao cứ phải ra khỏi thành phố? Phải giải phóng một khoảnh đất rộng ở trung tâm thành phố, làm một công viên, trồng đào.
Và Beria bắt đầu bốc lên, nào là trồng ở đó loại đào gì, nho nào. Sau đó Beria tiếp tục phát triển ý nghĩ của mình.
Beria có tính toán kỹ càng: cán bộ nào cần, nhân viên nào cần. Ông ta đặt tất cả lên bàn chân trần và rộng lớn.
- Dự án và xây dựng do Bộ nội vụ tiến hành. Trước hết theo tôi, phải xây dựng cho Egor (nghĩa là cho Malenkov), sau đó là anh, Molotov, Vorosilov, và sau đó là những người khác.
Tôi im lặng nghe, chừng nào chưa phản đối. Sau đó tôi nói:
- Cần phải nghĩ đã.
Kết thúc cuộc nói chuyện, bộ ba đến nhà nghỉ. Hai người ngồi chung một xe. Đến gần chỗ rẽ vào đại lộ Rulevsk. Ở đó tôi với Malenkov phải đi tiếp tiếp sang trái, còn Beria - đi thẳng. Tôi ngồi với Malenkov trong một xe. Tôi nói với ông:
- Anh xem thế nào? Đây có phải là khiêu khích đơn thuần không.
- Vì sao mà anh dây vào những lời của ông ấy nhỉ?
- Tôi nhìn xuyên qua nó, đây là khiêu khích. Chẳng có lẽ có thể làm như thế? Bây giờ không phản đối được, cứ để ông ta chúi mũi vào chuyện này và nghĩ rằng, mưu đồ của ông không ai hiểu.
Và Beria bắt đầu thúc đẩy ý tưởng của mình. Cho người làm thiết kế. Khi thiết kế xong, mời chúng tôi xem thiết kế và đề nghị bắt đầu xây dựng. Báo cáo về vấn đề này là một kiến trúc sư nổi tiếng. Bây giờ đồng chí này là người chỉ huy xây dựng nhà máy điện nguyên tử. Tôi biết ông từ trước chiến tranh và ở các sự kiện trong chiến tranh. Beria coi ông là nhân vật gần gũi, hoặc ông làm việc ở chỗ Beria và thực hiện cái gì mà Beria nói. Sau cuộc gặp gỡ này, tôi nói Malenkov:
- Lấy đi. Beria có nhà nghỉ. Ông nói với chúng tôi là cho người ta xây dựng, nhưng ông ấy không xây dựng cho mình. Mà xây cho anh, và làm điều này để làm mất uy tín anh đấy.
- Không, không, anh nói gì thế!
Đối với tôi sự thật là Beria đề nghị xây dựng nhà nghỉ riêng dứt khoát ở Sukhumi. Trong đồ án có địa điểm được hoạch định, nơi nhà nghỉ của Malenkov sẽ được xây cất. Theo kế hoạch, thấy trước là việc đuổi một số lượng người dân ra khỏi chỗ họ đang sống ở đó. Bộ trưởng báo cáo cho chúng tôi rằng phải đuổi một lượng lớn dân và việc xây dựng như thế quả thật là một tai hoạ. Người ta nói đùa, ở đó bao nhiêu nhà riêng của họ, bao thế hệ sinh sống ở đó từ lâu, và bỗng nhiên lại đuổi họ đi?
Beria giải thích là đã được chọn để Malenkov từ nhà nghỉ của mình có thể nhìn thấy Biển Đen quan sát được Thổ Nhĩ Kỳ. Beria thậm chí đùa:
- Bờ Thổ Nhĩ Kỳ nằm ngang chân trời, rất đẹp.
Nhưng khi mọi người ra về và chúng tôi còn lại chỉ hai người với nhau, tôi nói với Malenkov:
- Chẳng lẽ anh không hiểu Beria muốn gì? Ông ấy muốn tàn sát, quẳng người ta đi, phá huỷ những tổ ấm của họ và xây dựng một cung điện ở đó cho anh. Tất cả sẽ có hàng rào vây quanh. Bắt đầu căm tức sôi sục trong thành phố. Mọi người sẽ chú ý rằng cái này xây cho ai? Và khi tất cả xong, anh đến đó, và mọi người nhìn thấy trong xe là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; tất cả những việc tàn phá, đuổi dân hoá ra được làm vì anh. Sự phẫn nộ xuất hiện không những chỉ ở Sukhumi, mà bó còn sang các nơi khác. Nhưng Beria cần điều này. Anh khi đó lại tự yêu cầu từ chức.
Malenkov lưỡng lự.
Beria cũng nói về nhà nghỉ với cả Molotov. Tôi không nghĩ rằng Molotov làm như thế, nhưng Molotov bỗng nhiên đồng ý. Ông nói rằng cứ xây cho ông nhưng không phải ở Kavkaz, mà ở ngoại ô Moskva. Tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ là Molotov nổi cáu và phản đối. Tôi không biết điều này xảy ra như thế nào.
Như vậy không ai tỏ ra tích cực chống, cỗ máy bắt đầu chạy. Thiết kế xong, Beria xem. Sau công việc, chúng tôi tới gặp Beria, và ông chỉ cho tôi bản thiết kế nhà nghỉ của tôi.
- Ôi, xin nghe nhé, căn nhà tốt làm sao, đẹp thế nào.
Tôi nói với ông:
- Đúng, tôi rất thích.
- Cứ cầm bản thiết kế về nhà.
Tôi mang bản thiết kế về nhà và, thú thực là không biết nhét nó vào đâu. Vợ tôi, Nina Petrovna, nói với tôi:
- Anh có cái gì đấy?
Tôi thú thực với bà. Vợ tôi nổi giận:
- Bậy bạ quá chừng!
Tôi không giải thích một điều gì cho Nina Petrovna và chỉ nói:
- Thôi mà, chúng ta xếp nó lại, nói chuyện sau.
Như vậy, vụ việc xoay vần. Beria đẩy mạnh xây dựng, nhưng trước khi ông bị bắt thực chất cũng chưa làm được gì cả. Khi ông bị bắt, chúng tôi lập tức bãi bỏ tất cả. Nhưng bản thiết kế nhà nghỉ, thời gian dài lăn đi lăn lại ở đâu đó trong nhà tôi. Lúc đó Beria tăng cường những hoạt động điên cuồng can thiệp vào sinh hoạt các tổ chức Đảng. Beria chế tạo tài liệu về tình hình công việc trong lãnh đạo Ukrainaе. Đòn đầu tiên mà ong nghĩ ra là quyết định giáng vào tổ chức Đảng Ukraina. Tôi nghĩ ông triển khai vụ này để lôi người của tôi. Ông chuẩn bị những tài liệu cần thiết thông qua Bộ nội vụ CHXHCN Ukraina và bắt đầu lôi kéo tỉnh trưởng công an trong việc chuẩn bị vụ việc. Tỉnh trưởng công an ở Lvov Strokach. Giờ đã chết. Đó là một người cộng sản chân chính và một quân nhân tốt. Trước chiến tranh ông là trung tá, tư lệnh biên phòng. Trong thời gian chiến tranh là tham mưu trưởng du kích Ukraina và luôn luôn báo cáo tôi về tình hình tại vùng lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng. Tôi thấy ông là người trung thực và đứng đắn. Sau chiến tranh ông được bổ nhiệm toàn quyền Bộ nội vụ tỉnh Lvov, nơi bọn chống đối hoạt động.
Sau này chúng tôi biết rằng khi đó Bộ trưởng Bộ nội vụ Ukraina yêu cầu cầu ông thu thập những tài liệu tư liệu bôi nhọ thanh danh các cán bộ Đảng, thì Strokach nói rằng đây không phải là việc của ông, mà là Bí thư tỉnh uỷ, cứ gọi đến đó. Lúc đó Beria gọi cho Strokach và nói rằng nếu ông cứ làm theo ý mình, thì sẽ bị biến thành bụi ở trại tập trung. Nhưng năm 1953, chúng tôi ban đầu chẳng biết một cái gì cả, mặc dù cảm thấy rằng đang có cuộc tấn công vào Đảng, bắt nói phải khuất phục Bộ nội vụ. Chúng tôi bàn cãi tại BCHTƯ ĐCSLX về bản danh sách của Beria về cán bộ lãnh đạo Ukraina. Do đó, thông qua quyết định cách chức Melnikov khỏi chức vụ Bí thư BCHTƯ ĐCS Ukraina, thay vào đó Kirichenko. Ý tưởng Beria là ở chỗ các cán bộ địa phương, dân tộc Ukraina dường như không đưa vào ban lãnh đạo, không điều động họ, và đề nghị đưa Korneychuk vào Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCS Ukraina. Việc này được làm tại Plenum. Sau khi Beria bị bắt, các đồng chí kể cho tôi nghe Plenum tiến hành ra sao. Korheychuk hiểu không đúng, vì sao những ứng cử viên của ông không được điều động, và bắt đầu đấu khẩu, nói lung tung có lợi cho Beria. Ông không sáng trí, vì Beria đã nói như thế.
Bản danh sách sau của Beria động đến những người Baltic, sau đó Belorussia. Và cũng cùng một hướngh. Bản đề nghị của Beria chẳng có gì không đúng. BCHTƯ ĐCSLX và chính Beria trước đó đã có lớp học điều động cán bộ dân tộc. Và chúng tôi quyết định rằng ở nước cộng hoà chức vụ Bí thư thứ nhất BCHTƯ phải là người địa phương, không phải là người Nga được cử từ Moskva. Nói chung Beria có xu hướng bài Nga. Ông tuyên truyền rằng tại nơi có nhiều người Nga thì phải phong tỏa họ. Tất cả mọi người cũng hiểu và bắt đầu đả kích không những người Nga, mà còn những cán bộ dân tộc không đấu tranh với “thế lực” Nga. Điều này xảy ra tại nhiều tổ chức Đảng nước cộng hoà tự trị.
Tôi nhiều lần nói với Malenkov:
- Chẳng lẽ anh không nhìn thất sự việc sẽ nhân rộng đi đâu à? Chúng ta đang đi đến thảm họa. Beria thu nhặt dao đâm chúng tôi.
Malenkov nói với tôi:
- Ừ, làm gì? Tôi nhìn thấy, nhưng làm sao tham gia?
Tôi nói với ông:
- Phải chống cự, mặc dù trong hình thức thế này: anh nhìn thấy các vấn đề mà Beria đưa ra, thường mang xu hướng chống đảng. Không được chấp nhận chúng, mà phản đối chúng.
- Anh muốn tôi còn lại một mình hay sao? Nhưng tôi không muốn.
- Tại sao anh nghĩ chỉ còn mình anh, nếu anh bắt đầu phản đối? Anh và tôi - cũng hai người. Bulganin, tôi tin, cũng nghĩ như vậy, vì rằng tôi đôi lần trao đổi với ông những suy nghĩ. Những người khác cũng cùng đi với chúng tôi, nếu chúng tôi phản đối lập luận, từ quan điểm. Bản thân anh không có khả năng nói được ai. Ngay khi Beria đưa đề nghị ra, anh nhanh chóng ủng hộ ông ta, tuyên bố: đúng, đây là đề nghị đúng, tôi “đồng ý”, ai “chống”? Và lập tức anh cho bỏ phiếu. Nhưng anh phải tạo khả năng cho người khác phát biểu, bằng cách ghìm mình, đừng nhảy vọt ra và anh thấy không phải một người nghĩ đâu. Tôi tin tưởng rằng nhiều người không đồng ý về hàng loạt vấn đề với Beria”.
Và tôi đề nghị:
- Chúng ta lập chương trình nghị sự. Đưa các vấn đề các gai góc mà theo quan điểm của chúng ta, Beria đưa ra là không đúng, và chúng ta bắt đầu phản đối ông ta. Tôi tin tưởng rằng chúng tôi huy động được cũng uỷ viên Đoàn chủ tịch, và không chấp nhận cách giải quyết của Beria.
Malenkov cuối cùng cũng phải đồng ý. Tôi, thề rằng, cũng ngạc nhiên và vui lòng. Chúng tôi cùng lập chương trình nghị sự các phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Bây giờ tôi không nhớ, khi đó các vấn đề đưa ra như thế nào, vì lâu quá rồi. Tại cuộc họp chúng tôi phát biểu lập luận “chống” về mọi vấn đề. Những người khác cũng ủng hộ chúng tôi, và ý đồ của Beria không được thông qua. Liền tù tì nhiều phiên họp. Ngay sau việc này, Malenkov tìm thấy niềm tin là, té ra, với Beria có thể đấu tranh hoàn toàn bằng phương pháp Đảng, Malenkov tỏ ra cũng có ảnh hưởng của mình giải quyết vấn đề và phủ quyết những đề nghị, mà theo quan điểm của chúng tôi, là có hại cho Đảng và đất nước.
Chúng tôi thấy rằng Beria bắt đầu đẩy mạnh các sự kiện. Ông cảm thấy mình đứng trên các uỷ viên Đoàn chủ tịch, lên mặt và thậm chí vẻ bề ngoài biểu thị sự lấn át của mình. Chúng tôi trải qua thời điểm rất tốt nghuy hiểm. Tôi cho rằng cần phải nhanh tay, và nói với Malenkov rằng cần phải nói chuyện với các uỷ viên Đoàn chủ tịch về lý do này. Hình như tại cuộc họp không thể làm thế được, mà phải mặt đối mặt nói chuyện với từng người một để hiểu ý nghĩ về những vấn đề cụ thể đối xử với Beria. Với Bulganin tôi đã nói vấn đề này từ trước đây và biết ý kiến của ông. Ông đứng ở trên cao trí và hiểu rõ sự nguy hiểm, đang đe dọa Đảng và tất cả chúng ta từ phía Beria. Malenkov cũng đồng ý:
- Đúng, phải hành động.
Chúng tôi thỏa thuận rằng trước tiên tôi phải tới gặp và nói chuyện với Vorosilov. Có một Uỷ ban nào đấy trong đó phải có sự tham gia của tôi và Vorosilov. Tôi quyết định dùng tình tiết này, gọi Klimentу Efremovichу và nói rằng muốn gặp ông nói chuyện về vấn đề gì đó. Vorosilov trả lời ông muốn bây giờ đi cùng với tôi đến BCHTƯ.
- Không - tôi nói - tôi đề nghị ông tiếp tôi, tôi tự thân đến ông.
Nhưng ông vật nài là ông phải đi. Cuối cùng tôi nài nỉ theo ý mình. Chúng tôi quy ước với Malenkov là sau khi nói chuyện với Vorosilov (trước bữa ăn trưa) tôi quay về nhà, ghé vào Malenkov, và chúng tôi ăn trưa cùng với nhau. Khi đó, tôi và Malenkov sống ở cùng một số nhà, cùng cửa ra vào, chỉ khác là tôi ở tầng cao hơn.
Tôi đi đến gặp Vorosilov tại Xô viết tối cao, nhưng tôi không đạt được cái điều mà tôi đã tính. Ngay khi tôi mở cửa và bước qua ngưỡng cửa phòng làm việc của ông, ông đang lớn giọng tán tụng Beria:
- Hân hạnh cho chúng tôi, đồng chí Khrusev, chúng tôi có một người tuyệt vời Larenti Pavlovich, đây là một con người xuất chúng!
Tôi nói với ông:
- Có thể, anh đừng phí công nói như thế nữa, anh đang thổi phồng tư cách ông ta phải không?
Nhưng tôi cũng không thể nói với ông về Beria như tôi nghĩ. Sự đánh giá là hoàn toàn ngược lại, và tôi bằng ý kiến của mình đặt Vorosilov vào tình thế khó xử; Ông có thể không đồng ý với tôi đơn giản vì tự ái: khi tôi vừa mới vào, ông đang ca tụng Beria, nhưng sau này lập tức chuyển sang quan điểm của tôi là đi đến sự cần thiết phải loại bỏ Beria. Và tôi quẳng lại cho ông những lời về vấn đề, mà chúng tôi thoả thuận một cách chính thức qua điện thoại: về vấn đề vớ vẩn nào đấy. Và bây giờ tôi quay về ăn trưa, như đã quy ước với Malenkov. Tôi kể cho Malenkov rằng tôi không nhận được cái gì cả, rằng tôi không thể nói chuyện với Vorosilov, như đã nghĩ. Tôi nghĩ rằng Vorosilov có thể, nói như thế để đề phòng người ta nghe trộm, và nói điều đó để cho bọn “tai mắt” của Beria.
Mặt khác, ông cũng coi tôi là người gần với Beria, vì rằng thường thấy chúng tôi bên nhau: Beria, Malenkov và tôi. Nghĩa là, ông nói điều này đối với Beria, ông cũng chứng minh bầu không khí, buộc mọi người phải chấp nhận tính cách và ôm lấy tội lỗi trong óc chống lại lương tri của mình.
Chúng tôi thoả thuận với Malenkov là tiếp đây, tôi sẽ nói chuyện với Molotov. Molotov khi đó là Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Trước đây ông thường gọi điện cho tôi, nói rằng muốn cùng tôi gặp BCHTƯ và nói chuyện về các vấn đề cán bộ Bộ Ngoại Giao. Tôi lợi dụng cuộc gọi của ông và nói:
- Anh muốn gặp tôi phải không? Tôi sẵn sàng. Nếu có thể, anh đến chỗ tôi, tôi ta sẽ nói chuyện với về chuyện cán bộ.
Nhưng khi ông đến, tôi nói với ông:
- Chúng ta nói chuyện về cán bộ, nhưng không phải về cán bộ của Bộ ngoại giao đâu.
Và tôi bắt đầu kể cho Molotov đánh giá của tôi về vai trò của Beria. Tôi nói có sự nguy hiểm như thế nào bây giờ đe doạ Đảng nếu không ngăn chặn Beria đang thực hiện quá trình làm đổ sự lãnh đạo của Đảng. Molotov, hình như bản thân cũng nghĩ nhiều về điều này. Ông không thể không nghĩ, vì rằng bản thân ông biết tất cả và thấy dự giống nhau hơn từ khi Stalin còn sống. Khi Molotov còn được Stalin tin ở Stalin, tôi chính tai đã nghe, ông phát biểu rất mạnh như thế nào chống Beria, nhưng khi không còn Stalinе, Beria có phương pháp khiêu khích. Nếu Beria đưa một đề nghị nào đấy, mà Stalin phát biểu chống, thì Beria quay bề người nào đó đang ngồi:
- Đấy, anh cứ đề nghị mãi? Cái này chưa có lợi!
Như thế Beria không ít lần chỉ vào Molotov, và Molotov phản ưng rất rất mãnh liệt.
Vì vậy, ngay khi tôi bàn mưu với Molotov, ông hoàn toàn đồng ý với tôi.
- Đúng, đúng, nhưng tôi muốn hỏi: thế ý Malenkov ra sao?
- Tôi nói chuyện lúc này với anh nhân danh và Malenkov, và Bulganin. Malenkov, Bulganin và tôi cũng trao đổi ý kiến về vấn đề này.
- Đúng, Các ông hiểu vấn đề này. Tôi hoàn toàn đồng ý và ủng hộ ông. Nhưng ông làm tiếp cái gì và việc này dẫn đến đâu?
- Trước hết cần cách chức Beria khỏi chức vụ uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ, phó Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và Bộ trưởng Bộ nội vụ.
Nhưng Molotov nói rằng điều này không đủ:
- Beria rất nguy hiểm, và tôi cho rằng phải dùng những biện pháp cực đoan hơn.
- Có thể giữ ông ta để điều tra?
Tôi nói “giữ” vì rằng chúng tôi không có những chứng cớ để buộc tội trực tiếp Beria. Tôi có thể nghĩ rằng ông là điệp viên của Musavist, nhưng chỉ Kaminski nói về điều này. Và những bằng chứng như thế không cách nào kiểm tra được, nhưng tôi chưa nghe thấy có sự kết án vụ này. Có thể là thật và cũng có thể là không đúng, tuy nhiên tôi tin Kaminski, vì rằng ông là người đứng đắn và hoàn toàn vì Đảng. Nhưng tính cách khiêu khích của Beria, tất cả chúng tôi dựa trên sự linh cảm. Nhưng không thể bắt người theo linh cảm. Vì thế tôi nói rằng phải giữ Beria “để kiểm tra”.
Điều này thì đúng là có thể.
Như vậy, tôi thoả thuận được với Molotov, còn sau đó tôi kể tất cả cho Malenkov và Bulganinу. Và chúng tôi quyết định, cần đẩy nhanh công việc, vì rằng chúng tôi có thể bị nghe trộm hoặc ai đó vô tình sảy miệng, những bằng chứng về những bước đi của chúng tôi lọt tới tai Beria, và Beria bắt chúng tôi một cách đơn giản. Lúc đó chúng tôi quy ước tôi cần phải nói chuyện với Saburov, cũng là uỷ viên Đoàn chủ tịch. Saburov rất nhanh trả lời tôi:
- Tôi hoàn toàn đồng ý.
Và cũng hỏi:
- Thế còn Malenkov?
Về điều này những ai dự mưu với tôi đều cũng hỏi như thế. Kaganovich trong thời gian ấy không có mặt ở Moskva, ông ở bận thu mua gỗ, ông kiểm tra công việc ở đó chạy ra sao. Khi Kaganovich quay về, tôi đề nghị ông rẽ vào BCHTƯ. Ông đến buổi chiều, và chúng tôi ngồi với ông rất lâu. Ông tỷ mỷ kể cho tôi về Siberi, về thu mua thu mua gỗ. Tôi không cắt lời ông, mặc dù trong đầu tôi hoàn toàn nghĩ những chuyện khác. Tôi tỏ ra lễ độ, chiến thuật, chờ khi câu chuyện của ông cạn hết.
Khi thấy thời cơ đến, tôi nói:
- Những điều anh kể cũng hay đấy. Giờ đây tôi muốn nói hết với ông rằng chúng tôi đang làm gì.
Kaganovich lập tức vểnh tai nghe:
- Thế ai “đồng ý”?
Ông đặt vấn đề như thế, thăm dò, tương quan lực lượng. Tôi nói rằng Malenkov, Bulganin, Molotov và Saburov đồng ý, như thế, nói riêng, và không có ông thì chúng tôi cũng có số đông. Lúc đó Kaganovich tuyên bố:
- Tôi cũng “đồng ý”, tất nhiên, “đồng ý”, nhưng tôi đơn giản chỉ hỏi thế thôi.
Nhưng tôi hiểu đúng ông, và ông hiểu tôi. Sau đó hỏi:
- Thế còn Vorosilov?
Và tôi kể cho ông, tôi nhận thấy mình không tháo vát với Vorosilov.
- Ông nói với với anh như thế à?
- Đúng, ông ta ca tụng Beria.
Kaganovich chửi rủa Vorosilov, nhưng không độc ác:
- Thằng cáo già. Ông ấy không nói thật với anh đâu. Chính ông ấy nói với tôi thật sự là không thể sống tiếp được với Beria, rằng Beria là người rất nguy hiểm, rằng Beria có thể tìm và tiêu diệt tất cả chúng ta.
- Thế thì cần phải nói chuyện với ông ta hội đàm một lần nữa. Có thể Malenkov nói chuyện với ông ta được không? Tốt hơn, tôi không nên quay lại nói chuyện với ông nữa để không đặt ông ta vào tình thế khó xử.
Cả hai chúng tôi đồng ý.
Kaganovich hỏi:
- Còn Mikoian?
- Với Mikoian, về vấn đề này tôi vẫn còn chưa nói, vì có vấn đề phức tạp.
Tất cả chúng tôi biết những người Kavkaz như Mikoian và Beria có những quan hệ tốt nhất, họ luôn luôn không rời nhau nửa bước. Và tôi kể đã nói chuyện với Mikoian, hình như phải gác lại muộn hơn. Về các cuộc nói chuyện mới, tôi thông báo cho Malenkov, và ông cũng đồng ý trong tình hình hiện tại, tốt hơn là nói cho Vorosilov biết. Giờ đây còn Pervukhin. Malenkov nói:
- Với Pervukhin, tôi muốn tự đến bàn bạc.
- Lưu ý rằng Pervukhin là người phức tạp, tôi biết ông ta.
- Nhưng cả tôi cũng biết ông ấy.
- Thôi được, xin cứ việc!
Malenkov mời Pervukhin đến gặp và sau đó gọi cho tôi:
- Tôi gặp Pervukhin, kể hết với ông ta tất cả, nhưng Pervukhin trả lời rằng còn suy nghĩ. Điều này rất nguy hiểm. Tôi phải thông báo điều này để giục ông ta nhanh hơn. Không biết, điều này có thể kết thúc như thế nào.
Tôi gọi cho Pervukhin. Ông đến với tôi, và tôi hết cho ông nghe một cách thẳng thắn. Mikhail Georgy trả lời:
- Nếu như Malenkov nói tất cả với tôi như thế này, như anh nói, tôi đâu có những vấn đề như thế. Tôi hoàn toàn đồng ý và xem rằng không còn lối thoát khác.
Tôi không biết Malenkov nói với Pervukhin như thế nào, nhưng kết thúc như thế.
Như thế, chúng tôi đã bàn bạc công việc với tất cả uỷ viên Đoàn chủ tịch, trừ Vorosilov và Mikoian.
Tôi và Malenkov quyết định bắt đầu hành động trong ngày họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Tại cuộc họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tôi luôn luôn có mặt: vì biên bản đã ghi là tôi phải tham gia những phiên họp như thế. Tại những phiên họp này vắng mặt Vorosilov. Vì thế chúng tôi quyết định, mời Vorosilov tham dự phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Khi mọi người đến đông đủ, thay bằng phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, là phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Chúng tôi quy ước, ngay trước phiên họp này tôi nói chuyện với Mikoian, còn Malenkov nói với Vorosilov.
Sáng sớm hôm ấy, tôi ở nhà nghỉ cuối tuần. Tôi gọi cho Mikoian và mời ông rẽ qua tôi, đi cùng tôi cùng tới phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Mikoian đến, và ở đó tôi tiến hành hội đàm. Cuộc hội đàm rất dài. Tôi nhớ rằng chúng tôi nói chuyện khoảng hai tiếng đồng hồ, nói hết và tỷ mỷ, còn sau đó lại hai ba lần đôi lần quay lại những chuyện đã bàn rồi. Vị thế của Mikoian là thế này: Beria quả là có tư cách xấu, nhưng ông không tuyệt vọng, trong thành phần tập thể có thể làm được việc. Đó là một vị trí hoàn toàn đặc biệt, không phải ai trong số chúng tôi có thể giữ được. Tạm thời kết thúc đàm phán, thời gian còn lại chỉ kịp có mặt tại phiên họp. Tôi ngồi chung xe với nhau và đi vào Kreml. Trước đó Malenkov cũng nói chuyện với Vorosilov.
- Thế nào? Ông ta vẫn như trước đây khen ngợi Beria à?
- Khi tôi vừa mới lắp bắp vài lời về dự định của chúng tôi, Klim (tên gọi thân mật của Vorosilov) ôm quàng lấy tôi, hôn và khóc.
Thật thế không, tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ rằng Malenkov nói dối chẳng để làm gì.
Sau đó nảy sinh sinh vấn đề thảo luận bắt giữ Beria. Nhưng ai là người bắt Beria? Đội bảo vệ của chúng tôi lại dưới quyền cá nhân Beria. Trong thời gian họp uỷ viên Đoàn chủ tịch, đội bảo vệ ngồi ở phòng bên cạnh. Ngay khi chúng tôi đưa ra vấn đề này, Beria sẽ ra lệnh cho đội bảo vệ bắt chính chúng tôi. Lúc đó chúng tôi thoả thuận gọi các tướng lĩnh. Chúng tôi quy ước là tôi nhận trách nhiệm đi mời các tướng lĩnh. Thế là tôi làm như thế, mời Moskalenko và những người khác, tất cả là năm người. Sau đó Malenkov với Bulganin nới rộng vòng của họ và mời thêm cả Zukov. Do vậy chúng tôi có 11 nguyên soái và tướng. Chúng tôi thoả thuận rằng các tướng lĩnh sẽ chờ đợi ở phòng riêng, còn khi nào Malenkov báo cho biết biết, thì họ đi vào gian phòng đang diễn ra phiên họp, và sẽ bắt Beria.
Và thế là phiên họp khai mạc. Vorosilov với tư cách Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, đương nhiên, không thể có mặt tại phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Vì thế sự xuất hiện của ông tựa như khó hiểu. Và Malenkov, khai mạc phiên họp, lập tức đặt vấn đề:
- Chúng ta thảo luận công tác Đảng. Có những vấn đề cần phải thảo luận ngay, trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ.
Tất cả đồng ý. Như đã thoả thuận từ trước, tôi xin phép Malenkov được nói và đề nghị thảo luận vấn đề Beria. Beria ngồi bên phải. Beria giật mình, cầm lấy tay tôi, nhìn vào tôi và nói:
- Anh nói gì thế, Nikita? Anh định giở trò gì?
Tôi nói với Beria:
- Thì anh cứ nghe đã, ngay đây tôi muốn nói hết với anh.
Thế là tôi nói.
Tại Plenum BCHTƯ trước chiến tranh, khi thảo luận tình hình công việc trong Đảng, có lời phát biểu của Kaminski, Dân uỷ y tế Liên Xô. Ông lên diễn đàn và tuyên bố:
- Tôi muốn nói rằng khi tôi làm việc ở Baku, có tin đồn dai dẳng lan đi trong số những người cộng sản rằng Beria làm việc trong cơ quan phản gián Musavist. Tôi muốn nói về điều này, để Đảng biết và kiểm tra điều này. Phiên họp khi đó kết thúc, và không ai phát biểu thêm nữa về vấn đề đã nêu, bản thân Beria cũng không cải chính, mặc dù có mặt. Sau đó nghỉ ăn trưa. Sau bữa ăn Plenum tiếp tục, nhưng Kaminski không đến, và không ai biết vì sao. Lúc đó điều này là đúng luật. Nhiều uỷ viên BCHTƯ, có mặt tại một phiên họp, người phiên không đến, bị rơi vào “kẻ thù nhân dân” và bị bắt. Số phận đã rơi vào Kaminski.
Tôi biết Kaminski, khi tôi là bí thư Bauman, sau đó Kraskaia Presnia, thành uỷ Moskva và đặc biệtgần gũi với ông khi ông được bầu bí thư đảng uỷ Moskva đầu 1932. Kaminski chơi thân với Mikhain Mikhailovich, một cán bộ triển vọng. Tôi rất kính trọng ông và cũng đánh bạn với ông. Đương nhiên, tôi xây dựng tình hữu nghị với Kaminski. Vì thế tôi tin rằng Grisa - là người đứng đắn. Ông là người đặc biệt trong sạch và có đạo đức. Tuy nhiên, mặc dù không ai tại Plenum cho một lời giải thích nào cả về việc số phận Kaminski, ông như chìm vào nước. Bị chìm không chỉ Kaminski. Hàng trăm, hàng nghìn người mất tích. Sau đó người ta tuyên bố rằng họ là “kẻ thù nhân dân”, vâng tôi đã nói không phải về mỗi người. Từ lâu, trong đầu tôi lẩn quẩn ý nghĩ: Vì sao, khi Kaminski tuyên bố như thế, không ai có lời giải thích xem ông nói đúng hoặc không đúng, điều này có hay không có - không biết...
Sau đó tôi kể và những hoạt động gần đây của Beria, từ sau khi Stalin chết, trong quan hệ các tổ chức Đảng - Ukraina, Belarussia và những nước khác. Trong các thư của mình Beria đặt các vấn đề (thư này còn nằm trong lưu trữ) về mối quan hệ tương hỗ trong việc lãnh đạo các nước cộng hoà dân tộc, đặc biệt trong sự lãnh đạo của các cơ quan Cheka, và đề nghị điều động các cán bộ dân tộc. Điều này đúng, đường lối như thế luôn luôn rồn tại trong Đảng. Nhưng Beria đặt vấn đề này theo hướng bài Nga trong việc bồi dưỡng, điều động và lựa chọn cán bộ. Ông muốn cột chặt các dân tộc và tập hợp họ chống người Nga. Luôn luôn tất cả các kẻ thù ĐCS luôn luôn tính đến cuộc đấu tranh giữa các dân tộc, và Beria cũng bắt đầu từ điều này.
Sau đó tôi kể về đề nghị cuối cùng của Beria - về việc từ bỏ xây dựng CNXH ở CHDC Đức - và đề nghị đối với những người bị kết án bị trừng phạt biệt xứ, khi Beria đề nghị không cho phép họ quay về chỗ cư trú, mà quyền quyết định nơi ở của họ do Bộ nội vụ làm, nghĩa là do bản thân Beria. Lúc ấy sự chuyên quyền về luật pháp! Tôi nói cả về đề nghị và Beria thay bằng giải quyết tận gố vấn đề việc bắt người và kết án họ dưới thời Stalinе, giảm thời hạn cực đại những người bị kết ăn bởi cơ quan Bộ Nội vụ từ 20 xuống 10 năm. Thoáng nhìn, đề nghị này tựa như tự do, còn theo thực chất là họp pháp hoá những gì đang tồn tại. Khép tội 20 năm hoặc 10 năm, tình thế vẫn không thay đổi. Tới 10 năm, và, nếu cần, Beria cho thêm 10 năm, còn sau đó lại 10 năm, chừng nào người ta còn chưa chết. Và tôi kết thúc:
- Do những theo dõi những hoạt động của Beria tôi có ấn tượng rằng ông ta nói chung không phải là một người cộng sản, mà làm kẻ hám lợi, chui vào đảng vì động cơ hám lợi. Ông làm những việc để đề cao mình và không thể chấp nhận được. Không tưởng tượng được một người trung thực có thể làm việc vì mình.
Sau tôi, Bulganin tiếp lời. Tôi và ông từ khi Stalin còn sống đã có cùng một ý kiến về Beria. Ông cũng phát biểu trong tinh thần như thế. Và những người khác thể hiện tính nguyên tắc, trừ Mikoian. Mikoian phát biểu cuối cùng. Ông phát biểu (tôi không còn nhớ chi tiết lời của ông): lặp lại cái điều đã nói với tôi, khi tôi và ông bàn bạc trước phiên họp, tuyên bố rằng Beria có thể tính đến sự phê bình, rằng ông không mất tuyệt vọng, trong một tập thể ông có khả năng ích lợi.
Khi tất cả phát biểu hết, Malenkov, với tư cách Chủ tịch phải tổng kết và làm văn bản quyết định. Nhưng ông lúng túng, và phiên họp chấm dứt ở diễn giả cuối cùng. Phiên họp ngừng lại ít phút.
Tôi thấy vấn đề như thế đã chất đống lên rồi, và đề nghị Malenkov để ông chuyển lời của tôi vào bản dự thảo. Như chúng tôi đã quy ước với nhau, tôi đề nghị Plenum quyết định vấn đề cách chức Beria (Đoàn chủ tịch BCHTƯ làm điều này) khỏi tất cả các chức vụ mà ông giữ. Malenkov vẫn còn bối rối và thậm chí không đưa đề nghị của tôi ra bỏ phiếu, mà lập tức ấn nút bí mật gọi các tướng lĩnh. Người đầu tiên vào là Zukov, sau ông là Moskalenko và những người khác. Zukov khi đó thứ trưởng Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Lúc ấy giữa tôi và Zukov còn tồn tại mối quan hệ tốt, mặc dù ông trong thời kỳ đầu không được tính trong số tướng lĩnh giúp đỡ chúng tôi xử lý Beria.
Vì sao chúng tôi lôi kéo các tướng lĩnh. Cũng có những suy tính được nêu ra, nếu chúng tôi quyết định giữ Beria, ai dám chắc Beria không gọi các Chekist, bảo vệ, những người này đang dưới quyền ông, và ông ra lệnh cho họ cô lập chúng tôi? Chúng tôi không có lực lượng, vì rằng ở Kreml có một lượng lớn người của Beria được vũ trang và huấn luyện kỹ càng. Vì thế chúng tôi quyết định lấy các tướng lĩnh quân đội vào việc.
Đầu tiên, chúng tôi trao lệnh cho Moskalenko và 5 tướng bắt Beria. Moskalenko cùng các đồng chí của mình có vũ khí, mà họ cùng vũ khí đó được Bulganin chở vào Kreml. Khi các tướng lĩnh vào Kreml, đã trao vũ khí cho trực ban. Ngay trước phiên họp phiên họp, nhóm Moskalenko được bổ xung thêm nguyên soái Zukov và một số người khác. Và tiến vào phòng họp khoảng 10 người hoặc hơn. Malenkov nói nhẹ nhàng, đề nghị với Zukov:
- Tôi đề nghị ông, thay mặt Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô giữ Beria.
Zukov ra lệnh cho Beria:
- Giơ tay lên!
Moskalenko và những người khác lột vũ khí, cho là Beria có thể gây khiêu khích. Beria kéo mạnh về phía mình chiếc cặp đang nằm ở bậu cửa sổ, sau lưng ông ta. Tôi tóm tay Beria để ông không thể sử dụng súng, nếu súng nằm trong cặp. Sau đó kiểm tra: không có súng trong túi, cũng như trong cặp. Beria đơn giản có phản xạ thôi.
Beria bị tống giam vào một gian phòng nhỏ, cạnh văn phòng làm việc Malenkov của trong dinh Hội đồng Bộ trưởng. Và chúng tôi quyết định, sáng mai hoặc sang ngày kia, càng nhanh càng tốt, triệu tập Plenum BCHTƯ Đảng, xử lý vấn đề Beria. Đồng thời cách chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô, vì rằng ông không được chúng tôi tin cậy, và chúng tôi nghi ngờ, liệu ông có tiến hành điều tra một cách khách quan không. Viện trưởng Viện kiểm sát mới được bổ nhiệm là Rudenko và được trao quyền tiến hành điều tra vụ Beria. Như vậy, Beria bị bắt. Nhưng đư hắn đi đâu? Chúng tôi không thể tin đội bảo vệ của Bộ nội vụ, vì rằng đây là cơ quan của Beria, với tay chân của Beria. Lúc đó thứ trưởng Bộ nội vụ Kruglov và, hình như, Serov. Tôi ít biết về Kruglov, còn Serov tôi biết rõ hơn và tin ông. Tôi cho rằng Serov là một người trung thực. Nếu có một cái gì đấy làm ông thay đổi, cũng mọi nhân viên Cheka khác, thì ông cũng là nạn nhân của cùng một chính sách chung do Stalin tiến hành. Vì thế tôi đề nghị trao quyền giữ Beria cho chính Serov. Nhưng các đồng chí khác suy nghĩ rằng dù sao chăng nữa phải thận trọng hơn - tất cả chúng tôi không ai tin Kruglov cả. Rồi chúng tôi thoả thuận rằng tốt nhất là trao vụ này tư lệnh quân đoàn phòng không, quân khu Moskva Moskalenko. Moskalenko nhận Beria, cho người của mình vây quanh và giải Beria về chỉ huy sở của mình, trong một cái hầm chống bom. Tôi thấy ông làm tất cả những gì cần thiết. Phiên họp này kết thúc.
Ngay khi phiên họp kết thúc, Bulganin đến gặp tôi:
- Anh hãy nghe tay đội trưởng bảo vệ của tôi kể.
Viên đội trưởng này đến chỗ tôi, kể:
- Tôi biết vừa mới bắt Beria, và tôi muốn nói với ông Beria hiếp đứa cháu gái của tôi, học sinh lớp 7. Hơn một năm trước đây bà của nó đã chết, còn vợ tôi vì đột quỵ và nằm ở bệnh viện. Cô bé ở nhà một mình. Một lần vào buổi chiều nó chạy đi mua bánh mỳ thì qua đúng ngôi nhà mà Beria ở. Ở đó, cháu gặp một người đàn ông già đang nhìn chăm chăm vào nó. Cháu khiếp sợ. Sau đó, một nhân viên Cheka gọi cháu và dẫn cháu vào nhà Beria. Beria ngồi ăn cơm chiều cùng với cháu, đề nghị uống rượu chúc Stalin. Cháu từ chối, nhưng ông ta cứ nài nỉ phải uống vì Stalin. Cháu đồng ý, rồi uống, còn sau đó cháu thiếp đi và ông ta hiếp cháu.
Tôi trả lời người này:
- Tất cả những gì ông kể, công tố viên sẽ điều tra”.
Sau đó người ta đưa chúng tôi một danh sách trong đó có họ tên hơn 100 phụ nữ. Tay chân của Beria dẫn họ tới Beria. Nhưng việc tiếp khách ở chỗ Beria tất cả mọi người đều theo một cách: tất cả những ai vào nhà Beria lần đầu tiên, ông đều mời ăn và đề nghị uống rượu vì sức khoẻ của Stalin. Trong rượu vang ông bỏ sẵn thuốc ngủ. Sau đó ông làm với họ cái gì mà ông muốn. Khi Beria bị cách ly, ông xin bút và giấy. Chúng tôi bàn bạc và quyết định cứ đưa cho ông: biết đâu trong lòng ông thức tỉnh một khát vọng chân thật để ông nó những gì ông ấy biết là chúng tôi buộc tội ông. Và ông bắt đầu viết. Ban đầu, thư cho Malenkov:
- Egor, anh thật đáng khinh, tôi biết anh, chúng ta là bạn nhau, sao anh lại tin Khrusev? Ông ta xúi giục anh làm điều này... và vân vân.
Với tôi ông cũng có một bức thư, trong đó viết rằng ông là một người trung thực. Ông gửi một số thư như thế: Malenkov băn khoăn khi đọc những thư này. Sau đó Malenkov bắt đầu lo lắng rằng ông và Beria cùng đưa ra ý tưởng từ bỏ xây dựng CNXH ở Đông Đức, và ông sợ rằng vụ việc nhằm chống Beria, xoay sang chống ông. Nhưng chúng tôi nói với ông rằng bây giờ chưa phán xét vấn đề này. Vấn đề Beria còn sâu rộng hơn nhiều so với vấn đề Đức.
Khi Rudenko bắt đầu thẩm vấn Beria, thì chúng tôi ngỡ ngàng thấy một con người tàn ác, khốn nạn, không có một cái gì thiêng liêng cả. Ở Beria không hề có chủ nghĩa cộng sản, và nói chung không có bộ mặt đạo đức con người. Nhưng quả là về tội ác của Beria khu vựcc gì để nói, vì ông làm chết bao nhiêu người lương thiện!
Sau khi bắt Beria được một thời gian, lại có vấn đề về Merkulov, từng là Thanh tra nhà nước Liên Xô. Tôi, thú thực rằng, trước đây tôi kính trọng Merkulov và coi ông là người của Đảng. Ông là con người có văn hoá và nói chung tôi quý ông. Vì thế tôi nói các đồng chí của mình:
- Có một sự kiện, Merkulov là trợ lý của Beria ở Gruzia, còn chưa đủ chứng minh rằng ông là đồng bọn của Beria. Có thể dù sao đi nữa, điều này không phải thế? Chính Beria giữ rất chức vụ cao và chính hắn chọn người cho mình, mà không phải ngược lại. Người ta tin Beria và làm việc với ông ta. Vì thế không thể coi những ai làm việc làm việc với Beria, như là những cộng sự gây những tội ác. Chúng ta gọi Merkulov, nói chuyện với ông. Có thể, ông thậm chí giúp đỡ chúng ta tốt hơn trong việc phán xét Beria.
Và chúng tôi quy ước rằng tôi gọi ông đến BCHTƯ Đảng. Tôi gọi Merkulov, nói rằng Beria bị bắt, rằng đang tiến hành điều tra.
- Ông nhiều năm làm việc với Beria, liệu có thể giúp đỡ BCHTƯ.
- Tôi sẵn sàng làm tất cả những gì có thể.
Và tôi đề nghị Merkulov:
- Hãy trình bằng văn bản tất cả những gì cần thu thập.
Sau bao nhiêu ngày trời, ông mới viết một bức thư dày, tất nhiên, vẫn nằm ở lưu trữ. Nhưng bức thư này chẳng giúp chúng tôi một cái gì cả. Ở đó chỉ là những ấn tượng chung chung, suy lý, tựa như tác phẩm nào đó. Merkulov viết một cái gì đó, kể cả bài hát, và thói quen sáng tác. Khi tôi gửi tài liệu này cho Rudenko, thì ông nói thẳng rằng phải bắt Merkulov, vì rằng điều tra vụ Beria mà không bắt Merkulov thì sẽ công việc sẽ bị cản trở và không làm đày đủ.
BCHTƯ Đảng quyết định bắt Merkulov. Tôi đau lòng, thấy rõ rằng mình phí công tin ông. Merkulov có liên quan với Beria trong những tội ác như thế, và chính ông phải ngồi trên ghế bị cáo và cùng trách nhiệm với Beria. Trong lời nói cuối cùng, khi bị kết án trước toà, Merkulov nguyền rủa cái ngày giờ, khi gặp với Beria. Ông nói rằng Beria đã đưa ông tới toà.
Từ Đại hội 19 đến Đại hội 20 ĐCSLX
Ngay sau khi kết thúc Đại hội 19 ĐCSLX, nảy sinh việc thay thế Bộ chính trị BCHTƯ Đảng trước đây bằng một cái tên gọi mới - Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCSLX, Stalin đã hình thành những hội đồng rộng rãi gồm nhiều thành viên về các lĩnh vực khác nhau. Trên thực tế té ra là những hội đồng này chẳng có khả năng làm việc, mặc dù tôi xem rằng nếu có sự lãnh đạo thích đáng lãnh đạo thì nó cũng giải quyết nhiệm vụ cụ thể mà quyền hạn chủ yếu - hội đồng này đưa ra những dự thảo, thì họ đóng một vai trò tích cực. Nhưng họ không thể làm nổi vai trò đó, vì rằng nó được trình cho chính họ, và không hề có một kế hoạch nào cả để lãnh đạo những hội đồng này, và các vấn đề đặt ra trước đây với họ vẫn không giải nghĩa được. Các vấn đề đang được suy nghĩ. Tóm lại, một người có dụng cụ của mình thích dùng lúc nào thì dùng. Không có ai lãnh đạo cả.
Rồi Stalin chết. Tôi rất trải qua nặng nề về cái chết của ông. Nếu nói chân thật, thì tôi chịu đựng không phải vì tôi có mối ràng buộc với Stalin, mặc dù nói chung tôi cũng ràng buộc với ông. Đơn giản là ông đã già, và không tránh khỏi cái chết luôn cặp kè với ông. Đối với tôi dó là quy luật bi thảm của tự nhiên: mọi người sinh ra và chết đi, phải coi trọng điều này. Stalin ở độ tuổi như thế, không thể tránh khỏi cái chết. Nôi lo lắng trước tiên của tôi là thành phần Đoàn chủ tịch vẫn tồn tại sau khi Stalin chết, và vai trò đặc biệt của nó đang nằm trong tay Beria và được ông ta củng cố: vai trò này đang báo trước, theo đánh giá của tôi, có một công việc lớn và là một bất ngờ lớn, tôi thậm chí nói rằng hậu quả thảm khốc. Vì thế tôi than khóc Stalin như một lực lượng duy nhất hiện thực đoàn kết. Mặc dù lực lượng này thường được sử dụng rất lung tung và không phải luôn luôn đi theo hướng cần thist, nhưng tất cả sức lực của Stalin là nhằm đến sự vững mạnh và phát triển sự nghiệp CNXH, sự vững mạnh thành quả của cách mạng tháng Mười. Điều này tôi không nghi ngờ. Ông đã thi hành cách thức dã man trong hành động, nhưng khi đó tôi còn chưa biết, sự xấu xa của ông là hoàn toàn vô căn cứ đến nhường nào, từ quan điểm của những người bị bắt và bị tử hình một cách vô cớ.
Tất nhiên ở tôi, cũng như mọi người khác thoáng hiện một ngờ vực:
- Thế này là thế nào? Trong số những người bị bắt hoặc bị tù hầu như không có ai quay lại và hầu như họ không đúng?
Trong cuộc sống không cần phải có như thế. Những nghi ngờ phát sinh đều có căn cứ, như phải theo chuẩn mực đúng trong ý nghĩ. Nhưng Stalin - là Stalin. Uy tín của ông rất lớn, và tôi không nghĩ rằng con người này về nguyên tắc có khả năng cố ý lạm dụng quyền lực.
Beria, khi Stalin chết, lại vào đúng chỗ đó. Ông thay đổi hẳn, trẻ ra, ăn nói thô lỗ, vui vẻ lên, đứng ở thi hài Stalin đặt trong quan tài chưa đến giờ chôn. Beria cho rằng thời của ông đã đến. Bây giờ không còn thế lực nào có thể kiềm chế ông, mà thế lực đó ông cần tính đến. Giờ đây ông có thể làm tất cả những gì ông xem là cần thiết.
Malenkov?
Malenkov không bao giờ giữ vị trí riêng, ông không có vai trò đặc biệt. Ông luôn luôn là người đầu sai. Stalin trong các cuộc nói chuyện hẹp đã nói một cách tương đối hình ảnh về Malenkov:
- Đây là một thợ viết. Ông ta viết nghị quyết rất nhanh, không phải luôn luôn một mình mà con tổ chức mọi người. Điều này ông làm nhanh hơn và tốt hơn những người khác, nhưng ông không có khả năng suy nghĩ và sáng kiến độc lập.
Đúng, Malenkov, theo tôi, cũng không có tham vọng trực tiếp cho điều này. Năm năm trước khi Stalin mất, tôi có mặt ở Sochi theo lời mời của Stalin, tôi có một lần nói với Malenkov, nhắc ông nên lưu tâm rằng ông có chỗ đứng của mình và không phải là dường cột trong quan hệ Beria, còn Beria nhạo báng ông. Lúc đó Malenkov nói với tôi là ông biết điều này, nhưng ông có khả năng để làm đúng công việc và thoát khỏi điều này. Ông cho rằng ông cùng với Beria là có lợi cho cá nhân ông. Vả lại, quả là đúng như vậy. Ông ủng hộ Beria, còn Beria ủng hộ Malenkov. Vì thế Stalin đánh giá cao hoạt động của Malenkov, mặc dù ông phê phán mạnh về khả năng của Malenkov trong lãnh đạo.
Bulganin?
Bulganin rất thận trọng với Beria, và khi tôi với ông nói về vấn đề này, thì ông phát biểu nhận xét tiêu cực đối với Beria, ông đồng ý với tôi.
Với ý nghĩ như thế, tôi đứng cạnh thi hài Stalin. Trước đây tôi đã kể về hoạt động của chúng tôi sau khi Stalin chết và về việc bắt Beria và tôi không bây giờ không lặp lại nữa. Nhưng sau khi bắt Beria và điều tra thì khám phá được những thôi thúc bí mật che dấu chúng tôi, những thôi thúc này trước đây đẻ ra sự lạm quyền lớn biết nhường nào dẫn đến cái chết của nhiều người lương thiện. Đối với tôi, nói riêng, ấn tượng mạnh nhất là cái chết Kedrov, cha của viện sỹ triết học Kedrov. Cá nhân tôi không biết Kedrov cha. Ông là một chính khách lớn, một trong những nhà lãnh đạo bộ đội Liên Xô ở miền Bắc, trong những năm nội chiến ông là người tổ chức phòng thủ chống bọn can thiệp ở đó. Và tôi có nhu cầu phải vén bức rèm để biết, dù cuộc điều tra đang làm, tại sao xảy ra các vụ bắt bớ, tất cả bao nhiêu người bắt, tài liệu gốc về việc bắt giam và điều tra về các vụ bắt giam này như thế nào? Tôi đặt vấn đề này tại cuộc họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ và đề nghị được phân xử rõ ràng. Các vấn đề này đặc biệt làm tôi lo lắng vì rằng chúng tôi cũng bắt đầu nghĩ về tiến hành Đại hội 20.
Tất nhiên chúng tôi cùng Vorosilov, Molotov, Kaganovich không bỏ cuộc đấu tranh để mở toang những thôi thúc bí mật. Tôi còn nhớ chính xác quan điểm của Mikoian. Hình như, Mikoian không tích cực, nhưng không cản trở quá trình phanh phui sự bất công. Tóm lại, dần dần tất cả đều đồng ý rằng cần phải tiến hành phanh phui vụ việc. Một Uỷ ban điều tra được thành lập, đứng đầu là Pospelov.
Trước đó, tôi mời Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô Rudenko (là Viện trưởng Viện kiểm sát đã xem xét nhiều và kiểm tra các tài liệu này) và hỏi ông:
- Đồng chí Rudenko, theo những bản án công khai thập niên 30 những điều buộc tội là căn cứ, thì mang chúng trình cho Bukharinу, Rykov, Syrsov, Lominadze, Krestinski và những người khác, trong BCH TƯ, các uỷ viên Ban tổ chức và Bộ chính trị? Có bao nhiêu những tài liệu có căn cứ?
Rudenko nói rằng từ quan điểm chuẩn mực luật pháp thì chẳng có một số liệu nào cả để buộc tội những người này. Tất cả chỉ dựa trên những lời thú nhận có tính cá nhân, mà những lời thú nhận đó có được bằng cách đánh đập và hành hạ người ta về tinh thần và thể xác, cho nên không thể là cơ sở để kết án người ta.
Khi đó đặt trước tôi một vấn đề: điều này có thể xảy ra không? Mọi người biết về vai trò của Stalin, cá nhân ông, quá trình hoạt động cách mạng của ông, công lao của ông trước đất nước và những phẩm chất mà Đảng ghi nhận. Ông có đầy đủ cơ sở để có vai trò đặc biệt, vì rằng ông thực tế đã tách khỏi những người gần mình và biết tổ chức công việc, và thông minh. Ông quả là đứng cao hơn người khác. Và thậm chí bây giờ, dù tôi không khoan nhượng những phương pháp hành động của ông, sự lạm quyền của ông, tôi cũng phải thừa nhận điều này. Tuy nhiên, nếu như bây giờ, chẳng hạn, ông vẫn còn sống và tiến hành bỏ phiếu về vấn đề trách nhiệm của ông vì hành vi ấy, thì tôi vẫn có quân điểm là phải xử ông. Nhưng cần phải đánh giá ông. Con người này không đơn giản đến với chúng tôi bằng gươm và chiếm được trái tim khối óc chúng tôi. Không, ông trong cuộc sống ông thể hiện sự lấn át của mình, tài năng lãnh đạo đất nước, kỹ năng cai trị mọi người, cho họ những phẩn cách vững chắc, cần thiết cho người lãnh đạo ở quy mô lớn.
Tất cả những gì liên quan tới cá nhân của Stalin, có cái xấu, cái tốt, cái đúng, và dã man, không để hết vào đâu. Phải xem xét tất cả các mặt của con người phức tạp này. Tôi nói nhiều ở đây phía tối đơn giản vì rằng mặt tâng bốc ông là quá đủ rồi. Điều chủ yếu - có những kết luận cần thiết và để những sự việc tương tự không lặp lại trong tương lai. Ở đây bao gồm tất cả các thư của tôi. Bất cứ việc nghiên cứu nào về quá khứ cần phải phục vụ cho hiện tại và tương lai.
Mở rộng một hướng song song. Những người lứa tuổi tôi nhớ lại việc ca tụng Stalin dần dần tăng lên, và mọi người đều biết sự tụng ca này được rót hết cỡ. Stalin thông minh! Stalin thiên tài! Tôi cũng chưa nói về những từ văn vẻ khác: nào là bố để nhân dân, và vân vân. Tất cả điều này hiện nay vang lên tại Trung Quốc người ta nói và viết về Mao. Tôi xem phim Trung Quốc. Tôi thấy chúng không hiếm trên TV. Tất cả các buổi tiếp khách được Mao nhân bản từ Stalin. Hãy mở mắt và nghe những lời phát biểu của người Trung Quốc về Mao Trạch Đông. Nếu thay thế “Mao” bằng “Stalin”, thì nhận được quá khứ. Đúng là những “màn kịch” tương xứng đã từng được tổ chức ở chúng ta. Tôi xem đó là hiện diện tính nhu nhược của Stalin. Nhưng, hình như sự việc không những chỉ ở tính nhu nhược. Hình như những người này, Stalin và Mao Trạch Đông, trong vấn đề này về nguyên tắc rất giống nhau. Họ coi điều này là cần thiết để giữ uy tín của họ được trên cao và không những bắt mọi người chịu mình, mà còn bắt họ phải sợ hãi.
Và dù sao chăng nữa có vấn đề: Vì sao điều này lại xảy ra? Nhiều người mà tôi tiếp xúc, hỏi:
- Tai sao Stalin, một người thông minh, có thể làm thế?
Tôi không ít lần, khi quay lại vấn đề này, tìm câu trả lời cho mình. Và tôi có câu câu trả lời duy nhất, tôi nghĩ rằng ông đúng. Để hiểu căn nguyên sự lạm quyền, giết người sai trái, tính tàn bạo của Stalin, phải quay về chúc thư của Lenin. Lenin, khi ông viết chúc thư, rõ ràng đã thấy trước, Stalin có thể đưa Đảng đến điều đó, nếu Stalin còn nằm trong ban lãnh đạo sẽ chiếm chức vụ Tổng Bí thư BCHTƯ. Lenin viết rằng phải loại bỏ Stalin khỏi chức vụ này, mặc dù Stalin cũng có những phẩm chất để làm lãnh đạo. Nhưng ông thô lỗ và có khả năng lạm dụng quyền lực, vì thế ông không thể giữ được. Lenin đề nghị thay thế Stalin bằng một người chan hoà hơn, biết lắng nghe hơn, kiên nhẫn hơn đối với đồng chí trong Đảng và không lạm dụng chức vụ cao của mình. Tôi cho rằng đây là nhận xét chính xác. Cuộc sống đã hoàn toàn xác nhận tư tưởng của Lenin. BCHTƯ Đảng không đi theo lời Lenin, không rút ra những kết luận thích hợp và bị thất bại. Không những BCHTƯ, mà toàn Đảng đã vị Stalin lạm quyền trừng phạt, giết Đảng viên và cốt cán ngoài Đảng. Trong những hoạt động này của Stalin, thấy được một con người bệnh hoạn. Đã xảy ra thảm hoạ với Đảng và tất cả nhân dân chúng tôi.
Tài liệu của Uỷ ban Pospelov mà chúng tôi lập trước ngưỡng cửa Đại hội 20 ĐCSLX, đối với nhiều người trong chúng ta là hoàn toàn bất ngờ. Tôi nói về ban thân tôi, ở mức độ nào đấy và về Malenkov, Bulganin, Pervukhin, Saburov, và các đồng chí khác. Đồng thời tôi xem rằng Mikoian trong thâm tâm phải rất sẵn sàng có thể bóc trần các sự thật dạng này được soi sáng trong thư của Pospelov. Tôi không cả quyết Mikoian biết tất cả! Dù sao chăng nữa thời gian dài Mikoian gần Stalin hơn tất cả chúng ta, và nhiều người làm việc với ông, được ông tin và được ông kính trọng, cũng đã bị giết. Anastas Ivanovich là người thông minh sắc sảo, biết cách thông báo sự thật, tôi nghĩ rằng nếu ông không biết tất cả, thì tôi dự đoán cho rằng vẫn còn ít chứng cớ về các vụ bắt bớ giam cầm và đặc biệt là các vụ hành quyết, được tiến hành trong thời gian Stalin cầm quyền. Tôi có cơ sở nghĩ như vậy, nói riêng, cuộc mạn đàm của tôi với Anastas Ivanovich, khi ông kể cho tôi nghe về buổi nói chuyện của ông với Ordzonikidze ngay đêm hôm trước cái chết của ông ta.
Khi đó tôi là uỷ viên Ban lễ tang Sergo, Chủ tịch Ban lễ tang là Avel Safronovich Enukidze giải thích rằng Sergo chết đột ngột do vỡ tim. Tất nhiên ông giải thích rằng Stalin ra lệnh như thế. Sau này, có lần tôi ở văn phòng của Stalin và hoàn toàn ngẫu nhiên khen ngợi Sergo. Điều này gây ra một ấn tượng xấu, không ai phản đối tôi, nhưng tất cả lặng thinh, im lặng một lúc. Sau đó Malenkov giải thích cho tôi rằng Sergo bị bắn. Tất nhiên khi Sergo chết, Malenkov cũng không biết gì cả về điều này, bởi vì khi đó ông còn chưa gần Stalin bằng tôi. Nhưng trong thời gian chiến tranh vệ quốc ông biết về điều này trong một lần nói chuyện ngẫu nhiên ở Stalin. Sau khi Stalin chết, Mikoian cũng kể rằng Ordzonikidze bị bắn hôm chủ nhật, nhưng đêm thứ bẩy, họ còn đi bộ quanh Kreml và nói chuyện. Trong cuộc hội đàm ấy, Sergo nhận xét rằng không thể tiếp tục sống: chiến đấu với Stalin thì ông không thể, mà chịu đựng thì ông đã làm, không còn sức.
Vì sao chúng tôi xây dựng Uỷ ban của Pospelov? Tôi lập luận như thế này: chúng tôi đang chuẩn bị Đại hội Đảng, Đại hội Đảng đầu tiên sau khi Stalin chết. Tại Đại hội này chúng tôi cần phải nhận trách nhiệm về lãnh đạo Đảng và đất nước. Để làm việc này phải biết chính xác cái gì được làm trước đây và bằng cái gì mà Stalin đưa ra những quyết định về vấn đề này khác. Đặc biệt điều này can hệ tớ những người bị bắt. Vấn đề đặt ra là: họ bị tù vì cái gì? Và cái gì tiếp theo đến với họ? Khi đó trong các trại cải tạo có đến hàng triệu người. Đấy là con số 3 năm sau khi Stalin chết. Trong năm này chúng tôi không thể cắt đứt với quá khứ, không thể có đủ lòng dũng cảm, tìm thấy nhu cầu nội tại hé mở bức màn che và nhìn vào cái gì đằng sau bức bình phong? Cái gì ẩn sau bức màn này, cái gì xảy ra dưới thời Stalinе? Điều này nghĩa là các vụ bắt bớ vô tận, xét xử, độc đoán, bắn giết? Chúng tôi cảm thấy ngượng bởi hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Stalin và mà vẫn chưa thoát khỏi áp lực này sau khi ông chết, mặc dù cũng không thể hình dung rằng các xử bắn lại có thể tỏ ra là vô căn, nói theo ngôn ngữ luật, tội ác chồng chất. Nhưng chính là như thế!
Stalin đã thực hiện những tội ác hình sự, loại tội ác này bị trừng phạt tại bất cứ quốc gia, trừ những quốc gia chẳng có luật pháp nào cả. Tình hình có hai mặt: Stalin chết, chúng tôi chôn cất ông, còn những người vô tội vẫn đi đày trong các trại tập trung... Tiếp theo, mọi lại trở lại bình thường? Tiếp tục chính sách cũ và tất cả những gì được làm dưới thời Stalinе, lại được hoan nghênh? Thậm chí các vụ bắt bớ không đúng và hành quyết? Những người đã bị giết với cái mác “kẻ thù nhân dân”, không ai nghĩ đến minh oan.
Tôi cho rằng Molotov, Vorosilov và Kaganovich là nguồn thông tin lớn nhất về quy mô thực và nguyên nhân các vụ đàn áp dưới thời Stalin. Tôi cho rằng Stalin trao đổi ý kiến với họ về con số này. Mặc dù Kaganovich, có lẽ, chưa biết hết cặn kẽ tất cả. Chưa gì Stalin chia sẻ với ông một cách cởi mở. Nịnh bợ đến như thế, là Kaganovich, ông có thể phanh thây cha đẻ của mình nếu như Stalin chỉ trong nháy mắt nói là điều này là cần thiết cho lợi ích của sự nghiệp Stalin. Stalin cũng không cần lôi kéo Kaganovich: chính con người này hơn ai hết gào to lên rằng cần phải làm ở đâu, không cần phải làm ở đâu, bò rách đầu gối quỵ luỵ trước Stalin, bằng cách bắt người bên phải bên trái và vạch mặt “kẻ thù”.
Khi ông vào Dân uỷ, thì triển khai ngay ở đó một lực lượng đầy đủ.
Sau một cơn điên dài săn lùng “kẻ thù nhân dân” chúng tôi cũng không thể quẳng được gánh nặng tinh thần của những những việc làm từ trước đó cho đến 1956, tất cả đã vẫn còn tin vào cái giả thiết mà Stalin dựng lên, rằng trong nước chúng tôi bị bao vây bởi “kẻ thù nhân dân” và phải chiến đấu với họ, bảo vệ cách mạng. Chúng tôi vẫn như trước đây nằm ở quan điểm nặng nề đấu tranh giai cấp, như là được dựa trên học thuyết và được Stalin thực thi. Nhưng khi chúng tôi đi đến quyết định thành lập Uỷ ban kiểm tra và Uỷ ban này cung cấp những tài liệu của mình, những tài liệu này đã được làm một cách bí mật. Sau đó, tại Đại hội 20, báo cáo của tôi được lãnh đạo theo tài liệu của Uỷ ban này. Bản báo cáo được copy gửi cho toàn bộ các cơ sở Đảng và thi hành những biện pháp, để các tài liệu sau khi đọc xong được thu hồi về.
Chúng tôi phân phát chúng cho các ĐCS anh em để biết. Trong số này, có Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Ở Ba Lan đúng lúc đó người lãnh đạo đảng là Berut chết. Sau khi ông chết, ở Ba Lan nổi lên một làn sóng, và tài liệu nói trên rơi vào tay những người Ba Lan không ưa Liên Xô. Họ sử dụng tài liệu này vào mục đích của mình và nhân bản nó. Người ta thậm chí nói với tôi rằng những người Ba Lan đã bán rẻ những tài liệu này. Báo cáo của Khrusev, làm trong phiên họp kín Đại hội 20 ĐCSLX, được đánh giá là không đắt. Đơn giản người ta có thể mua nó ở chợ trời, kể cả những người từ khắp các nước trên thế giới. Như thế tài liệu này đã được lưu hành. Tôi nhớ, các nhà báo phỏng vấn tôi rằng tôi có thể nói theo lý do này được không? Tôi trả lời tôi không biết những tài liệu như thế và cứ để tình báo Mỹ trả lời vấn đề này. Nhưng tôi phải trả lời thế nào, nếu phải nói ra bí mật?
Như vậy, chúng tôi sát Đại hội thường kỳ của Đảng. Tôi từ chối báo cáo tổng kết và cho rằng lần này chúng tôi làm lãnh đạo tập thể, nên báo cáo tổng kết không nhất thiết là bí thư BCHTƯ phải làm. Vì thế tại phiên họp thường kỳ Đoàn chủ tịch BCHTƯ tôi đề nghị quyết định ai sẽ làm báo cáo tổng kết. Tất cả mọi người, trong số này có cả Molotov (ông là người nhiều tuổi nhất trong số chúng tôi và có nhiều cơ sở hợp với vai trò người báo cáo), đồng thanh cử tôi làm báo cáo. Hình như về theo suy nghĩ hình thức, thì thường Bí thứ thứ nhất BCHTƯ đóng vai trò báo cáo tổng kết. Nếu để người khác báo cáo, thì có thể gây ra phức tạp. Sau khi Stalin chết trong số chúng tôi không có ai được coi là người lãnh đạo sáng giá. Có nhiều người cũng muốn đứng lên phất cờ, nhưng chưa có một người nào vượt trội cả. Vì thế người ta trao việc làm báo cáo cho tôi. Nhưng khi ấy một số người, trong số này có Vorosilov và Kaganovich, phản đối việc nói ra trên Đại hội điều gì đấy về sự đàn áp phi pháp dưới thời Stalin.
Tôi chuẩn bị báo cáo. Bản báo cáo tổng kết được thảo luận tại Plenum BCHTƯ và được tán thành. Bản báo cáo là thành quả của sáng tạo tập thể, tập hợp các sức lực của BCHTƯ, của các viện nghiên cứu khoa học và một loạt các cơ quan khác, và cả những nhân vật cuốn hút vào việc hình thành báo cáo tổng kết. Đại hội khai mạc. Báo cáo đã sẵn sàng. Triển khai các tranh luận. Đại hội tiến hành tốt đẹp. đối với chúng tôi, tất nhiên, là một thử thách. Đại hội sẽ ra sao sau khi Stalin chết? Nhưng tất cả các phát biểu đều hoan nghênh đường lối BCHTƯ, không cảm thấy một sự đối lập nào cả, không thấy những dấu hiệu của cơn bão tố nào cả. Tôi cũng luôn lo lắng, dù rằng Đại hội tiến hành trôi chảy, báo cáo được hoan nghênh. Tuy nhiên tôi cũng chưa bằng lòng. Một ý nghĩ dày vò tôi:
- Rồi Đại hội bế mạc, sẽ phải ra, và đây là hình thức thôi. Nhưng cái gì tiếp? Trong lương tri chúng tôi vẫn đọng lại hàng trăm người bị giết oan, kể cả hai phần ba uỷ viên BCHTƯ được bầu tại Đại hội 17. Ít ai còn nguyên vẹn, hầu như tất cả các cốt cán chẳng đã bị bắn hoặc bị đàn áp. Hiếm có ai gặp may để còn sống. Làm gì bây giờ?
Tài liệu của Uỷ ban của Pospelov nhói óc tôi. Cuối cùng tôi thu hết sức lực và trong một lần nghỉ giải lao, trong gian phòng Đoàn chủ tịch BCHTƯ chỉ có một số uỷ viên, lại đặt vấn đề:
- Thưa đồng chí, tài liệu của Pospelov ra sao đây? Làm gì với những người bị bắt và bị giết từ quá khứ? Đại hội bế mạc, và chúng tôi ra về, mà không nói được lời của mình? Chính vì chúng tôi cũng biết rằng những người bị sự đàn áp là oan uổng, không phải là “kẻ thù nhân dân”.
Đây là những người lương thiện, trung thành với Đảng, cách mạng, sự nghiệp Lenin xây dựng CNXH ở Liên Xô. Họ sẽ từ nơi bị đầy ải trở về. Chúng tôi đâm ra không giữ họ ở chỗ đó nữa Phải nghĩ xem làm thế nào để họ quay về một cách danh dự.
Chúng tôi trước đó vẫn chưa thông qua quyết định xem xét việc này và việc thả những người bị kết tội oan về nhà.
Ngay khi tôi nói xong, mọi người lập tức quẳng vào mặt tôi. Đặc biệt Vorosilov:
- Anh làm gì thế? Chẳng lẽ thế này ư? Chẳng có lẽ có thể nói hết điều này tại Đại hội? Điều này làm hỏng uy tín của Đảng ta, đất nước ta như thế nào? Anh phải giữ bí mật về điều này chứ. Và khi đó người ta sẽ khiếu kiện chúng tôi. Chúng tôi sẽ nói gì về vai trò cá nhân của chúng tôi?
Cả Kaganovich rất bực tức, và cùng một quan điểm như thế. Đó là quan điểm không có tính Đảng sâu sắc mà là ích kỷ. Đây là sự phủi trách nhiệm và nếu tội các còn sờ sờ ra đó thì phải ỉm đi, che giấu đi.
Tôi nói với họ:
- Điều này là không thể, thậm chí nếu lập luận từ quan điểm của các ông. Không thể ỉm đi được. Người ta phải ra khỏi nhà tù, về nơi chôn rau cắt rốn, kể lại cho họ hàng, người thân và bạn bè, đồng chí, cho toàn quốc và toàn Đảng, biết rằng những người vẫn còn sống từng bị đàn áp oan uổng. Những người ngồi tù 15 năm, có ai đó còn bị hơn nhiều, hoàn toàn chưa là gì. Tất cả những điều buộc tội họ chỉ là chuyện bịa đặt. Không thể im được. Sau đó tôi đề nghị suy nghĩ: tiến hành Đại hội đầu tiên sau khi Stalin chết. Tôi cho rằng chính trên Đại hội chúng tôi cần thành tâm nói hết tất cả sự thật về đời sống và hoạt động của Đảng và của BCHTƯ trong thời gian tổng kết. Chúng tôi bây giờ tổng kết từ thời kỳ sau khi Stalin chết, nhưng các uỷ viên BCHTƯ phải nói như thế nào trong thời kỳ Stalin. Chúng tôi đã lãnh đạo đất nước cùng với Stalin. Khi Đảng biết sự thật từ những người bị kết tội oan trước đây, họ nói với chúng tôi: Hãy cho biết điều này là như thế nào? Đại hội 20 họp, và ở đó người ta chẳng kể cho chúng ta cả. Và chúng tôi không có khả năng trả lời. Chả lẽ nói rằng chúng tôi không biết gì hết, sé là lừa dối: chính là chúng bây giờ biết tất cả sự thật, về sự đàn áp vô căn cứ, sự chuyên quyền của Stalin.
Những phản ứng quật lại cũng rất mãnh liệt. Vorosilov và Kaganovich lặp lại bất tận:
- Người ta buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Đảng có quyền buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi ở trong ban lãnh đạo, và nếu chúng tôi không biết tất cả sự thật, đấy là tai hoạ của chúng tôi, nhưng chúng tôi chịu trách nhiệm tất cả.
Tôi nói với họ:
- Nếu xem xét Đảng ta những một Đảng dựa trên tập trung dân chủ, thì chúng ta, những người những người lãnh đạo Đảng, không có quyền không biết. Tôi, và nhiều người khác nằm trong tình thế là, tất nhiên, không biết nhiều, vì rằng được đặt trong một chế độ, lúc đó anh chỉ biết người ta giao cho anh cái gì, còn những cái khác anh không được nói, và đừng thọc mũi tiếp điều này. Chúng tôi không chọc mũi. Nhưng không phải tất cả ở trong tình thế như vậy. Một số trong chúng ta biết, một số thậm chí chấp nhận tham gia giải quyết vấn đề này. Vì thế ở đây mức độ trách nhiệm cũng khác nhau. Cá nhân tôi sẵn sàng là uỷ viên BCHTƯ Đảng từ Đại hội 17 và uỷ viên Bộ chính trị từ Đại hội 18 chịu phần trách nhiệm của mình, nếu Đảng thấy cần phải truy cứu trách nhiệm của ai lãnh đạo trong thời Stalin, khi sự chuyên quyền hoành hành.
Họ là không đồng ý với tôi. Họ phản đối:
- Anh biết cái gì sẽ xảy ra không?
Lời đối đáp Vorosilov và Molotov đặc biệt the thé. Vorosilov chứng minh rằng nói chung không cần làm điều này:
- Hừ, ai hỏi chúng ta cơ chứ? - ông lặp lại.
Tôi hỏi lại:
- Những tội ác có không? Chính chúng ta chứ không đợi ai khác, phải nói rằng có. Khi nào người ta hỏi chúng ta, thì mới bắt đầu phán xét. Tôi không muốn điều này và tôi không chịu trách nhiệm như thế.
Nhưng chẳng thể nào thống nhất ý kiến được, và tôi đã thấy rằng không đạt được đúng quyết định từ các uỷ viên. Trong Đoàn chủ tịch của Đại hội chúng tôi chưa đặt vấn đề này, chừng nào thoả thuận được nội bộ Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Lúc đó tôi đưa một đề nghị như sau:
- Đại hội Đảng cứ họp. Kỷ luật nội bộ Đảng cần có sự nhất quán của lãnh đạo trong các uỷ viên BCHTƯ và uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ, sẽ không tác dụng trong thời gian Đại hội, bởi vì Đại hội có ý nghĩa cao nhất. Bây giờ mỗi uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ và uỷ viên BCHTƯ, trong số này và tôi phải làm báo cáo tổng kết, từng người có quyền phát biểu tại Đại hội và trình bày quan điểm của mình, thậm chí nếu quan điểm này không phù hợp với quan điểm báo cáo.
Tôi không nói rằng tôi sẽ thông báo về tài liệu của Uỷ ban điều tra. Nhưng, hình như có ai phản đối, cho rằng tôi có thể phát biểu và trình bày quan điểm của tôi động chạm đến việc bắt bớ, bắn giết. Bây giờ tôi không nhớ sau đó những ai ủng hộ ủng hộ tôi. Tôi nghĩ rằng đây là Bulganin, Pervukhin và Saburov. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ rằng, có thể, Malenkov cũng ủng hộ tôi. Ông là bí thư BCHTƯ phụ trách nhân sự, vai trò của ông trong việc này là khá tích cực. Ông, nói riêng, cũng giúp đỡ Stalin điều động cất nhắc cán bộ, rồi sau đó tiêu diệt họ. Tôi không dám chắc cá nhân ông khởi xướng đàn áp. Chưa chắc. Nhưng tại những vùng, khu vực, mà Stalin cử Malenkov đến đó để chỉnh đốn hàng ngũ, thì hàng nghìn người bị đàn áp và nhiều người trong số này bị xử tử. Tuy nhiên Malenkov có thể bây giờ ủng hộ tôi.
Có ai đấy nảy ra sáng kiến:
- Vấn đề đặt ra thế này, hình như tốt hơn là làm thêm một bản báo cáo.
Lúc ấy mọi người miễn cưỡng đồng ý. Tôi nói với họ:
- Thậm chí ở những ai thực hiện những tội ác, lần này đến lúc họ có thể thú nhận, và họ cũng được khoan hồng, không phải biện minh. Nếu thậm chí từ quan điểm xem xét vấn đề báo cáo sự lạm quyền mà Stalin thực hiện, thì có thể làm được ngay bây giờ, tại Đại hội 20. Để đến Đại hội 21 thì sẽ muộn, nếu chúng ta còn kịp sống đến lúc đó và đòi hỏi những vấn đề trước đây thì chẳng cần nữa. Vì thế tốt nhất làm bản báo cáo thứ hai từ bây giờ.
Khi đó nảy sinh vấn đề ai phải làm báo cáo. Tôi đề nghị Pospelov, và lập luận đề nghị của mình là ở chỗ Pospelov nghiên cứu vấn đề này với tư cách Chủ tịch Uỷ ban và viết tài liệu để chúng tôi sử dụng nó. Vì thế ông không phải mất thời gian chuẩn bị: ông có thể chuyển các tài liệu này vào báo cáo và đọc nó tại Đại hội. Những người khác (tôi không nhớ là ai) phản đối và đề nghị là tôi làm luôn báo cáo này. Đối với tôi là bất tiện: vì trong báo cáo tổng kết tôi không nói một lời nào về điều này, còn sau đó tôi lại làm thêm báo cáo thứ hai? Và tôi từ chối. Nhưng họ phản đối tôi:
- Nếu bây giờ không phải là anh phát biểu, mà là Pospelov, cũng là một trong những bí thư BCHTƯ, thì phát sinh vấn đề: Vì sao Khrusev trong báo cáo tổng kết không nói tý gì về điều này, mà Pospelov lại phát biểu một vấn đề quan trọng để tranh luận? Không thể Khrusev không biết tài liệu của Pospelov hoặc không coi trọng sự cần thiết của vấn đề. Nghĩa là, về vấn đề này có sự bất đồng trong lãnh đạo? Mà Pospelov phát biểu chỉ với ý kiến riêng?
Luận cứ này cứ lằng nhằng mãi, cuối cùng tôi phải đồng ý. Quyết định rằng tôi sẽ phát biểu tài liệu của Uỷ ban cùng với báo cáo. Chúng tôi tổ chức phiên họp kín trong thời gian tranh luận về tổng kết của BCHTƯ, ở đó tôi cũng làm bản báo cáo thứ hai.
Đại hội nghe tôi một cách im lặng. Như người ta nói có thể nghe được tiếng ruồi bay. Mọi người đều quá bất ngờ. Cần, tất nhiên, biết rằng các đại biểu đã sửng sốt về những câu chuyện về sự độc ác được thực hiện đối với những người từng có công lao, những bolsevich lão thành và những người trẻ. Bao nhiêu người lương thiện từng được điều động đến khác nhau của đất nước đã bị giết! Đây là một thảm khốc cho Đảng và cho các đại biểu tham dự Đại hội. Báo cáo tại Đại hội 20 ĐCSLX về sự lạm quyền của Stalin đã ra đời như thế.
Tôi xem rằng vấn đề được đưa ra hoàn toàn đúng lúc và kịp thời. Không những không hối hận, những một số người nghĩ, mà còn thoải mái trong lòng rằng đã chộp đứng thời điểm và đã cố làm để bản báo cáo này được làm. Tất cả việc này có thể đưa đến hướng khác, mọi người còn bị sốc là còn nhiều người cũng bị giam cầm nhe trước đây trong các nhà tù và trại cải tạo. Năm 1953 chúng tôi đã có giả thiết về vai trò Beria dường như, Beria hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự lạm quyền thực hiện thời Stalinе. Điều này cũng gây sốc. Chúng khi đó tôi không cách nào gột khỏi ý nghĩ Stalin - người bạn của mọi người, bố đẻ nhân dân, thiên tài và vân vân... Không thể ngay lập tức hình dung rằng Stalin - kẻ sát nhân và tên hung đồ. Vì thế sau bản án cho Beria chúng tôi lại luẩn quẩn trong giả thiết mà chúng tôi xây dựng nên có lợi minh oan cho Stalin: Ông Trời không có lỗi, mà lỗi ở kẻ nịnh bợ, kẻ báo cáo sai cho Trời, vì vậy Trời mới giáng mưa đá, sấm sét và các tai hoạ khác. Nhân dân bị khổ sở không phải vì Trời muốn thế, mà do tên nịnh nọt Nicolai, Ilia Prosok, Beria và vân vân... Và bây giờ có lần có người đặt câu hỏi:
- Liệu có cần phải kể về Stalin không?
Đây hoàn toàn không phải là những người đồng phạm của Stalin trong tội ác, mà thực chất họ là những người quen thói sợ Stalin, và bây giờ họ khó xử. Thông thường các vị lão thành đặt các vấn đề như thế. Họ đã sống với quá khứ, họ khó từ bỏ nổi những hiểu biết trước đây và luận cứ của thời Stalin. Đây cũng một trong những khuyết điểm giáo dục Đảng viên. Tất cả các phương pháp giáo dục trong Đảng, Stalin làm nó thích ứng với mình, với hoạt động của mình: sự tuân lệnh không bàn cãi, sự tín nhiệm tuyệt đối. Trong thời gian chiến tranh có chết chóc mà không nghi ngờ, tất nhiên, nhưng sau này luôn luôn quay ngoắt theo hướng ngược lại, vì rằng một người tin anh mà không bàn luận, khi biết, sự tín nhiệm của anh ta bị lừa, họ sẽ là kẻ thù của anh. Điều này rất nguy hiểm. Tôi luôn luôn đã đứng, hơn nữa bây giờ tôi đang đứng vì sự thật, vì sự đúng đắn tuyệt đối trước Đảng, Đoàn thanh niên và tất cả nhân dân. Có một kết luận là chỉ có nguồn gốc bất tận sức mạnh của Đảng mới có thể chiếm được sự tín nhiệm nhân dân. Người ta biết rằng Đảng đã lừa quần chúng đông đảo, Đảng đến đường cùng.
Bây giờ tôi thường nghe đài. Radio - đó là người bạn đồng hành của tôi trong thời gian dạo chơi. Từ radio tôi nhận cả thông tin, cả sự thoả mãn. Tôi yêu âm nhạc, yêu dân ca. Nhạc hiện đại cũng làm tôi thích. Nhưng, tôi cảm thấy, hình như con người độ tôi có xu hướng sống lại tời trai trẻ. Đặc biệt trong tâm trạng tốt, tôi vừa đi bộ, nghe giọng hát của Ludmina Zykina, ca sĩ mà tôi yêu thích, và nghe cả những buổi truyền khác. Các buổi truyền thanh rất nhiều, đa phần là tốt, nhưng cũng gặp cả những những chuyện nhảm nhí, chỉ có làm bẩn chương trình phát sóng thôi.
Một lần tôi nghe đọc một trong các chương cuối tiểu thuyết “Họ chiến đấu vì tổ quốc” của Solokhov. Mikhail Aleksandrоvich tin bởi sự sáng tác của mình: chuyện thời Stalin lạm quyền, ông trấn áp những cán bộ lương thiện, được Lenin giáo dục, Solokhov tả về cuộc nói chuyện của hai ông đánh cá. Họ ngồi và chuyện trò. Người này hỏi người kia:
- Nên hiểu đồng chí của Stalin như thế nào nhỉ? Người ta nói rằng ông bỏ sót. Nhưng bao nhiêu người bị tội, bao nhiêu người bị hành quyết! Có thể Stalin phạm vào điều này không?
- Đúng, khó hiểu - người kia trả lời.
Lúc đó người đầu tiên lại hỏi:
- Thế không phải Beria chính là người có lỗi à? Chính ông báo cáo tất cả cho Stalin?
Và câu trả lời:
- Đúng, tất cả là do Beria.
Mikhail Aleksandrоvich - một người thông minh và nhà văn giỏi. Sự thật việc ông lại bám vào cách hiểu biết tương tự theo truyền thống của chẳng và nhân dân, trong khi bao nhiêu người chết bởi tay Stalin, tất nhiên, không tô hồng cho ông. Lúc ấy cốt lõi là thế này: Beria không dựng Ezov, mà từ trước đây, dựng Yagoda. Tất cả bọn họ tiếp theo chân nhau vào màn kịch. Một “nhân vật”, được Stalin dựng lên, sẽ được thay thế bằng nhân vật khác, và đây cũng là logic đối với Stalin. Stalin dùng tay người khác để giết những người lương thiện và ông biết rằng họ là những người trong sạch trước nhân dân và trước Đảng. Những người chết chỉ vì rằng ông ông sợ họ và không tin họ. Sau đó, phải dần dần loại bỏ một đồ tể và thay bằng một đồ thứ hai. Cứ như thế ba thê đội tiễu phạt: trước tiên Yagoda, sau đó Ezov, sau đó Beria.
Đến Beria, thì điều này chấm dứt. Nói đúng ra, không phải chính Beria, mà do cái chết của Stalin. Beria đứng trước toà án nhân dân như một tội phạm. Nhưng khi đó chúng tôi vẫn còn lẩn quẩn về cái chết Stalin, thậm chí khi mọi người biết rõ nhiều sau phiên toà xử Beria, vẫn còn đưa cho Đảng và nhân dân những lời giải thích không đúng, tất cả đổ bớt sang đầu Beria. Đối với chúng tôi, Beria tỏ là tiện lợi cho hình ảnh này. Chúng ta đã làm tất cả để bào chữa cho Stalin, dù chúng ta che chở được tên tội phạm, tên giết người, vì chúng tôi vẫn chưa thoát khỏi sự ngưỡng mộ Stalin.
Lần đầu tiên tôi thực sự cảm thấy sự dối trá, khi tôi đến Nam Tư và hội đàm và Tito và đồng chí khác. Khi chúng tôi đụng chạm vấn đề này và đổ cho Beria, họ cười và đáp lại một cách nhạo báng. Điều này làm chúng tôi ức, và chúng tôi, để bảo vệ Stalin, đã cãi nhau rất to, thậm chí suýt đến đổ vỡ to. Sau đó tôi công khai phát biểu bảo vệ Stalin và chống Nam Tư. Bây giờ tất cả rõ ràng là không đúng, lúc ấy tôi ở quan điểm của một người chưa nhận thức được cần vạch mặt đến cùng những tội ác của Stalin, sao cho các phương pháp hành xử tương tự không bao giờ có thể quay về Đảng ta nữa. Người, quả là muốn thiết lập kỷ luật của Lenin trong Đảng ta, mình không phải kỷ luật của Stalin, phải làm hết sức lực để phanh phui Stalin và sự kết án các phương pháp Stalin. Cần phải minh oan những người lương thiện trong số những người chưa được minh oan, và phanh phui những sự phi pháp được tạo ra trước đây, để thậm chí bóng ma của những phương pháp như thế không thể đội mồ sống lại.
Tôi sửng sốt bởi một số tướng lĩnh lớn quân đội trong hồi lý của mình muốn minh oan cho Stalin và cho ông là người cha nhân dân, đã chứng minh rằng nếu không có ông thì chúng tôi không chiến thắng và rơi vào ách phát xít. Đây là lý luận ngu ngốc, mù quáng. Ngay bây giờ, khi không có Stalin, chúng tôi vẫn bị rơi vào ảnh hưởng của Đức, Anh, Mỹ hay sao? Không, không bao giờ. Nhân dân đưa ra những người lãnh đạo mới và có khả năng bảo vệ mình như từng có trong quá khứ. Sự phi lý của những bàn luận như thế không cần thiết trong những bằng chứng riêng.
Tôi nhớ, tại một hội nghị, một chỉ huy quân sự, nhân ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh cả Bliukher. Những người khác, tuy ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh Tukhachevski. Đồng chí, phải ăn nói có trước có sau! Không thể đặt kẻ giết người và nạn nhân lên một bệ. Bliukher là ai? Anh hùng nội chiến, có bẩm sinh quân sự, thợ nguội, nằm trong hàng ngũ tướng lĩnh lớn. Ông đã nhận huân chương Cờ Đỏ №1. Bliukher là số một. Sau đó, là một trong số những chỉ huy quân sự tốt nhất của Liên Xô được cử sang Trung Quốc làm cố vấn quân sự cho Tôn Trung Sơn. Và bỗng nhiên ông bị bắn! Không thể nói cùng một lúc về Stalin và Bliukher, mà lờ đi nguyên nhân cái chết Bliukher. Không thể nhắm mắt cho rằng chẳng ai nhìn thấy gì cả. Sự xấu xa tương tự có thể chỉ gây ra mất lòng tin.
Tôi có lần ở Bulgari, một trong những bài phát biểu tôi dẫn lời của Puskin, trong tác phẩm của ông có nói về cuộc nói chuyện giữa Mozart và Salere. Mozart không hề nghi ngờ rằng Salere chuẩn bị đầu độc mình, nói:
- Thiên tài và tội ác không thể là một.
Đúng vậy! Với Stalin cũng vậy. Không thể ghép thiên tài và sát nhân vào cùng một bộ mặt. Không thể gắn hàng nghìn nạn nhân với những kẻ sát nhân, mà không có sự giải thích về vụ việc Stalin. Không thể trên một bệ đặt hai bức tượng. Tội ác do Stalin gây ra!
Theo lối nghĩ như thế - có câu hỏi khác. Một số người tranh luận như thế này: điều này được làm không phải nhằm mục đích vụ lợi cá nhân, mà là lo cho dân. Thật mọi rợ! Lo cho dân, thế mà lại giết những đứa con tốt nhất của họ! Logic khá ngu đần. Sự thật, tìm những luận cứ để biện bạch cho kẻ giết người, luôn luôn là phức tạp.
Trong báo cáo của tôi tại Đại hội 20, không nói gì iên quan tới những vụ án công khai thập niên 30, trong đó có mặt đại diện Đảng cộng sản anh em. Lúc đó người ta kết án Rykov, Bukharin, những lãnh tụ khác của nhân dân. Họ xứng đáng để được gọi là lãnh tụ. Chẳng hạn, Rykov. Sau khi Lenin qua đời, ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Liên Xô, có công lao to trước Đảng, trước nhân dân và xứng đáng lãnh đạo Chính quyền xô viết. Nhưng người ta kết án và bắn ông. Còn Bukharin? Bukharin là trong những yêu quý Đảng. Thế hệ Đảng viên lão thành РĐCS(b) từng học theo cuốn sách của ông Khoa học Mác Lênnin. Bukharin nhiều năm là chủ bút báo Sự Thật. Lenin gọi ông thân mật là “Bukhric của chúng ta”. Hoặc Zinovev và Kamenov. Trong cách mạng tháng Mười 1917 họ có sai lầm. Điều này ai cũng biết, nhưng những cái khác cũng nên biết. Zinovev và Kamenov được Lenin đưa vào Bộ chính trị BCHTƯ Đảng và ngang hàng các vị lãnh đạo khác Khi Chính phủ xô viết chuyển về Moskva, Zinovev còn ở Petrograd. Ông được tin tưởng giao lãnh đạo cái nôi cách mạng và đã nâng ngọn cờ khởi nghĩa tháng Mười năm 1917. Kamenov được Moskva tin tưởng. Ông là, nói riêng, là Chủ tịch Mossoviet. Lenin vc quan hệ với ông sau những sai lầm người ta đã tha thứ cho ông.
Có lần tôi nghe đài nói là: Lenin trao một cái gì đó cho Lomov. Nhưng Lomov ở đâu nhỉ? Tôi biết rõ Lomov, không ít lần tiếp xúc với ông, khi làm việc tại Donbass, từ sau nội chiến. Lúc đó ông lãnh đạo khai thác than tại Donbass. Tôi thường có mặt tại các buổi họp của ông, hoặc ở Kharkov, nơi trụ sở chính của ông. Đó là một người rất được kính trọng trong Đảng с thâm niên bí mật trước cách mạng. Lomov đâu rồi? Ông bị bắn, không còn Lomov nữa. Tôi nói về Kedrovе, Tukhachevski, Egorov, Bliukher, và những người khác. Có thể lập một quyển sách dày thống kê chỉ những họ tên những tướng lĩnh, Các nhà lãnh đạo Đảng, Đoàn thanh niên, kinh tế, ngoại giao, khoa học. Tất cả đều là những người lương thiện. Họ là nạn nhân của Stalin, nạn nhân sự chuyên quyền.
Vấn đề những vụ án công khai thập niên 30 cũng cũng có hai mặt. Chúng tôi lại sợ nói đến tận cùng, mặc dù không gây ra nghi ngờ nào, rằng những người này không có tội, họ là nạn nhân sự chuyên quyền. Tại các vụ án xử công khai, có mặt những người lãnh đạo đảng anh em, mà chính họ sau này đã chứng minh tại nước họ đây là những bản án chính đáng. Chúng tôi không muốn làm mất uy tín về những tuyên bố của họ, và hoãn lại việc minh oan cho Bukharin, Zinovev, Rykov và những người khác đồng chí trong một thời hạn chưa định được. Tôi nghĩ rằng đúng là cần phải nói đến cùng. Cái kim trong bọc cũng phải lòi ra.! Thành công chủ yếu Đại hội 20 - là nó bắt đầu quá trình làm trong sạch Đảng và đưa Đảng trở lại chuẩn mực sinh hoạt, mà Lenin và những đứa con thân yêu nhất của đất nước đã làm vì nó.
Một phần những người bị kết án sai đã được tha, ngay khi Stalin chết. Beria khi đặt vấn đề này, điều chỉnh nó, đưa ra một đề nghị thích hợp, và chúng tôi đồng ý với ông. Nhưng té ra là những người được tha lại là tội phạm hình sự: giết người, trấn lột, bọn vô lại và đểu cáng. Khi bọn này quay về nơi ở cũ, thì tái diễn những cảnh trộm cắp, cướp giật và giết người. Nhân dân ca thán rằng người ta thả bọn trộm cắp và giết người và họ làm bẩn sự nghiệp của mình. Trước đó Beria bị vạch mặt và kết án. Vì thế chính chúng tôi phải đưa cho nhân dân những chỉ thị. Bản thân chúng tôi cũng thấy đây là việc làm không đúng, mặc dù thông qua đề nghị của Beria, nhưng quyết định lại do Chính phủ và BCHTƯ thông qua, như vậy tất cả chúng tôi chịu trách nhiệm về việc này. Bao nhiêu đối tượng này được thả, tôi khó nói được, tuy nhiên trong mọi trường hợp cũng là một đội quân lớn.
Những người bị kết án về chính trị và những người bị lưu đày vẫn còn nằm trong các nhà tù và các trại tập trung. Beria thậm chí đề nghị thông qua luật trao quyền cho Bộ nội vụ, nghĩa là Beria, có quyền xem xét là thả ai cho ai sau khi hết thời hạn trừng phạt. Như tôi đã kể, tôi đã thẳng cánh phản đối như thế nào, và mọi người ủng hộ tôi. Do đó, Beria rút đề nghị này. Số phận tất cả những người tù chính trị ra sao, khi Viện trưởng Viện Kiểm sát Rudenko trình tôi về sự vô tội của họ, tôi hỏi ông:
- Sao lại thế? Chính tôi đã nghe, họ thú nhận tội mình người ta buộc cho họ cơ mà.
Rudenko cười:
- Đó là nghệ thuật của người điều tra và người xử. Hình như những con người này bị dồn đến trạng thái, chỉ có một cách duy nhất để kết thúc sớm những đau khổ và nhục nhã - là tự thú nhận, bước sau đó là cái chết”.
Sau Đại hội 20 ĐCSLX
Ngay sau Đại hội 20, trong tất cả các ĐCS, đặc biệt Pháp và Ý bắt đầu xúc động. Cũng dễ hiểu rằng đó là những Đảng vô sản, đông quần chúng, mà tại những phiên toà xử “kẻ thù nhân dân” lại có mặt Torez và Toliatti, hai ông này về sau làm nhân chứng cho nước họ rằng những người bị khép tội là đúng luật. Thế mà bây giờ tất cả xoay ngược lại! Tình tiết này cũng ngăn họ không công bố tư liệu phiên toà công khai, mặc dù cũng chẳng có tội ác nào cả và các bản án chỉ có tính ý nguyện và không chứng minh được tội ác của những bị cáo “tự thú nhận”.
Bắt đầu mây đen ở Ba Lan. Sau Ba Lan, lan sang Hungary. Sau khi người lãnh đạo Ba Lan là Berut qua đời, tôi, đại diện toàn quyền BCHTƯ ĐCSLX, đến Warsawa, tham dự Plenum BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Tôi không có mặt tại các phiên họp này để người ta không buộc tội Liên Xô can thiệp vào nội bộ Đảng anh em. Các phiên họp tiến hành rất sóng gió, các uỷ viên BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan bày tỏ không hài lòng với Liên Xô. Những người trong BCHTƯ Đảng Ba Lan, thân với chúng tôi, đã kể như thế. Điều này làm chúng tôi không sung sướng gì, nhưng chúng tôi cho rằng đây là thể hiện dân chủ - một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, sau một thời gian, ở đấy xảy ra những sự kiện làm chúng tôi lo ngại.
Tại Plenum, Okhab được bầu làm Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Chúng tôi cũng có những quan hệ cá nhân tốt với Okhab. Tôi kính trọng ông, theo tư liệu, ông hoàn toàn xứng đáng điều này. Một người cộng sản lão thành, trải qua trường học cách mạng trong tù. Và thoạt đầu, chúng tôi cho rằng ông xứng đáng tin cậy. Sau khi ông được bầu làm Bí thư thứ nhất, chúng tôi hội đàm với ông, và tôi đặt vấn đề:
- Tại sao Gomumka lại ngồi ngồi tù ở Ba Lan?
Khi tôi nói điều này với Berut, thì ông ta trả lời tôi như thế này:
- Tôi và chính tôi cũng không biết, tại sao Gomumka ngồi tù và ông bị buộc tội gì.
- Ông nghĩ xem, có thể tha ông ấy được không?
Thế là Okhab bắt đầu chứng minh với tôi rằng không thể tha được. Ngồi tù không chỉ một mình Gomumka: mà còn cả Slykhanski, cả Loga-Sovinski, Klisko và nhiều người khác. Điều này làm tôi lo ngại, và tôi không thể nào hiểu, vì sao họ bị giữ trong tù. Tôi thảo luận hầu như với tất cả các vị lãnh đạo Đảng công nhân thống nhất Ba Lan, và họ đều chứng minh rằng không thể làm một cái gì cả, không thể tha những người này.
Sau một thời gian, Okhab dẫn đầu Đoàn đại biểu đến Trung Quốc. Khi họ quay về nước, ghé qua Moskva, tôi lại bàn bạc với Okhab. Trước đó Gomumka được tha, và tôi hỏi Okhab:
- Liệu chúng tôi chúng tôi có thể mời Gomumka đến Liên Xô, nghỉ ở Hắc hải, ở Krym hoặc Kavkaz, nơi có khí hậu tốt lành để nghỉ hơn là ở Ba Lan.
Ông trả lời không rõ ràng và quay về Warsawa. Điều này làm tôi lo ngại, thậm chí còn băn khoăn. Và đúng sau một vài ngày đại sứ của chúng tôi ở Ba Lan cho biết ở Ba Lan bùng ra sự kiện là nhiều người Ba Lan phỉ báng Liên Xô và suýt nữa thì đảo chính, do những người chống Liên Xô tiến hành. Phát sinh mối đe doạ tuyến giao thông, liên lạc của chúng tôi ở CHDC Đức, qua Ba Lan. Nhưng sự kiện ở Ba Lan chúng tôi rất lo ngại và có những nguyên nhân khác nhau, và chúng tôi quyết định áp dụng các biện pháp để đảm bảo cho chúng tôi tự do qua lại Ba Lan và đảm bảo liên lạc với quyết định Liên Xô ở CHDC Đức. Chúng tôi dự định cử một Đoàn đại biểu đến Ba Lan, nhưng trước khi đi, chúng tôi gọi điện cho phía Ba Lan. Tình hình ở đó tiếp tục nóng bỏng. Báo chí Ba Lan mạnh mẽ phê bình Liên Xô, dường như Liên Xô cướp bóc Ba Lan, mua than của họ theo giá rẻ và bán cho họ quặng sắt theo giá cao. Những việc này quả thật xảy ra thời Stalinе, khi chúng tôi mua bán với các nước dân chủ nhân dân không theo giá thế giới, mà là áp đặt. Lãnh đạo Ba Lan khuyên chúng tôi không đến vào lúc này. Nhưng điều này lại càng làm chúng tôi lo ngại hơn, vì lẽ những người Ba Lan rõ ràng chứng minh rằng họ không muốn gặp chúng tôi Và chúng tôi quyết định nhanh chóng cử một Đoàn đại biểu đến đó gồm: Khrusev, Mikoian, Bulganin và một số người khác.
Chúng tôi bay đến Warsawa. Ở đó chúng tôi gặp Okhab, Gomumka, những đồng chí khác. Cuộc gặp rất lạnh lùng. Khuôn mặt của Okhab lộ rõ vẻ lo âu. Tất cả kéo đến dinh thự, cung điện ở Larenka nơi bắt đầu đàm phán ở mức gay gắt. Chúng tôi cảnh cáo về việc làn sóng chống xô viết tăng lên ở Ba Lan và tuyên bố rằng chúng tôi kiên quyết đảm bảo giao thông, liên lạc của mình với quân đội xô viết ở CHDC Đức. Đó là áp lực thẳng thừng từ phía chúng tôi. Okhab nổi khùng:
- Ông đưa yêu sách cho tôi phải không? Bây giờ tôi không phải là bí thư BCHTƯ. Ông đi mà hỏi người khác.
Và ông ta chỉ sang Gomumka. Lời nói của Okhab lộ ra vẻ không hài lòng. Chúng tôi khi ấy có một ấn tượng nặng nề về tình hình trong ban lãnh đạo Ba Lan. Chúng tôi không biết thực chất tình hình và sợ rằng chính quyền rơi vào tay những người đang tiến hành chính sách chống Liên Xô. Nhưng chúng tôi không muốn trở lại những quan hệ của chúng tôi với Ba Lan như trước chiến tranh, mà chúng tôi vẫn chưa phai trong đầu.
Gomumka cố gắng xua tan nghi ngờ của chúng tôi. Ông đồng ý rằng tình thế ở Ba Lan là phức tạp và làn sóng chống xô viết tăng lên. Nhưng ông cam đoan tình hữu nghị với Liên Xô cần thiết sống còn đối với Ba Lan và mối quan hệ của chúng tôi không bị phá huỷ. Tôi tin rằng trong một thời gian ngắn, thì làn sóng không hài lòng sẽ bị bớt đi và tình hình trở lại bình thường. Tuy nhiên sau này bắt đầu thên sự kiện ở Hungary. Lúc đó, theo tôi, có hai ĐCS, mà lãnh đạo không yên ổn. Ở Hungary thời Stalin cũng nhiều người bị bắt bắt, tôi cho rằng không phải Stalin khởi xướng bao nhiêu thì Rakosi làm bấy nhiêu. Điều này được làm thông qua cố vấn của chúng tôi do Stalin cử đến ngồi ở Ba Lan, Hungary, và các nước anh em khác. Qua những người này, Stalin hành xử ở đó với cùng một phương pháp hành xử ở Liên Xô. Sau các cuộc thương thuyết ở Warsawa chúng tôi quay về Moskva dưới một ấn tượng lời tuyên bố căng thẳng nhưng chân thật của Gomumka rằng tình hữu nghị của Ba Lan với Liên Xô cần hơn tình hữu nghị của Liên Xô với Ba Lan. Ông nói:
- Chẳng có lẽ chúng tôi không hiểu tình thế mà chính chúng tôi không có Liên Xô không giữ được biên giới phía tây của mình. Chúng tôi tự xem lại các vấn đề nội bộ, những quan hệ với Liên Xô vẫn là, vẫn là tình hữu nghị không thay đổi và liên minh.
Mặc dù ông nói điều này hơi cao giọng, nhưng không đến nỗi khó để tin. Và tôi tin ông, nói với các đồng chí của mình:
- Tôi nghĩ rằng chúng tôi không có cơ sở để không tin Gomumka. Ông được bầu Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Phần đông các đồng chí Ba Lan tin ông. Tôi cảm thấy rằng lời tuyên bố của Gomumka được những người khác ủng hộ. Chính ông nói điều này không phải là bí mật, mà là công khai, tại cuộc họp lãnh đạo. Tất cả mọi người đã nghe thấy. Phải cho rằng lần này không ai, tất cả đều đồng ý.
Tuy nhiên một thời gian dài tình hình ở Ba Lan vẫn căng thẳng và làm chúng tôi rất lo ngại.
Trước mắt chúng tôi còn có cả những mối quan hệ với các nước làng giềng. Thời kỳ đó, vấn đề nghiêm trọng nhất - chất lượng sản phẩm của chúng tôi. Đáng tiếc, chúng tôi không cách nào đuổi kịp các nước tư bản. Nhưng để thi đua thành công với họ, để chủ nghĩa xã hội lôi cuốn mọi người, chúng tôi cần làm tốt nhất. Chúng tôi phải ngả mũ kính chào chủ nghĩa tư bản. Điều này thật xấu hổ. Đáng tiếc, anh hãy dùng radio, ô tô, máy ghi âm của chúng ta sản xuất. Chất lượng ra sao? Chúng tôi ghi nhận 50 năm cách mạng tháng Mười bằng việc mua ở “chủ nghĩa tư bản thối nát” nhà máy ô tô mác “Fiat”.
Chắc chắn những ô tô này ở đó là lỗi thời, mà những người tư bản không phải là ngu: họ bán cho chúng ta model thải ra khỏi sản xuất, chính họ lại lắp model mới. Đáng tiếc, chúng tôi vẫn còn không thể làm việc chúng tôi mong muốn. Tôi nói rằng chúng ta vẫn còn lạc hậu. Nhưng những người lạc hậu, từng có một lúc nào đó sống ở Nga, đã chết từ lâu rồi. Hãy lấy Nhật Bản làm thí dụ: Nhật Bản hoàn toàn tiêu điều sau chiến tranh, bây giờ chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới. Nhật Bản cũng đọ sức trong vấn đề tiến bộ kỹ thuật với Mỹ và Tây Đức cũng một phần nào nằm trong đống đổ nát.
Thật ra trong một số lĩnh vực khoa học và kỹ thuật chúng tôi đang ở phía trước. Chẳng hạn, chúng tôi phát minh ra phương pháp rót thép nóng chảy thép liên tục. Chúng thậm chí chúng tôi đã bán hát minh cho Mỹ. Nhưng những thí dụ như thế chỉ là nhỏ so sánh với cái chúng tôi mua từ họ. Khi chúng tôi cố sức mở rộng khai thác dầu mỏ, chúng tôi cần chất chỉ thị buryl. Chúng tôi làm được những chất chỉ thị tốt, tuy nhiên chất chỉ thị của Mỹ không thể so sánh được với chúng ta. Lúc ấy Mỹ vượt xa Liên Xô. Chất chỉ thị buryl tốt nhất này được sản xuất ở Rumani. Tôi hỏi Georgy-Degia về điều này. Ông mỉa mai: người ta nói chúng tôi là ở Mỹ có một nhà tư bản người Rumani trong ngành công nghiệp dầu mỏ. Ông ta giúp đỡ chúng tôi đánh cắp bản thiết kế của Mỹ. Các thiết bị của Rumani làm theo bản thiết kế của Mỹ. Chúng tôi muốn mua của Rumani bản thiết kế này. Tôi nói Georgy-Degia:
- Cho chúng tôi bản thiết kế nhé!
Ông nói:
- Cầm lấy đi.
Cầm lấy đi... với người Rumani giữa từ “cầm lấy đi” và “nhận đi” - một khoảng cách rất xa.
Nói chung lãnh đạo Rumani còn trẻ. Họ thúc đẩy nhanh nền công nghiệp của mình, xây dựng nông trang nhanh và tốt. Rumani về văn hoá trước đây đứng dưới các nước Đông Âu, bây giờ thì cao hơn, chẳng hạn, nông dân mù chữ. Nhưng, dù thế, Rumani chẳng bao lâu nữa sẽ đi lên. Tất nhiên Rumani có điều kiện thiên nhiên thuận lợi hơn các nước xã hội chủ nghĩa khác. Họ, nói riêng, có nhiều dầu mỏ, khí đốt, rừng, bánh mỳ. Các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng chưa phải có đủ lương thực, còn Rumani xuất khẩu bột mỳ. Chúng tôi thường giận Rumani rằng họ bán bột mỳ cho thế giới tư bản, mà không bán cho các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nếu lấy thí dụ Ba Lan có thừa ngũ cốc, họ có lẽ, khôn hơn Rumani. Họ có thể bán lúa mỳ cho CHDC Đức bằng hàng hoá giá trị. Nhưng chính là mỗi quốc gia đều muốn có ngoại tệ và chạy ra thị trường thế giới. Vì thế không thể giận Rumani.
Nhân đây, tôi nhớ lại có lần Gomumka đến Moskva và đề nghị bán cho Ba Lan lúa mạch ngoài kế hoạch, mà cái đó chính lại là bánh mỳ của chúng ta. Tôi thấy Gomumka khôn lỏi, không nói thật, và tôi nhận xét:
- Ông muốn mua luá mỳ, nhưng tôi biết rằng Ba Lan tự cung cấp được lúa mạch. Ông muốn mua ngũ cốc của chúng tôi để nuôi lợn và bán thịt thăn hun khói cho Mỹ.
Gomumka luống cuống, sau đó trả lời:
- Đúng.
- Và ông nghĩ rằng chỉ có người Ba Lan biết làm điều đó, còn người Nga - là những người ngu sao? Ông mua ngũ cốc ở Canada bao nhiêu cũng được, biến thành thịt và bán thịt đi.
- Nhưng ở đó phải trả ngoại tệ.
Vấn đề thế đấy. Mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa cũng có thể rất phức tạp, và có những lý do khác nhau. Sau cuộc đàm phán này với Gomumka tất cả chúng tôi cung cấp ngũ cốc cho Ba Lan. Nhưng chẳng có lẽ đây là một một trường hợp duy nhất, khi Liên Xô bớt miệng để giúp đỡ những người bạn?
Bao nhiêu lần, đôi khi, chúng tôi đồng ý kế hoạch, nhưng sau đó Gomumka hoặc lại có ai đấy gọi:
- Đồng chí Khrusev, tôi đề nghị tiếp tôi, chúng tôi có vấn đề hóc búa.
Người ta đến.
- Đồng chí Khrusev, ông cung cấp cho chúng tôi chừng này quặng với hàm lượng sắt chừng này, chúng tôi không hoàn thành kế hoạch. Hãy giúp chúng tôi, cho chúng tôi nhiều quặng hơn, hàm lượng sắt cao hơn.
Nhưng cái đó nghĩa là gì? Chúng tôi cho họ số quặng, mà để có được điều này chúng tôi phải chế biến từ quặng sắt hàm lượng thấp. Lại chuyện cà chua Bulgari. Chúng tôi nhận những thứ không ra gì. Người Bulgari quen nghic rằng người Nga ăn mọi thứ rác rưởi, xin lỗi vì cách nói này, thế là họ hái cà chua còn xanh, và làm chín đỏ chúng khi vân chuyển. Đó là những thứ kém phẩm chất! Họ cũng chở cà chua đến Tây Đức, nhưng không phải loại cà chua như thế, vì rằng sẽ không ai mua, ở đó là sự cạnh tranh. Nhưng họ bán để người tiêu dùng nước ta ăn. Đấy là cà chua kỳ diệu. Bulgari - nước trồng trọt tốt nhất thế giới. Nhưng cà chua ngon, chỉ khi hái chúng vào buổi chiều, còn buổi sáng thì mang lên bàn.
Nhiều vấn đề khác nhau nảy sinh quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Nếu không đề cập và giải quyết, thậm chí có thể gây ra xích mích. Chúng tôi giận là nhiều nước xã hội chủ nghĩa nhìn Liên Xô như con bò sữa. Nhưng chính chúng tôi còn sống khổ hơn nước nước mà chúng tôi giúp đỡ. Mức sống được xác định bằng sự tiêu thụ trên một đầu người dân. Thí dụ tiêu thụ thịt. Năm 1964 ở CHDC Đức 75 kg đầu người một năm, ở Tiệp Khắc là 65, Ba Lan - dưới 50, sau đó là Hungary, sau đó chỉ có - Liên Xô, và thấp hơn là Bulgari - 26 kilogam. Có lần nói với Ulbrich:
- Walter, tôi không cần bình quân đâu, nhưng phải hiểu tình thế chúng tôi. Chúng tôi chiến thắng, chúng tôi đánh tan Đức Hittler, và chúng tôi cho CHDC Đức ngũ cốc và hàng hoá giá trị ngoại tệ, để ông có thể bán cho nước ngoài, mua về thịt và đảm bảo tiêu thụ trên đầu người là 75 kg. Nhưng ông có lo cho chúng tôi không?
Những tư duy chính trị, đặc biệt trong quan hệ CHDC Đức cũng ảnh hưởng đến các vấn đề như thế. Người ta muốn mức sống Đông Đức phải hơn Tây Đức. Chỉ riêng điều đó có thể lôi kéo tất cả người Đức chạy về phía chúng ta. Nhưng hiện thời chưa có thế.
Vấn đề bồi thường chiến tranh cũng đáng quan tâm. Các nước phương tây bỏ khoản bồi thường chiến tranh, mà Tây Đức phải trả cho họ, còn CHDC Đức tiếp tục trả chúng ta những cái gì có thể. Khi Stalin qua đời, chúng tôi một lần nữa đặt vấn đề này: nếu chúng tôi muốn Đông Đức có thể chạy đua về mức sống với phương Tây, cần cho họ khả năng nâng cao kinh tế mạnh hơn. Nếu tiếp tục trả bồi thường chiến tranh và nuôi quân đội Liên Xô ở CHDC Đức bằng tiền của họ, thì không thể làm được điều này. Và chúng tôi bỏ khoản bồi thường chiến tranh, và chúng tôi nhận về mình khoản nuôi quân đội. Người Ba Lan cũng thích điều này, và họ cũng vặt lông và kiếm lợi ở chỗ bộ đội chúng tôi vì lợi ích của chính Ba Lan đóng trên lãnh thổ Ba Lan. Nhiều vấn đề phức tạp tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước dân chủ nhân dân, như người ta gọi sau chiến tranh. Ba Lan có than cốc. Một lần người Tiệp yêu cầu Ba Lan cung cáp than cho họ. Người Ba Lan đề nghị chúng tôi cung cấp dầu mỏ bổ xung cho họ, và chúng tôi vạch ra điều kiện: chúng tôi đưa cho các ông dầu mỏ theo tương đương với lượng than cốc các ông cho Tiệp Khắc. Những người Ba Lan khi đó đúng là nắm yết hầu người Tiệp. Nếu chúng tôi cũng làm như vậy, thì chúng tôi bóp cổ Ba Lan, nền công nghiệp của họ thấp kém, họ không thể bước ra thuộc trường thế giới và cạnh tranh với tư bản, lập tức mức sống của họ giảm đi, và điều này làm bùng nổ không hài lòng của dân chúng Ba Lan. Chính những người Ba Lan - mà không phải người Nga, không thích chịu đựng.
Nhớ về Tiệp khắc - nhớ ngay về nền công nghiệp phát triển cao của họ. Khi chúng tôi còn cởi truồng chui bàn, thì người Tiệp đã làm được những thứ làm sửng sốt thế giới. Chẳng hạn, những cỗ pháo phòng không của họ cùng chúng tôi trải qua chiến tranh. Trước chiến tranh, người Tiệp đã bán cho chúng tôi nhà máy Skoda nổi danh, chúng tôi sử dụng chúng trong sản xuất đến tận 1945. Có lần năm 1948 Gotwald nghỉ ở Krym với Stalin. Stalin gọi cho tôi:
- Gotwald ở đây, ông đến đi.
Hôm sau tôi bay đến. Mọi người tụ họp ăn cơm ở chỗ Stalin. Gotwald uống say (ông có nhược điểm này) và nói:
- Đồng chí Stalin, tại sao các ông lại cho người ăn cắp bản quyền sáng chế của chúng tôi? Ông cứ nói với chúng tôi, và chúng tôi tặng tất cả không lấy tiền đâu. Khi người của các ông ăn cắp, mà người dân chúng tôi nhìn thấy các ông ăn cắp như thế, họ phật ý đấy. Chúng tôi có thể cho các ông không những bản quyền phát minh. Hãy nhận chúng tôi gia nhập Liên Xô, chúng tôi hài lòng gia nhập Liên Xô, và tất cả những gì chúng tôi có, sẽ là của chung.
Stalin từ chối, nổi giận bởi chữ ăn cắp. Nhưng trên lời nói, bởi vì chúng tôi tiếp tục ăn cắp, thỉnh thoảng cũng theo thói quen cũ, như người Digan được được hỏi:
- Nếu anh là Sa hoàng, thì anh làm gì?
Người Digan trả lời:
- Tôi lập tức ăn cắp đàn ngựa và chạy biến đi.
Lại còn một vấn đề phức tạp - chi phí phòng thủ khối xã hội chủ nghĩa. Đúng ra thì phải chia đều, hết bao nhiêu, chia đều cho đầu người. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có lẽ bớt đi được một nửa chi phí quân sự của Liên Xô. Nhưng việc ra sao? Chúng tôi có lần trong khuôn khổ khối Warsawa thoả thuận rằng mỗi nước cần phải tăng cường khả năng phòng thủ của mình. Rumani nhận bao nhiêu xe tăng, và nó phải đóng bao nhiêu tàu ở Hắc hải. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng báo cáo tôi rằng người Rumani chẳng làm gì cả, không thực hiện giao ước. Lúc ấy người Tiệp hỏi tôi: Chúng tôi đã làm xe tăng cho Rumani, nhưng họ không mua chúng, nói rằng không có tiền. Tôi nói với người Tiệp:
- Thế ai còn dư tiền để tiêu chi phí phòng thủ cho họ? không có ai cả. Đây là sự cần thiết bắt buộc.
Suy nghĩ của người Rumani rất đơn giản: Liên Xô bảo vệ chúng tôi, chẳng ai tấn công chúng tôi, họ sợ Liên Xô, cứ để người Nga tốn tiền phòng thủ, còn chúng tôi sẽ nâng cao mức sống của mình. Nhưng đây là chủ nghĩa dân tộc thuần tuý. Đáng tiếc, nó lại xảy ra trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa.
Tôi nhớ một trường hợp tiêu biểu. Chúng tôi năm 1943 đứng trước bức tường Stalingrad. Chúng tôi đã bao vây quân Paulius, còn Ulbrich bằng loa điện yêu cầu quân Đức đầu hàng. Ông làm việc đó suốt đêm, khi chúng tôi ăn cơm với ông, tôi nói với ông bao nhiêu lính Đức ra hàng. Đôi lúc đùa:
- Hôm nay không có ăn đâu nhé.
- Vì sao?
- Chẳng có thằng lính Đức nào ra hàng cả.
Một lần ông đến và nói:
- Hôm nay tôi có bữa ăn rồi.
Nhưng tôi trả lời:
- Đúng đấy, có ăn. có một lính ra hàng, nhưng lại là lính Ba Lan.
Tôi đích thân thẩm vấn người lính Ba Lan. Anh ta nói rằng anh ta ra hàng vì không muốn đánh nhau. Và tôi đề nghị anh ta:
- Chúng tôi xây dựng quân đội Ba Lan, anh tham gia nhé?
- Không, tôi vào trại tù binh.
- Thế ai sẽ giải phóng Ba Lan?
- Người Nga.
Anh ta bình tĩnh trả lời như thế. Và tôi ra lệnh:
- Tống cổ mẹ nó đi!
Luôn luôn người Nga, lại người Nga... Nếu tâm trạng ỷ lại như vậy được thúc đẩy tiếp tục, nếu mọi người hy vọng rằng người Nga đem cho, người Nga bảo vệ, thì có thể kết thúc thảm hại phexã hội chủ nghĩa.
Lại còn một hòn đá cản đường - vấn đề biên giới. Bây giờ, chúng ta công khai xung độ với Trung Quốc, lại nổi lên vấn đề biên giới giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này luôn luôn có. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử xô viết phát sinh xung đột quốc tế với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Thông thường luôn luôn đạt được giải quyết vấn đề, bằng cách nhượng bộ lẫn nhau và làm rạch ròi biên giới. Lúc bắt đầu xung độ với Trung Quốc, chúng tôi tìm cách giải quyết vấn đề, cũng nghĩ nhượng bộ Trung Quốc chỗ đất nào đó đổi lấy chỗ đất ngang bằng Trung Quốc trong các vùng dàn quân cả hai phía. Trung Quốc đưa yêu sách cho chúng tôi, đông viên người Trung Quốc. Malinovski, Gromyko và tôi họp nhau. Chúng tôi nghĩ rằng lập tức chúng tôi giải quyết tất cả. Tôi lấy bút chì và vạch một đường, kéo dài dường như chia đôi theo đề nghị. Biên giới được thẳng hơn.
Chúng tôi không chờ đợi những phức tạp hơn nữa, vì rằng phần lớn vùng đất này là bỏ hoang: chẳng có người dân của chúng tôi, chẳng dân Trung Quốc sống ở đó. Đôi lúc, có thể là, những người thợ săn và người chăn thả súc vật đến đó. Tóm lại, là tranh cãi vô bổ. Nhưng người Trung Quốc chính muốn tạo ra xung đột, từ chối tham gia đàm phán và áp đặt Liên Xô những đòi hỏi phi lý, tư bản chủ quyền của họ ở Vladivostok, Pamir vân vân... Giờ đây, sau năm năm chúng tôi lại gặp nhau. Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ ngoại giao Vasili Kuznesov đến Bắc Kinh. Có thể lại sau năm năm gặp người Trung Quốc. Lúc ấy cuộc xung đột thực chất không phải là vấn đề biên giới, mà “chính sách lớn” quốc tế. Ai chị đựng được.
Nếu vụ việc chi là về biên giới, có thể dễ dàng thu xếp được. Với Iran chúng tôi vẫn chưa có một đường biên giới xác định rõ ràng từ thời Sa hoàng. Chúng tôi vạch ra ở đó đường biên giới năm 1955, có nhượng bộ một số vùng, gần như sa mạc. Nhưng thỉnh thoảng vẫn tranh cãi! Với Iran phát sinh chỉ có một vấn đề nguyên tắc: số phận làng Firiuza ở Turmenia. Khi Sa hoàng vạch biên giới với Iran, làng Firiuza cần phải đưa về Iranу. Tôi không biết, vì sao Sa hoàng không nhường ngôi làng Firiuza. Trong thời kỳ xô viết, người Turmenia xây một nhà nghỉ ở đó. Và khi Iran đặt vấn đề làng Firiuza, chúng tôi nói cho họ:
- Hãy giải quyết trên tinh thần anh em. Chúng tôi bây giờ khó trả lại làng Firiuzaу, ở đó có nhiều nhà nghỉ của chúng tôi, chúng tôi đã phát triển khác chỗ này so với lúc vấn đề phát sinh lần đầu tiên vấn đề. Chúng tôi sẵn sàng đổi làng Firiuza, nhường một làng khác cho các ông?
Họ đồng ý, ký một hiệp ước, và bây giờ không còn cãi nhau nữa. Với láng giềng không còn vấn đề gì tranh cãi về biên giới nữa, trừ Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đòi hỏi cái gì?
Bắc Kinh nói:
- Chúng tôi yêu cầu ký một hiệp định về biên giới, những đường biên giới trước đây được hình thành trước đây tại thời điểm có hiệp ước không bình đẳng ký với Sa hoàng.
Chẳng có một người thông minh nào ký cả. Hiệp ước không bình đẳng nghĩa là gì? Nếu tôi ký theo lời của họ, thì tiếp theo cũng phải từ bỏ những cái gì mà chúng tôi làm chủ trên cơ sở những hiệp ước tương tự. Nhưng tất cả các nước xã hội chủ nghĩa chấp nhận biên giới của mình từ thời Sa hoàng, đế quốc và Nữ hoàng xa xưa. Nếu từ quan điểm này chúng tôi có thể tạo ra mối quan hệ tương hỗ của mình và điều này sẽ đi xa hơn nữa! Nói chung trong vấn đề biên giới tồn tại nhiều khía cạnh có thể lý giải một cách khác nhau, đặc biệt ở châu Âu. Chúng tôi không có biên giới với Hungary, không có tranh cãi về biên giới nhưng ở vùng Zakarpat sống 120 nghìn người Hung. Janos Cadar không tham vọng vùng đất này. Vì sao? Người Hung có thời lợi dụng Zakarpat (Ukraina) gia nhập đế quốc Áo-Hung, và đẩy người Ukraina kên núi, chiếm vùng đất phì nhiêu Tise. Nếu bây giờ đòi Cadrar vùng đất này?
Tuy nhiên Hungary và Nam Tư có cãi nhau lớn về biên giới. Tại Nam Tư có hai triệu người Hung sinh sống. Hung và Rumani cãi nhau về vùng Transivania. Người Rumani sùi bọt mép chứng minh rằng đây là tỉnh xa xưa của Rumani, còn người Hung nói rằng Transivania luôn luôn là của Hung, ở đó có văn hoá Hungary và tiếng Hung. Người Rumani đảo ngược lại tất cả từ trên xuống dưới, làm cỏ sạch tất cả người Hung. Tranh cãi to về biên giới giữa Albani và Nam Tư. Tôi nghĩ rằng người Albani sống ở Nam Tư nhiều hơn tại chính Albani, nhưng Enver Hodga rất sợ Nam Tư. Nhưng những người Albani sinh sống ở Nam Tư, xem mình hoàn toàn không phải là người Albani và họ không về Albani. Ở Nam Tư о sống tốt hơn. Đúng là Tito làm chính trị thông minh hơn.
Hodga - đây là một tên kẻ cướp thực thụ. Chẳng có lẽ đây là chính khách? Ông ta có một phương pháp: tròng thòng lọng vào cổ và treo lên. Chính sách điển hình của Stalin. Hodga có những sát thủ bí mật, đâm những người đối lập: lùng họ trên đường và đâm. Hoặc đột nhập vào nhà và đâm. Còn Mehmet Sehu? Mehmet Sehu trước kia là Bí thư BCHTƯ Đảng, một công nhân, người rất thông minh. Ông là người sáng lập ĐCS Albani, còn Hodga đích thân bóp cổ Sehu. Vì sao? Sehu có quan điểm xây dựng liên minh Albani với Nam Tư. Đó là ý tưởng của Stalin. Trong thời kỳ nào đấy, có thể, đây là khôn ngoan, hợp lý, sau đó - thì không phải. Nhưng nếu điều này làm phật ý ai đó, sao lại bóp cổ người ta?
Ngoài biên giới, còn phát sinh nhiều vấn đề khác. Chủ nghĩa xã hội là gì, có phải giữ con người trong vòng không? Đội ngũ công minh là thế nào? Thiên đường là gì? Tất cả mọi người đều muốn rơi vào thiên đường. Đấy không phải là thiên đường, vì người ta muốn chạy khỏi thiên đường mà cửa thì sập lại. Nếu Thượng đế cho tôi tiếp tục hoạt động, có lẽ tôi mở cửa, mở toang cả cửa ra vào, cả cửa sổ. Và tất cả bỗng nhiên chạy đi Lenin từng mở biên giới Liên Xô sau nội chiến. Một số bỏ đi. Saliapin, Andreev, Kuprin, những người nổi tiếng khác. Nhưng sau này có người quay về, người khác lâu lâu xin quay lại. Chẳng có lẽ có thể tất cả nhân dân bỏ đi? Có bao nhiêu người nước ngoài chạy sang chúng ta và không quay về nước mình... Vì sao chúng tôi phải sợ điều này?
Ở Ba Lan ai thích đi, cứ đi. Và sao? Nhiều người sau đó quay về. Đại sứ chúng ta, gửi bức điện từ Israel nói rằng một số người bỏ Liên Xô đến Israel, đã yêu cầu dứt khoát quay về. Tôi có một phụ nữ quen (bà là người bất hạnh, bản thân bà hai lần ngồi tù thời Stalinе, chồng bị bắn, em bị bắn và em rể bị bắn, trong chiến tranh, quân Đức thiêu bố mẹ bà, còn cái gì có thể tệ hơn?), và bà kể cho tôi một người họ hàng ruột thịt của bà sang Israel, khách mời, nhìn thấy ở đó người ta sống như thế nào và nói rằng nói chung người Do Thái sống không tồi, nhưng những người già hình thành cá tính dưới chính quyền Xô viết, cũng buồn. Bà cũng muốn quay về, nhưng những vẫn còn sống chẳng để làm gì. Thanh niên, thật ra, không không muốn quay lại. Vì lẽ gì? Giải thích:
- Chúng tôi đã chán ngấy nghe người ta gọi tôi là bọn ăn bám.
Nói chung chúng tôi khó đặt quan hệ với Israel. Israelе tiến hành nhiều vách để cải thiện mối quan hệ này, nhưng chúng tôi không thể đi đến dùng vì tình hữu nghị với thế giới Ả-rập. Bao nhiêu lần, đại sứ Israel đề nghị tôi tiếp. Bản thân tôi cũng muốn tiếp ông, nhưng tôi không thể làm vì làm những người Ẩ rập nổi khùng. Khi Israel đóng vai trò gián điệp của đế quốc Mỹ ở Trung Đông, chúng tôi không muốn những người Ả rập xa rời chúng tôi, mà muốn lôi kéo họ, và thế là phải giữ một khoảng cách với Israel. Nếu xem xét bộ mặt chính trị của Israel, thì hộ không những không tồi, mà thậm chí còn tốt hơn những nước tư bản chủ nghĩa khác, và với Israel có thể dàn xếp những quan hệ bình thường. Ở Israel, nông nghiệp được tập thể hoá không kém gì Ba Lan. Ở Ba Lan cũng không có nông trang, chỉ xây dựng tổ đổi công như cấp đầu tiên của tập thể hoá nông nghiệp. Đất đai ở Ba Lan thuộc về tư nhân, còn thu nhập trong tổ đổi công phụ thuộc vào lượng đất đóng góp.
Tôi không bao giờ là người bài Do thái. Tôi từng sống ở Yuzovk, và làm việc cùng với những người Do Thái. Tôi cũng có nhiều bạn người Do Thái. Từ hồi còn trẻ con, tôi làm việc ở nhà máy với một người Do thái, Yakov Issakovich Kutikov - một người tốt. Ông là thợ nguội và nhận 2 rúp một ngàyь, nhưng tôi nhận cao hơn và giúp đỡ ông 25 cô pếch một ngày. Những kẻ đểu giả ở đâu đâu cũng có - cả người Nga, cả người Do Thái, và người nào cũng được. Thậm chí không có cái gì có thể so sánh Ả rập và Israel, ở Israel người ta sống giàu hơn. Trong nông nghiệp đã có hệ thống thuỷ nông tự hành - một phương pháp tiến bộ nhất đối với cây trồng. Mối quan hệ tương hỗ của Israel với thế giới Ả rập rất nặng nề. Nếu như cứ tiếp tục, thì kết thúc xấu cho Israel. Israel luôn lo ngại các nước Ả rập. Nhưng thực lực thì hai bên ngang nhau. Cuộc chiến tranh sáu ngày, năm 1967 cần phải dạy cho những người Ả rập một bài học. Tôi nhớ Petro I. Khi quân Thuỵ Điểm đánh tập hậu ông ở Narva, ông hiểu: cám ơn bài học, sau đó ông đánh tan quân Thuỵ Điển ở Poltava. Thời gian sẽ trôi đi, và nếu người Israel không chịu hiểu, thì người Ẩ rập sẽ đánh tan họ.
Vả lại, nếu anh ai tổ chức công việc tốt thì không sợ ai, mà người khác sợ anh. 2,5 triệu người Do Thái tổ chức như thế này để trong sáu ngày đánh tan hàng chục triệu người ở Ai Cập, Syri, và các nước đồng minh. Chỉ huy quân sự của Israel là Daian từng là sĩ quan quân đội Anh. Nhưng ở đó còn bao nhiêu người, từng phục vụ trong quân đội chúng tôi? Đó cũng là một lực lượng của họ. Người Ả rập đặc biệt không biết đánh nhau, chỉ cưỡi lạc đà, còn người Do Thái chiến đấu khắp các cuộc во всех chiến tranh. Israel xuất hiện như thế nào? Đây là ý tưởng của những người Sionit. Hai năm trước đó, có một người già, thành lập đảng Sionit. Nước Anh kiểm soát Trung Đông, đồng ý chia một vùng cho Israel, bằng cách cắt đất của những người Ả rập. Chúng tôi lúc đó thời gian không biểu quyết vấn đề này ở Liên Hiệp Quốc, còn sau đó cũng cho chỉ thị đồng ý thành lập Israel. Bây giờ thủ tướng Israel là Golda Mayer. Bà là đại sứ đầu tiên của Israel tại Liên Xô. Bà sinh ra ở Odessa, lúc bà sáu tuổi, bố mẹ đưa bà sang Mỹ. Bà biết tiếng Nga giỏi. Khi bà đến Nga, thì phát triển mạnh những hoạt động của những người Do Thái xô viết, và Stalin đuổi bà đi. Lúc đó những quan hệ của chúng tôi cũng xấu đi.
Về Albani
Tôi muốn bây giờ được dừng lại ở những quan hệ với Chính phủ Albani và với Đảng lao động Albani. Trong thời kỳ Stalin, chúng tôi không có sự va chạm nào trong những quan hệ giữa Liên Xô và Albani, giữa Đảng cộng sản chúng tôi và Đảng lao động Albani. Họ đáng ra phải là ở giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô làm tất cả để giúp đỡ Nhà nước Albani mạnh lên sau thất bại Hittler đạo quân lớn và đuổi quân đội Ý ra khỏi lãnh thổ của họ. Nhân dân Albani thống nhất thời ấy sức mạnh của mình với Nam Tư, và họ tiến hành cuộc đấu tranh cùng nhau chống kẻ thù chung - Đức Hittler và phát xít Italy. Như đồng chí Tito kể cho tôi, ĐCS Nam Tư có sự giúp đỡ lớn lao cho nhân dân Albaniу trong việc tổ chức đấu tranh chống phát xít. Điều này là đương nhiên, vì rằng ĐCS Nam Tư được tổ chức tốt hơn và giàu truyền thống cách mạng hơn. ĐCS Albani, như thời ấy gọi nó, là yếu và cần giúp đỡ, mà Các đồng chí Nam Tư có được cho họ. Tito kể, ông cử bạn chiến đấu của mình Vukvanovich đến Albani, để tổ chức Đảng lao động.
Khi những quan hệ giữa Liên Xô và Nam Tư tốt nhất, Tito được Stalin tin cậy tuyệt đối, tôi nhớ, có mặt tôi, Stalin đọc (chính tả) một bức điện cho Tito, nội dung, tới đây mối quan hệ tương hỗ với Albani cần xuất phát từ việc Albani sẽ tham gia Liên bang Balkan. Bức điện như thế được gửi đi. Tất nhiên Albani không biết điều này. Stalin ấp ủ ý tưởng xây dựng Liên bang Balkan và thường phát biểu chủ đề này ở một số hẹp người quanh ông. Đối với Chính phủ tương lai Liên bang Balkan thậm chí người ta bắt đầu xây dựng một cung điện gần Belgrad. Khi tôi ở Nam Tư, tôi đã thấy chỗ này. Người ta chở đến đó khá nhiều bê tông sắt, nhưng sau này lại bỏ đi tất cả. Ghép Albani vào nhà nước Nam Tư không đi ngược ý tưởng của Stalin về xây dựng Liên bang các nước Balkan. Khi cắt đứt mối quan hệ hữu nghị với Nam Tư thì Stalin căm ghét Tito, ý tưởng Liên bang Balkan bị chôn vùi.
Tôi không biết hết nguyên nhân làm xấu mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô, nhưng một cái gì đó tôi biết. Stalin gửi chúng tôi một số bức điện, do đại sứ xô viết ở Nam Tư gửi về. Trong những bức điện này, đại sứ chúng tôi vạch ra những hoạt động Tito dưới ánh sáng dân tộc chủ nghĩa và làm tất cả để cho thấy rằng đây không phải hữu nghị của nước, mà ĐCS Nam Tư dưới sự lãnh đạo Tito tiến hành công việc phá hoại chống ĐCS Liên Xô. Trong đó cụ thể đại sứ buộc tội Nam Tư, tôi bây giờ tôi không nhớ. Lúc đó tôi làm việc tại Ukraina và ít tham gia các quốc tế vấn đề, vì rằng tôi dường như bị cách ly trong những vấn đề này và không nhận được các tài liệu tương ứng. Mặc dù tôi là uỷ viên Bộ chính trị ĐCS toàn Nga (b), những tài liệu, lẽ ra phải gửi cho tôi, lại không đến. Lúc ấy Stalin thống trị. Ông nói gửi- tất cả được gửi, còn nếu không nói, thì không gửi một cái gì cho ai cả.
Sau khi Stalin chết, chúng tôi vẫn phải thừa kế những quan hệ xấu với Nam Tư. Chúng tôi nghĩ vấn đề này giải quyết như thế nào. Trong vấn đề này chính tôi nảy ra sáng kiến. Vì sao? Tôi luôn luôn phấn khích bởi những hoạt động của du kích Nam Tư. Du kích Nam Tư trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa phát xít tự thể hiện mình liệu có phải không, không tốt hơn những người khác. Điều này được nhiều người biết và được nhiều người công nhận. Họ xây dựng quân đội, có sự chỉ huy từ trung tâm của mình và tiến hành cuộc đấu tranh thành công với Đức, giải phóng khá nhiều lãnh thổ, trên đó khu du kích được thành lập. Ngoài ra, từ trước chiến tranh tôi đã nghe về hoạt động của Tito. Đó là một người cộng sản, rất nổi tiếng trong Quốc tế cộng sản. Khi là cựu binh của quân đội Áo-Hung ông làm tù binh của Nga và trải qua trường học đầu tiên của mình trong thời gian cách mạng tháng Mười. Khi theo dõi điều này tôi có sự thiện cảm với ông, mặc dù cá nhân tôi gặp ông rất ít.
Tôi gặp Tito cũng ở chỗ Stalin. Tôi có lần ở Moskva, Stalin nói rằng Đoàn đại biểu Nam Tư sẽ đến. Stalin nói điều này với thiện cảm và với sự vui mừng mong đợi: Họ sẽ đến đấy! Nhưng tôi không chờ Đoàn đại biểu này tới và quay về Kiev. Sau đó Stalin gọi tôi và nói rằng Tito sẽ quay về nước qua Kiev, và đề nghị:
- Anh ở đó tiếp Tito và các đồng chí khác. Họ là những người bạn tốt.
Tôi đã làm như thế. Tito, Kardele, Ginlas và những người khác đến Ukraina. Chúng tôi đã làm tất cả những gì cần thiết: giới thiệu cho họ thành phố, pháo đài, đến nông trang, xem hát, tiến hành những cuộc trao đổi. Chúng tôi nói chuyện, tất nhiên về cuộc sống Ukraina, về hoạt động BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, còn những vấn đề khác chúng tôi không đụng chạm.
Thời ấy, chúng tôi sống bởi lý tưởng khi hình thành một nước xã hội chủ nghĩa mới, thì đồng thời cần hình thành sự lãnh đạo nào đáy của họ không những về những vấn đề chính trị Đảng mà còn về những vấn đề kinh tế: một điều gì đó tựa như Uỷ ban quốc tế đại biểu công nhân toàn thế giới của những nước cộng hoà như thế. Với điều này, tất cả chúng tôi được nuôi dưỡng. Vì thế chúng tôi với tình yêu như thế và sự tin cậy với từng nhân dân tham gia trên con đường xây dựng CNXH, hơn thế nữa ĐCS của họ. Chúng tôi đã làm cho từng nhân dân và cho bản thân, khi cho là sự liên kết tất cả các cán bộ Đảng, khoa học, vật chất kỹ thuật của chúng tôi tập trung sức của mình trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản thế giới. Tôi cho rằng đây là là một bằng chứng trong lòng tốt mọi người, đứng trên vị trí cộng sản.
Khi xảy ra sự đổ vỡ, tất cả lập tức thay đổi hẳn. Stalin suýt nữa tấn công Nam Tư. Tôi nhớ, một lần người ta đặt tôi là tiến hành bí mật gửi nhiều người từ Odessa vào Balkan. Chúng tôi đã gửi bằng tầu thuỷ, có lẽ, đến Bulgari. Những người tổ chức việc gửi người đi báo cáo tôi, có một binh đoàn đấy được hình thành, và mặc dù những người này mặc áo dân sự, nhưng trong valy chẳng họ có quân phục và vũ khí. Người ta nói với tôi, rằng chuẩn bị giáng một đòn nào đó khắp Nam Tư. Vì sao Stalin không làm, tôi không thể nói được. Hơn nữa, từ chính Stalin nói chung tôi không nghe về điều này, nhưng người ta báo cáo tôi những người thực hiện chiến dịch này, họ là những người tổ chức gửi người đi và đưa họ lên tầu thuỷ. Tâm trạng của họ là tâm trạng của những người xâm lược:
- Đưa cho họ người của chúng ta! Thế là họ được gửi đi và chẳng bao lâu bắt đầu thấy hiệu ứng.
Trong các lời nói, họ không hề có sự hối tiếc về sự việc xảy ra.
Vì sao tôi bây giờ chú ý mạnh đến Nam Tư, mặc dù đang nói về Albani? Vì rằng những vấn đề này có liên quan qua lại với nhau. Vì sao chính tôi thể hiện sự quan tâm cải thiện mối quan hệ với Nam Tư, mà không phải ai khác? Việc này cần phải rõ ràng cho nhân loại, ít nhiều suy nghĩ về chính trị và biết thời gian ấy. Khi chúng tôi có quan hệ xấu với Nam Tư, tôi ở Ukraina và, mặc dù nằm trong chóp bu lãnh đạo ĐCS LX, nhưng không tham gia việc vị Nam Tư “xấu xa” này.
Khởi xướng cuộc này liệu có phải là Molotov, Suslov, Vorosilov và những người khác? Trong thời gian ấy, họ khá gần gũi với Stalin. Tôi đã nói ở đây không chỉ những người gần Stalin, mà còn cả bao nhiêu người xung quanh Stalin: mọi chính sách chống Nam Tư, do Stalin chỉ huy, đều qua tay họ, và họ là những người trực tiếp thi hành nó, đặc biệt Molotov. Molotov trong vấn đề này là cánh tay phải của Stalin.
Những người này học ở Stalin ý nghĩ từ vị thế chủ nghĩa sô vanh nước lớn và áp dụng chuẩn mực này cho tất cả các ĐCS, trong số này, tất nhiên, có cả Nam Tư. Vì thế họ không hiểu sự cần thiết phải cải thiện mối quan hệ của chúng tôi và loại bỏ xung đột với Nam Tư, nói chung họ không muốn hiểu vấn đề này. Khi tôi đặt vấn đề đó, có sự hiểu biết và ủng hộ hơn nữa từ phía Anastas Ivanovich Mikoian. Ông cho rằng phải thực hiện những bước như thế. Molotov, Vorosilov, Suslov không đồng ý với tôi. Mây mù che khuất mắt họ: Chúng ta là nước lớn như thế, thắng Đức Hittler, rồi đi đến Nam Tư?
Trước đó chính họ là những kẻ dối trá, nói dối một lần và nhiều lần, bằng cách sau đó lặp đi lặp lại sự dối trá của họ, bắt đầu tin vào chuyện bịa đặt rằng Nam Tư là nước tư bản chủ nghĩa, không còn tý gì xã hội chủ nghĩa; rằng Nam Tư trở thành phản bội CNXH và liên kết với chủ nghĩa đế quốc. Rất thú vị rằng bây giờ Trung Quốc cũng sử dụng luận điệu này phê bình nước chúng tôi. Ở Bắc Kinh người ta tuyên bố rằng Liên Xô ký một liên minh bí mật với đế quốc Mỹ, và đó là sự ngu ngốc. Đáng tiếc, điều tương tự này, hai mươi năm trước trước đây chúng tôi đã nói về Nam Tư. Tất cả điều này đều do Stalin nghĩ ra, còn các nhà báo chộp lấy. Nhiều giấy mực đổ xuống sông xuống biển. Gánh nặng quá khứ đổ vào tất cả chúng tôi, và không dễ dang như thế thời ấy lập tức có một bước đi mới.
Vì vậy tôi đề nghị:
- Các đồng chí, chúng ta hãy xây dựng một Uỷ ban gồm các nhà khoa học và trao cho họ nghiên cứu, bây giờ Nam Tư là quốc gia kiểu gì - tư bản chủ nghĩa hoặc xã hội chủ nghĩa? Nếu là nước tư bản chủ nghĩa, thì yếu tố nào chứng tỏ họ không phải nước xã hội chủ nghĩa?
Tôi không còn nhớ ai tham gia Uỷ ban này, nhưng tôi nhớ rõ trong đó có chủ bút báo “Sự Thật” Sepilov. Uỷ ban này lẽ ra phải công nhận rằng Nam Tư chẳng thể nào được coi là nước tư bản chủ nghĩa, rằng trong sự xây dựng nước này có mặt tất cả các yếu tố của nề nếp xã hội chủ nghĩa: không có sở hữu cá nhân về phương tiện sản xuất, không có sở hữu riêng về ngân hàng, tất cả những thứ này thuộc về nhân dân. Buôn bán chủ yếu cũng nằm trong tay nhà nước. Không xác định được chỉ có vấn đề nông nghiệp nông trang hầu như không có và phổ biến là kinh tế cá thể. Tuy nhiên hình thái như thế cũng có ở các nước khác, đang trên đường xây dựng CNXH, như thế Nam Tư về mặt này không hề tách rời trong số các nước như Rumani. Hungary, Bulgari, Tiệp Khắc, Ba Lan. Tôi quả là chưa nói về CHDC Đức.
Trong số tất cả các nước trên con đường xây dựng CNXH, thì Albani tiến hành chính sách chống Nam Tư mãnh liệt nhất. Trong thời kỳ đáng nhớ ấy, điều này được Liên Xô thích thú và cổ vũ. Nhưng khi chúng tôi quyết định phải thực hiện những bước bình thường hoá mối quan hệ Liên Xô-Nam Tư, để đặt con đường đầu tiên đi tới đoàn kết, tới sự vững mạnh của lực lượng cách mạng, thái độ của Albani đã làm hỏng việc của chúng tôi.
Trước khi thực hiện những bước đi cụ thể bình thường hoá mối quan hệ Liên Xô-Nam Tư, chúng tôi thảo luận các ĐCS anh em. Tôi không nhớ bây giờ, ai phản đối, nhưng đa số đồng ý với chúng tôi. Nhưng chúng tôi rất kiên trì cố đạt được điều này. Albani không đồng ý. Những người lãnh đạo Đảng và nhà nước rất khó đồng tình với những đề nghị của chúng tôi chứng minh rằng những người Nam Tư - là những người không tin cậy, rằng họ không phải là những người cộng sản. tất cả điều này được phát biểu với giọng độc ác. Đặc biệt Enver Hodga rất hay tức giận. Tính ông này rất ác, và, khi ông nói về cái gì mà ông không thích, thì mặt ông co giật và nghiến răng kèn kẹt.
Chúng tôi bình tĩnh chứng minh rằng phải có quan niệm và sự sáng suốt để phân tích lại những mối quan hệ quốc tế: sự bình thường hoá sẽ có lợi cho cả Albani, cho cả Nam Tư, và phong trào cộng sản thế giới. Chia rẽ vì cái gì? Phải thấy rằng ở có nhiều người Albani sống ở Nam Tư, và mặc dù các nước xã hội chủ nghĩa đã bóp méo số liệu thống kê, khi đó điều này là có lợi, nhưng Tito sau này nói với tôi, rằng ở Nam Tư người Albani nhiều hơn số người Albani ở tại nước họ. Tôi cho là điều này không có gì xấu cả, đặc biệt, cũng không thấy, tình anh em giữa các quốc gia. Albani buộc phải đồng ý với chúng tôi, nhưng không phải vì chúng tôi tin họ, vì rằng họ không có lối thoát khác.
Đoàn đại biểu Liên Xô đến Nam Tư (tôi sẽ nói riêng), và chúng tôi bình thường hoá quan hệ. Sự thật cả sau khi bình thường hoá những mối quan hệ cũng không phải bằng phẳng: có sự bá vai choàng cổ, và cũng có cả những lạnh nhạt. Nhưng trong mọi trường hợp cái gì xảy ra ở thời Stalin, sẽ không lặp lại nữa. Chúng tôi tiến tới thắt chặt mối quan hệ tốt đẹp và đã làm những bước đi tạo điều kiện thống nhất lực lượng chúng tôi cả trong chính sách cũng như trong kinh tế. Điều này gây ra sự bất lợi lớn ở Albani. Trong thời gian ấy, chúng tôi đi đến vấn đề dường như từ vị trí một đồng chí cũ: làm gì, nếu họ không hiểu? Họ đang trưởng thành, không có gì băn khoăn ở đây, nói riêng, không có. Và chúng tôi giải thích vị trí chúng tôi để những người Albani hiểu chúng tôi tốt hơn.
Từ phía Albani, chúng tôi đã xây dựng những mối quan hệ anh em không đơn giản. Chính những mối quan hệ anh em - đó là những quan hệ bình đẳng. Nhưng ở đây, với quan điểm sự giúp đỡ phát sinh những quan hệ cũ đối với mới. Chúng tôi tiêu rất nhiều phương tiện, tiền bạc để giúp đỡ Albani. Với các nước khác, chúng tôi có sự giúp đỡ bằng tín dụng ư đãi, còn Albani, chúng tôi trên cơ sở khác, chủ yếu là tặng không. Chúng tôi nói chung hoàn toàn nhận trách nhiệm trang bị cho quân đội Albani: cung cấp cho họ đồng phục, thực phẩm, đạn dược, vũ khí, và tất cả là không phải trả tiền.
Vì sao? Có lý do của nó, và bất kỳ ai đầu óc sáng suốt, sống trong bầu không khí mà chúng tôi thời ấy đã sống, hiểu và tìm thấy sự đúng đắn hành động như thế của chúng tôi. Phải thấy rằng trong thời gian ấy, NATO hình thành. Nhưng Albani có một vị trí chiến lược ở Địa Trung Hải, và chúng tôi xem nó như một căn cứ của các nước xã hội chủ nghĩa ở biển này. Vì thế tình thế nước đôi đặt ra: liệu chúng tôi có mặt ở đó, nói một cách thô thiển, quân đội của mình hoặc xây dựng cho Albani quân đội riêng của mình? Đương nhiên, Albani có thể duy trì một lượng quân không nhiều và họ không gây một ấn tượng nào cả đối với kẻ địch. Họ thực tế không sản xuất vũ khí, có lẽ chỉ có súng trường. Vì thế chúng tôi quyết định giúp đỡ về mặt vật chất để xây dựng theo khả năng quân đội Albani đông người, nhưng, tất nhiên, không đến nỗi điều này làm khổ nền kinh tế Albani. Điều này cần thiết là quân đội này phải gây một ấn tượng đe doạ, được trang bị phương tiện chiến đấu hiện đại. Vì thế quân đội Albani nhận tăng, pháo, súng mới. Đấy là chưa kể đồng phục và đồ ăn. Nếu Albani trích tiền từ ngân sách của mình để nuôi quân đội thì họ không còn đủ tiền làm những việc cần thiết khác: phát triển kinh tế, công nghiệp hoá đất nước, cải tổ xã hội chủ nghĩa. Và chúng tôi biết cần Albani.
Từ sau chiến tranh, mới đây mối quan hệ Liên Xô các nước tư bản chủ nghĩa bị nặng nề, chúng tôi không loại trừ khả năng xung đột quân sự. Với vị trí của mình, Albani đe doạ nghiêm túc những hoạt động của NATO ở Địa Trung Hải. Vì thế chúng tôi thoả thuận với Albani là chúng tôi kéo cả tàu ngầm đến. Chúng tôi đã làm thế vì lợi ích tất cả các nước xã hội chủ nghĩa.
Quyết định bố trí ở đó 12 tầu ngầm. Các bạn có biết một quả đấm tương đối mạnh - 12 tầu ngầm ở Địa Trung Hải. Với những quả đấm như thế, đối thủ của chúng tôi bắt buộc phải coi trọng. Những tàu ngầm này chúng tôi cũng muốn chuyển cho Albani. Thuỷ thủ chúng tôi đến Albani với đày đủ phương tiện trên biển và sửa chữa, để đào tạo, và, xây dựng đội ngũ sĩ quan chỉ huy Albani đối với tầu ngầm. Chuyển cho họ những tàu ngầm này. Bước đi này chứng minh chúng tôi tin họ như thế và, tôi đã nói, với tình yêu như thế chúng tôi đối với người bạn Albani. Đoàn đại biểu Albani đến gặp chúng tôi đôi lần đứng đầu là Enver Hodga và Mehmet Sehu. Giữa chúng tôi có những quan hệ tốt nhất, chưa kể tới nhân dân Albaniе.
Những người Albani nhiều lần đề nghị chúng tôi mời Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Chính phủ chúng tôi tới thăm họ. Người ta quyết định rằng tôi đứng đầu Đoàn đại biểu như thế. Và chúng tôi đến Albani. Trước khi đi, chúng tôi báo cho những người bạn Albani rằng chúng tôi không muốn khi chúng tôi có mặt, không tiến hành công khai chỉ trích Nam Tư và những người lãnh đạo của họ. Trong thời gian ấy, Albani giữ những quan hệ rất căng thẳngvới Nam Tư và tiến hành một cuộc đấu súng bằng lời trên báo chí. Tôi cho rằng điều này mang đến sự thiệt hại. Vì thế chúng tôi tư vấn với nhau và nói với Enver Hodga rằng chúng tôi không muốn trong thời gian có mặt Đoàn đại biểu ở Albani tiếp tục cuộc cãi nhau này trên báo chí giữa Albani và Nam Tư. Chúng tôi báo trước rằng họ đừng lôi kéo chúng tôi vào cuộc thảo luận như thế và ở mít tinh. Chúng tôi nói chung không muốn rằng trong các cuộc mit tinh các đồng chí Albani đưa vấn đề này và chính họ đã buộc chúng tôi có lần phản ứng. Đương nhiên, chúng tôi không thể ủng hộ cuộc đấu khẩu như vậy, vâng, lại còn ở cấp cao đại diện hai nước. Điều này chẳng thể nào phục vụ những bước cải thiện mối quan hệ của chúng tôi với Nam Tư và có thể lĩnh hội được thông báo một cuộc chiến tranh về mặt tư tưởng và chính trị giữa nhân dân chúng ta, giữa các quốc gia chúng ta. Chúng tôi không muốn điều này và đề nghị Albani tính đến nguyện vọng chúng tôi.
Trong thời gian chúng tôi ở thăm, trong các cuộc mit tinh và những cuộc họp khác, Albani ngừng phê bình Nam Tư. Nhưng dễ nhận thấy rằng đối với họ là khó đạt được. Trong các cuộc nói chuyện cởi mở, Albani thuyết phục chúng tôi rằng không thể hoà giải với Nam Tư, rằng những người Nam Tư không phải là những người cộng sản, v.v... Chúng tôi không thể đồng ý với họ, mặc dù cũng không phải ủng hộ tất cả những gì đang tiến hành ở Nam Tư. Chúng tôi thậm chí phát biểu ý kiến như thế công khai, nhưng chỉ trong nước, và không muốn làm điều này ở Albani. Chúng tôi hoàn toàn không thể, chúng tôi nói chung không thể, đồng ý rằng những người lãnh đạo Nam Tư không phải những người cộng sản, rằng Nam Tư không phải nước xã hội chủ nghĩa. Đó là một giai đoạn phải đi qua theo thế giới quan chúng tôi. Về những vấn đề cụ thể, chúng tôi còn trao đổi, đôi lúc chửi mắng nhau, nhưng chúng tôi cho rằng về cơ bản, họ - những người cộng sản, mặc dù và họ diễn giải tình hình thực tiễn và lý lý thuyết theo cách của mình.
Trong thời gian chúng tôi ở Albani những người Albani xem chúng tôi như những người bạn, và giữa chúng tôi không phát sinh mắc míu gì cả. Về Nam Tư, trong các cuộc mit tinh, họ không nói gì cả, như thế, không đặt chúng tôi vào tình thế của người hoặc là phải phớt lờ, hoặc là phải tham gia cùng với họ cãi nhau. Nhưng chúng tôi không muốn điều này điều khác. Chúng tôi ở đó một số ngày, thăm thủ đô Tirana và các thành phố khác, thăm làng mạc, cảng... Mọi nơi mọi chốn chúng tôi gặp quan hệ vui mừng không tưởng tượng đượcđối với Liên Xô, với nhân dân Liên Xô, với Đảng chúng tôi từ phía Đảng lao động Albani, cũng như từ phía Hodga và Sehu. Tôi không thấy một đám mây đen đe doạ hoặc, như người Ukraina thường nói, không có những bóng mây che phủ mặt trời tình hữu nghị, mà chúng tôi muốn được thưởng thức cuộc sống và xây dựng quan hệ anh em tiếp tục giữa Liên Xô và Albani. Giữa chúng tôi không phát sinh mâu thuẫn.
Chúng tôi không có tham vọng: Albani rất nghèo, và họ không có một thứ gì mà chúng tôi có thể quan tâm theo nghĩa tài nguyên. Những quan hệ kinh tế của chúng tôi chỉ vì lợi ích Albani. Thậm chí một lượng nhỏ nhoi dầu mỏ, mà Albani khai thác cũng nhờ chúng tôi, chúng tôi cũng không mua của họ. Dầu mỏ của họ chất lượng thấp đến nỗi không thể đem ra thị trường tư bản chủ nghĩa, và chúng tôi bắt buộc nhận số dầu mỏ này trừ vào khoản nợ và suy nghĩ rằng sẽ dùng nó như thế nào trong nền kinh tế chúng tôi. Chúng tôi đã làm điều này, vì lẽ nếu chúng tôi không nhận nó, thì không ai mua nó cả. Rồi cũng từ bỏ khai thác dầu mỏ ở Albani. Sau đó chúng tôi cho Albani máy kéo. Lãnh thổ của họ nhỏ, đất cày không nhiều. Nhưng chúng tôi muốn giúp đỡ xây dựng kinh tế Albani ở mức hiện đại, làm Albani như viên ngọc trai, để lôi kéo thế giới đạo Hồi về nó, đặc biệt Trung Đông và châu Phi, đi theo chủ nghĩa cộng sản. Thế là chúng tôi tiến hành ở đó những biện pháp như thế, chính sách như thế.
Chúng tôi đề nghị Albani xây dựng đài phát thanh mạnh để tuyên truyền. Chúng tôi muốn dùng đài phát thanh vào mục đích tuyên truyền lý tưởng chúng tôi, chính sách chúng tôi, chính sách của tất cả ĐCS, mục đích chung của chúng tôi trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi cũng xây dựng một cảng biển lớn ở Albani. Tóm lại, chúng tôi cung cấp cho họ tất cả những gì mà Albani cần, và người ta đã làm tất cả để Albani trở thành một đồng minh vững chắc tình hữu nghị xã hội chủ nghĩa, để Albani trở thành một tấm gương sáng cho các nước giải phóng khỏi ách thực dân, và biểu thị ưu thế của phe xã hội chủ nghĩa.
Những cuộc nói chuyện với lãnh đạo tiến hành trong bầu không khí hữu nghị. Tôi quả là chưa nói về những cuộc gặp với nhân dân. Nhân dân bày tỏ tình cảm to lớn tình hữu nghị và sự giúp đỡ lòng biết ơn Đoàn đại biểu chúng tôi và qua chúng tôi tới Liên Xô, tới chính sách chúng tôi. Nhân dân đánh giá đúng sự giúp đỡ của chúng tôi, còn sự giúp đỡ này nhận thấy ở mọi nơi và mọi chỗ. Tất cả những cái mới được làm, đều với sự giúp đỡ của chúng tôi, từ tín dụng của chúng tôi, bởi những nhà chuyên môn và công nhân. Điều này tất cả thấy rõ, và nhân dân đánh giá rất cao sự giúp đỡ này và mối quan hệ hữu nghị đối với sự cần thiết của họ. Albani - một đất nước nhỏ. Nhưng một dân tộc nhỏ sống ở địa hình khó khăn, nơi có nhiều mâu thuẫn khác nhau của châu Âu, và những người bất đồng của nó cũng nhiều.
Trong các cuộc hội đàm, Albani thường đặt vấn đề về Hy Lạp. Giữa họ có những cuộc cãi nhau nào đấy về lãnh thổ, bây giờ tôi không nhớ. Nguyện vọng, luôn luôn có thể tìm khả năng duy trì những quan hệ với láng giềng trong tình trạng tranh cãi, vì rằng không có một biên giới có thẻ thoả mãn cho tất cả, và ai đấy luôn luôn có khả năng tham vọng với sự đúng của nó. Lãnh đạo phải tỉnh táo, phải kiểm tra nguyện vọng này, nén kìm chúng, xử lý nghiên túc và với sự hiểu biết đối với láng giềng của mình, tạo ra điều kiện sống trong tình hữu nghị và hoà bình với chúng. Điều này có thể chỉ khi có khát vọng qua lại. Nếu không có khát vọng qua lại và một nước thì muốn, còn nước kia không muốn điều này và không công nhận biên giới thực tại, thì dường như không muốn sống trong hoà bình và hữu nghị, đáng tiếc, điều này không nhận được.
Albani biên giới vẫn yên ổn. Biên giới Albani biên giới không gây ra một lo ngại gì với chúng tôi. Chúng tôi đã tin những người Nam Tư không có mưu đồ chống Albani. Tôi không biết, người Albani chừng mực nào chân thật. Nhưng tôi cảm thấy họ với sự hiểu biết liên quan đến vấn đề biên giới, mặc dù biên giới với Nam Tư họ không dàn xếp chúng. Trong các cuộc hội đàm họ đã nói rằng rất nhiều người Albani sống trên đất Nam Tư. Nhưng điều này giống như các chuyện cổ tích, không có mọi yêu sách và điều ám chỉ, bóng gió rằng họ một điều gì đó mưu đồ và muốn chúng tôi ủng hộ họ. đàm phán những người Albani không đặt ra những cuộc nói chuyện như thế và họ không thoả mãn. Họ cho rằng những người Albani ở Nam Tư chịu khổ sở, rằng người ta áp bức họ. Những vấn đề nội bộ này liên quan chỉ có Albani và Nam Tư. Những người Nam Tư cho rằng những người Albani ở Nam Tư được sử dụng tất cả mọi quyền lợi của nhân dân Nam Tư. Tôi nghĩ rằng nó là như thế.
Những tình tiết khác, liên quan đến biên giới. Tôi không nhớ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao nào hoặc một nhà hoạt động xã hội Hy lạp đến Liên Xô. Tôi cũng tiếp ông. Những người Albani - rất đa nghi. Họ có ấn tượng, rằng chúng tôi với Hy lạp tiến hành các cuộc thương thuyết về sự thay đổi biên giới Hy Lạp-Albani có lợi cho Hy lạp. Tất nhiên Hy Lạp không đặt ra vấn đề như thế, và họ quả là khôn ngoan, hợp lý, vì rằng chúng tôi đứng ở phía bảo vệ quyền lợi Albani. Phải tự hình dung, dường như chúng tôi có thể tiến hành các cuộc thương thuyết nào đấy với Hy lạp, mà nó sẽ đem lại thiệt hại về lãnh thổ của Albani! Sự ngu ngốc, nông nổi thô thiển, kết quả của sự tưởng tượng bệnh hoạn! Nhưng, đáng tiếc, Albani phát biểu những ý nghĩ như thế cho một ai đấy trong số chúng tôi. Nhưng khi sau này giữa chúng tôi có căng thẳng về quan hệ, thì họ lại nói một cách chính thức và trực tiếp đã nói rằng chúng tôi thoả thuận với Hy lạp chiếm đoạt từ Albani một vùng đất nào đấy có lợi cho Hy lạp. Lời nói điên rồ! Chiếm đoạt như thế nào? Nếu thậm chí Hy Lạp phát biểu những yêu sách như thế và có sự đồng ý điên rồ nào đấy với họ, thì những vấn đề tương tự không được giải quyết mà không có chiến tranh. Nhưng ai sẽ chiến đấu? Chả lẽ chúng tôi vì Hy Lạp mà chiến đấu với Albani? Đơn giản chỉ là những lời mê sảng! Nhưng lời mê sảng này, đáng tiếc, người Albani phát biểu.
Tất nhiên trong thời gian chúng tôi ở thăm, những vấn đề này còn chưa phát sinh. Mọi thứ vẫn như trước. Tóm lại, cuộc đi thăm Đoàn đại biểu chúng tôi ở Albani là dễ chịu. Những cuộc nói chuyện, chúng tôi tiến hành, chỉ một việc hữu nghị, và chúng tôi về nước ở tâm trạng tốt và với suy nghĩ tốt về thành tựu của họ. Sự thành công của Albani còn thật sự lớn hơn. Chúng tôi vui mừng: một dân tộc nhỏ bé chấn chỉnh năng động nền kinh tế của mình, mặc dù liếc qua như nông dân Albani rất, rất nghèo. Sự nghèo khổ, hoang sơ bao trùm mọi nơi. Nhưng đó không phải là lỗi nhân dân Albani và Đảng lao động Albani. Như phức tạp lịch sử, và phải lao động nhiều loại bỏ nghèo khổ và nâng mức sống nhân dân nhân dân. Chúng tôi đứng ở vị trí này và có sự giúp đỡ mọi măth cho Albani.
Tại Đại hội 20 ĐCSLX, chúng tôi trình bày về sự quái gở, sự lạm quyền và những vụ hành quyết sai, do Stalin thực hiện Chúng tôi, đương nhiên, chân thật đứng về phía dân chủ hoá đời sống chúng tôi, mặc dù và không phải tất cả cùng như thế, như sau này sẽ giải thích. Một số người muốn quay ngược bánh xe lịch sử, cản trở việc phanh phui Stalin. Lúc ấy tôi nói với nhiều đồng chí, ở cùng trong một tập thể. Nhưng chúng tôi nắm con đường dân chủ hoá cuộc sống xã hội xã hội Liên Xô. Nhiều ĐCS khác bắt chước chúng tôi. Một ai đấy chân thành chia xẻ quan điểm chúng tôi, một cái gì đó không đồng ý dưới áp lực xã hội, như Đảng viên và những người ngoài Đảng. Quá trình dân chủ hoá cuộc sống xã hội đã đi.
Tất cả những vấn đề này được bàn cãi sôi nổi trong các hội nghị Đảng trong các nước Đông Âu. Ở Albani vấn đề đã chuyển hướng đặc biệt. Nhân viên Đại sứ quán chúng tôi ở Tirana kể cho tôi một hội nghị Đảng Tirana rất lạ lùng. Đây là một hội nghị kéo dài một số ngày, và Enver Hodga phải chịu đựng. Người ta phê bình ông và thậm chí nêu vấn đề thay Hodga, Sehu, Bekir Baluka, tất cả bộ ba này. Tôi không nhớ, ai bị phê bình trong số cán bộ Đảng ở Tirana. Nhưng tôi chú ý đến sự kiện này vì rằng Enver Hodga, hình như, có giá trị quyết định sự phát triển tiếp theo mối quan hệ giữa ĐCS Liên Xô và Đảng lao động Albani, giữa hai quốc gia.
Dù sao chăng nữa Hodga vẫn nhô lên. Ông, và Sehu, và Baluka còn nằm lại trong ban lãnh đạo. Nhưng biến cố này làm họ hoảng sợ khủng khiếp. Ngoài ra, họ nói chung, bị chấn động. Họ tự cho mình là lãnh tụ, tuyệt đối uy tín. Và như thế đây là những người cả gan cao giọng trong những người cốt cán và làm lung lay uy tín của họ? Và cũng không phải chỉ làm lung lay, mà đúng suýt nữa lật nhào vị trí lãnh đạo của họ. Khi Mao Trạch Đông tiến hành đường lối chính sách chống xô viết, nhằm cắt đứt với ĐCS Liên Xô, thì không phải, như người ta nói, là người thông minh mới hiểu rằng sự liên minh của Trung Quốc trong chính sách này là Albani. Mao mời Đoàn đại biểu Đảng lao động Albani sang Trung Quốc. Mehmet Sehu cầm đầu đoàn.
Trong thời gian ấy, chính chúng tôi phê bình Nam Tư, họ, dường như, người xét lại, xa dời học thuyết Mác-Lenin và v.v... Tôi bây giờ tôi không đi sâu xem xét vấn đề này, đối với tôi là giai đoạn đã qua. Sau đó giữa chúng tôi phát triển những những quan hệ khác nhau, xảy ra cả sự nhạy cảm. Trong toàn bộ quan hệ của chúng tôi với Nam Tư tình hữu nghị đã chiến thắng, và đến cuối đời mình tôi còn có những quan hệ tốt nhất với đồng chí Tito và các nhà hoạt động khác của ĐCS Nam Tư. Tôi kính trọng cao Tito. Nhưng người Trung Quốc quyết định sử dụng sự phê bình của chúng tôi đối với Nam Tư, còn sau đó sử dụng sự hoà giải, mà sự hoà giải này biến thành tình hữu nghị giữa các Đảng chúng ta và giữa lãnh đạo Liên Xô và Nam Tư. Người Trung Quốc khôn khéo ủng hộ Albani phê bình Nam Tư như là cuộc đấu tranh với những người xét lại, cuộc đấu tranh với Tito với tư cách người mang tất cả vi trùng chống chủ nghĩa cộng sản và chống xã hội chủ nghĩa, không thể là tình hữu nghị.
Những hạt giống này rơi xuống mảnh đất trồng đã chuẩn bị sẵn. Lúc ấy cũng không cần trợ sức đặc biệt từ Trung Quốc, vì rằng Albani tự mình tìm kiếm người ủng hộ họ. Trung Quốc - một đất nước rộng lớn, đông dân và nhiều người theo đạo Phật. người lãnh đạo Albani nhìn nhận Trung Quốc, như người ta nói, như những quân cờ trong tay, để phục thù. Tôi cho rằng họ là những người thiển cận và hạn chế. Vì thế họ xác định chính sách bằng số học. Không đòi hỏi kiến thức đặc biệt về toán, cũng đủ có đưa ra 4 phép tính số học, để xác định, bao nhiêu dân Trung Quốc và bao nhiêu dân các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa không có tổng cộng bao nhiêu dân, một Trung Quốc. Tiếp theo, Trung Quốc là cái rốn của quả đất. Như thế, hình như Hodga và Sehu xác định đường lối của mình. Họ hoàn toàn liên kết với Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô, chống ĐCS Liên Xô.
Vì vậy tôi cũng lưu ý rằng một Đảng viên cốt cán Tirana, nơi quyết định số phận Hodga, phát biểu thời ấy chống Hodga. Những người cầm đầu Albani lĩnh hội chính sách chống xô viết do Mao cầm đầu. Không phải Mao ràng buộc họ, mà họ bản thân sẵn sàng tiếp nhận chính sách này không tồi hơn Trung Quốc, xuất phát từ tình hình nguy hiểm, phức tạp đối với họ sau Đại hội 20 ĐCSLX. Họ hiểu, trong đó đã kết luận bản chất sự kết án sùng bái cá nhân, sự kết án độc quyền, sự kết án tiêu chuẩn chống dân chủ trong cuộc sống và trong Đảng. Điều này làm chóp bu Albani lo sợ và không chỉ có họ.
Một số người khác cũng lo lắng: dân chủ, tất nhiên, tốt, nhưng trong điều kiện dân chủ, mà chính quyền, không nhòm ngó đến nhân dân và không lắng nghe nhưng mà anh ta lãnh đạo, là bài toán khó. Lúc ấy đòi hỏi thông minh hơn, đòi hỏi kỹ năng hiểu nhiệm vụ, đất nước đặt ra, kỹ năng nghe những những người mà anh lãnh đạo. Phải luôn luôn cảm thấy sự phụ thuộc của mình vào quần chúng: anh ở trong ban lãnh đạo, nhưng không phải vì rằng anh muốn lãnh đạo. Cần phải, để anh hiểu rằng anh có thể lãnh đạo chỉ có ở điều kiện, mà những người muốn điều này lại là người do anh lãnh đạo. Nhưng điều này có thể chỉ ở một điều kiện: người lãnh đạo sẽ là máu là thịt của nhân dân của mình, Đảng của mình, xuất phát từ quyền lợi nhân dân, một không phải là xu hướng cá nhân, ích kỷ, háo danh, làm chủ các kiến thức cần thiết, nhũn nhặn, tềnh toàng và có kỹ năng sống trong tập thể, tiến hành công việc, ứng với trách nhiệm và vị trí chính trị của mình, thì hãy vào Đảng. Anh không được đứng trên Đảng! Không, anh là nô bộc của Đảng và anh có thể nằm lại ở chức vụ này chừng nào Đảng ủng hộ anh, hài lòng bởi anh và những hoạt động của anh.
Những điều này không tương ứng với những hoạt động thực tiễn Hodga, Sehu và Baluka. Khi giữa chúng ta có những quan hệ đã căng thẳng và vượt quá thành thù địch, một số đồng chí Albani đến chỗ chúng tôi và rơi nước mắt, kể, tình hình phát sinh ở nước họ và к чему bây giờ họ gạt bỏ. Tito kể cho tôi, trước đây ông bí thư thứ nhất ĐCS Albani là một đồng chí rất tốt. Những người Nam Tư biết ông ta và ủng hộ. Bản thân ông xuất thân từ công nhân. Nói riêng, ông là nhà tổ chức ĐCS Albani. Nhưng Hodga, Baluka và Sehu tổ chức chống âm mưu của ông. Người ta kể rằng Sehu tự tay bóp cổ người này. Chẳng bao lâu chúng tôi biết những trường hợp dã man: bóp cổ người ta, rằng thủ tiêu. Ở Albani tình hình phức tạp như thế này: nếu ai đó bị phạt, do Hodga quyết định. Hai người - Sehu và Baluka, thực hiện bản án. Nếu cả bộ ba nhất trí rằng người này có hại, thì họ tìm cách thủ tiêu bí mật anh ta. Người này nhanh chóng biến mất.
Tất cả điều này rất giống rất với hệ thống mà Stalin vận hành. Ông cũng đã làm như thế qua Beria và qua những nhân vật khác tương tự. Bằng cách như thế nhiều người đường hoàng đã bị giết bởi Stalin. Tình hình này cũng xảy ra ở Albani. Tình hình này được gây ra sự sợ hãi dân chủ hoá đất nước, sợ hãi của cuộc sống xã hội và Đảng. Nhưng con đường này tôi xem là không thể tránh khỏi. Chính do điều này chúng tôi đã đổ vỡ. Sự đổ vỡ này phát triển theo từng giai đoạn như thế nào? Trước hết, chúng tôi biết rằng Albani với Trung Quốc tiến hành các cuộc thương thuyết, nhằm chống ĐCSLX và những người khác các đảng anh em. Những yếu tố khác chúng tôi trước đây không có.
Trong thời gian Đoàn đại biểu Albani từ Trung Quốc qua Liên Xô. Có một phụ nữ Albani trung thực nhất đến gặp BCHTƯ chúng tôi. Tôi nghĩ rằng bây giờ họ bóp cổ bà ta, một người đáng thương. gestapo không bóp cổ bà ta, còn “người anh em” của mình bóp cổ bà vì bà là một người cộng sản chân thật tới BCHTƯ chúng tôi và kể lại Trung Quốc nói chuyện với Albani về cái gì và Albani đồng ý với Trung Quốc nhe thế nào. Chúng tôi quá ngây thơ, ngay khi biết về điều này, chúng tôi chạy đến gặp Sehu, ông còn nằm ở bệnh viện của chúng tôi, và kể cho ông ta nghe tất cả và hỏi, sao lại có thể tiến hành một cuộc một cuộc nói chuyện như thế ở Trung Quốc? Sehu bật dậy từ giường bệnh và lập tức bay về Albani.
Sự đổ vỡ quyết định được hình thành, khi ở Bucarest tiến hành Đại hội thường kỳ ĐCS Rumani. Chúng tôi quyết định họp ở đấy và trao đổi những suy nghĩ về vấn đề quốc tế, bao gồm những vấn đề mối quan hệ giữa những ĐCS và, cụ thể hơn, sự phân tích giữa các ĐCS khác và ĐCS Trung Quốc. Tôi nói ở đây không những về ĐCSLX và ĐCS Trung Quốc. Không. Vấn đề này động chạm đến các đảng anh em khác. Khi chúng tôi họp, thì hoàn toàn bất ngờ đối với tôi, phía Albani thẳng thắn phát biểu chống chúng tôi và ủng hộ Trung Quốc. Tôi không nhớ họ tên đại diện Đảng lao động tại Đại hội ở Bucarestе. Nhưng tôi hỏi ông:
- Việc gì thế này?
Ông trả lời:
- Đồng chí Khrusev, chính tôi cũng không hiểu cái gì cả. Nhưng tôi đã nhận chỉ thị ủng hộ Trung Quốc.
Chúng tôi nghĩ rằng chưa phải mất hoàn toàn, và muốn làm tất cả để phục hồi những quan hệ hữu nghị của chúng tôi với Albani. Tuy nhiên, dù chúng tôi đã cố hết sức, cũng không dẫn đến điều này.
Năm 1960 ở Kreml họp Hội nghị quốc tế tất cả các ĐCS và các Đảng anh em. Hodga đọc một bài phát biểu buộc tội và chống xô viết. Ông chỉ ra nanh độc hơn chính người Trung Quốc. Lúc đó bà Dolores Ibarruri phát biểu rất tốt, bà là một lão thành cách mạng, trung thành với phong trào cộng sản. Bà nói:
- Điều này là thế nào? Lời phát biểu của Hodga tương tự như một con chó, được người ta cho bánh mỳ, và cắn tay người cho ăn.
Điều này là rất rõ ràng. Xung đột với Albani xảy ra theo vấn đề hoàn toàn nguyên tắc.
Giới chóp bu Albani bằng phương pháp giết người công khai và bí mật, đã xây dựng Đảng, được duy trì đoàn kết bằng sự sợ hãi. Họ không thể chấp nhận cách giải quyết Đại hội 20 ĐCSLX. Vì thế trong cuộc đấu tranh chống ĐCS Liên Xô họ, cũng như Trung Quốc, đặt một lá chắn tên Stalin. Stalin - đấy là lý tưởng! Stalin - đây là một người mác xit, đây là một người Leninit, còn tất cả những người còn lại - đều là những người xét lại. Có những người xét lại phát biểu các vụ giết người công klhai và bí mật, có người phát biểu vì dân chủ hoá cuộc sống của Đảng và đất nước. Những người lãnh đạo Albani tỏ ra không theo con đường với những người như thế. Điều đó, tất nhiên, thảm hoạ thật sự cho nhân dân Albani. Không ai, không một người suy nghĩ bình thường có thể thể cho rằng sự lãnh đạo như thế lại có khả năng sử dụng lòng tin và kính trọng của nhân dân của mình, Đảng của mình. Họ bất đắc dĩ chịu đựng. Không chạy đâu được! Chính xác như thế, thời Stalin: Stalin tiến hành giết các cán bộ lãnh đạo Đảng, hàng nghìn cái đầu của những người chân thật, nhưng tất cả kêu to:
- Stalin muôn năm! Stalin - người bạn tốt nhất của nhân dân, Stalin - cha già dân tộc!
Hodga, hình như người ta không gọi như thế: ông còn trẻ theo tuổi tác, nhưng ông muốn điều này. Theo hiểu biết của ông, có thể đạt được điều này, chỉ bằng cách giữ Đảng và nhân dân trong sự sợ hãi, bắt nhân dân phụ thuộc vào mình bằng hăm doạ và bạo lực. Mao cũng tiến hành chính sách như vậy. Bây giờ anh hãy bật radio và nghe. Cái Trung Quốc nói, cái Tirana nói. Ngôn ngữ khác nhau, nhưng bản chất là một. những người lãnh đạo của chúng xuất phát từ một quan niệm rằng: nhân dân- cứt, còn lãnh tụ - thiên tài. Vì thế ở họ không phải lãnh tụ sợ nhân dân, mà ngược lại, nhân dân sợ lãnh tụ. Còn khi tôi gặp và bàn bạc với Mao trong thời kỳ mối quan hệ chúng tôi tốt nhất, thì trong nhiều câu tôi có cách nào hiểu Mao. Lúc đó tôi xếp vị trí ông ta thuộc vào đặc điểm nào đấy của ý nghĩ Trung Quốc, thuộc vào đặc điểm lịch sử của dân tộc Trung Quốc. Sơ đồ sự bàn luận của ông, đối với tôi, là khá sơ sài, lần khác ông bật ra trong sự phân tích rất phức tạp. Tôi cũng nhắc đến có lần về khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở”, có nghĩa là hãy thúc đẩy thúc đẩy tác cả các xu hướng văn hoá. Giờ đây ai cũng biết rõ ràng đây là sự khiêu khích. Khẩu hiệu này được tung ra để kêu gọi mọi người cởi mở, còn sau đó sự cởi mở này bị trấn áp với “hoa”, không có lợi theo mùi hoặc hoặc màu.
Hoặc một khẩu hiệu khác, được Mao đưa ra và Hodga đớp lấy: “Không sợ chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc - chỉ là hổ giấy”, nghĩa là có con hổ không nguy hiểm. chúng tôi thật không hiểu điều này. Người ta tung ra khẩu hiệu như thế từ thời ấy, khi chúng tôi còn giữ những quan hệ tốt. Chúng tôi không thể lúc ấy coi thường khẩu hiệu này, mà phải coi trọng nó, vì rằng đưa nó ra là Mao, người bạn chúng tôi, lãnh tụ nhân dân Trung Quốc. Khẩu hiệu “hổ giấy” tồn tại một thời gian dài, nhưng bây giờ họ một điều gì đó ỉm đi, và không nhắc lại nó. Tôi không biết, người ta vứt bỏ nó hoặc nó được sử dụng, để người ta đi đến những khẩu hiệu khác. Điều này không tưởng tượng được: đế quốc Mỹ - hổ giấy? Dù sao hổ - ác thú tương đối nguy hiểm, còn Mỹ - lại không phải là giấy.
Khi tôi bị từ chức, một lần tôi đã nghe trên đài phát thanh cuộc một nhà văn Mỹ nào đấy phỏng vấn Trần Nghị của. Nhà văn đặt câu hỏi thẳng: có lẽ, dựa trên lời phát biểu của Mao, Mỹ cho rằng các ông muốn gây chiến, điều đó liệu có đúng không? Trần Nghị trả lời:
- Không, chúng tôi không muốn chiến tranh và sẽ không đánh nhau chỉ trong trường hợp, nếu có cuộc cuộc tấn công trực tiếp vào lãnh thổ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Cho dù điều này lời kêu gọi không có ẩn ý với đế quốc Mỹ về cuộc tấn công vào Bắc Việt nam. Nhận được thế này: người Mỹ đúng hiểu Mao và gây chiến với Bắc Việt nam. Trung Quốc không can thiệp vào cuộc chiến tranh này, bộ đội của họ không bảo vệ Việt nam. Mặc dù là “hổ giấy”, nhưng họ biết rằng con hổ ấy có thể vồ lấy cổ họng. Sự tuyên bố khiêu khích tương tự khích lệ bọn xâm lược Mỹ và thúc giục họ tấn công thẳng Bắc Việt nam.
Hodga cũng giữ tình thế như thế. Đặc biệt còn có thể nói về Albani? Hôm nay nói Albani, không thể không nói về Trung Quốc. Chính sách của Albani, đó là sự phản ánh chính sách, mà Trung Quốc tiến hành với phương Tây. Hoặc chúng tôi lấy một khẩu hiệu của Mao: “Gió Đông thổi bạt gió Tây”. Dường như chỉ là những khái niệm hoàn toàn về khí hậu hoặc địa lý. Nhưng ông đe doạ mọi người Trung Quốc: chính là gió đông có thể thổi mạnh.
Tôi kể thêm một cảnh nữa trong cuộc xung đột của chúng tôi với Albani. Như tôi đã nói, chúng tôi cho họ 12 tầu ngầm. Khi quan hệ căng thẳng, chúng tôi quyết định lấy lại tất cả tàu ngầm và thiết bị đi kèm, mà chúng tôi cho họ. Albani phản đối điều này. Có ba chiếc tàu ngầm hoàn toàn do người Albani chỉ huy, một hoặc hai chiếc do người cả hai bên. Chúng tôi đưa về được tám, chín tầu, còn lại ba hoặc bốn ở lại Albani, chúng tôi không thể lấy đi được. Nhưng chúng tôi chờ đợi cả phản ứng mãnh liệt từ phía Albani khi chúng tôi lấy đi tàu ngầm, thì tầu chiến của chúng tôi, tôi không nhớ bao nhiêu, lởn vởn ở bờ biển Albani đề phòng bất trắc. Nếu chính quyền Albani dùng sức mạnh giữ tàu ngầm chúng tôi, thì tàu chiến chúng tôi buộc phải đe doạ họ.
Như thế đánh dấu sự đổ vỡ hoàn toàn với Albani. Tôi không biết, Albani có thắng từ điều này không. Tôi nghĩ rằng họ thua: chúng tôi ngừng giúp đỡ họ, tất cả chấm dứt. Мне không biết, sự khó khăn lúc ấy ở Albani, nhưng tin đồn là Trung Quốc quyết định giúp đỡ họ. Trung Quốc sau này có giúp đỡ, nhưng tôi không biết trong mức độ nào, như chúng tôi. Tôi nghĩ rằng chưa chắc, vì rằng bản thân Trung Quốc trong thời gian ấy cũng rất khó khăn. Sự thật sự cần thiết của Albani so với Trung Quốc là rất nhỏ, để Trung Quốc có thể làm một điều gì đó. Bây giờ tôi không có khả năng thậm chí xác định gần đúng về định lượng vì lẽ Đại sứ quán Liên Xô ở Albani bị cô lập và người Albani ngừng đến đó. Họ đã giết những người như thế. Nhưng chúng tôi bị tước mất khả năng nhận thông tin.
Tiếp tục ra sao đây! Tôi xem rằng phải làm hết sức để sự xung đột giữa ĐCSLX và các ĐCS khác với Trung Quốc, thu hẹp và tan đi. Đi tới đạt được tình thế mà phong trào cộng sản là một khối và duy nhất. Điều này cần đạ ra là mục đích chính. Phải làm tất cả để làm mềm đi mối quan hệ chúng tôi và sau đó biến chúng thành tình hữu nghị. Điều này sẽ vì lợi ích của nhân dân Liên Xô, vì lợi ích của tất cả nhân dân yêu chuộng hoà bình, vì lợi ích nhân dân Trung Quốc, vì lợi ích cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì sự cùng tồn tại hoà bình. Lãnh đạo Trung Quốc nhiều lần chửi rủa Liên Xô, ĐCSLX vì khẩu hiệu chung sống hoà bình. Tuy nhiên, khi những nhà báo tư sản hỏi dồn Mao, chính ông lặp lại rằng Trung Quốc cũng ở vị trí chung sống hoà bình. Nhưng Trung Quốc không phải luôn luôn làm thế. Họ phát biểu vì chung sống hoà bình, thì lại chống. Albani vẫn theo đuôi Trung Quốc.
Mao Trạch Đông
Bây giờ tại Trung Quốc, học thuyết Mao hoàn toàn chiến thắng. Nhưng vào giữa thập niên 40 người ta đã nói rằng, không thể nào, những người cộng sản Trung Quốc không chiến thắng. Việc này được xác nhận khi ở Trung Quốc triển khai “cách mạng văn hoá”.
Tôi đã nói:
- Chuyện vớ vẩn!
Tất nhiên chiến thắng. Quân đội của họ mạnh, tinh thần không tuân theo, luật pháp không được được thừa nhận. Nếu anh không nghe thì chém đầu. Nhưng họ làm điều này một cách kịch, tụ tập trên quảng trường hàng nghìn mọi người và mắng nhiếc những người bất đồng. Đây là chính sách? Thậm chí không thể nói rằng điều này là thế. Chính sách dã man. Có cái gì đấy không xác định, nhưng những sự kiện thực, và anh không làm được cái gì cả, điều kiện sống ở đó phức tạp thế đấy.
Lưu Thiếu Kỳ - một người thông minh nhất, ông không đầu hàng, ông không đồng ý với chính sách Mao Trạch Đông và có lần đấu tranh chống Mao. Điều này làm ông mất rất nhiều những người ủng hộ mình. Nhưng họ không có sức mạnh thực sự. Nhưng Lưu Thiếu Kỳ vẫn thực hiện không phải vì rằng vì ông có những người ủng hộ mình mình, những người không trao ông cho Mao Trạch Đông. Không, Mao có thể bóp cổ Lưu dễ dàng. Nhưng điều này gây ra cơn giận quần chúng, mà Lưu biết rõ. Mao biết điều này và đấu tranh không phải chống Lưu những một con người, mà như chống người mang một hệ thống nhất địng quan điểm chính trị, muốn cô lập Lưu về mạt chính trị.
Việc sùng bái cá nhân Mao - cũng là hiện tượng phức tạp. Sự sùng bái chúng ta đã và đang gặp không những ở Trung Quốc. Bao nhiêu thế kỷ rồi, người ta xác định:
- Xin Ngài, xá tội, xin Ngài, xá tội!
Giúp cái gì? Giúp ai? Thường không giúp, nhưng mục sư làm cho chúng ta và nhân dân tin vào Trời. Chính thế. Nhân thể nói thêm, Mao bắt đầu ca ngợi mình. Chẳng hạn, có một dẫn chứng thế này. Thời tôi còn làm việc trong lãnh đạo xô viết, tôi bằng quân đội chúng ta đã in những tác phẩm của Mao về vấn đề quân sự. Tôi gọi nguyên soái Malinovski và nói:
- Đồng chí Malinovski, cơ quan đồng chí đang in cho Mao. Quân đội xô viết đánh đánh tan quân Đức mạnh bậc nhất. Nhưng Mao chiến đấu tại Trung Quốc 20 thậm chí 25 năm, và suốt thời kỳ ấy, Mao và kẻ thù của ông chọc lưỡi lê và dao vào lưng nhau. Giờ đây đồng chí lại in “Tác phẩm về quân sự” của Mao. Để làm gì? chúng ta học những tác phẩm này để chiến đấu trong tương lai hay sao? Phần nào cơ thể chấp nhận quyết định như thế? Điều này xảy ra 5 năm trước đó. Những người thông minh nói chung là những người giải quyết một vấn đề, nhưng giải quyết sự ngu ngốc, vâng họ và bản thân họ đã đồng ý thực hiện sự ngu ngốc. Nhưng bây giờ, có lẽ, những cuốn sách này nằm trong kho, nếu có thể được, đơn giản là đốt đi.
Tôi muốn được dừng lại chút ít ở “cá nhân”.
Một năm hoặc một năm rưỡi trước đây, như tôi đã nghe, lan truyền tại Liên Xô ý kiến, rằng tôi làm Trung Quốc cãi nhau với Liên Xô. Tôi không tranh luận, vì lịch sử tự thân chỉ ra giá trị bằng tuyên bố tương tự. Nhưng tôi ngạc nhiên, buồn và bực vì Youdin lặp lại sự ngu ngốc như thế, một con người từng là đại sứ Liên xô tại Trung Quốc trong thời gian bắt đầu cuộc xung đột Xô-Trung. Vì vậy - có vài lời về Youdin. Ông nói ý rằng là tôi chọc tức Mao và ông bị biến thành một người chống xô viết. Nếu ông nói riêng với tôi điều này, tôi sẽ chứng minh bằng văn bản rằng sự bắt đầu cuộc xung đột của chúng ta với Mao do chính Youdin gây ra. Và nếu ngồi vào bàn thảo luận xoàng vấn đề đã nêu, thì tôi có đủ cơ sở nói, ở đâu xuất hiện Youdin, sẽ phát sinh xung đột của chúng ta với các nước ấy. Khi Youdin đến Nam Tư, thì chúng ta phê phán Tito. Cử Youdin đi Trung Quốc, thì chúng ta chửi nhau với Trung Quốc. Lúc ấy không phải đơn giản có sự trùng hợp như vậy.
Tôi kính trọng Youdin. Ông ta đến Trung Quốc như thế nào? Mao gửi một bức thư cho Stalin đề nghị Stalin giới thiệu cho Mao một nhà triết học mác xit: gửi ông ta đến Trung Quốc, vì rằng Mao muốn biên tập những lời phát biểu của mình để một người có học vấn giúp đưa những lời này ở dạng thích đáng, để cho không mắc lỗi về triết học mác xit. Người ta chọn Youdin. Và cử ông ta. Youdin làm việc ở đó, về mặt tinh thần được lòng Mao. Mao thậm chí đến chỗ ông ta ở Đại sứ quán thường xuyên hơn là Youdin đến chỗ Mao. Thậm chí Stalin đôi khi lo ngại rằng Youdin lúc nào đấy thoá mạ trong quan hệ với Mao.
Mọi việc đều tốt lành. Và bỗng nhiên chúng tôi nhận từ Youdin một bức điện mật mã dài, trong đó Youdin mô tả những điều không tưởng tượng được, mà Youdin nghe từ Mao, về Liên Xô, các ĐCS, và cá nhân Youdin. Nếu trước đây người ta có ấn tượng rằng Mao tựa như quỵ luỵ trước Youdin, thì sau bức điện này rõ ràng là Mao nói chung không trọng Youdin. Có ý kiến cho rằng gọi Youdin về. Youdin là một đại sứ kém. Nhưng khi ấy những quan hệ cá nhân Mao và Youdin đã thành tình hữu nghị anh em, thì Youdin lại có ích. Nhưng thuần tuý công việc của Đại sứ quán chẳng ma nào cần Youdin? Giả thiết rằng các nhà ngoại giao thay chỗ Youdin. Khi ông ta có xung khắc với Mao, thì ông ta là đại sứ - và cũng không phải đại sứ, mà chỉ trên cơ sở triết học, ông đã đổ vỡ hoàn toàn với Mao. Và chúng tôi rút ông về Liên Xô.
Chúng tôi đến Trung Quốc năm 1954 và tiến hành một số hội đàm với Mao, mà sau này tôi nói với các đồng chí:
- Sự xung đột của chúng ta với Trung Quốc khó tránh.
Tôi có kết luận như vậy từ phản ứng Mao và từ bối cảnh vây quanh chúng ta. Bối cảnh là những người châu Á: lễ độ đến quá thái, cảnh giác đến không thể, nhưng không chân thật. Chúng tôi ôm và hôn Mao một cách thân mật, bơi cùng với nhau trong bể bơi, tán chuyện các vấn đề khác nhau... Nhưng điều này trông có vẻ ngọt ngào. Những vấn đề riêng biệt phát sinh và đặt trước chúng ta làm cảnh giác chúng ta. Nhưng chính là, tôi cảm thấy và cho tất cả các đồng chí rằng Mao không thể cam chịu chấp nhận bất kỳ một ĐCS khác, mà không phải không Đảng cộng sản Trung Quốc, lại đứng đầu phong trào cộng sản thế giới. Ông không thất bại.
Nếu Stalin sống thêm chút nữa, ông cũng bùng nổ xung đột trước đây nhận đổ vỡ hoàn toàn giữa Liên Xô và Trung Quốc. Chính trị - nói chung đó là trò chơi. Và Mao tiến hành chính sách của mình, trò chơi của mình. Đặc điểm của nó được kết luận chỉ theo cách của người châu Á, nịnh bợ và nham hiểm. Sau Đại hội 20 ĐCSLX Mao nói:
- Đồng chí Khrusev đã mở mắt chúng tôi, đã nói sự thật, và chúng tôi sẽ chấn chỉnh.
Chính Mao công bố lời phát biểu này, rồi sau này nổ ra mọi xung đột. Khi Mao tiến hành đường lối chính trị sai lầm và đưa khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở”, khi gặp nhau, ông hỏi tôi:
- Đồng chí Khrusev, đồng chí chí nghĩ thế nào về “trăm hoa”?
Tôi trả lời:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi không hiểu đơn giản như thế.
Tất nhiên chúng tôi không công bố ý kiến của mình về vấn đề này. Tôi xung đột với Mao chỉ mang tính chất cá nhân, nhưng chúng tôi không phát biểu công khai, mặc dù đã ý kiến chung. Thậm chí không có một cái gì cả được công bố theo lý do đã nêu. Nhưng tôi nói với Mao:
- Chúng tôi không hiểu điều này, vì rằng hoa tồn tại khác nhau: có ích, và không có ích, và đơn thuần có hại.
Mao đồng ý, rằng chúng tôi hợp với điều đó. Ông là một người thông minh và tự ông hiểu rằng lần chúng tôi không công bố một cái gì cả trong mối liên hệ đã nêu, nghĩa là, chúng tôi không đồng ý.
Và bỗng nhiên Mao đưa một ý tưởng mới: trong 5 năm “đuổi kịp Mỹ”.
Bắt đầu ông ta tổ chức các công xã, tạo ra những nhà ăn tập thể. Tuyên bố, rằng ý tưởng chung sống hoà bình - quan điểm hoà bình tiểu tư sản.
Sau đó Trung Quốc nói, ở chủ nghĩa xã hội sự phân bố phúc lợi theo số lượng và chất lượng lao động là khẩu hiệu tư sản. Tôi đã nghe điều buộc tội rằng chúng tôi theo đuôi bọn tư sản. Lúc ấy quả là người ta đã đặt những vấn đề nguyên tắc quản lý phát triển kinh tế đất nước. Chúng tôi không thể đi sau Trung Quốc. Còn bây giờ nhà triết học Youdin trút tất cả cho cá nhân tôi. Ông làm tôi sửng sốt. Tôi coi ông như nhà thông thái.
Hoặc lấy vấn đề chiến tranh và hoà bình. Khi tôi và Mao cùng mặc quần đùi nằm ở một bể bơi ở Bắc Kinh tranh luận vấn đề thế giới. Mao nói với tôi:
- Đồng chí Khrusev, đồng chí tính sao: nếu so sánh sức mạnh quân sự của phe tư bản phe xã hội chủ nghĩa, thì Trung Quốc đưa ra chừng này tập đoàn quân, Liên Xô - chừng này... các nước xã hội chủ nghĩa còn lại - chừng này... còn kẻ thù đưa ra bao nhiêu? Rõ ràng chúng ta chiếm ưu thế.
Tôi nói:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, bây giờ mà tính toán như thế tỷ lệ sức mạnh e là không thích hợp. Khi vấn đề được giải quyết bằng nắm đấm hoặc lưỡi lê, có thể tính xem phía ai có bao nhiêu lưỡi lê và ai trội hơn. Khi xuất hiện súng trường, đông quân hơn nhưng ít súng hơn chưa chắc chiến thắng quân thù ít hơn theo số lượng. Nhưng bây giờ, khi có bom nguyên tử, ai có bao nhiêu bia đỡ đạn - không tỏ ra sức mạnh thực tế của mình.
Mao không đồng ý với tôi. Nhưng chẳng có lẽ tôi đồng ý với ông?
Hoặc chúng tôi lấy lời tuyên bố của ông, khi năm 1957 ông đến Moskva dự Hội nghị đại diện cộng sản và các Đảng công nhân. Đã có những cuộc nói chuyện nhã nhặn, lịch thiệp nhất được, đồng thời rất cởi mở. Mao nói với tôi:
- Thưa đồng chí Khrusev, nguyên soái Zukov, phát biểu trên báo rằng nếu một cường quốc đế quốc tấn công bất kỳ một nước xã hội chủ nghĩa nào, thì Liên Xô tức khắc có đòn giáng trả. Điều này không đúng!
- Thưa đồng chí Mao Trạch Đông, Zukov phát biểu không phải theo ý mình, BCHTƯ Đảng chúng tôi quyết định như thế, chúng tôi, Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô nhất thiết phải phát biểu. Tôi cũng nói rằng đây là quan điểm xô viết.
Lúc ấy chúng tôi nảy sinh không phải là cãi nhau, mà là tiến hành thảo luận hữu nghị, để làm sáng tỏ chân lý.
Mao tuyên bố với tôi:
- Tôi cho rằng nếu bọn đế quốc tấn công chúng ta, tấn công Trung Quốc, thì Liên Xô không phải bị lôi vào. Tự chúng tôi sẽ chiến đấu. Chỉ có Liên Xô được bảo vệ ư, khi tất cả dần trở thành chỗ của mình. Chẳng hạn, nếu họ tấn công các đồng chí, các đồng chí cũng không giáng trả à.
- Giáng thế nào?
- Hãy đi khỏi, đi khỏi một, hai, ba năm.
- Đi đâu?
- Nhưng các đồng chí đã đi. Có thời rút lui về Stalingrad, còn bây giờ các đồng chí có thể về Ural. Sau lưng các đồng chí là chúng tôi, Trung Quốc.
- Đồng chí Mao Trạch Đông, nếu xảy ra chiến tranh, thì nó kéo dài bao lâu? Cuộc chiến tranh này sẽ không giống trước đâu. Cuộc chiến tranh trước đây chiến tranh không quân và xe tăng, còn bây giờ là chiến tranh tên lửa và bom nguyên tử. Liệu chúng tôi có khoảng cách 3 năm để lui về Ural? Có thể chúng tôi sẽ chỉ có một số ngày, còn sau đó tách thành những mảnh vụn? Không ai không thể bây giờ có thể nói trước điều này. Vì thế chúng tôi phải ở lại để kìm đối thủ chiến tranh hạt nhân. Nếu chúng tôi nói sẽ không giáng trả, nghĩa là, tự chúng tôi bảo kẻ thù cứ tấn công. Nhưng chúng tôi tuyên bố rằng chúng tôi giáng trả đối thủ, chính như vậy chúng tôi kìm người ta khỏi tấn công”.
Đại để có những sự bất đồng như thế. Tuy nhiên nếu chúng tôi nói về Mao, thì đây là một việc hoàn toàn khác, nếu chúng tôi nói về Trung Quốc, thì nói có mục đích. Nếu chúng tôi bắt đầu mang nhân dân Trung Quốc, thì chúng tôi té ra ở vị thế dân tộc chủ nghĩa. Chủ nghĩa dân tộc - điều này chúng tôi xem là một dân tộc nào đấy có quyền đặc biệt và ưu thế. Đây là chủ nghĩa dân tộc. Vì thế chúng tôi và bây giờ chân thành tin rằng người Trung Quốc - anh em của chúng tôi, cũng là những người như chúng tôi. Và nếu một thanh niên Trung Quốc lừa dối tấn công Đại sứ quán chúng tôi, không có nghĩa là, nhân dân Trung Quốc ghét cay ghét đắng chúng tôi. một thanh niên - không phải là tất cả dân tộc. Chúng tôi là những người mác xit! Cần phải hiểu rằng có cả người thanh niên khác. Không phải tất cả Trung Quốc có mặt trên quảng trường này, và không phải tất cả những ai có mặt trên quảng trường này và kêu to, đều đồng ý với những người tương tự. Việc thế đấy! Bao nhiêu người Trung hoa từng khóc ở họ? Tại Trung Quốc triển khai cuộc đấu tranh mạnh mẽ, người Trung Quốc giết lẫn nhau. Như bên chúng ta Stalin bắn hàng trăm nghìn công dân. Chúng tôi, những đảng viên, chịu trách nhiệm về điều này, nhưng không thể bây giờ cho rằng toàn Đảng làm như thế. Có sự lạm quyền bởi Stalin, còn bây giờ chính điều này lặp lại ở Mao.
Tôi dẫn ra thêm một số sự kiện trong lịch sử quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc. Stalin rất phê phán Mao. Ông gọi Mao, theo quan điểm mác xit, là một nhà mác xit hang động. Quả là, thời gian mà Mao tiến hành cuộc trường chinh thắng lợi, thì những người cộng sản đã tiến sát Thượng Hải. Nhưng rồi họ dừng lại và không chiếm nó. Stalin hỏi Mao:
- Tại sao không chiếm Thượng Hải?
Mao trả lời:
- Ở đó sáu triệu dân. Nếu chúng tôi tới, phải nuôi họ. Nhưng nuôi bằng cách nào?
Đấy, một người mác xit? Mao dựa vào nông dân, mà không dựa vào giai cấp công nhân. Mao coi thường, không muốn chấp nhận giai cấp công nhân không muốn dựa vào nó. Stalin nhiều lần phê bình Mao từ quan Đảng mác xit và Stalin là đúng. Nhưng chứng cứ vẫn là chứng cứ. Mao, dựa vào nông dân, đạt được cho mình sự thắng lợi. Lúc ấy là lạ, giải thích thêm duy vật lịch sử: nắm chính quyền, dựa vào nông dân! Nghĩa là, sự thật lịch sử - đằng sau ông ta. Chỉ là sự thật không phải mác xit. Có lẽ những thắng lợi có được bở thời gian và nói chung với những kết quả khác nhau. Điều này trong lịch sử cũng thấy rõ.
Một trường hợp cụ thể khác. Thời Stalin, Liên Xô ký một hiệp định với Trung Quốc về cùng nhau khai thác dầu mỏ ở Tân Cương. Đây là một sai lầm, thậm chí là xúc phạm người Trung Hoa. Tại Trung Quốc, trước đây là Pháp, người Anh, người Mỹ, còn bây giờ người xô viết cũng chui vào đây. Điều này là một việc không tưởng tượng được! Stalin cũng đã làm những việc như thế ở Ba Lan, ở CHDC Đức, ở Bulgari, ở Tiệp Khắc, ở Rumani. Chúng tôi sau này huỷ bỏ tất cả hội hỗn hợp kiểu này. Trường hợp thứ ba. Stalin gọi tất cả chúng tôi và hỏi: ai biết, vùng nào của Trung Quốc người ta khan thác vàng và kim cương? Chúng tôi không phải là những người am hiểu, trả lời là không biết. Sau đó, có một chuyện đùa vui, khi chúng tôi tụ họp với nhau ở chỗ Stalin. Beria nói:
- Ông có biết ai biết điều này không? Nghệ sỹ Kozlov đấy. Beria hát: “không đếm được kim cương trong hang đá....”.
Nhân thể nói thêm, Beria kết thân với Stalin, bảo là, Trung Quốc tài nguyên giàu có và Mao giấu chúng; chúng ta cho Mao vay tiền, ép ông ta bán cho chúng ta kho báu từ dầu mỏ của mình. Thế là Stalin cũng thích.
Một lần chúng tôi ngồi ở chỗ Stalin và suy nghĩ về việc cao su. Hình như, chính tôi đưa ra ý nghĩ giải thích ở chỗ Mao, ở một nơi vùng nào đó Trung Quốc có thể trồng cao su. Triển khai vấn đề này, cho Trung Quốc tín dụng, máy móc và chúng tôi không còn lo về cao su mua từ các nước tư bản. Chúng tôi gửi một bức điện đến Bắc Kinh. Người Trung Quốc trả lời rằng trên đải Hải Nam có thể trồng được cao su huvea nếu được cung cấp tín dụng, thì họ đồng ý. Việc này có một tiến triển nào đấy, và chúng tôi ký một hợp đồng. Nhưng sau này té ra là vùng trồng cao su, lại nhỏ bé và không có khả năng đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Vụ việc tắt ngóm như thế.
Có lần Stalin thích dứa hộp. Ông đích thân đọc chính tả một bức điện cho Mao, Malenkov ngồi ghi:
- Viết đi, để họ cho chúng ta chỗ xây dựng xây dựng một xí nghiệp dứa hộp.
Tôi nói:
- Đồng chí Stalin, họ mới nắm chính quyền, và ở đó còn có xí nghiệp của các nước khác nữa. Bây giờ lại thêm xí nghiệp của chúng ta, từ một nước xã hội chủ nghĩa. Điều này làm mếch lòng Mao.
Stalin nhìn tôi một cách không thiện cảm, giận, nạt nộ... Rồi bức điện được gửi đi. Qua một hai ngày, chúng tôi nhận câu trả lời của Mao:
- Chúng tôi đồng ý. Nếu các ông quan tâm đến dứa hộp, cho chúng tôi tín dụng, chúng tôi sẽ xây dựng xí nghiệp và sẽ cung cấp cho các ông tất cả sản phẩm của nó và trừ khoản nợ tín dụng.
Lúc ấy mọi người nghe, trong khi Stalin hung dữ và chửi rủa. Tất nhiên ông rất giận. Những loại điện như thế không bao giờ tôi ký, các thành viên Chính phủ chúng tôi sau này không bao giờ ký. Chúng tôi đã không làm một điều gì xúc phạm người Trung Quốc cho đến khi chính người Trung Quốc đá chúng ta. Nhưng quả là nếu như thế thì tôi cũng không phải là chúa Jesu.
Người Trung Quốc làm gì khi chúng tôi còn giữ những quan hệ tốt với họ? Họ đang có chiến tranh những hòn đảo với Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi cung cấp cho Bắc Kinh vũ khí của mình, còn chúng tôi quan tâm đến vũ khí chiến lợi phẩm Mỹ. Người Trung Quốc có một số tên lửa, bị người Mỹ bỏ hoang và không bị hỏng. Chúng tôi quan tâm một mẫu mới tên lửa “không đối không”, và chúng tôi đề nghị Trung Quốc cho chúng tôi để nghiên cứu. Bắc Kinh không trả lời. Chúng tôi lặp lai yêu cầu. Bắc Kinh trả lời:
- Chúng tôi cũng chưa phân loại được.
Nhưng chúng tôi so sánh mức vũ khí của Mỹ với mức vũ khí của chúng tôi! Chúng tôi đang truy lùng tất cả vũ khí bí mật, tên lửa của Mỹ, để làm điều này chúng tôi đã ký một hợp đồng sản xuất bom nguyên tử, đã đưa cho họ mẫu, còn họ thì lại từ chối chúng tôi. Lúc đó chúng tôi làm chậm việc cung cấp. Bắc Kinh lo ngại. Và tôi nói cho các quân nhân chúng tôi: Hãy giải thích cho người Trung Quốc, dường như, các anh sử dụng vũ khí từ chúng tôi, thậm chí cả tên lửa chiến lợi phẩm của Mỹ mà các anh không muốn đem ra a? Họ hiểu và thế là họ gửi tên lửa này. Tôi đến xem nó. Tên lửa này tốt hơn của chúng tôi, nhưng người Trung Quốc cố ý không gửi cho chúng tôi đầu dò nhiệt. Chúng tôi sau này làm việc một số năm để giải quyết nhiệm vụ này. Đây là khoảng năm 1958.
Theo thoả thuận, máy bay của chúng tôi có thể sử dụng các sân bay Trung Quốc. Sau đó, khi chúng tôi có tàu ngầm tầm xa, thì để để liên lạc với nó, chúng tôi cần xây dựng một đài phát thanh trên đất Trung Quốc. Trung Quốc yêu cầu chúng tôi cho họ những bản thiết kế và dạy chế tạo tàu ngầm. Lúc ấy chúng tôi viết cho họ về việc đài phát thanh và lập tức nhận một bức điện trả lời: “Không!”.
Nhưng chẳng bao lâu có một bức điện mật nói về tâm trạng chống xô viết trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Và tôi nói với các đồng chí của mình rằng: “Mời đồng chí Mao Trạch Đông đến thăm Liên Xô theo đường ngoại giao. Nhưng lần này có thể chúng tôi nói chuyện tay đôi, đằng nào cũng thế, bí mật hoặc công khai? Cần gặp riêng để giải thích”.
Sau đó, chúng tôi đến Trung Quốc (lần cuối cùng) vào năm 1959. Cuộc gặp cũng không đem lại một cái gì cả. Những cuộc hội đàm được tiến hành hữu nghị, nhưng không kết quả. Chúng tôi đã nói với Mao cả về đài liên lạc. Tôi nói với Mao:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi cung cấp cho các ông tín dụng để xây dựng đài này. Lúc đầu chúng tôi đã viết cho đồng chí, rằng chúng tôi tự xây dựngcó thể là giải nghĩa chưa đạt? Chúng tôi không quan tâm đài sẽ là của ai; chúng tôi quan tâm là chúng tôi liên lạc được với tàu ngầm. Chúng tôi có thể chuyển giao hoàn toàn nó cho các ông, vấn đề là phải xây dựng nhanh đài này. Hạm đội của chúng tôi bây giờ đi vào Thái Bình Dương, căn cứ chính của chúng tôi nằm tại Vladivostok. Liệu có thể thoả thuận là tàu ngầm chúng tôi có thể đậu ở chỗ các ông, nạp nhiên liệu, nghỉ ngơi và v.v...?
- Không! Tôi không muốn thậm chí không muốn nghe!
- Đồng chí Mao Trạch Đông, các nước NATO giúp đỡ lẫn nhau, còn chúng ta sao lại không thể thoả thuận được?
- Không!
Vì sao Mao giận thế, tôi không biết. Tôi tiếp tục:
- Nếu cần, chúng tôi cho các ông vùng Murmansk, nơi các ông có thể có tàu ngầm của mình.
- Không! chúng tôi không muốn. Bao nhiêu năm người Anh và các nước khác ngồi ở nước chúng tôi rồi, chúng tôi không đồng ý.
Thế là ông ta cũng không đồng ý.
Sau này báo Trung Quốc đăng những bài báo nói rằng Vladivostok - đó là lãnh thổ Trung Quốc và người Nga đoạt nó từ Trung Quốc: về mặt lịch sử, có một thời nào đó người Trung Quốc đã thống trị, còn sau đó dường như Nga hoàng vươn đến đó. Sau đó tiến hành đàm phán về biên giới chung, và họ gửi chúng tôi một bản đồ của mình. Chúng tôi thậm chí không thể bình tĩnh xem bản đồ này, mà được họ vẽ như thế!
Bây giờ một số người có ý kiến rằng Mao - một người ngu ngốc, sinh lẫn cẫn. Lầm! Ông một người thông minh. Ông kẻ đối địch chúng tôi, nhưng một người thông minh. Đôi lúc ông còn lừa chúng tôi. Taleyran nói rằng ngôn ngữ ngoại giao dành cho ai có thể che, giấu ý nghĩ của mình. Ngoại giao - đó là chính trị. Chẳng hạn, De Gaul: một người thông minh hoặc người ngốc? Có một lúc nào đó, một số người cho ông là thằng ngốc. Nhưng đây là một người rất thông minh, chỉ là kẻ đối địch của chúng tôi theo cách nhìn và là người đại diện giai cấp của mình, nhưng ông không phải người ngốc, mà là người thông minh. Nhưng Mao - một người dân tộc chủ nghĩa, không phải người ngốc, ông có quan điểm của mình. Chúng tôi bất đồng với ông, và tôi quả là không chịu nổi với ông. Nếu đọc báo cáo của tôi tại Đại hội 21, thì nhiều sự bàn luận được thổ lộ trong vấn đề Trung Quốc, mặc dù tôi không nhắc đến về Trung Quốc. Chúng tôi phủ nhận vị thế của Mao.
Khi người Trung Quốc phát biểu với khẩu hiệu của mình, sự tuyên truyền của họ phát tán tự do ở Siberi của chúng tôi. Khi biết việc này, tôi nói:
- Ngừng ngay việc này! Anh nghĩ rằng vị trí của bản tính bình đẳng không có đất trồng ở chúng tôi sao? Anh sai rồi. Khẩu hiệu bình đẳng rất hấp dẫn, cám dỗ. Nhưng phải trả lời chúng tôi theo thực chất, không phải chỉ cấm.
Nhân thể nói thêm, tôi ủng hộ một trong những biện pháp. Mao bãi bỏ trong quân đội cấp hiệu. Tôi cho rằng đây là một bước đi khôn ngoan, hợp lý, còn bước đi của chúng tôi là không khôn ngoan, khi chúng tôi đeo, cấp hiệu, chúng tôi may đường nẹp mầu. Sao lại có trò quỷ này? Chúng tôi thắng nội chiến không cần cấp hiệu. Cấp bậc thời ấy của tôi chính uỷ, và tôi đi lại không mang cấp hiệu. Hồng quân phong chính uỷ của mình, và chỉ huy của mình, và chúng tôi đánh tan kẻ thù không cần cấp hiệu. Nhưng bây giờ mặc diện, như chim hoàng yến.
Trong thời kỳ quan hệ qua lại với Trung Quốc con tốt, họ lôi từ chúng tôi tất cả những gì có thể. Năm 1954 chúng tôi còn bần cùng, chẳng có gì mà hốc, nhiều chỗ đói. Nhưng khi chúng tôi đi đến Bắc Kinh, Chu Ân Lai đặt vấn đề thế này:
- Có thể, các ông tặng chúng tôi trường đại học tổng hợp?
Tôi trả lời:
- Chúng tôi nghèo. Chúng tôi, về nguyên tắc, có thể giàu hơn các ông, nhưng chiến tranh vừa mới kết thúc, và đáng tiếc, hiện không thể.
Nhưng vừa đúng lúc trước khi chúng tôi trao trả lại họ cảng Lữ Thuận, và tất cả là không mất tiền. Nhiều, rất nhiều tiền chúng tôi bỏ vào Trung Quốc. chúng tôi làm đường từ Ulan-Bator đến Bắc Kinh. Không phải người Mông cổ làm con đường ấy. Chúng tôi con đường ấy ở Mông Cổ, con Trung Quốc - trên lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, khi chúng tôi với Mao năm 1957, ông nói:
- Con đường này chúng tôi íy quan tâm. Con như thế đường các ông quan tâm.
Và ông chỉ trên bản đồ con đường từ Bắc kinh qua núi đến Kazakhtan. Tôi nói:
- Ông biết khá tốt vùng đất của chúng tôi. Chúng tôi cho rằng gần hơn cả là qua Ulan-Bator, nhưng chúng tôi đồng ý cùng với ông cũng qua hướng này. Các ông làm đường trên lãnh thổ của các ông, con chúng tôi làm trên đất mình, đến biên giới. Ở đó chúng ta nối với nhau.
Lại thêm một lần gặp, Chu Ân Lai đặt vấn đề:
- Liệu có thể, ông xây dựng nó trên lãnh thổ chúng tôi được không?
Chúng tôi ngó nhìn bản đồ: ở đó nào thung lũng, nào sông, núi... Ai sẽ xây dựng xây dựng? Rất khó. Chúng tôi trả lời:
- Không, tốt nhất là mỗi nước làm trên lãnh thổ của mình.
Đồng thời, điều này có làm Mao thích không nếu như tôi nói: “Vâng, chúng tôi làm bắt đầu tiền mình”. Cái gì khi đó? Họ bắt đầu xây dựng. Họ lại đặt vấn đề trước đây trong quá trình xây dựng. Tuy nhiên chúng tôi mới đây đã nói:
- Cứ theo thoả thuận: mỗi bên làm trên lãnh thổ của mình.
Và do đó chúng tôi làm đến biên giới, còn họ không làm đến nơi.
Mao thời ấy đúng là nóng vội ước mong thống trị thế giới. Ban đầu ở Trung Quốc, sau đó tất cả châu Á. Nhưng tiếp sau? Trung Quốc 700 triệu người dân, ở Malaysia một nửa dân chúng - người Trung Quốc, và ở các nước châu Á khác cũng không nhỏ. Nói chung những cuộc nói chuyện “đặc tính vô tư” ở bàn trà rất đáng thú vị với quan điểm hiểu biết chủ nghĩa dân tộc kiểu Trung Quốc.
Mao có lần hỏi:
- Bao nhiêu lần những kẻ xâm lược khác nhau đã xâm lược Trung Quốc?
Và Mao tự trả lời:
- Không phải một lần. Nhưng người Trung Quốc đồng hoá tất cả bọn chúng.
Đấy, cái tầm ngắm của Mao tới tương lai:
- Hãy nghĩ xem, anh có 250 triệu công dân, còn ở chúng tôi - 700.
Sau đó ông khơi chuyện về sự độc đáo của Trung Quốc. Có tình tiết khác, trong tiếng Trung Quốc không có từ nước ngoài. Mao khoác lác:
- Toàn thế giới dùng từ “điện”. Người ta lấy từ này ở người Anh và người ta lạp lại. Nhưng chúng tôi có từ này không?
Tôi thật sự run từ sự huyênh hoang này.
Với Trung Quốc có nảy sinh một vấn đề lạ lùng. Đầu thập niên 50, chúng tôi có gặp vấn đề sức lao động cho vùng Siberi và Viễn đông. Và chúng tôi quyết định đề nghị trợ sức của Trung Quốc. Chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc cho chúng tôi bao nhiêu điều lợi, và đặt vấn đề này với Mao:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi muốn, các ông giúp chúng tôi sức lao động của người Trung Quốc anh em, chúng tôi có ít người quá.
Ông tỏ ra như người keo kiệt:
- Mọi người nhìn chúng tôi, như là nhìn nô lệ ấy. Mọi người muốn người Trung Quốc một điều gì đó cho họ. Nhưng người Trung Quốc - không phải nô lệ da đen. Điều đó, liệu ông có biết không, không dễ giải quyết giải quyết như thế đâu.
Và tôi nói cho các đồng chí của mình: có thể là, chúng tôi quả là không có chiến thuật khi yêu cầu Mao? Rồi Mao nói thêm nghiêm túc:
- Nếu các anh có khó khăn, chúng tôi không muốn nó tạo ra và chính chúng tôi nhận vấn đề này.
Tôi tin ông, còn ông chỉ đùa.
Qua hai, ba ngày, tôi không quan tâm đến vấn đề đã nêu: có lần ông nói rằng có khó khăn với ông, và chúng tôi không muốn. Lúc ấy Mao thấy rằng đã quá lời, và ông tái diễn đàm phán. Tôi nói với ông:
- Ông đã nói là phía Trung Quốc gặp khó khăn?
- Đúng, nhưng đối với nhân dân anh em chúng tôi có thể làm một điều gì đó.
Lúc ấy rõ ràng, ông tăng giá, cho là chúng tôi ở tình thế không lối thoát.
- Ừ, nếu ông có thể, thì xin cứ việc!
- Thế ông muốn bao nhiêu công nhân?
Tôi không còn nhớ chúng tôi đã viết bao nhiêu: một triệu hoặc ít hơn. Mao nói với chúng tôi:
- Anh! Chỉ riêng Thượng Hải cung cấp cho các ông hai triệu, nữ công nhân thất nghiệp có một số.
- Không, chúng tôi trả lời - chúng tôi không thể nhận số lượng người như thế. Vâng và chúng tôi không có đủ chỗ.
Ký hiệp định. Nhưng khi quay về Moskva, tôi suy nghĩ và tôi nói với các đồng chí của mình:
- Các ông nhận xét, Mao sẵn lòng đồng ý cung cấp người, mà lại đến Sibiri? Các ông nghĩ tại sao? Tôi nhớ, Mao nói về việc đồng hoá. Thế đấy, ông muốn di dân Tổ quốc đến Sibiri mà không cần phải chiến đấu. Đây là chính sách nhìn xa. Chúng ta cần phải thể hiện thận trọng: mời người Trung Quốc dễ dàng, còn đuổi họ sẽ rất khó. Có thể mời họ làm khách, sau này những người khách lại đuổi chủ. Chúng tôi có thể mất Sibiri, Vladivostok, và đây là tiếng Trung Quốc gọi là đồng hoá.
Chúng tôi suy nghĩ, suy nghĩ, phân tích nền kinh tế của mình, và hiện ra nguồn dự trữ như thế, té ra là chúng tôi không những không thiếu nhân lực, mà còn có thừa ở Belorussia, và các chỗ khác. Và chúng tôi thời ấy giảm bớt một chiến dịch trước đây. Nhưng những cũng có tới 300 nghìn người Trung Quốc tới. Nghe nói nói rằng do chính sách mới mà chúng tôi tiến hành sau khi Stalin chết, chúng tôi hiện ra một khả năng mới giải phóng sức lao động, và lậy chúa, mặc dù sự tác động đến, nhưng chúng tôi không phải mời. Quả là, ở Moskva người thất nghiệp hầng trăm nghìn. Họ luôn có việc, nhưng việc gì? Nếu không có người anh ta, không ai nhận xét rằng anh ta vắng mặt. Trong mọi cơ quan bấy giờ cắt 30 biên chế, mà cuộc không thiệt hại.
Trung Quốc, như người ta nói, xa chúng tôi. Nhưng Trung Quốc cũng gần chúng tôi. Trung Quốc giáp Liên Xô, trên một khoảng cách lớn, chúng tôi có đường biên giới chung. Trung Quốc - láng giềng gần nhất của chúng tôi. Tuy nhiên là giáng giềng xa, nếu nhớ có ít những cái chung của chúng tôi với Trung Quốc (tôi nói chỉ ở giữa, mà cá nhân tôi đứng). Những người lớp chúng tôi biết người Trung Quốc chỉ có trên tranh ảnh, và đọc rất ít về Trung Quốc. Chúng tôi gặp người Trung Quốc chủ yếu, khi họ mang mọi loại hàng hoá. Tại Donbass, chẳng hạn, họ bán vải tuyt-xo. Theo tiếp xúc như thế chúng tôi cũng tạo cho mình khái niệm về Trung Quốc. Sự thật chiến tranh Nga-Nhật chặn chúng tôi tiếp xúc gần thêm với họ. Vả lại, ý nghĩ của bộ đội Nga về Trung Quốc cũng khác nhau xa.
Sau Cách mạng tháng Mười Chính phủ xô viết xác lập tiếp xúc với Trung Quốc, với lãnh tụ cách mạng Trung Quốc Tôn Dật Tiên. Khi trong thập niên 1920 tại Trung Quốc được bắt đầu nội chiến. Tôn Dật Tiên tiến hành chính sách tiến bộ và đứng ở vị trí hữu nghị với Liên Xô. Sự thiện cảm của những người xô viết được dành cho phía ông. Báo chí của chúng tôi cho độc giả sự thiện cảm với nhân dân Trung Quốc, với cuộc đấu tranh ccc ông giải phóng khỏi sự phụ thuộc đế quốc. Sau đó Tưởng Giới Thạch nắm quyền lãnh đạo tại Trung Quốc. Ông cắt đứt liên hệ với ĐCS, bắt đầu cuộc chiến tranh Quốc Dân Đảng chống ĐCS. Sự thiện cảm nhân dân chúng tôi mới vừa ở phía khu vực xô viết của Trung Quốc. Bằng tất cả ý chí của mình chúng tôi sống cùng với nhân dân Trung Quốc tiến hành cuộc đấu tranh chống kẻ áp bức.
Tôi nhớ một cảnh thế này, có lẽ, vào năm 1926 hoặc 1927. Tôi lúc ấy lãnh đạo một tổ chức Đảng ở Quân khu tỉnh Yuzovk. Đến thăm tôi là một người quen của tôi Akhtyski, một người tỏ ra rất tốt trong thời gian nội chiến. Đó là một cái họ tương đối lớn thời đó, chủ nhân của họ này chỉ huy chiếc tàu bọc thép. Người ta gọi tàu bọc thép của ông là “Akhtyski”.
Một người rất can đảm, nhưng về mặt chính trị nửa cộng sản - nửa vô chính trị. Ông đến quân khu, như thường lệ, say khướt, và nói với tôi:
- Cho tôi chiếc vé, tôi đi Trung Quốc, tôi sẽ chiến đấu chống Tưởng Giới Thạch. Nhanh lên để tôi không bị chậm và tham gia tấn công vào Thượng Hải.
Tôi nói với ông rằng không có ông thì những người cộng sản Trung Quốc sẽ chiếm được Thượng Hải. Chuyện này chứng tỏ, có tâm trạng nào đó trong nhân dân chúng tôi.
Còn có một số sự quan sát thời gian nội chiến. Tôi không gặp trực tiếp những người tình nguyện Trung Quốc, chiến đấu vì chính quyền xô viết. Trong quân đội, nơi tôi phục vụ, không có người Trung Quốc. Nhưng nói chung tại mặt trận của chúng tôi, có người Trung Quốc. Hồng quân nói rằng người Trung Quốc đánh nhau rất giỏi, khi đùa rằng người lính Trung Quốc, dường như, hành động như thế này: Cho ăn - máy làm việc, không cho bánh mỳ - máy không làm việc. Tóm lại, nuôi tôi, thì tôi sẽ bắn. Họ quả là những người can đảm trong đánh nhau, và là những đồng chí tốt. Nhưng trong số những người lao động, lừng danh những tên tuổi các nhà tổ chức chiến đấu chống Tưởng Giới Thạch, đặc biệt Chu Đức, người chỉ huy quân đội những người cộng sản Trung Quốc. Cả Cao Cương nữa. Nhưng còn có cả Trần Độc Tú, người phản cách mạng, bị chúng tôi coi là tay chân đế quốc Nhật Bản và kẻ thù giai cấp công nhân. Thoáng qua những cái tên khác những người bất đồng của những người cộng sản khác. Nhiều người tôi bây giờ cũng quên.
Trong số những người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc tôi biết rõ một đại diện của ĐCS trong Quốc tế cộng sản, rất nổi tiếng trong số công nhân Moskva và thường phát biểu trong các buổi mit tinh. Khi chúng tôi đề nghị ông ta đi đến nhà máy nào đấy, ông không bao giờ từ chối. Bây giờ ông vẫn còn sống ở Moskva, luôn luôn là người bạn của chúng tôi. Không phụ thuộc vào việc những người lãnh đạo hiện nay CHND Trung Hoa giữ vị trí nào, ông tiếp tục giữ những quan hệ hữu nghị với ĐCS chúng tôi và nhân dân chúng tôi. Điều này đồng chí Vương Minh, một người cộng sản tuyệt vời. Sự thật trong thập niên 20 và thập niên 30, tôi không phụ trách về các vấn đề Trung Quốc, và tôi không biết tí nào về cấu trúc ĐCS Trung Quốc, về hàng ngũ lãnh đạo của nó. Tôi nhớ rằng họ thường xuyên được nhắc đến trong báo chí chúng tôi, nhưng tên tuổi của họ, tôi không thể nhớ. Tuy nhiên về Mao Trạch Đông, thời ấy tôi chưa lần nào nghe thấy.
Sau khi Nhật Bản tấn công Trung Quốc, chúng tôi thiết lập mối quan hệ khá chặt với Tưởng Giới Thạch, dù rằng ông thù địch với ĐCS Trung Quốc. Stalin ủng hộ Tưởng Giới Thạch, nhìn thấy ở ông là một lực lượng tiến bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc Nhật Bản và giải phóng Trung Quốc. Tôi cho rằng điều này là đúng. Cần ủng hộ Tưởng Giới Thạch, vì rằng sự thất bại của Tưởng Giới Thạch có nghĩa là làm Nhật Bản mạnh lên, kẻ thù của chúng tôi mạnh lên, tại Viễn Đông Nhật là kẻ thù số một của chúng tôi. Sau nay, khi tôi gặp Mao Trạch Đông, ông quở trách Stalin là Stalin có đường lối như thế trong quan hệ Tưởng Giới Thạch. Nhưng chính Stalin tác động chính sách đối nội của Tưởng Giới Thạch và giúp đỡ Tưởng Giới Thạch, vì Tưởng Giới Thạch tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật bản, cái đó có lợi cho chúng tôi.
Một chính sách tương tự cũng được tiến hành, chẳng hạn, Churchill, người ủng hộ Liên Xô trong thời gian chiến tranh thế giới 2, mặc dù ông là kẻ thù chính trị. Ông là như thế từ những ngày đầu tiên Nhà nước xô viết ra đời vẫn là con người như thế đến khi chết. Nhưng Churchill - một chính khách khôn ngoan, hợp lý, được coi là có ích, khi được bắt đầu cuộc đấu tranh với Hittler một mất một còn, thống nhất sức mạnh của Anh và Liên Xô. Điều này không có nghĩa là, Churchill ở mức độ nào đấy chấp nhận chính quyền xô viết và mong ước làm một điều gì đó tốt đẹp cho nhân dân xô viết. Hoàn toàn không! Tình hình phức tạp trên thế giới thúc giục Churchill liên minh với chúng tôi và tôi hiểu thấu những sự có lợi đối với đất nước. Xuất phát từ nguyên tắc này, Liên Xô ủng hộ Tưởng Giới Thạch.
Biên giới chúng tôi với Trung Quốc trong thời gian chiến tranh thế giới 2 là yên ổn. Tôi nói về khúc biên giới mà Tưởng Giới Thạch kiểm soát. Trên khúc ấy, nơi người Nhật Bản đến, sự căng thẳng luôn tăng lên, thường phát sinh những xung đột khác nhau. Người Nhật thường xuyên “thăm dò”chúng tôi. Sau những chiến thắng đầu tiên ở Thái Bình Dương họ trở nên kinh ngạc, tình hình trên lục địa bắt đầu dần dần ngả sang có lợi cho Trung Quốc. Quân đội Trung Quốc, đến lượt mình, trở nên giành được những thắng lợi riêng, vì Nhật Bản không còn gì để như trước đây, bảo vệ sáng kiến ở Trung Quốc. Sau thất bại Đức Hittler và chư hầu của nó, Liên Xô sau ba tháng tham gia vào cuộc chiến chống Nhật bản. Quân đội chúng tôi đã thành công vai trò của mình trong giai đoạn thất bại của Nhật Bản. Theo thoả thuận với các nước đồng minh chúng tôi thời ấy, chúng tôi đã giải phóng Mãn Châu và nửa phía bắc Triều Tiên và thời ấy tạo ra khả năng tác động nhiều hơn giúp đỡ Trung Quốc, bao gồm giúp đỡ vật chất và vũ khí.
Khi chiến tranh thế giới 2 xảy ra, Liên Xô quan tâm nhiều đến vấn đề Trung Quốc. Chúng tôi quyết định giúp đỡ trực tiếp Mao Trạch Đông và Giải phóng quân trong cuộc đấu tranh vì chính quyền quốc gia. Do thất bại của Nhật Bản, quân Quan Đông, bỏ vkhí, để lại cho chúng tôi số lượng lớn chiến lợi phẩm. Một phần đáng kể của nó, đặc biệt vũ khí, được trao cho những người cộng sản Trung Quốc. Về việc vũ khí, chúng tôi có một thoả thuận ngầm với các nước đồng minh rằng chúng tôi không có quyền chuyển giao nó cho bất cứ một bên tham chiến nào tại Trung Quốc. Vì thế phải chuyển giao nó cho Mao sao cho tạo ra ấn tượng là chúng tôi vi phạm giao ước. Và thế là chúng tôi chở vũ khí đến một đâu đó, quân của Mao dường như “đánh cắp” nó và trang bị quân đội của mình. Trước đó họ cũng xây dựng một lực lượng mạnh, đày ắp vũ khí chiến lợi phẩm Nhật Bản.
Làn đầu tiên tôi nghe về những hoạt động của Mao, trong thời gian chiến tranh A. I. Mikoian, đại diện toàn quyền chúng tôi đến Diên An gặp với Mao. Stalin muốn giải thích sự cần thiết của những người cộng sản Trung Quốc để tổ chức sự giúp đỡ trực tiếp. Sau khi Mikoian quay về, Stalin thảo luận vấn đề Trung Quốc trong nhóm người thân cận tại bữa ăn và có chút băn khoăn:
- Mao Trạch Đông là người thế nào nhỉ? Ông ta có quan điểm nông dân, có những nét riêng nào đấy, ông tựa như sợ công nhân và tách quân đội của mình khỏi dân thành phố.
Gây cho chúng tôi sự phân vân đặc biệt ấy là do tính cách Mao, khi quân đội của ông, tiến thành công về phía nam áp sát Thượng Hải và một số tuần lễ không tấn công nó. Tôi cũng nhắc đến Mao trả lời chúng tôi lý do này, liên quan đến tính cách ông là không thể nuôi 6 triệu triệu dân Thượng Hải. Stalin tức giận:
- Thế còn là một người mác xit không? Mao tự coi mình một người mác xit, nhưng không giúp đỡ công nhân Thượng Hải, không muốn nhận về mình trách nhiệm về số phận của họ”.
Lúc ấy tôi còn làm việc tại Ukraina và có thể biết rõ chi tiết, cái gì xảy ra tại Trung Quốc và cái gì chúng tôi làm đối với Trung Quốc, chỉ từ Stalin, khi tôi về Moskva. Khi những người cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi vào năm 1949, vừa đúng lúc tôi chuyển về Moskva, nơi tôi là bí thư thứ nhất Đảng bộ và đồng thời là bí thư BCHTƯ ĐCSLX. Giờ đây tôi luôn gặp Stalin và vì thế xử lý nhiều vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Ngoài Stalin không ai trong chúng tôi quyết định những vấn đề như thế, mà còn nói chung họ cũng chẳng được giao việc này. Tôi không nghĩ rằng tôi biết tất cả mọi vấn đề về Trung Quốc. Những vấn đề chủ yếu, thì Stalin và Molotov cùng quyết định Nhưng tôi biết rằng Liên Xô giúp đỡ mọi mặt cho Mao Trạch Đông để củng cố sự vững chắc của Mao. Những người cộng sản đạt được chiến thắng trong cuộc đấu tranh vũ trang công khai. Mỹ giúp đỡ tổ chức đối địch, nên nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc một thời gian dài sau thất bại người Nhật. Những người cộng sản Trung Quốc cần sự giúp đỡ của chúng tôi và tiếp nhận nó, trước tiên là vũ khí.
Năm 1944 tất cả Đông Ukraina được giải phóng khỏi tay bọn xâm lược Hittler và các đồng minh của Đức. Đàn ông trong độ tuổi được gọi vào Hồng quân, vì, khi quân ta tiến lên phía trước, bổ xung người chủ yếu là ở huy động những người trước đây nằm lại ở lãnh thổ bị địch chiếm. Những người này, đa số có hiểu biết về nghĩa vụ công dân, và không cần phải đặc biệt “thuyết phục” họ đi đánh nhau với Đức Hittler. Một phần những người nằm lại ở nhà - người già, tàn tật, và vô dụng với quân đội, chủ yếu phụ nữ, ngay lập tức phục hồi kinh tế quốc dân, đặc biệt nông nghiệp.
Trong công nghiệp, trước hết là than và luyện kim, một phần công nhân và nhân viên kỹ thuật không phải tham gia bộ đội. Tuy nhiên trong công nghiệp vẫn động viên nhiều phụ nữ, đặc biệt những cô gái trẻ. Đồng thời họ thích thú đi đến đó. Sự giải thích điều này bằng hai cách: một mặt, chủ nghĩa yêu nước và dân vận ĐCS đóng vai trò lớn rằng cần khôi phục công nghiệp, rằng đây là sự cứu toát duy nhất đáng giá, khả năng nâng cao mức sống nhân dân. Mặt khác, ở miền đông Ukraina, sự cung cấp dù sao chăng nữa cũng được tổ chức; chẳng hạn thực phẩm cho dân chúng là tốt hơn tại các vùng khác của Ukraina, đặc biệt năm 1946.
Phụ trách công nghiệp than là Egor Trofimovich Abakumov, một người rất am hiểu vùng Donbass được biệt phái đến chỗ chúng tôi. Lúc đó có một khoá học về xây dựng các mỏ nhỏ, khai thác các vỉa trên, hoặc, như các thợ mỏ gọi nó, những cái đuôi, nghĩa là những vỉa lộ thiên. Những mỏ không sâu trong chế độ cũ gọi không bẫy chuột. Đã hoạch định đưa hàng trăm mỏ như thế vào cơ giới hoá một phần những khai thác không sâu và những họng dốc để nhanh chóng có lượng than cần thiết. Và số than này đã nhận được!
Cũng khôi phục cả luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp địa phương. Sự phục hồi diễn ra với nhịp độ nhanh. Sự kiên trì của mọi người có thể đáng kinh ngạc, họ có sự hiểu biết cần thiết để áp sát hết sức sao cho thời gian ngắn nhất làm hồi sinh công nghiệp và nông nghiệp. Chính là chiến tranh đã kết thúc, lễ mừng Chiến thắng và sự sung sướng của nhân dân dần dần qua đi, những người lành lặn quay về nhà máy, hầm mỏ, nông trường và nông trang. Sự phục hồi bây giờ diễn ra còn với nhịp độ nhanh hơn. Nhưng phải qua trở ngại.
Năm 1946, hạn hán lớn, nông nghiệp Ukraina thiệt hại nặng. Thiệt hại cả ở những nước cộng hoà khác, mà tôi chỉ nói chút ít về nó. Nhưng Ukraina thì tôi biết. Đến mùa thu năm ấy, đã nhìn thấy rõ vụ mùa tệ hại khủng khiếp. Tôi làm tất cả Stalin kịp thời hiểu điều này. Chưa có vụ mùa nào bị điều kiện thời tiết nặng nề như thế này, ngoài ra, cơ giới hoá nông nghiệp còn yếu, không có máy kéo, ngựa, bò do chiến tranh tàn phá. Không đủ sức kéo. Tổ chức công việc cũng rất kém; bộ đội phục viên tham gia công việc, nhưng vẫn chưa quen chịu chỗ của mình, người thì và mất mát tay nghề, người thì hoàn toàn không có. Do chúng tôi đã có một vụ mùa rất tệ.
Tôi không nhớ rõ, khi đó chúng tôi đã đặt một kế hoạch: một khoảng 400 triệu pud hoặc thậm chí hơn. kế hoạch được lập ra bằng ý chí, mặc dù ở các cơ quan báo chí ở các tài liệu chính thức, nó “được dựa trên” những số liệu khoa học, nghĩa là xoá bỏ thước mét và tính toán vụ mùa theo sinh học với trừ hao mất mát riêng, do tiêu tốn công của mọi người, gia súc và trưng thu hàng hoá. Khi ấy không xuất phát chủ yếu là sẽ trồng ra sao, mà là về nguyên tắc có thể nhận được bao nhiêu, bắt nhân dân nộp đưa vào kho nhà nước. Và thế là bắt đầu việc bắt nộp Tôi thấy đe doạ thảm hoạ. Tất cả sẽ kết thúc như thế nào, khó đoán trước được.
Khi triển khai thu mua và hoàn toàn thấy rõ vụ mùa, có thể ít nhiều chính xác xác định khả năng thu mua ngũ cốc vào quỹ nhà nước. Để làm điều này đã phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể áp dụng được. Nông trang viên hiểu biết phải hoàn thành nghĩa vụ của mình và người ta đã làm tất cả hết sức mình để cung cấp bánh mỳ cho đất nước. Dân Ukraina hoàn toàn chịu khổ sở tình cảm như thế cả trong nội chiến, và cả khi tập thể hoá, cả khi nước cộng hoà này bị chiếm đống. Họ hiểu, đất nước cần bánh mỳ, và hiểu giá của cho nó, hiểu rằng không có bánh mỳ không thể phục hồi công nghiệp. Ngoài ra, họ hao mòn tín nhiệm với ĐCS, dưới sự lãnh đạo của đảng đã mang lại chiến thắng. Nhưng giới chóp bu thì lại khác. Tôi nhận một bức thư của Chủ tịch nông trang rất lâm ly. Chẳng hạn, ngắn gọn:
- Thưa đồng chí Khrusev, chúng tôi hoàn thành kế hoạch thu mua lúa mỳ hoàn toàn, đã giao nộp tất cả, và bây giờ chúng tôi chẳng còn lại một cái gì. Chúng tôi tin rằng cường quốc và Đảng không quên chúng tôi, và họ sẽ giúp đỡ chúng tôi.
Tác giả bức thư, tiếp theo, cho rằng số phận nông dân phụ thuộc vào tôi. Chính lúc ấy tôi là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, và ông nghĩ rằng tôi cầm đầu cường quốc Ukraina, thì tôi không quên nông dân. Tôi thấy ông bị lừa. Chính tôi không thể làm được một cái gì, với tất cả lòng mong muốn của mình, vì rằng, khi bánh mỳ giao cho điểm nhận của nhà nước, thì tôi không có quyền phân phối nó nữa, còn bản thân tôi cũng buộc phải van nài để lại một lượng ngũ cốc nào đấy mà chúng tôi cần. Một chút gì cho chúng tôi, nhưng ít.
Tôi cũng thấy rằng kế hoạch nhà nước về bánh mỳ sẽ không thực hiện được. Tôi gặp một nhóm các nhà nông học và kinh tế để tính toán. Đứng đầu nhóm là Stachenko, một cán bộ giỏi, một người trung thực. Tôi nghĩ nếu đệ trình thẳng thắn tất cả cho Stalin và chứng minh sự tưởng những suy nghĩ của mình vào những con số thì Stalin sẽ tin chúng tôi. Và tôi có được trong một số vấn đề, khắc phục sự chống đối quan liêu của bộ máy và khiếu nại trực tiếp lên Stalin. Nếu tôi hành động trước, bằng cách gom góp tư liệu và xây dựng một cách logic những chứng cớ của mình, thì sự đúng đắn của nó sẽ nổi lên. Lúc đó Stalin ủng hộ tôi. Tôi hy vọng rằng lần này tôi cũng chứng minh rằng chúng tôi là đúng, và Stalin hiểu rằng dây không phải là sự phá hoại ngầm. Loại thuật ngữ này không bắt buộc tôi phải chờ đợi ở Moskva, nơi luôn luôn có biện minh đối với sự đàn áp, và đối với sự trưng thu sản phẩm nông trang.
Bây giờ tôi không nhớ, lượng bánh mỳ tôi tính toán khi đó có thể thu mua luôn luôn bao nhiêu. Hình như, trong thư mà chúng tôi trình lên trên, chúng tôi viết là 180 hoặc hơn 200 triệu pud. Đây là, tất nhiên, rất ít, vì rằng trước chiến tranh Ukraina có mức hàng năm 500 triệu pud. Mọi người biết rõ ràng là đất nước đang cực kỳ cần thực phẩm. Và không những đối với đòi hỏi trong nước,: Stalin muốn giúp đỡ các nước cộng hoà mới, và đặc biệt Ba Lan và Đông Đức, những nước này không thể nhúc nhích nếu thiếu sự giúp đỡ của chúng tôi. Stalin thấy rõ việc xây dựng các nước đồng minh tương lai cả trong điều kiện hoà bình, và cả trong những trường hợp khác. Ông cũng muốn khoác áo tổng chỉ huy quân sự của các cuộc hành binh có thể trong tương lai.
Hiện thời cần giải quyết nạn đói. Tôi gửi tài liệu đã chuẩn bị cho Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô phơi bày sự nghèo đói của chúng tôi. Chúng tôi muốn người ta cho chúng tôi khoai tây với sự đảm bảo từ trung ương không những cho thành phố mà và cho cả dân chúng nông thôn một lượng thực phẩm và đôi chỗ tổ chức thức ăn cho những người đang bị đói. Tôi không nhớ bao nhiêu triệu pud khoai tây mà chúng tôi đề nghị. Nhưng tôi nghi ngờ nó thành công, vì tôi biết Stalin, sự tàn nhẫn và thô lỗ của ông. Mọi người cố gắng thuyết phục tôi:
- Chúng tôi thoả thuận rằng nếu ông ghi tên Stalin lên tài liệu này (tất cả những tài liệu như thế trực chỉ Stalin), thì Stalin thậm chí không cầm nó đâu. Chúng tôi quy ước với Kosyghin (khi đó Kosyghin phụ trách vấn đề này). Ông nói rằng chừng này triệu khoai tây có thể cho chúng tôi”.
Tôi dao động lâu, nhưng cuối cùng cũng ký tài liệu. Khi tài liệu về Moskva, thì Stalin nghỉ ở Sochi. Malenkov và Beria biết tài liệu. Tôi nghĩ rằng họ quyết định dùng sự việc để làm mất uy tín tôi trước Stalin, và thay thế bằng giải quyết vấn đề (họ có thể khi đó giải quyết các vấn đề mang tên Stalin: nhiều tài liệu, mà Stalin không nhìn, nhưng cũng được phát đi với chữ ký của ông), họ gửi tài liệu của chúng tôi cho Stalin ở Sochi. Stalin gửi cho tôi một bức điện lời lẽ thô lỗ, thoá mạ nói rằng tôi là người đa nghi: tôi viết thư, trong đó tôi chứng minh rằng Ukraina không thể thực hiện được thu mua, và tôi đề nghị số lượng lớn khoai tây để nuôi sống mọi người. Bức điện này làm cho tôi chết điếng. Tôi hiểu thảm hoạ treo lơ lửng không những trên đầu tôi, mà còn trên đầu nhân dân Ukraina, trên đầu nước cộng hoà: nạn đói không tránh khỏi và chẳng bao lâu nữa bắt đầu.
Stalin từ Sochi quay về Moskva, và tôi từ Kiev đến Moskva. Tôi dã nhận quát mắng, chỉ có thể như thế thôi. Tôi cũng đã sẵn sàng tất cả, thậm chí bị liệt vào hàng ngũ kẻ thù nhân dân. Lúc đó việc này được làm chỉ trong nháy mắt - chỉ kịp chớp mắt, là cửa khép lại, và anh có mặt ở Lubianka. Mặc dù tôi tin những tài liệu mà tôi gửi, đã phản ánh tình thế thực của sự việc và Ukraina cần được giúp đỡ, nhưng chỉ có thế mà Stalin nổi cơn giận. Chúng tôi không nhận được một cái gì cả từ trung ương. Nạn đói kéo đến, đã có tín hiệu cho thấy có người chết đói. Đây đó bắt đầu có chuyện ăn thịt người. Người ta báo cáo tôi rằng họ tìm thấy đầu và bàn chân người dưới cầu Vasinkov (một thành phố nhỏ của Kiev), nghĩa là xác đã đã thành đồ ăn. Sau đó trường hợp như thế cũng thường xuyên xảy ra.
Kirichenko (khi đó là bí thư thứ nhất tỉnh uỷ Odessa) kể rằng khi ông đến kiểm tra một nông trang, như mọi người qua mùa đông, họ kể cho ông nghe để ông tới gặp một nữ nông trang viên. Ông nói:
- Tôi gặp một cảnh kinh khủng. Tôi thấy người phụ nữ này đang cắt xác đứa con của mình, không phải thằng bé, mà là một con bé, và bà ta lẩm bẩm: “Thế là người ta ăn hết con bé Maneska rồi, còn bây giờ ăn Vaneska”. Còn đủ thời gian.
Người phụ nữ này bị loạn óc vì đói và xẻ thịt những đứa con của mình. Anh có thể hình dung được điều này không?
Tôi báo cáo tất cả điều này cho Stalin, nhưng ông trả lời trong sự cơn giận dữ:
- Đồ nhu nhược! Người ta lừa ông, cố tình báo cáo để làm mủi lòng và che dấu nguồn dự trữ.
Có thể Stalin nhận được những bằng chứng khác, lúc đó ông mới tin hơn? Tôi không biết. Tôi biết rằng ông nhìn nhận tôi dường như tôi bị ngả theo ảnh hưởng địa phương Ukraina, rằng tôi bị áp lực và tôi chút nữa thành người dân tộc chủ nghĩa, không xứng đáng sự tin cậy. Với thông báo của tôi, Stalin bắt đầu có quan hệ thận trọng thấy rõ. Nhưng những bằng chứng khác từ đâu đến tay ông? Báo cáo những chứng cớ ấy cho là những nhân viên Cheka hoặc những thanh tra của BCHTƯ ĐCS(b), những người này đi khắp mọi vùng. Những thông tin đúng như thế có thể lọt đến tai Stalin, nhưng thông thường người ta rất sợ đưa nó và ỉm đi để “không chạm trán”, không phải chịu trận, vì rằng Stalin phản ứng rất khắc nghiệt. Stalin cho rằng tất cả mọi người dưới trướng ông đều thịnh vượng. Như Sevchenko viết: “Từ người Moldavi đến người Phần Lan tất cả mọi tiếng nói, mọi người đều ngậm miệng, thịnh vượng”.
Chỉ có điều Sevchenko viết thời gian Nicolai I, con bây giờ Iosif I.
Stalin đặt vấn đề cần triệu tập Plenum BCHTƯ Đảng bàn về nông nghiệp. Quả là tôi không nhớ, bao nhiêu năm không tổ chức Plenum. Có lẽ, từ năm 1938 khi bàn cãi vấn đề đấu tranh với kẻ thù nhân dân, còn sau đó có sự thái quá trong cuộc đấu tranh này. Stalin khi đó đóng vai trò cao thượng chống sự thái quá, do chính ông tổ chức. Như vậy, cuối cùng bây giờ ông đặt vấn đề Plenum về việc đẩy mạnh nông nghiệp. Bắt đầu bàn cãi xem trao cho ai làm báo cáo. Tại cuộc họp Bộ chính trị, Stalin lập luận đọc to thành tiếng:
- Ai làm báo cáo?
Khi đó phụ trách nông nghiệp là Malenkov.
- Malenkov? Ông phụ trách việc này. Ông làm báo cáo như thế nào, nếu thậm chí không biết cả từ ngữ về nông nghiệp?
Việc này liên quan đến Malenkov. Hoàn toàn đúng. Lạ lùng ở chỗ Stalin biết Malenkov như thế, mà còn trao cho ông ta phụ trách nông nghiệp. Điều này tôi để ý từ lâu. Trả lời khó. Ở Stalin, mọi thứ đều có thể...
Bỗng nhiên ông nói với tôi:
- Ông sẽ làm báo cáo.
Tôi khiếp sợ việc uỷ nhiệm này:
- Đồng chí Stalin, xin đừng trao cho tôi, tôi xin ông.
- Vì sao?
- Tôi có thể làm báo cáo về Ukraina, ví tôi biết nó. Nhưng tôi không biết Liên bang Nga. Về Siberi nói chung tôi không hiểu, tôi chưa bao giờ ở đó và chưa làm việc này. Nói riêng, trước Ukraina tôi nói chung chưa bao giờ phụ trách nông nghiệp, bản thân tôi là công nhân, chỉ quan tâm nhiều đến công nghiệp, cũng có phụ trách kinh tế công cộng ở Moskva. Nhưng Trung Á? Đúng là tôi chưa bao giờ thấy bông mọc như thế nào.
Stalin nài:
- Không, Ông sẽ làm báo cáo.
- Không đâu, đồng chí Stalin, tôi thiết tha đề nghị ông, tha cho tôi. Tôi không muốn làm phiền BCHTƯ, không muốn đặt mình vào tình thế ngốc nghéch dây vào việc làm báo cáo vấn đề mà tôi đặc biệt không biết. Xin trình bày Plenum là tôi không thể”.
Stalin lại nghĩ:
- Thôi, được, trao cho Andreev.
Andreev có thời phụ trách nông nghiệp và tự phụ trong Đảng là người am hiểu nông thôn. So với các uỷ viên khác Bộ chính trị, ông, tất nhiên, biết nông nghiệp tốt hơn, mặc dù tôi không đáng giá cao kiến thức của ông. Ông là người tương đối khô khan và là người hình thức, thường sử dụng các tờ trình và làm các thông báo của mình trên cơ sở tờ trình của những khác am hiểu nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, tôi hài lòng tôi thoát được thế bí. Và Andrey Andreev chắc chắn là người báo cáo BCHTƯ tại Plenum. Lúc đó ông là uỷ viên Bộ chính trị và bí thư BCHTƯ. Còn có thêm một Uỷ ban về nông nghiệp - chồng chéo giữa BCHTƯ và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Andreev là Chủ tịch hoặc uỷ viên Đảng uỷ Uỷ ban. Người thay thế này là do Stalin cử, nhưng tôi không biết ông là bị buộc phải làm và vai trò của ông được kết luận cụ thể.
Sau một thời gian, khai mạc Plenum. Andrey Andreev làm xong báo cáo. Báo cáo đâu ra đấy, hàng lối rõ ràng, có logic, như ông thường làm. Plenum tiến hành ở gian Sverlov, Kreml, Đoàn Chủ tịch nhỏ chỉ có các uỷ viên Bộ chính trị ngồi. Tôi ngồi cạnh Stalin và thấy, ông chăm chú nghe. Tuyên bố nghỉ. Chúng tôi chạy ùa vào phòng nghỉ nơi các uỷ viên Đoàn chủ tịch uống trà. Có lần lại ăn trưa, cùng trao đổi những suy nghĩ. Ngồi ở, chúng tôi nhâm nhi trà, và Stalin hỏi tôi:
- Anh có ý kiến gì về bản báo cáo?
Tôi nói:
- Người báo cáo đã làm sáng tỏ tất cả các vấn đề.
- Nhưng ông ngồi hoàn toàn bàng quan. Tôi đã quan sát ông.
- Nếu ông muốn tôi nói hết sự thật chô ông, thì, theo tôi, trong báo cáo cần nêu ra những vấn đề khác. Có đụng chạm đến tất cả những khuôn sáo.
Stalin nổi khùng:
- Thế mà ông từ chối báo cáo, còn bây giờ thì lại chỉ trích.
Tôi thấy Stalin không hài lòng về tôi.
Kết thúc báo cáo. Nhiều người phát biểu tranh luận, tôi cũng thế. Hoàn toàn tôi không nhớ, tôi đã đề cập các vấn đề tôi gì, trước tiên, tôi nói công việc phục hồi kinh tế Ukraina. Tôi nói chỉ có về điểm này thôi. Lúc đó tôi coi quan trọng nhất là vấn đề cơ giới hoá và hạt giống. Khi đó luật “điều răn đầu tiên” của nông trang viên có hiệu lực: đầu tiên thực hiện nghĩa vụ cung cấp cho nhà nước, sau đó hạt giống và quỹ, sau đó - phân bố theo lao động. Tôi cho rằng cần huỷ bỏ điều răn này do Stalin nghĩ ra, và trước tiên phải đủ hạt giống. Dưới chế độ cũ, nông dân cá thể, thà chết, không ăn hạt giống, vì rằng đây là tương lai, đây là cuộc sống. Chúng tôi thu những hạt giống này của nông dân, sau đó bắt buộc đưa cho họ gieo hạt? Nhưng cũng không biết, hạt giống này là hạt loại gì, mọc ở đâu, chừng mực nào họ quen thổ nhưỡng.
Lời phát biểu của tôi làm Stalin nổi giận. Một Uỷ ban đặc biệt được thành lập do Andrey Andreevlàm Chủ tịch, nhưng tôi cũng ở trong hội đồng này. Nhưng còn thêm một đám mây đen nặng nề treo trên đầu tôi sau lời phát biểu của Malssev, một cán bộ dầy dạn kinh nghiệm, quả là một người hiểu rõ nông nghiệp Ural. Ông lãnh đạo đạo tuyệt vời kinh tế của mình, kể rằng công việc ở họ ra sao và ông thu hoạch luá mỳ vụ xuân tốt như thế nào. Ngay khi ông nói về luá mỳ vụ xuân, tôi lập tức cảm thấy cú giáng vào chỗ đau của tôi. Tôi biết rằng Stalin, không sắp xếp, lôi ra vấn đề luá mỳ vụ xuân và quăng nó vào mặt tôi. Tôi phát biểu chống việc gieo luá mỳ vụ xuân theo một trật tự nhất định, nó sản lượng thấp tại Ukraina, đặc biệt ở miền nam, mặc dù ở một số nông trang, nó thu được cũng không tồi. Vì thế tôi cho rằng cứ để cho một số nông trang nào có thể gieo nó, nhưng không ghi nhất thiết ghi vào quyết định rằng mọi ông trang cần phải trong phần trăm xác định gieo luá mỳ vụ xuân: chính có lần thậm chí hạt giống không mọc. Stalin không biết điều này và không muốn biết. Mặc dù trước chiến tranh tôi có lần báo cáo ông về luá mỳ vụ xuân, và khi đó ông đồng ý với tôi, sau đó được chấp nhận quyết định không nhất thiết tất cả nông trang Ukraina gieo luá mỳ vụ xuân.
Ngay khi tuyên bố nghỉ và chúng tôi đi vào phòng nghỉ, Stalin cáu và độc ác nói vào mặt tôi:
- Đã nghe, Malssev nói gì chưa?
- Đúng, đồng chí Stalin, nhưng ông ta nói về nói Ural. Nếu tại Ukraina, cây lương thực có sản lượng cao nhất- lúa mì thu, thì ở vùng Ural hoàn toàn không gieo được nó, mà ở Ural chỉ gieo được luá mỳ vụ xuân. Họ đã nghiên cứu nó, biết gieo trồng nó và nhận được vụ mùa tốt. Đúng và điều này không phải tất cả là kinh tế. Malssev - đây là thợ cả, viện sỹ trong công việc của mình.
- Không, không, nếu ở đó vụ xuân cho thu hoạch như vậy, thì chỗ ông - và Stalin giáng vào bụng tôi - đất đen dày như thế, thì vụ mùa còn phải tốt hơn. Phải viết vào nghị quyết.
Tôi nói:
- Nếu viết, thì cứ viết rằng tôi phản đối. Mọi người tất cả đều biết tôi chống luá mỳ vụ xuân. Nhưng nếu các ông cứ coi như thế, thì khi đó hãy viết cả Bắc Kavkaz và tỉnh Rostov. Họ cũng ở cùng tình thế giống chúng tôi.
- Không, chúng tôi viết chỉ cho ông thôi!
Dường như, tôi cần phải nảy ra sáng kiến để người khác cũng đi theo tôi. Uỷ ban nói trên làm việc, khi bàn cãi vấn đề này, tôi cũng chấp nhận tham gia, nhưng không đi đến cuối. Plenum kết thúc, tất cả về địa phương mình, và tôi cũng phải ra về. Ký nghị quyết này chỉ có Malenkov và Andreev.
Khi tôi ra về, thì Uỷ ban đặt vấn đề cần bãi bỏ quyết định về “điều răn đầu tiên” của nông trang viên, và đề nghị quỹ hạt giống cho gieo song song ngũ cốc nhà nước ở một tỷ lệ nhất định. Tất nhiên có sự nhượng bộ từ phía tôi. Nhưng tôi cho rằng thậm chí cũng có ích nói chung không cái gì còn tại cảо. Tất cả theo phần trăn hạt của và nhà nước, và quỹ hạt. Tôi ra về. Sau vài ngày Malenkov gọi cho tôi và nói:
- Nghị quyết đã xong. Đề nghị của anh về thứ tự gieo quỹ hạt ở nông trang và nong trường trong nghị quyết không có, chúng tôi sẽ báo cáo Stalin. Anh nghĩ sao, báo cáo đề nghị của anh riêng biệt hay hoàn toàn không nói gì cho ông ấy?
Rõ ràng đây là vấn đề khiêu khích. Mọi người kể cả biết rằng tôi đưa vấn đề này ra Uỷ ban, đấu tranh vì nó, còn bây giờ, khi đặt vấn đề, có báo cáo cho Stalin hay không, nếu như tôi nói không báo cáo, té ra tôi nhát gan. Tôi nói:
- Không, đồng chí Malenkov. Tôi đề nghị trình đồng chí cho Stalin quan điểm của tôi.
- Được!
Họ trình lên. Từ cuộc gọi mới và Malenkov, tôi biết Stalin rất bực mình và không chấp nhận đề nghị của tôi. Stalin nổi khùng thật sự, khi biết về điều này. Sau Plenum, Stalin đặt vấn đề phải giúp đỡ Ukraina:
- Phải củng cố Khrusev, giúp đỡ ông ta. Ukraina thì tiêu điều, mà đây là một nước cộng hoà lớn và có giá trị đất nước.
Ông nghiêng hướng nào?
- Tôi cho rằng phải cử Kaganovich đến đó, giúp Khrusev. Ông nghĩ thế nào? - Ông hỏi, khi nói chuyện với tôi.
Tôi trả lời:
- Kaganovich từng là bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, biết Ukraina. Tất nhiên Ukraina - đây là một đất nước đủ không những cho hai người mà còn cho cả hàng chục người.
- Được, cử đến đó Kaganovich và Patolichev.
Patolichev có thời bí thư BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b). Tôi trả lời:
- Xin cứ việc, tốt thôi.
Và ghi như thế. Stalin đề nghị tách đôi chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Có thời người ta hợp nhất những chức vụ này, nhưng khi đó tôi chứng minh không cần làm điều này. Điều đó được làm tại Ukraina và Belorussia. Tôi không biết các nước cộng hoà khác có thế không. Stalin đề nghị:
- Khrusev sẽ là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ukraina, còn Kaganovich - Bí thư thứ nhất BCHTƯ. Patolichev sẽ bí thư BCHTƯ về nông nghiệp.
Tôi lại nói:
- Tốt.
Chúng tôi họp Plenum tại Ukraina. Plenum chuẩn y sự bổ nhiệm, mỗi người ngồi tại chỗ của mình và phụ trách công việc của mình.
- Trước hết - tôi nói với Kaganovich và Patolichev, chúng tôi phải chuẩn bị trồng trọt. Chúng tôi không còn hạt. Ngoài ra, chúng tôi phải nhận một cái gì đó để nuôi dân: họ đang chết đói, xuất hiện việc ăn thịt người. Không thể nói trồng trọt thế nào, nếu chúng tôi không tổ chức thực phẩm xã hội. Chưa chắc bây giờ chúng tôi nhận được lượng ngũ cốc, để cho vay, nuôi dân để họ không chết đói. Rồi cả hạt giống cũng phải nhận.
Chúng tôi đặt vấn đề trước Moskva. Để đảm bảo vụ mùa năm 1947 và đặt hạt giống năm 1948, phải cấp tốc nhận được hạt giống. Nếu chúng tôi không nhận hạt giống, chúng tôi không làm được gì cả, vì rằng người ta đã chở đi mọi thứ từ nông thôn theo điều răn đầu tiên do Stalin nghĩ ra.
Chúng tôi một lần nữa yêu cầu Stalin và nhận một lượng hạt và thực phẩm. Trời đã sang tháng hai. Lúc ấy ở miền nam bắt đầu lác đác gieo hạt, trong tháng ba nhiều nông trang phía nam gieo lúa mỳ. Thế là tháng ba, đáng ra chúng tôi phải chuẩn bị gieo đại trà ở miền nam, con ở tỉnh Kiev kết thúc gieo hạt vào tháng tư. Tôi nói với Kaganovich:
- Hãy nghĩ cái gì đề làm chứ.
Ông nói:
- Phải đi khắp Ukraina.
Tôi trả lời:
- Phải, nhưng điều này bây giờ không phải là chính. trước đây anh không ở Ukraina, mà giờ lại đi, nhưng tôi nằm lại Kiev. Bây giờ không quan trọng không phải là tôi đi hoặc tôi sẽ ở đâu đó trong một, hai, ba hoặc năm nông trang. Điều này không có giá trị gì hết. Người ta chuyển Xô hạt giống bằng tầu hoả, hất chúng từ các tỉnh, còn từ tỉnh hất về nông trang - đấy mới là điều chính, mà thành công trồng trọt phụ thuộc vào.
Chúng tôi cũng thoả thuận như thế. Kaganovich đi đến tỉnh Poltava, tôi nằm lại ở Kievđiều phối qua điện thoại - thúc đẩy hạt giống và chuyên chở, liên quan với sự đảm bảo trồng trọt: phụ tùng, nhiên liệu và dầu bôi trơn.
Kaganovich, khi đi thăm nông trang, tin rằng chức vụ của ông Bí thư thứ nhất bắt buộc với nhiều người: tình thế rất nặng nề, nhiều nông trang viên làm ăn láng cháng, không có khả năng làm việc, kiệt quệ sức lực vì đói. Sau đó ông chia xẻ với tôi ấn tượng về một nông trang và Chủ tịch nông trang này Moginichenko.
- Ông là người thế nào, tôi không hiểu. Nghiệt ngã, kiên trì. Có lẽ ông ta sẽ có vụ mùa. Khi tôi ra đồng, mọi người đang cày ruộng Tôi nhìn thấy rằng đất cày ít quá và nói:
- Sao các anh cày ít thế?
Cần phải biết Kaganovich để hiểu khi ông nói: nạt nộ Chủ tịch nông trang. Nhưng ông chủ tịch, người hiểu biết công việc của mình, trả lời:
- Bò cũng phải ăn, người cũng phải ăn.
- Bây giờ anh cày ít, rồi mai sau anh xin bánh mỳ của nhà nước?
- Tôi á, không bao giờ, đồng chí Kaganovich, tôi không xin bánh mỳ của nhà nước. Chính tôi cho nhà nước bánh mỳ.
Từ trước tôi đã đề nghị Kaganovich:
- Anh đến làng, đi cùng với Koval. Là nhà nông học, ông ta biết rõ nông nghiệp, và vì thế anh đề nghị ông vào hội đồng, ông ta sẽ bầy cho anh. Đây là người biết công việc của mình.
Koval lúc đó là Bộ trưởng ruộng đất CHXHCN Ukraina. Và Koval nhìn thấy, “đánh chúng tôi”, đánh Bí thư thứ nhất, và ai đánh? Chủ tịch nông trang. Ông nói với tay chủ tịch:
- Ông nói gì thế, đồng chí Mogininchenko? Tôi - nhà nông học, Bộ trưởng ruộng đất Ukraina, và tôi cho rằng anh cày bừa không đúng.
Mogininchenko ngó nhìn ông và trả lời:
- Thế ra ông là nhà nông học và Bộ trưởng? Tôi, як трэба, так và tôi sẽ gieo.
Và còn lại ở sự tin tưởng của mình. Sau một năm tôi đi đến và làm quen với ông và nông trang xem. Dúng, con người này quả là biết việc của mình. Tôi nhìn thấy nông trang giàu có, không những không còn tồn nợ thuế, mà chỉ nửa năm trước còn giao nộp trước cho nhà nước tất cả thực phẩm nông nghiệp.
Kaganovich lo ngại cái gì? Kaganovich nói:
- Tôi sợ quả là ở ông ta sẽ có một vụ mùa tốt theo việc cày bừa nhỏ.
Vấn đề là ở chỗ Kaganovich nhúng tay vào cuộc đấu tranh chống cày nhỏ. Đứng lúc đó đang tiến hành đúng những bản án của toà án chống lại dụng cụ bukker đối với lớp đất cày trên mặt đất trồng. Người ta huỷ bỏ và tiêu diệt những người ủng hộ cày đất bằng bukker. Nhưng bỗng nhiên Kaganovich bắt gặp cày nhỏ. Chống lại luật pháp! Nhân thể nói thêm, có thời gian ở tỉnh Saratov phát triển thuyết cày bukker, và có giáo sư bị thiệt hại vì nó, bị kết án nghiêm khắc.
Thế là một lần nữa bắt đầu những hoạt động chung của chúng tôi với Kaganovich, bây giờ chính tại Ukraina. Ông tìm khả năng nào đấy để thể hiện mình và quyết định rằng cần trội hơn rằng Ukraina vượt mức kế hoạch về tăng sản phẩm công nghiệp, đặc biệt công nghiệp địa phương. Khi Uỷ ban kế hoạch CHXHCN Ukraina đề nghị những con số, tôi nhìn chúng trước (vì là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) và đưa ra tại phiên họp Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Kaganovich tại phiên họp luôn nhìn vào những con số, rồi nhìn tôi xem tôi có đồng ý với ông không? Tôi nói:
- Lazar Moiseevich, có thể chấp nhận những con số này, có thể.
- Không, anh xem đi, tăng trưởng như thế nào!” - Đây không phải là mức tăng trưởng hàng năm trong điều kiện bình thường, còn kế hoạch hàng năm phục hồi công nghiệp và tăng trưởng sản xuất sản phẩm trên cơ sở này. Vì thế điều này là hơi mạnh. Năm qua chúng tôi đã thêm phần trăm thế này.
Nhưng thay việc tăng con số, ông đồng ý chấp nhận nó, hoặc sợ, những con số ấy đảm bảo ông không bị đổ: ông không muốn nhận kế hoạch, mà sẽ không được hoàn thành, mà muốn kế hoạch thấp hơn thực hiện vượt mức nó. Dễ nhất là nhét những con số đã hạ thấp vào kế hoạch, còn sau đó hét lên rằng kế hoạch không những được hoàn thành, mà còn hoàn thành vượt mức. Đáng tiếc, điều này là cách làm gì rất phổ biến hoạt động trong kinh tế chúng tôi. Tôi nghĩ rằng bây giờ cách này được sử dụng tương đối rộng rãi.
Tôi không gặp may: khi đó tôi bị cảm và bị viêm thần kinh toạ chân, nằm thở ôxy, chật vật sống sót. Điều này ở mức độ nào đấy giúp Kaganovich nhận khả năng quay về những hoạt động của mình không cân do dự, vì rằng tôi dù sao chăng nữa liên quan với ông và ông buộc phải coi trọng tôi. Nhưng ông quá trớn, đồng thời tự cho mình được phép tục tằn. Đúng tục tằn. Ông xử sự chẳng hạn đối với Patolichev đến nỗi, ông này đến gặp tôi, khi tôi còn nằm trên giường, không lâu, sau cuộc khủng hoảng, và than vãn:
- Tôi không thể! Tôi không biết ra sao nữa.
Sau đó ông không kìm được và viết một bức thư cho Stalin yêu cầu rút ông khỏi công việc tại Ukraina, vì rằng ông không thể sống bên cạnh Kaganovich. Người ta cử ông, có lẽ, về công tác ở Rostov. Patolichev ra đi từ Ukraina.
Sức khoẻ của tôi hồi phục. Tôi vẫn còn nằm, có lẽ, hai tháng, hoặc hơn, và quay về công việc. Tuy nhiên và tôi có những quan hệ rất xấu với Kaganovich, thực chất những quan hệ không chịu nổi. Ông triển khai những hoạt động điên cuồng theo hai hướng: chống những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina và chống người Do Thái. Chính ông là người người Do Thái, và chống người Do Thái? Có thể là, ông có hướng chống những người Do Thái có quan hệ hữu nghị với tôi? Nhanh chóng, đúng như thế. Làm việc ở chỗ chúng tôi, nói riêng, Trokunov chủ bút một tờ báo. Kaganovich cách chức Trokunov. Ông không những khinh rẻ Trokunov, mà còn thật sự nhạo báng ông. Trokunov là một người trung thực, trong thời gian chiến tranh chủ bút một tờ báo mặt trận, và trong cuộc thi các báo mặt trận người ta thừa nhận báo ông hay hơn. Tôi nhớ Trokunov, còn về Yuzovk, khi tôi học khoa lao động, Yuzovk cũng làm việc ở báo. Hình như, thậm chí tôi bảo đảm cho ông, khi ông vào đảng.
Cái gì quan hệ với những người dân tộc chủ nghĩa, то, khi tôi đứng dậy được sau trận ốm, những lời phàn nàn của nhiều người về tôi ngay lập tức đến. Nó đụng chạm đến các vấn đề tính cách chính trị, và tôi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thực tế không quan tâm đến. Các vấn đề này nằm thẩm quyền ban lãnh đạo Đảng nước cộng hoà. BCHTƯ chúng tôi xem xét chúng, đôi lúc sự việc đến cả tôi, nhưng chủ yếu họ được quyết định ở Ban thư ký BCHTƯ, mà sự làm việc của nó tôi chấp nhận không tham gia. Tại phiên họp Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina các vấn đề này ít khi đặt ra. Tuy nhiên tất cả những gì tôi có thể làm, để giảm áp lực của Kaganovich đối với những người giả danh dân tộc chủ nghĩa, tôi đã làm.
Một loạt tài liệu của Kaganovich gửi cho Stalin về “những câu hỏi có vấn đề”.
Cuối cùng, có một lần Stalin gọi tôi:
- Tại sao Kaganovich gửi cho tôi những tài liệu, còn ông lại không ký những tài liệu này?
- Thưa đồng chí Stalin, Kaganovich - bí thư nước cộng hoà BCHTƯ, và ông ta viết cho cho ông với tư cách Tổng bí thư BCHTƯ. Vì thế không cần chữ ký của tôi.
- Điều này không đúng. Tôi nói với ông nói rằng chúng tôi sẽ không nhận một bức thư nào nữa nếu thiếu chữ ký của ông.
Ngay khi Stalin đặt ống nói, Kaganovich gọi cho tôi:
- Stalin gọi anh?
- Vâng.
- Ông nói gì với anh?
- À, điều là bây giờ chúng tôi hai người cần phải ký những tài liệu gửi về Moskva.
Kaganovich thậm chí không hỏi, Stalin còn nói gì thêm nữa không: chúng tôi hiểu nhau chỉ nửa lời. Tuy nhiên hầu như chẳng có tài liệu nào đưa đến tôi ký, vì rằng dòng tài liệu này khô kiệt: Kaganovich biết rằng các tài liệu của ông không đời nào tôi ký. Những tài liệu mà ông đưa tôi, hoặc coi như xong, hoặc tôi từ chối ký, và chúng không đi đâu tiếp.
Đối với cá nhân tôi, kết luận chủ yếu là ở chỗ Stalin quay lại tín nhiệm tôi. Chuông điện thoại của ông đối với tôi là tín hiệu tương ứng. Điều này cải thiện tình trạng tinh thần của tôi: tôi khôi phục hoàn toàn quyền lực không những về chức danh uỷ viên Bộ chính trị BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b).
Đối với kế hoạch: kế hoạch thu mua lúa mỳ chúng tôi hoàn thành, được khoảng 400 triệu pud ngũ cốc. Vụ mùa trong thời gian ấy là không tồi. Sự thật kế hoạch cũng không lớn, nhưng chính là kinh tế nước cộng hoà bị chiến tranh phá huỷ. Vì thế trên bình diện chung của nông nghiệp Liên Xô sau chiến tranh, đây là những con số tốt.
Mùa thu 1947, Stalin gọi tôi và Kaganovich về gặp ông. Trước đó, khi chúng tôi hoàn thành kế hoạch, chúng tôi đề nghị ông tiếp chúng tôi ở Sochi, nơi ông nghỉ. Chúng tôi bay đến chỗ ông. Còn bây giờ, khi Stalin quay về Moskva, chính ông gọi chúng tôi và đặt vấn đề Kaganovich không làm gì làm tại Ukraina, phải rút ông ta về Moskva. Như thế, tôi phục hồi và là Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Tôi, tất nhiên, vui và với lòng nhiệt thành lớn nhận công việc đã quen. Công việc ở chúng tôi tiến hành tốt. Nông nghiệp tại Ukraina khôi phục nhanh một cách đáng kể so với các chỗ khác, bị chiến tranh tàn phá. Chúng tôi thi đua với Belorussia. Ukraina vượt Belorussia trong mọi quan hệ. Tất nhiên Belorussia bị phá huỷ nặng nề. Và tất cả những sự thật này nâng giá trị cùng với uy tín của ban lãnh đạo Ukraina. Tôi hài lòng.
Năm 1949 - năm cuối cùng của tôi tại Ukraina. Stalin gọi tôi về Moskva, và nói rằng tôi lần thứ hai quay về công tác tại thủ đô toàn Liên bang. Nhìn quanh, tôi nhận thấy nhân dân Ukraina đối với tôi rất tốt. Tôi ấm lòng. Tôi nhớ những năm đã qua ở đó. Đó là thời kỳ rất xứng đáng, nhưng thú vị vì rằng đem lại sự thoả mãn: phát triển nhanh, tăng trưởng cả nông nghiệp, và công nghiệp của nước cộng hoà. Stalin không ít lần trao cho tôi làm báo cáo về Ukraina, đặc biệt về các vấn đề tiến bộ sản xuất thịt, còn sau đó cho những báo cáo này công bố trên báo Sự Thật, để, theo lời ông, những người khác cũng làm những gì mà chúng tôi chúng tôi đã làm tại Ukraina. Vả lại, tôi chưa đánh giá vai trò cá nhân. Toàn nước cộng hoà lao động căng thẳng.
Tôi biết Ukraina không tồi. Và trước đây tôi đã coi và bây giờ tôi cũng coi rằng so sánh với những nước nước cộng hoà khác, thì Ukraina có mức phát triển phát triển nông nghiệp cao và ruộng đất trồng trọt tương sđối cao. Tôi không biết, thật ra, đánh giá như thế nào trồng bông Trung Á. So sánh Ukraina với các nước cộng hoà khác (không kể các nước Bantic, vì rằng các nước Bantic mới vào trong thành phần Liên Xô chưa lâu), tôi nói rằng Liên bang Nga, Belorussia và những nước cộng hoà khác thua Ukraina. Điều đó, hình như đã từng có trong lịch sử. Liên bang Nga tách rời phía tốt nhất Kuban: ở đó cũng có đất tốt và trồng trọt cao, chế biên nông sản. Thành công CHXHCN Ukraina tôi ghi nhận tất cả nhân dân Ukraina.
Bây giờ tôi không phổ biến tiếp tục các chủ đề đã nêu, nhưng điều này về nguyên tắc rất dễ chứng minh. Tôi là người Nga và tôi không muốn phật ý người Nga, đơn giản xác nhận rằng tại Ukraina ruộng đất trồng trọn nhiều hơn. Bây giờ đang diến ra sự bình chuẩn, khắp mọi chỗ đưa ra sự tăng cường mạnh mẽ để nâng cao ruộng đất, tốn kém nhiều tiền hơn. Kỹ thuật mới, phân bón vô cơ, tất cả những nguyên tố khác mà mức sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nó, bị tăng chi phí, để mà làm thăng bằng đất trồng trọt ở nước cộng hoà và nâng nó lên hàng nămcao hơn và cao hơn đảm bảo hoàn toàn nhu cầu của nhân dân trong các sản phẩm nông nghiệp.
Lại về Moskva
Lý do triệu hồi tôi từ Ukraina về Moskva năm 1949 - theo tôi, là kết quả sự buồn phiền nào đấy trong đầu óc Stalin. Tôi lúc ấy ở Lvov. Những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina giết nhà văn quốc tế Galana, còn tôi chủ toạ hội nghị sinh viên Đại học lâm nghiệp. Người sinh viên, giết Galana, đang học trong trường Đại học này, vì thế tôi quyết định nói chuyện với đồng môn của nó.
Bỗng nhiên Malenkov gọi tôi nói là Stalin muốn tôi tức tốc về Moskva.
- Ngay cơ à?
- Ngay! Sáng mai bay.
Hôm sau tôi có mặt ở Moskva. Stalin gặp tôi rất niềm nở.
- Chà, anh định ngồi lâu tại Ukraina đấy à? Ở đó anh bị biến thành nông dân Ukraina mất. Giờ là lúc anh quay về Moskva.
Rồi ông bắt đầu kể:
- Chúng tôi cho rằng anh lại phải giữ chức Bí thư thứ nhất Uỷ ban Đảng bộ Moskva. Ở đây công việc điều hành rất kém - ở Leningad, chúng ta tiến hành bắt giam người mưu phản. Có cả mưu phản ở Moskva. Chúng tôi muốn Moskva là chỗ dựa BCHTƯ Đảng, vì thế anh làm việc ở đây hữu ích hơn. Anh trở thành bí thư lập tức Đảng uỷ Moskva và BCHTƯ Đảng.
Tôi, tất nhiên, tự hào vì sự tín nhiệm. Tôi nói rất hài lòng về Moskva, vì rằng công việc trước đây của tôi tại thủ đô, 11 năm trước đây. Tôi cho rằng thời hạn cgr tại Ukraina hoàn toàn tử tế và chuyển đi sẽ có ích cho tôi.
Khi tôi từ chỗ Stalin về nhà, Vasilevski và Korheychuk, đang ở Moskva, rẽ vào chỗ tôi. Tôi kể cho họ cuộc nói chuyện vừa xong. Vanda Lvovna khóc, đúng là khóc rống lên. Tôi chưa từng bao giờ thấy bà trong trạng thái này. Bà khóc:
- Anh vừa từ Ukraina về phải không? Ở đấy thế nào?
Người phụ nữ Ba lan than khóc vì sự kiện một người Nga từ Ukraina về! Hơi kỳ quặc. Hình như điều này được giải thích tôi có quan hệ rất tốt, hữu nghị với bà. Tôi rất kính trọng nà. Đó là phụ nữ tuyệt vời, một nữ cộng sản tuyệt vời. Và bà cũng kính trọng tôi. Tôi không che giấu nét này, có thể tý chút háo danh, hoàn toàn, thú vị đối với tôi. Những sự kiện đã qua nổi bật trong trí nhớ tôi, và tôi quyết định nói hết với bà.
Theo kiểu cách Stalin, ông giải quyết: trong sự việc xác nhận điều không may công việc ở Moskva, ông trao cho tôi một tài liệu:
- Đấy, làm quen đi, còn sau đó chúng tôi sẽ nói chuyện.
Tôi không đọc ở đấy - đây là một tài liệu dày - và đặt nó vào túi túi. Hôm sau tôi đọc quaл. Té ra đó là một tố cáo nặc danh mặc dù có ký tên, nhưng là nặc danh theo tính chất của nó. Bây giờ tôi không nhớ những chữ ký ấy là của ai. Thư và rằng ở Moskva có một nhóm người mưu phản chống BCHTƯ và Chính phủ xô viết, mà cầm đầu nhóm này là bí thư Thành uỷ Moskva và BCHTƯ Đảng - Popop. Thêm nữa còn chỉ ra ai tham gia vào nhóm: các bí thư đảng uỷ khu vực, Chủ tịch khu vực, giám đốc các nhà máy, các kỹ sư. Tôi lập tức cảm thấy người viết thư này có ý nghĩ điên rồ, либо kẻ đểu cáng. Tôi cho tài liệu vào tủ và quyết định không nói cho Stalin về nó một thời gian nào đấy, cho là càng nhiều thời gian không đả động đến cuộc nói chuyện như thế, càng tốt hơn.
Khi tôi về Ukraina để làm giấy tờ chuyển về Moskva, Stalin nói với tôi:
- Anh nhớ về quay về Moskva dịp tôi 70 tuổi? (nghĩa là vào tháng 12).
- Chắc chắn, tôi sẽ về, bây giờ tôi sẽ tổ chức Plenum BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, bầu ban lãnh đạo mới, và tôi quay về.
Trước đó, tôi thoả thuận với ông là tôi sẽ giới thiệu Bí thư thứ nhất BCHTƯ Melnikov. Stalin đồng ý, mặc dù cũng không biết ông ta: vì Stalin tin tôi. Tôi đi đến về Moskva trước ngày sinh nhật của ông, 21 tháng 12. Chúng tôi làm lễ kỷ niện vị lãnh tụ 70 tuổi, tôi được bầu bí thư tỉnh uỷ và thành phố Moskva và nhận công tác.
Chẳng bao lâu sau, Stalin hỏi tôi:
- Tôi đưa cho ông tài liệu. Ông đã làm quen với nó chưa? - Và ông nhìn tôi chăm chú.
- Tôi đã làm quen.
- Thấy thế nào?
Stalin có thói quen như thế này: nhìn vào mình, sau đó hếch mũi lên trên:
- Thế nào?
Tôi trả lời:
- Một thằng vô lại nào đấy đã viết hoặc điên rồ.
- Như thế nào?
Ông rất không rất hài lòng, khi người ta không tin vào các tài liệu kiểu như thế.
- Thưa đồng chí Stalin, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tài liệu đã đưa không có một tý nào chung với hoạt động. Cá nhân tôi biết nhiều người, mà được gọi là những người mưu phản. Đây là những người lương thiện nhất. Ngoài ra, tôi hoàn toàn tin rằng Popop cũng không phải là người mưu phản. Ông không khôn ngoan giữ mình. Đồng ý là ông ta tỏ ra không ở chức vụ cao được. Nhưng ông ta không phải là người mưu phản, mà là một người trung thực, điều này tôi đã và đang không nghi ngờ. Nhưng nếu như thậm chí ông trở thành người mưu phản, thì những người, như đã viết trong tài liệu, tham gia vào nhóm mưu phản của ông, bản thân tôi không biết họ có tạo dựng với ông.
Hình như giọng tự tin của tôi ảnh hưởng đến Stalin:
- Ông cho rằng tài liệu này không đáng lưu ý?
- Hoàn toàn đúng, thưa đồng chí Stalin, không đáng. Theo tôi, ở đây có sự khiêu khích hoặc điên rồ.
Stalin chửi rủa, và tất cả kết thúc. Anh hãy tự hình dung: nếu như muốn lấy lòng Stalin, muốn trội hơn và chiếm được sự tín nhiệm của ông, điều này rất dễ làm. Chỉ cần nói:
- Đúng, đồng chí Stalin, đây là một tài liệu nghiêm túc, phải được phân xử và có biện pháp.
Khá đủ với lời phát biểu từ phía tôi, và bây giờ Stalin ra lệnh bắt Popop và “nhóm của ông”.
Họ, tất nhiên bị hỏi cung “hiểu rõ”, nhóm mưu phản ở Moskva, nhưng tôi trở thành một người có thể, người ta tố thêm rằng rằng dường như, ông đến, ngó nhìn, lập tức khám phá và làm thất bại người mưu phản. Thật là đê tiện! Con trong thực tế người ta xảy ra ở những người khác ở Leningad.
Tôi bắt đầu công tác ở Moskva. Nhưng người ta biết rằng lần này Stalin chĩa vào Popop, mà ông xem là người mưu phản, và ông chưa yên tâm chừng nào chưa nhổ được Popop. Chúng tôi trình với Malenkov, và tôi đề nghị:
- Đưa Popop ra khỏi Moskva, chọn cho ông ta một chức vụ tốt.
Chúng tôi đã làm như thế, cử ông đi, với một khoảng thời gian đệm, làm giám đốc một nhà máy lớn ở Kuibysev. Stalin đôi lúc nhớ lại:
- Popop ở đâu nhỉ?
Đã từng có lúc, Popop là người được Stalin quý. Tôi trả lời:
- Ở Kuibysev.
Và Stalin yên tâm. Hình như Stalin nghĩ:
- Liệu Khrusev có lầm không, người mưu phản này không còn ở gần, và liệu ông không tiếp tục những hoạt động của mình tại thủ đô?
Stalin không bao giờ thoả hiệp với điều này nhưng khi biết rõ là Popop ở cách xa, thì ông yên tâm.
Sau này người ta chuyển cho tôi về sự căm tức của Popop chống tôi. Ông chết ông, kết tội ông cái gi? Ông không hiểu rằng ông không cần chửi tôi, mà ngược lại. Nếu như không phải là tôi, thì ông đã chết, vì rằng Stalin chuẩn bị làm điều này. Ведь và chính Stalin gọi tôi để nhận tài liệu chống Popop và tin vào tài liệu này. Tôi cứu Popop, nhưng có tình huống một người không hiểu và không hài lòng bởi vấn đề gì đó, thì người ta quay lưng về người bảo vệ mình. Nhưng chính khi đó tôi cũng liều. Nếu Stalin không tin tôi, có thể ông nghĩ rằng và tôi cũng tham gia vào âm mưu cùng với Popop.
Sau chiến tranh chúng tôi dần dần quay lại cối xay thịt năm 1937, quay trở về những phương pháp “làm việc” thời ấy.
Khi tôi trở thành bí thư BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) và thành uỷ Moskva, thì Kuznesov-Leningradski (giữa chúng tôi với nhau, gọi ông ta như thế) bị bắt. Triển khai săn lùng những người Leningrad. Tổ chức Đảng Leningrad bị công kích. Stalin, nói rằng tôi cần phải về Moskva, khi đó tôi được cử đến Leningad để khám phá vụ mưu phản. Stalin nói chung cho rằng Lenigrad - thành phố có âm mưu làm phản.
Khi đó nhiều người tỉnh Gorky được đưa về Moskva. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Nga (bây giờ tôi không nhớ họ tên của ông) cũng từ Gorky. Tôi nghĩ rằng Zdanov, người nhiều năm công tác ở đó và hiểu biết cán bộ địa phương, đã đưa họ về. Ông chủ tịch là người tốt, tôi thích ông: trẻ, đầy sinh lực, có suy nghĩ riêng, triển vọng. Nhưng cũng bị bắt. Và không những ông, nhiều người cũng bị bắt. Tôi nhiều năm không công tác ở Moskva và vì thế không biết những người trong số bị bắt. Ít nhiều biết Kuznesov. Người biết rõ Voznesenski. Voznesenski vẫn còn chưa bị bắt, khi tôi về Moskva, nhưng ông cũng đã được chuyển khỏi chức vụ trước đây. Ông đi lại, không có công việc và chờ đợi điều này kết thúc ra sao và người ta mang đến cho ông cái gì ngày hôm sau.
Stalin trước đây quan hệ rất tốt với Voznesenski, rất tín nhiệm và kính trọng ông. Đúng và với cả Kosyghin, và Kuznesov, với tất cả bộ ba này. Lúc đó cho rằng bộ ba trẻ tuổi - Voznesenski. Kuznesov và Kosyghin. Họ sẽ thay thế chúng tôi. Stalin bắt đầu cất nhắc họ. Kuznesov cần thay thay thế Malenkov. Stalin đưa Voznesenski là phó chủ tịch thứ nhất hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, nghĩa là phó thứ nhất của mình, và trao cho ông chủ toạ phiên họp Hội đồng Bộ trưởng. Kosyghin phụ trách vấn đề công nghiệp nhẹ và tài chính. Tôi giả thiết rằng việc chết của những người này (trừ Kosyghin) được xác định chính xác bởi Stalin cất nhắc họ để chuẩn bị thay thế lớp cán bộ lão thành. Trước tiên, nghĩa là, thay Beria, Malenkov, Molotov, Mikoian. Những người này, Stalin không còn tin như trước đây.
Đã có sự moi móc, phá hoại sự tín nhiệm của Stalin đối với những người trẻ tuổi, xúi Stalin đối với những người được ông cất nhắc, tôi bây giờ khó nói. Tôi chỉ kết luận từ những quan sát của mình và những phản ứng riêng rẽ, mà tôi nghe được trong những cuộc nói chuyện giữa Malenkov và Beria. Ngoài ra, tôi thấy, Malenkov và Beria tự dẫn dắt ở Stalin, khi nói chuyện về những người này. Tôi có ấn tượng, Malenkov và Beria trình ra hết sức, để dìm họ. Chủ yếu là Beria hành động, còn Malenkov, Beria sử dụng ông như chiếc búa, vì rằng ông ngồi ở BCHTƯ Đảng và ông gửi tất cả thông tin và tài liệu, được chuyển cho Stalin. Một loạt tài liệu đuổi theo mục đích theo hướng cơn giận dữ của Stalin chống “nhóm trẻ.
Mọi người biết trước Stalin phản ứng như thế nào.
Khi đó ngồi trong tù là Sakhurin, Dân uỷ công nghiệp hàng không trong thời gian chiến tranh. Tôi biết rất rõ Sakhurin, khi ông làm công tác Đảng và nói riêng, là Đảng uỷ BCHTƯ nhà máy sản xuất máy bay. Với tư cách Dân uỷ, Dementev thay thế ông. Tôi biết người này người nọ quan hệ tốt với ông, cho là họ những kỹ sư rất thông minh và là những nhà tổ chức sản xuất. Sakhurin ngồi tù vì rằng trong thời gian chiến tranh dưới sản xuất “máy bay kém”.
Điều này xảy ra, khi tôi còn công tác ở Ukraina, và vì thế tôi không biết chi tiết. Sau đó Malenkov kể cho tôi dường như Vasili Stalin (con trai Stalin) viết một bức thư (hoặc cá nhân ông ta nói điêu với bố mình): người ta đã làm máy bay như thế và họ có khuyết điểm như thế, và người có lỗi trong việc này Dân uỷ Sakhurin.
Gián tiếp chịu trách nhiệm vụ này có cả Malenkov, người theo đường lối của Bộ chính trị trong thời gian chiến tranh được trao trách nhiệm theo dõi công nghiệp hàng không. Giờ đây ông bị quy tội bảo kê cho Dân uỷ làm việc tồi. Một cái gì đó công minh, vì rằng chạy theo số lượng đi đến làm kém chất lượng. Nhưng chính chiến tranh xảy ra! Trong nhiều ngành công nghiệp cũng xảy ra những hiện tượng như thế. Những sự phán xét kiểu ấy dẫn đến việc bắt giam Sakhurin và cách chức Malenkov tại BCHTƯ. Ông được đưa về, hình như, Taskent. Nhưng ông ở đó ngắn ngủi và nhanh chóng được quay về. Nhiều người bây giờ cũng không nhớ xảy ra sự thật như thế. Beria đưa Molotov về Moskva. Khi Malenkov không đứng ở Moskva, Beria, như chính ông kể, tiến dần từng bước đưa tới Stalin ý tưởng cho Malenkov quay về. Cuối cùng ông đã đưa Molotov quay về, và ông lại chiếm lại chức cũ là Bí thư BCHTƯ Đảng.
Cũng có một cớ khác để bắt Kuznesov và những người khác? Tôi không thể biết chi tiếс, nhưng một điều gì đó tôi biết và tôi muốn nói hết về điều này. Bây giờ có nhiều ý kiến không thực tế và thậm chí gây ra ngạc nhiên rằng nguyên nhân có thể gây ra cái chết cái chết của nhiều người và cả cụm tổ chức Đảng bị nghi ngờ. Đấy là sự thật. Ngay từ trước chiến tranh (tôi không nhớ năm nào) trong BCHTƯ thành lập Đảng uỷ của Liên bang Nga. Lãnh đạo Đảng uỷ đó, hình như, Andrey Andreev Andreev. Tôi không biết tình tiết Đảng uỷ này ngừng tồn tại, và lại nảy sinh tình thế là Liên bang Nga không có tổ chức Đảng cao cấp của mình, để phân tích các vấn đề kinh tế và v.v... Tất cả được Dân uỷ Liên Xô giải quyết, chỉ có các vấn đề quốc tế bậc ba mới được xem xét ở Hội đồng dân uỷ Liên bang Nga. Nói riêng, cũng do Liên bang Nga làm việc này kém hơn những nước cộng hoà khác.
Có lần sau chiến tranh, từ Ukraina về, tôi tới gặp Zdanov. Ông bắt đầu phát biểu cho tôi suy nghĩ của ông:
- Tất cả các nước cộng hoà có BCHTƯ của mình, bàn luận các vấn đề tương ứng và giải quyết chúnh hoặc trình lên BCHTƯ Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Họ hoạt động dũng cảm hơn thảo luận về các vấn đề trong nước, giải quyết chúng và huy động mọi người. Do đời sống là mấu chốt, điều này tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, công tác Đảng. Liên bang Nga thực tế không có lối thoát tới các tỉnh của mình, mỗi tỉnh hoạt động theo cách riêng của mình. Việc tổ chức cuộc họp thảo luận trong Liên bang Nga, không thể làm được. Và cũng không có một cơ quan nào đứng ra tổ chức thảo luận trong khuôn khổ nước cộng hoà.
Tôi đồng ý với ông:
- Đúng thế. Liên bang Nga bị đặt trong những điều kiện không bình đẳng, và lợi ích của nó bị thiệt hại.
Zdanov tiếp tục:
- Tôi suy nghĩ về vấn đề này. Có thể phải quay về kiểu cũ, thành lập Đảng uỷ Liên bang Nga? Tôi cảm thấy điều đó dẫn tới sự hiệu chỉnh công tác Đảng ở Liên bang Nga.
Tôi nói:
- Tôi cho rằng điều này là có lợi. Thậm chí ngay khi Lenin còn sống ở Liên Xô cũng không có BCHTƯ Đảng của Liên bang Nga. Điều này và đúng, vì rằng nếu như Liên bang Nga có một tổ chức Đảng trung ương được bầu ra như ở các nước cộng hoà khác, thì có thể nảy sinh sự tương phản. Liên bang Nga là khá mạnh theo dân số, công nghiệp, nông nghiệp. Như thế ở Moskva lập tức tồn tại hai hai Uỷ ban trung ương: một - giữa các nước cộng hoà, hai - đối với Liên bang Nga. Lenin không làm điều này. Hình như ông không muốn xây dựng hai trung tâm, không muốn đụng chạm của các trung tâm ấy, mà có xu hướng chỉ có một sưl lãnh đạo Đảng và chính trị mà thôi. Như thế BCHTƯ Liên bang Nga không cần thiết, tốt hơn là chỉ có Đảng uỷ.
- Đúng - Zdanov nói - hình như xây dựng Đảng uỷ như thế là hợp lý.
Zdanov trước khi đến Vanday, nơi ông nghỉ và chữa bệnh, gọi về Kiev cho tôi:
- Lúc ông ở Moskva, nhưng tôi với ông không kịp trò chuyện. Tôi có một vấn đề quan trọng. Khi nào đây tôi từ Vanday về, chúng ta sẽ nói chuyện.
Tôi chúc ông mọi điều tốt lành. Nhưng sau một thời gian ngắn, tôi nhận tin Zdanov chết. Như thế điều mà ông muốn nói, vẫn còn là bí ẩn đối với tôi. Ông ít khi gọi về Kiev cho tôi và tôi cũng ít khi gọi cho ông từ Kiev. Ở chúng tôi phát sinh những vấn đề cán bộ hoặc về nông nghiệp. Chuông điện thoại gọi cho tôi ở Moskva vẫn có, nhưng không phải từ Zdanov mà từ Malenkov. Còn bây giờ người ta buộc tội “nhóm Kuznesov” ở Leningad, dường như ở đó xuất hiện “chủ nghĩa dân tộc Nga” và tương phản với BCHTƯ Liên Xô. Một điều gì đó trong tâm hồn toi, chính xác tôi không nhớ, còn tài liệu thì tôi không thấy. Vì sao ở tôi lạ có ấn tượng như thế? Tôi đã nghe đã nghe giữa Malenkov và Beria, và một lần khác cũng ở Stalin. Stalin đặt cho Malenkov các vấn đề nào đấy, và cuộc nói chuyện của họ đàm phán xoay quanh vấn đề này.
Tôi có lần nói chuyện với Malenkov. Khi đó tôi đang nghiên cứu vấn đề xây dựng tại Ukraina Bộ công nghiệp than và công nghiệp luyện kim. Khi Lenin còn sống, sau nội chiến tại Ukraina đã thành lập Uỷ ban về công nghiệp than đá do Semen Svars, một bolsevich lão thành lãnh đạo. Trong thời gian ấy, tôi còn phục vụ trong hồng quân. Hình như cuối năm 1921 và đầu 1922. Khi tôi trở về khu mỏ và công tác ở khu mỏ Rutchenkov, thì người lãnh đạo công nghiệp than Donbass là Georgy Piatakov, một chính khách và nhà kinh tế lớn. Ông được coi là nhà kinh tế thực thụ và uy tín nổi tiếng. Sau đó người ta thay thế ông tôi không biết chính xác, vì lý do gì, nhưng lý do chính, tất nhiên, là chính trị, vì rằng Piatakov là người gần gũi với Troski, khi đó có cuộc đấu tranh mạnh với ông ta. Hình như cũng có tin rằng người ta chuyển Piatakov khỏi Donbass. Thay chỗ ông là Chubar. Lúc đó hội nghị đảng bộ tỉnh người ta hát nhiều câu vè về sự độc ác. Gặp nhau, chào hỏi thế này:
- BCHTƯ cho chúng ta Chubar. Còn cái gì ở chúng ta bị thay đổi?
Than trong những năm ấy chủ yếu được khai thác tại Donbass. Có lẽ, than Donbass chiếm 80% sản lượng than Liên Xô. Tôi cho rằng nên xây dựng tại Ukraina một sự chỉ huy thống nhất về than, quay trở lại thời Lenin. Tại Ukraina có công ty “thép miền nam”. Lãnh đạo nó là Ivanov, cũng một bolsevich lão thành. Một người tương đối béo. “Thép miền nam” trụ sở ở Kharkov, còn Uỷ ban công nghiệp than đá ở Bakhmut (bây giờ Artemovsk). Sau đó ông cũng chuyển về Kharkov, và người thay thế ông là Rukhimovich, còn Chubar trở thành Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina.
Tôi rất kính trọng Rukhimovich. Đây là một người tuyệt vời, một bolsevich lão thành, rất mộc mạc và dễ chịu, quyết đoán và thông minh. Những thợ mỏ Donbass - kể cả ban lãnh đạo của họ, tiếp xúc với những người lãnh đạo - rất kính trọng Rukhimovich. Ông thường tiến hành thảo luận với cán bộ công nghiệp than và, tôi luôn luôn đến các cuộc thảo luận này, khi tôi là đại diện lãnh đạo đảng khu vực Stalin. Rukhimovich biết tôi và quan hệ tốt với tôi. Hình như tôi là có ích cho ông, vì rằng tích cực làm việc trong khu vực của mình. Tôi từng là người địa phương, lớn lên trong những thợ mỏ và hiểu biết điều kiện sản xuất cũng các mỏ cả nhà máy công nghiệp luyện kim.
Và tôi muốn cuối thập niên 40 xây dựng một cái gì đó ở Ukraina về than, kim loại và giao thông đường sắt. Tôi đến Moskva và trước hết ký các văn bản và gửi cho Stalin, đề nghị nói chuyện với Malenkov. Tôi nhìn hấy, Malenkov nhìn tôi lạ lùng và mắt ông ta trố lên:
- Anh làm gì thế? Anh làm sao thế?
- Gì cơ ạ?
- Cất ngay các tài liệu này đi và đừng nói với ai cả về nó nữa. Anh có biết bây giờ ở Leningad xảy ra một cái gì... không? Người ta buộc tội những người Leningrad, rằng ở họ xuất hiện tính tự lập: họ tự ý mở ra ở Leningad những chợ và cho bán hết hàng hoá tồn đọng.
Nhưng tôi chẳng nhìn thấy ở đó tội ác nào và chẳng có xuất hiện chủ nghĩa dân tộc nào cả. Chính chúng tôi đã làm điều này ở Kiev. Ở đó có chợ bán hàng tồn đọng, mà trong các cửa hàng không có cho người mua, mà ở đây giá thấp, khuyến mãi. Có cả những hàng hoá kém chất lượng, không được kiểm tra khi sản xuất trong thời gian sau chiến tranh. Tôi thoát khỏi vụ này. Và đó là việc không mất lòng ai và có ích, có lẽ, có hình thức tương xứng đem lại cho Stalin lóp sơn chính trị.
Ai đã làm điều này? Tất nhiên là Beria và Malenkov. Stalin nói chung hơi ốm yếu và đa nghi. Cuộn chỉ bắt đầu được gỡ ra. Quả là tôi không biết cụ thể nó được gỡ như thế nào, nhưng đã gỡ ra thật, được gọi là bồng bột. Theo quan điểm của Stalin, cần phải liệt vào “hành động thù địch”, trước tiên bắt Kuznesov và Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên bang Nga (tôi nhớ họ tên của ông - Rodionov). Họ còn đặt vấn đề xây dựng một tổ chức nào đấy của nước cộng hoà, dường như làm việc, không chịu chỉ đạo của các cơ quan Liên Xô. Tóm lại, họ mắc lỗi vì gây sự tương phản quanh trung tâm.
Bắt đầu các vụ bắt bớ. Bắt hàng loạt người ở Leningad, còn những ai mà BCHTƯ lấy từ Lenigrad, được điều động lên chức vụ mới, ở chỗ khác. Chẳng hạn, ở Krym khi đó ban lãnh đạo gồm những người Leningrad, và ở đó cũng bị bắt hết. Cách chức Voznesenski, vì ông cũng người Leningrad. Nói chung người ta đã khám phá ra cuộn len, như người ta thường nói, nghĩa là ổ tội ác. Người ta đã tưởng tượng ra cái ổ mưu phản ở Leningrad, cái ổ này, dường như, theo đuổi âm mưu chống xô viết. Lại phát sinh tình thế thảm khốc trong nước, và trong Đảng. Căn bệnh đàn áp có thể dễ dàng lôi kéo ai muốn.
Bây giờ tôi nảy ra suy nghĩ: phải chăng người ta không sản xuất bức thư, mà Stalin đưa tôi đọc, qua Beria và qua điệp viên của ông để de doạ Stalin rằng không những Lenigrad, mà cả Moskva có người mưu phản? Stalin khi đó quyết định gọi tôi về để tôi lãnh đạo Đảng bộ Moskva. Nhưng nếu thì tôi, làm quen với bức thư, chặn đứng vụ việc đối với người Moskva, nói một cách tự tin cho Stalin rằng đây là chuyện bịa đặt của những kẻ hám quyền hoặc là những lời hoang tưởng của kẻ điên rồ. Nếu thế, nghĩa là, tôi hoá ra là vật trở ngại để bắt tràn lan ở Moskva. Không chỉ ở Moskva, tôi không biết, bao nhiêu họ giết bao nhiêu người cốt cán về kinh tế và Đảng.
Sự thật tại thủ đô, quá trình bắt bớ ở mức độ nào đấy cũng bắt đầu. Khi tôi quay về Moskva, đã có vụ vụ bắt bớ lớn các cán bộ ZiC (Nhà máy sản xuất ô tô mang tên Stalin). Lãnh đạo “tổ chức mưu phản gián điệp Mỹ” là người trợ lý giám đốc ZiC Likhachev. Tôi không nhớ bây giờ họ tên ông, nhưng tôi biết người con trai này, người Do Thái gày gò, ốm yếu.
Tôi quen với ông một cách ngẫu nhiên, sau chiến tranh. Có lần tôi gặp Ivan Aleksseevich Likhachev và hỏi thăm sức khoẻ ông. “Vẫn làm việc - ông nói - nhưng cảm thấy không khoẻ lắm".
- Anh đến Kiev với tôi, nghỉ ngơi, chỗ chúng tôi rất tốt, cứ đến khi nào anh muốn, tôi luôn luôn vui mừng, tạo cho anh điều kiện nghỉ ngơi.
- Cám ơn, tôi sẽ tận dụng lời mời này.
Và có một lần Ivan Aleksseevich gọi cho tôi:
- Tôi có thể đến. Muốn đem theo trợ lý.
- Cả trợ lý đi theo, xin cứ việc, anh muốn đem theo ai cũng được.
Tôi tổ chức cho họ nghỉ ở Kiev.
Likhachev cùng trợ lý thường đến chỗ căn hộ tôi hoặc ở nhà nghỉ cuối tuần trong những ngày nghỉ. Như thế tôi cũng làm quen với người trợ lý. Một người bình thường cần mẫn thực hiện công việc được Likhachev giao cho. Tôi cũng không nghĩ, ông là, như sau này người ta buộc tội ông, là người cầm đầu nhóm gián điệp Mỹ, qua những người này tổ chức công việc của mình ở Liên Xô. Ông bị bắt, và ông, tất nhiên, thú nhận. Tôi biết, người ta “thú tội” như thế nào, rằng họ là điệp viên Anh, điệp viên Hittler và điệp viên của các nước khác. Đây là không phải sự thừa nhận, mà là sự tra khảo buộc phải nhận tội bở người đuổi theo mục đích vụ lợi.
Vụ việc động đến Likhachev. Likhachev khi đó là Bộ trưởng, hình như, bộ giao thông đường bộ. Stalin trao nhiệm vụ cho Beria, Malenkov và tôi thẩm vấn Likhachev. Người ta gọi Likhachev, và thẩm vấn ông. Tôi đau lòng khi nhìn thấy điều này, nhưng tôi không làm được gì cả, vì rằng điều buộc tội dựa trên “những số liệu giấy trắng mực đen”, dựa tên “chứng cớ” của những người, từng làm việc với Likhachev. Điều này được xem như bằng chứng không thể chối cãi. Người ta thẩm vấn ông ở phòng dùng để họp Đảng uỷ Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ở Kreml, trên tầng ba. Ở đó trước đây là phòng làm việc của Lenin, có đặt một chiếc bàn và ghế bành. Và bây giờ, theo tôi, ở một góc riêng có đặt một chiếc ghế, được buộc bằng những băng đen.
Khi người ta buộc tội ông, Likhachev trở thành một bắt đầu nói một cái gì đó để biện minh, còn sau đó bị run lên và ngất ngã. Nhưng ta dùng nước lau cho ông, để ông tỉnh và đưa về nhà, vì rằng cũng không thể thẩm vấn được. Chúng tôi kể cho Stalin, chuyện xảy ra như thế nào. Stalin nghe, nhìn thẳng vào chúng tôi và chửi rủa Likhachev. Trước đây Stalin đối xử rất tốt với Likhachev. Stalin gọi ông là “Likhach”. Stalin bắt chước điều này từ Sergo Ordzonikidze. Likhachev cũng được Sergo quý, và Sergo luôn luôn gọi ông “Likhach”. Và Stalin cũng gọi ông là “Likhach”.
Hình như lúc ấy tâm trạng của Stalin tỏ ra là tốt, và ông để yên cho Likhachev. Ivan Aleksseevich quay về công việc và sống lâu hơn Stalin.
Nhưng những người ở nhà máy ZiC cũng bị trấn áp. Abakumov, là Dân uỷ an ninh quốc gia, tự tiến hành điều tra. Nhưng quả là nếu Abakumov đích thân thẩm vấn, đích thân tiến hành công việc, thì tất cả mọi người nhanh chóng thú nhận họ là kẻ thù điên cuồng đối với Liên Xô. Và tất cả đều bị bắt. Bầu không khí như thế tồn tại ở Moskva trong thời gian ấy, khi tôi lần thứ hai từ Ukraina về. Stalin già đi. Tính đa nghi bắt đầu thúc đẩy ông mạnh hơn, và nó là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi nhìn ông không như trong những năm đầu phanh phui “kẻ thù nhân dân”, khi cho rằng ông có thể nhìn xuyên qua tường và sắt. Sự tín nhiệm đối với ông đã bị lung lay. Nhưng sau thất bại của Hittler, quanh Stalin luôn là vừng hào quang vinh quang và thiên tài.
Tôi nhớ hôm Voznesenski bị cách chức, tôi lại có mặt tại bữa ăn ở Stalin. Tôi thấy không phải con người mà tôi biết trước đây: thông minh, quyết đoán, thẳng thắn, và dũng cảm. Chính lòng dũng cảm của ông đã giết ông, vì rằng ông thường chộp lấy Beria, khi lập kế hoạch kinh tế quốc dân thường kỳ. Beria có các Dân uỷ dưới quyền cũng thường cần những món tiền lớn cho họ, còn Voznesenski là Chủ tịch Uỷ ban kế hoạch muốn phát triển nhiều mặt kinh tế đất nước. Không phải ông, thì nước ta không có khả năng thoả mãn yêu cầu của các các Dân uỷ, dưới sự lãnh đạo của Beria. Nhưng không phải các Dân uỷ phát biểu chống Voznesenski, mà Beria.
Beria, thân cận Stalin, có nhiều khả năng lớn. Cần biết Beria, sự tháo vát của ông, sự người quỷ quyệt của ông. Ông có thể chờ đợi, chọn đúng thời điểm để bồi thêm cho Stalin một điều tốt hoặc một điều xấu, sự phụ thuộc quyền lợi riêng, và khôn khéo tận dung điều này.
Trong bữa trưa, ngồi ở Stalin không phải Voznesenski, mà là cái bóng Voznesenski. Mặc dù Stalin cách chức ông, tuy nhiên ông vẫn còn lưỡng lự, có lẽ tin vào lòng trung thực của Voznesenski. Tôi nhớ, có lần Stalin hỏi Malenkov và Beria:
- Thế nào nhỉ, vẫn chưa có gì cho Voznesenski? Và ông ta không làm gì cả? Phải cho ông ta công việc, các ông còn chần chừ gì?
- Vâng, chúng tôi sẽ suy nghĩ”, họ trả lời. Sau một thời gian, và Stalin lại nói:
- Vì sao không cho ông ta việc? Có thể giao cho ông Ngân hàng nhà nước? Ông là nhà tài chính và nhà kinh tế, ông ta hiểu biết việc này. Hãy để ông ta lãnh đạo Ngân hàng nhà nước.
Không ai phản đối, nhưng thời gian trôi đi, đề nghị ấy vẫn không thực hiện.
Thời gian trước đây, Stalin không kìm được việc ăn nói láo xược, bắt Molotov hoặc Malenkov cầm bút chì, như ông thường làm, và áp đặt quyết định, ký nó. Giờ đây ông chỉ nói: “Nào, đưa việc cho ông ta”, nhưng không ai cho một cái gì cả. Kết thúc vụ này là người bắt giam Voznesenski. Lời buộc tội trực tiếp là thế nào và điều này phục vụ cho điểm này, tôi cũng không biết. Hình như Beria lén vứt một tài liệu mới nào đấy chống Voznesenski, và, khi cốc nước tràn đầy, Stalin ra lệnh bắt giam ông.
Beria có thể làm việc này từ các phía khác nhau. Theo con đường Đảng, thì Malenkov lén vứt tài liệu, theo đường Chekistкой - thì Abakumov. Gốc của tất cả giả thiết là Beria, một thông minh và chuyên nghiệp, nhà tổ chức chuyển nghề. Ông có thể làm tất cả! Nhưng ông phải gạt bỏ Voznesenski khỏi Hội đồng Bộ trưởng. Ông sợ Stalin có thể dùng lại Voznesenski, và Beria quyết tâm tiêu diệt Voznesenski, hoàn toàn trút tôi cho Voznesenski và đào bới để Voznesenski không thể quay lại được. Do mưu mô đó, Voznesenski bị bắt. Rồi điều tra. Ai chỉ đạo Beria? Tất nhiên Stalin. Nhưng người đóng vai trò đầu tiên “làm việc” trực tiếp nằm trong tay Beria, mặc dù Stalin nghĩ rằng ông đích thân lãnh đạo tất cả.
Vì sao tôi coi như vậy? Vì rằng Abakumov - đây là con người được Beria dạy dỗ. Stalin bổ nhiệm Abakumov vào Bộ An ninh quốc gia, khi Beria rời chỗ này để tập trung vào Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Stalin muốn Bộ an ninh quốc gia trực tiếp báo cáo cho ông tất cả các vấn đề, và Abakumov đích thân báo cáo cho ông. Stalin có thể cũng không biết, nhưng tôi tin rằng Abakumov không đưa một vấn đề nào trước Stalin, không hỏi han Beria trình cho Stalin như thế nào. Beria đưa chỉ thị, còn sau đó Abakumov báo cáo, không dựa vào Beria, nhận sự khen ngợi của Stalin.
Bầu không khí ngột ngạt. Ở nước ta, có người cho rằng những vấn đề lớn, nghiêm trọngđược thảo luận ở Bộ chính trị, hoặc ở Hội đồng Bộ trưởng. Sự thảo luận như thế là cần thiết để tránh những sai lầm lớn. Nhưng điều này tuyệt nhiên không có. Không có phiên họp nào được triệu tập. Tụ tập ở Stalin là các uỷ viên Bộ chính trị, họ nghe ông, còn ông ông đi đi lại lại ra chỉ thị. Có lần ông cũng nghe, nếu như những ý kiến của họ làm ông hài lòng, hoặc ông gầm gừ vào họ để không ai hỏi, ông tự giải nghĩa văn bản quyết định hoặc nghị quyết của BCHTƯ hoặc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, sau đó đưa ra công bố. Điều này cũng sự điều hành hoàn toàn cá nhân, đây là sự chuyên quyền. Tôi không biết, gọi điều này như thế nào, nhưng đây là sự thật.
Tôi nhớ Stalin không ít lần đưa vấn đề Sakhurin, người kết tội. Cả nguyên soái không quân Novikov cũng bị bắt, và cũng bị giam giữ sau chiến tranh vì tội nhận “máy bay kém chất lượng ”, nghĩa là theo vụ án về sản xuất máy bay.
Tôi biết Novikov. Suốt chiến tranh ông chỉ huy không lực chúng tôi. Tôi nói về nhược điểm của ông: uông rượu hơi quá mức. Nhưng đây là một người con, trung thành với tổ quốc, trung thực, một phi công đích thực hiểu biết công việc của mình. Stalin, hình như nếm náp những mối quan hệ к Sakhurin và Novikov. Ông nhìn vào Beria và Malenkov và nói:
- Novikov và Sakhurin ngồi tù? Có thể tha họ được không nhỉ?
Tựa như ý nghĩ được đọc to thành tiếng. Không ai, tất nhiên, trả lời ông về điều này. Hai người này sợ nói “loanh quanh”, và việc này kết thúc. Một thời gian sau, Stalin lại đặt vấn đề ấy ra:
- Các ông nghĩ, có thể là thả họ được không? Họ ngồi tù làm gì? Họ vẫn còn có thể làm việc.
Ông hỏi Malenkov và Beria, vì rằng chính họ phụ trách việc này.
Khi chúng tôi Stalin ra về, tôi nghe tin có phản ứng giữa Malenkov và Beria. Beria nói:
- Stalin đích thân đặt vấn đề vụ máy bay này. Nếu thả họ, thì có thể lan cả sang những vụ khác.
Họ nói chuyện nhà vệ sinh, nơi chúng tôi rửa tay trước bữa trưa và thỉnh thoảng trao đổi suy nghĩ. Nhà vệ sinh là nơi đôi lần chúng tôi gặp nhau trước phiên họp, và sau phiên họp. Trước phiên họp, thì nói về cái gì sẽ dưa ra, còn sau bữa ăn là bàn cãi xem bản án có hậu quả như thế nào.
Khi ngẫm nghĩ vấn đề này, tôi nảy ra ý nghĩ: Beria nói về các vụ nào khác? Beria hình như lo rằng nếu Sakhurin và Novikov được tha, thì liệu Stalin có quay lại vấn đề Kuznesov và Voznesenski, mà vụ này vẫn còn chưa đưa ra toà. Cả Beria lẫn Malenkov đều sợ điều này. Lúc đó “Vụ án Leningrad” đang là một vấn đề nóng. Mặc dù họ đồng ý, hình như, thả Sakhurin và Novikov, những người không đứng trên con đường đi của Malenkov lẫn Beria. Sự thật Malenkov lo ngại cả lời về Sakhurin và Novikov mà ông đã thốt ra, vì rằng người ta cũng buộc tội ông về vụ này. Chính ông là chỗ dựa cho Dân uỷ công nghiệp hàng không và đã xuất xưởng nhiều máy bay“chất lượng xấu”, do đó chúng tôi làm mất nhiều cán bộ trong thời gian chiến tranh.
Stalin chưa khi nào nước cho tôi về “vụ Leningrad”, và tôi chưa nghe thấy ở chỗ nào đó ông công khai bày tỏ quan điểm của mình. Chỉ có một lần ông đụng chạm vấn đề này, khi gọi tôi từ Ukraina chuyển về Moskva và bàn bạc với tôi về “những người mưu phản ở Moskva.
Malenkov và Beria không thả Sakhurin và Novikov. Tiếp theo, cũng không thả những người bị bắt trong “vụ Leningrad”.
Do không biết chi tiết vụ này, tôi phỏng đoán rằng trong các tài liệu đấu tranh về vụ này, có thể trong số những chữ ký của những người khác, còn có cả chữ ký của tôi.
Khi ngẫm nghĩ vấn đề này, tôi nảy ra ý nghĩ: Beria nói về các vụ nào khác? Beria hình như lo rằng nếu Sakhurin và Novikov được tha, thì liệu Stalin có quay lại vấn đề Kuznesov và Voznesenski, mà vụ này vẫn còn chưa đưa ra toà. Cả Beria lẫn Malenkov đều sợ điều này. Lúc đó “Vụ án Leningrad” đang là một vấn đề nóng. Mặc dù họ đồng ý, hình như, thả Sakhurin và Novikov, những người không đứng trên con đường đi của Malenkov lẫn Beria. Sự thật Malenkov lo ngại cả những lời buông thốt ra về Sakhurin và Novikov, vì rằng người cũng buộc tội ông trong vụ này. Chính ông là chỗ dựa cho Dân uỷ công nghiệp hàng không và để cho xuất hiện nhiều máy bay “chất lượng xấu”, do đó chúng tôi làm mất nhiều cán bộ trong thời gian chiến tranh.
Stalin chưa khi nào nói với về “vụ Leningrad”, và tôi không nghe ông bày tỏ công khai quan điểm của mình. Chỉ có một lần có một lần ông đụng chạm vấn đề này, khi gọi tôi từ Ukraina chuyển về Moskva và bàn bạc với tôi “vụ những người mưu phản Moskva”.
Malenkov và Beria cũng không thả Sakhurin và Novikov. Rồi cũng không thả những người bị bắt ở “Vụ Leningrad”.
Do không biết chi tiết vụ này, tôi phỏng rằng trong các tư liệu điều tra có thể có chữ ký của tôi trong số các chữ ký của người khác.
Thường là như thế này: khi kết thúc ụ việc, Stalin, nếu thấy cần thiết, ngay tại cuộc họp Bộ chính trị ký tài liệu và đưa cho các uỷ viên Bộ chính trị xung quanh ký. Những người này, không dám liếc nhìn, mà dựa chỉ dựa trên thông tin của Stalin, cũng ký. Đấy là quyết định tập thể. Sự thật “vụ Leningrad”, nếu xem xét thực tế trước đây đấu tranh với “kẻ thù nhân dân”, thì người ta áp dụng những thủ tục tố tụng như sau: không những chỉ điều tra viên tiến hành điều tra, mà còn cả công tố viên đến, sau đó tổ chức phiên toà, mời các cốt cán của Đảng bộ, tiến hành thấm vấn những người bị cáo tại toà, sau đó cho họ nói lời cuối cùng. Thế là cái gì? Nhưng vào thập niên 1930 chẳng có lẽ làm khác sao?
Người ta kể cho Stalin (tôi có mặt lúc ấy) rằng Voznesenski, khi bị tuyên bố xử bắn, đã nói một bài dài. Trong đó ông nguyền rủa Lenigrad, nói rằng Peteburg thấy tất cả những người âm mưu - như Biron, và Zinovev, và thấy phản ứng có thể, còn bây giờ thì ông, Voznesenski, lại rơi vào Lenigrad. Ở đó ông học ở đây, còn quê ông ở Donbass. Và nguyền rủa vái ngày, ông chui về Lenigrad. Hình như con người ta cũng mất lý trí và nói nhảm nhí. Vụ việc không phải ở Leningad. Thời Zinovev? Trong thập niên 1920 cuộc đấu đá chính trị hoàn toàn khác: đấu tranh về quan điểm cái gì xây dựng CNXH Liên Xô, khi đó có thể người theo chỗ này, người theo chỗ kia. Tôi cũng khi đó ủng hộ Stalin và chống Zinovev. Nhưng Biron nói chung ở thời khác. Điều này sự ỷ biết không trùng nhau.
Tôi không nhớ, Kuznesov và những người Leningrad khác đã nói gì ở toà, thực tế họ bị kết án khá lâu trước khi hình thành phiên toà này và ký bản án. Stalin kết án tử hình họ ngay từ khi người ta vừa bắt họ. Nhiều người chết chính tại Leningradе, và tại những nơi mà họ đến từ Lenigrad để làm việc ở chỗ khác. Kosyghin cũng treo trên sợi tóc. Stalin gửi cho các uỷ viên Bộ chính trị những chứng cớ về những người Leningrad bị bắt, trong đó nói nhiều về Kosyghin. Kuznesov và Kosyghin là họ hàng: hai bà vợ của họ cũng có những quan hệ máu mủ. Như thế, họ đã đóng những cái nêm vào Kosyghin. Ông buộc phải thôi các chức vụ trước đây nhận sự bổ nhiệm chức vụ khác của một Bộ. Trước đây ông là người thân cận của Stalin, thì bỗng nhiên tất cả quay ngược lại và dầy đặc những lớp sơn trong “chứng cớ” đối với Kosyghin, tôi cũng không thể giải thích làm sao ông còn được giữ lại và vì sao Stalin không ra lệnh bắt ông. Kosyghin, thậm chí khi bị thẩm vấn, có lẽ ông cũng viết lời giải thích. Mọi thứ nhảm nhí, mọi điều buộc tội kỳ cục đổ lên đầu ông ta. Nhưng Kosyghin, như người ta nói, kiếm được chiếc vé may mắn.
Điều này có thể xảy ra đối với bất kỳ người nào trong chúng tôi. Tất cả phụ thuộc vào Stalin thoáng nhìn vào anh hoặc anh xuất hiện tại thời điểm ấy. Thỉnh thoảng ông nói:
- Vì sao anh không nhìn thẳng vào tôi? Mắt anh làm sao chạy đi đâu đấy.
Hoặc đại loại một cái gì đó kiểu này. Và tất cả điều này được thốt lên với sự độc ác như thế! Điều tra viên khôn ngoan không đưa mình thậm chí với tên tội phạm say máu, còn thốt ra trong trong bàn hũu nghị. Chúng tôi ngồi, ăn, còn ông bỗng nhiên khen bởi cách đối đáp của mọi người, mời ông ngồi vào bàn của mình và nói chuyện với ông. Thời gian thật nặng nề!
Xung những người nổi tiếng
Serbakov thò tay vào một việc không tốt này. Tôi muốn nhớ lại một cảnh, khi Serbakov nổi tiếng “thợ xây dựng sũng cảm” của Hồng quân, khi rơi vào hàng ngũ những thợ xây dựng ấy, không nổi tiếng vì cái này. Trong thời kỳ quân ta rút lui ở mặt trận, đặc biệt đầu năm 1942, đã có nhiều bài báo phê bình, trong đó mổ xẻ những khuyết điểm của hồng quân và phê phán những chứng cớ có thật của việc rút lui. Những bài báo phê phán rất mạnh đó, nói riêng, là của Aleksandr Petrovich Dovzenko, một nhà đạo diễn điện ảnh tuyệt vời, một nhà báo tốt. Ông có sự thông minh thực sự và ngòi bút dũng cảm. Vì thế bài báo của ông làm cú quất đau, đồng thờ chúng vạch ra sự tâng bốc và khoác lác ở Stalin. Năm 1943 ông viết kịch bản phim “Ukraina trong đạn lửa.
Rất một kịch bản rất ấn tượng. Đa số các cảnh trong kịch bản ông mượn trong số những bài báo của mình. Bản thân tên gọi “Ukraina trong đạn lửa” cũng lôi cuốn sự chú ý. Quả là, khi đó tất cả Ukraina nằm trong đạn lửa. Tác giả không tiếc những lời phê bình gay gắt với Hồng quân, mà đặc biệt phê bình những người từng có trách nhiệm về sự chuẩn bị cho Hồng quân chiến đấu, và chỉ ra rằng việc chuẩn bị đó không xứng với điều kiện hiện thời.
Dovzenko trình kịch bản cho BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Tôi làm quen với ông. Đọc kịch bản này có cả Malenkov và những nhân vật khác, bây giờ tôi cũng không nhớ ai là chính. Dovzenko muốn in nó để rồi trên cơ sở của nó, dựng thành phim. Có một lần Stalin gọi tôi về Moskva, hỏi:
- Ông đọc kịch bản của Dovzenko chưa?
- Vâng, tôi có đọc.
Thật ra, tôi chưa đọc hết, nhưng đã nghe qua. Đích thân Dovzenko đọc nó cho tôi nghe. Lúc đó là những phút căng thẳng đối với tôi (vì lý do khác), và tôi không thể tập trung chú ý đến nó. Điều này xảy ra khi bắt đầu cuộc tấn công bọn Đức vào vòng cung Kursk, tháng bẩy 1943. Ba phần tư suy nghĩ của tôi dành cho cuộc chiến đấu này, còn Dovzenko đọc hết cho tôi nghe tất cả và đôi lúc nói rằng tôi hoàn toàn có thể lấy các bài báo này, bài báo kia của ông để đọc. Tôi biết được rằng đây là một tác phẩm sắc bén, tốn nhiều thời gian, mổ xẻ khuyết điểm. Stalin gọi tôi:
- Anh làm quen với kịch bản chưa?”- ”Có ạ.
Tôi kể cho Stalin, trong bối cảnh như thế để ông có thể làm quen với nó. Stalin cho rằng đây là sự thoái thác đơn giản của tôi, và bắt đầu phê bình kịch bản. Ông quát mắng Dovzenko đến nỗi làm tôi làm ngạc nhiên: chính Stalin trước đây có quan hệ rất tốt với tác giả này, đánh giá và ủng hộ ông, dù rằng trước đó gặp một số người từng theo dõi Dovzenko hoặc thậm chí trực tiếp buộc tội ông là người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraina và những tội khác. Những tội khi đó có thể đào bới, cả những tội có tồn tại và những tội không tồn tại, hầu như ở một một người có văn hoá của dân tộc Ukraina. Trong thời gian hoạt động của mình tại Ukraina, Kaganovich cũng có phần đóng góp. Ông tuyên bố rằng mỗi người Ukraina - một người dân tộc chủ nghĩa tiềm tàng. Thật là ngu ngốc!
Có lần, vào buổi chiều Stalin mời tôi đến gặp ông. Serbakov cũng đến đó. Serbakov bắt đầu xem xét kịch bản đã nêu. Lúc ấy tôi hiểu là có chuyện rồi. Malenkov không im lặng, mặc dù biết kịch bản và chúc mừng Dovzenko. Theo tôi, cá nhân Serbakov chấp nhận Dovzenko. Serbakov có một bài nói nói giọng điệu công tố, kích Stalin và chửi mắng tác phẩm của Dovzenko là “dân tộc chủ nghĩa cực đoan”, trong đó dường như phê bình tất cả cơ sở xô viết. Stalin lập tức nổi khùng: Tôi sẽ không nói về mình. Nhưng hiểu tính Stalin, tôi phải trải qua cái gì trong trường hợp này. Còn Stalin không cần sự xem xét, đề nghị tôi gọi một loạt lãnh đạo Ukraina, thành viên Chính phủ và bí thư BCHTƯ về tuyên huấn, ngoài ra, cả Korneychuk, Bazan, Tychin và, hình như, Rylski. Dovzenko cũng có mặt. Stalin đánh Dovzenko tơi tả. Kết thúc là tương lai của Dovzenko là người hoạt động nghệ thuật bị treo giò, đe doạ thậm chí to hơn. Stalin đề nghị tôi rằng, trên cơ sở “trao đổi những suy nghĩ” này, chúng tôi ra nghị quyết về tình thế không ổn định trên mặt trận tư tưởng Ukraina.
Chúng tôi, lãnh đạo Ukraina, lập nghị quyết và qua hai, ba ngày đem nộp Stalin. Chúng tôi tự làm. Ngoài chúng tôi, không ai trong số uỷ viên BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) tham gia trong vụ. Chúng tôi trao nghị quyết cho Stalin, còn ông ông nhìn dự án này thấy nhiều người tham gia. Ông rất lấy làm thoả mãn, nói:
- Đúng, tốt, hoàn toàn chấp nhận được!” Sự thật nghị quyết được chúng tôi thảo ra một cách tự phê bình trong một số địa chỉ riêng. Nhưng nhị quyết là tốt vì chúng tôi tự thảo nó, như người ta nói, tự mình đâm mình, tuy nhiên sao cho nó không đâu, và nghị quyết ấy được chấp nhận. Serbakov cảm thấy mình như ở trên mây. Sau này tôi lâu-lâu lại bị ho bởi tác phẩm này của Dovzenko. Trong tất cả trường hợp thuận lợi, Serbakov độc ác xui khiến Stalin, để Stalin nhớ về kịch bản.
Tôi từng nghe, khi Gorky lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô, người ta đã đặt Serbakov là Bí thư cho Hội, và lo toan vấn đề hệ tư tưởng để mọi công việc trong Hội nhà văn Viên Xô do Gorky lãnh đạo theo đúng đường lối. Tuy nhiên Macxim Gorky không phải là người như vậy để Serbakov cưỡi cổ ông. Kết thúc là Gorky yêu cầu đuổi Serbakov đi. Đây là một trong số những bằng chứng tính thâm độc, ác nghiệt của Serbakov. Tôi lần đầu tiên biết ông, khi ông năm 1942 là Cục trưởng tổng cục chính trị Hồng quân. Những hoạt động của ông tiến hànhchủ yếu là rút ra được bằng cả bằng cái đúng lẫn cái sai, gom góp quá trình chiến dịch hàng ngày (để làm việc này ông có một Đảng uỷ riêng) và, tận dụng sự tín nhiệm đối với Stalin, trao chúng sớm hơn Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu. Nhưng chính đây mới đúng chức năng của bộ phận tác chiến! Như thế tất cả cán bộ cục tác chiến đặt vào tình thế phụ thuộc với Serbakov. Chẳng bao lâu bắt đầu thời kỳ chiến thắng của chúng tôi trên mặt trận. Giải phóng các thành phố Liên Xô, bộ đội ta tiến lên thành công - Serbakov là người đầu tiên hiến tất cả những điều này cho Stalin và ông “đảm bảo” điều ông nó. Điều này lố bịch bây giờ, nhưng khi đó chính là như thế và công việc như thế. Tôi đánh giá công lao của Serbakov, đồng thời với những mặt rất xấu. Tất nhiên người có lỗi chính, dù sao chăng nữa, là Stalin. Ông xây dựng một bầu không khí, trong đó những thứ như thế có thể nảy sinh.
Dovzenko lập tức dường như ngồi trong giếng nước lạnh. Tinh thần ông sa sút, những quan hệ trước đây đã thay đổi với ông. Tóm lại, ông bị thất sủng. Điều này cũng ảnh hưởng đến cả hoạt động của ông. Tôi thật đáng tiếc nhìn ông, nhưng tôi không thể làm được điều gì, vì rằng còn phải chịu một sự phê bình lớn hơn Aleksandr Petrovich. Và tình thế đó được giữ hầu như đến khi Stalin chết. Sau đó chúng tôi lại đề cao công lao Dovzenko và đưa ông trở lại, chừng mực nào điều này có thể, với những hoạt động có ích. Ông lại bắt đầu sáng tạo phim, sau khi ông chết kịch bản của ông, người vợ của ông Solnsevaia làm được một cuốn phim rất tốt. Tôi thật sự hài lòng, khi xem nó. Phim này quả là phảng phất tư tưởng của Dovzenko.
Tôi coi Dovzenko là người lương thiện, trung thành và thẳng thắn. Có lần, ông phát biểu những việc không làm hài lòng các nhà lãnh đạo. Nhưng chính đây lại là tốt, vì rằng nghe tất cả từ một người trung thực tốt hơn từ quân thù. Có thể giải thích cho một người bạn, nếu ông không đúng, hoặc tính đến lời phê bình đúng của ông. Sau cái chết của Aleksandr Petrovich, tôi đề nghị người Ukraina:
- Đặt tên xưởng phim Kiev mang tên Dovzenko, vì rằng ông làm rất nhiều để phát triển điện ảnh ở Ukraina, làm việc rất nhiều và hoàn toàn xứng đáng để tên ông làm đẹp cho xưởng phim Kiev.
Việc này được thông qua.
Còn một cảnh nữa, điển hình cho Dovzenko. Ngay sau khi Beria bị bắt, Dovzenko đề nghị gặp tôi và kể câu chuyện thế này:
- Tôi muốn ông biết về sự thật, mà tôi rất quan tâm. Có một lần đạo diễn điện ảnh Chiaurely mời tôi đến chỗ ông ta. Ông ta là tác giả phim “Berlin thất thủ”.
Chiaurely ựa vào sự ủng hộ của cá nhân Stalin và Beria. Không phải ngẫu nhiên ông dựng cảnh Stalin thực hiện công việc chính của người đứng đầu Tổng hành dinh trong gian phòng ở đó chỉ có những chiếc ghế trống. Chỉ có Stalin hiện diện với ông Poskrebysev, Trưởng ban an ninh BCHTƯ Đảng.
“Một tác phẩm nịnh bợ của nghệ thuật!”. Tôi tự nhủ thế. Sau khi Stalin chết và bắt giam Beria, chúng tôi đề nghị Chiaurely, ra khỏi Moskva. Ông đến đâu đó ra vùng ngoại ô và tiếp tục công việc. Tôi không biết, ông ta ngày nay chiếm vị trí nào trong nghệ thuật và chừng mực nào có kết luận đúng cái điều mà người ta chỉ cho ông.
Aleksandr Petrovich Dovzenko tiếp tục câu chuyện:
- Chiaurely nói với tôi: “Đồng chí Dovzenko, tôi khuyên ông đi gặp đồng chí Beria. Beria rất quan tâm đến ông đấy. Anh sẽ có lợi ở chỗ ông ta và nghe ông ấy”. Vì cái gì Chiaurely đề nghị tôi điều này? Tôi không đến và không ở chỗ Beria, vì rằng tôi không có vấn đề gì liên quan tới Bộ nội vụ. Vì cái gì tôi phải đến đó?
Còn tôi nói với Aleksandr Petrovich Dovzenko:
- Chiaurely nói ông đến đó để ông làm điệp viên của Beria. Beria cho rằng Dovzenko - một người có ảnh hưởng cả ở Ukraina, cả trong nghệ thuật. Trong những bước đi mà Beria dự tính ở Ukraina, hắn muốn biến ông thành đồng minh, dựa vào cả ông để tiến hành những cuộc đàn áp đẫm máu. Chiến dịch này chỉ có thể đẫm máu, vì rằng Beria không chấp nhận các phương pháp khác.
Serbakov vẫn tiếp tục những hoạt động hèn mạt của mình. Tôi không biết, ở mức độ nào đó, ông có tật nghiện rượu. Nhưng tôi không nghĩ rằng ông bản thân ông thích thú gì rượu. Nhưng bởi vì Stalin thích rượu, nên chính ông và phải chịu uống rượu mạnh và khác lôi kéo những những người khác nghiện rượu để làm vừa lòng Stalin. Tôi nhớ một sự cố. Beria, Malenkov và Mikoian đã nói cô gái bưng bê rượu vang để cô ta mang cho họ những chai rượu vang, nhưng đổ nước vào đấy và thêm chút ít rượu vang hoặc nước hoa quả ép để có mầu. Như thế, trong cốc vại nhìn thấy thứ nước có màu cần thiết: nếu vang trắng, thì pha chất lỏng trắng, nếu vang đỏ - thì nước đỏ. Nhưng những thứ này thực chất là nước lã, và họ uống nó. Nhưng Serbakov vạch mặt họ. Serbakov uống “rượu vang” từ những chai như thế, nếm và thét lên:
- Họ uống không phải vang!
Stalin nổi khùng vì họ lừa ông, và một vụ scandal lớn đối với Beria, Malenkov và Mikoian. Tất cả chúng tôi tức giận Serbakov, vì rằng không muốn uống vang, nhưng nếu quả là phải uống, thì cũng uống một lượng tối thiểu để thoát khỏi Stalin, nhưng không bị say rượu, không tự giết mình. Serbakov cũng khổ sở vì điều này. Tuy nhiên không những chỉ có con người xun xoe, độc ác này nịnh bợ mà còn cả những người khác và những người khác cũng làm như ông ta. Ông chết một cách thảm hại. Beria khi đó nói rằng Serbakov chết vì uống quá nhiều. Uống nhiều thì chết.
Thật ra Stalin nói rằng Serbakov ngu - vừa mới khỏi ốm xong, ngay sau đó không nghe lời khuyên của bác sỹ và chết vào đêm, khi cho phép mình làm tình với vợ. Nhưng chúng tôi biết rằng ông chết vì uống quá nhiều để chiều lòng Stalin, mà không phải ham muốn rượu vang. Tôi vẫn có ấn tượng khó chịu nhất về con người, vô kỷ luật và có khả năng đối với tất cả những gì có lợi. Ông không có lấy một chút lương tri. Có thể làm tất cả để nâng bản thân mình, và sẵn sàng làm người ta chìm trong lừa dối. Nhưng Stalin lại khoái điều này. Stalin thích chúng tôi sợ, và ông dung túng và củng cố thâm nhập tư chất đểu giả của Serbakov.
Khi chuyển về Moskva công tác, đối với tôi, tất nhiên, có vinh sự lớn làm việc trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Stalin và trực tiếp giao thiệp với ông. Tôi nói rằng đây là có lợi cho công việc. Chính từ Stalin, chúng tôi gom góp được những điều lợi không nhỏ, vì ông chính khách lớn. Đặc biệt tốt, khi đầu óc ông ông tỉnh táo và khoẻ mạnh. Lúc đó ông cho những người thân cận những lời khuyên và chỉ dẫn có ích. Tôi nói thật rằng tôi đánh giá cao về ông và rất kính trọng ông. Nhưng tôi chịu khổ sở ở đây nhiều hơn ở Ukraina, tách xa đây. Hầu như chiều nào cũng có chuông điện thoại:
- Đến đây đi, chúng ta cùng ăn cơm.
Đấy là những bữa ăn thật lạ lùng, đáng sợ. Tôi về nhà vào buổi sáng, trong lúc chính tôi cần giải quyết công việc. Tôi cố gắng ngủ đến 10 giờ, sau khi ăn cơm trưa, tôi cố ngủ một chút, luôn luôn treo một mối đe doạ: không ngủ, mà Stalin gọi, thì sau này sẽ bị lơ mơ. Ngồi cùng bàn ăn với Stalin mà lơ mơ, đều kết thúc xấu.
Thật không tưởng tượng được những điều mà thỉnh thoảng Stalin làm. Ông ném cà chua vào mọi người, chẳng hạn trong thời gian chiến tranh, khi chúng tôi ngồi trong hầm tránh bom. Chính mắt tôi nhìn thấy. Khi chúng tôi tới gặp ông về vấn đề quân sự, thì sau khi chúng tôi báo cáo xong, ông nhất định mời về hầm của ông. Bắt đầu ăn, và bữa ăn thường kết thúc bằng việc ném hoa quả, đôi lúc vào tường và vào trần, bằng tay bằng muôi, bằng dĩa. Điều này làm tôi giận:
- Tai sao một lãnh tụ đất nước và một người thông minh có thể uống say đến thế này và cho phép mình làm những điều như thế?
Các tư lệnh mặt trận, bây giờ là các nguyên soái Liên Xô, cũng gần như phải trải qua những thử thách ấy, nhìn thấy cảnh tượng xấu hổ như thế. Việc này bắt từ năm 1943 và xảy ra sau này, khi Stalin tin chắc chúng tôi chiến thắng. Nhưng trước đây ông đi lại như một con gà rù. Lúc đó tôi không nhớ, liệu có bữa ăn nào đấy có uống rượu không. Ông bị ức chế đến nỗi, một hối tiếc đơn giản cũng không có.
Có một chi tiết, đặc trưng cho tính cách Stalin. Nhưng là mặt khác. Sau chiến tranh ở Ukraina nghề mỏ phát triển nhanh. Ukraina khôi phục nông nghiệp, công nghiệp, và cải thiện thích hợp mối quan hệ của Stalin với ban lãnh đạo Ukraina, kể cả tôi - Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ CHXHCN Ukraina và Bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Một lần, cãi nhau kịch liệt về nhà máy sản xuất máy kéo. Mikoian nói về máy kéo diesel KD-35, sản xuất tại Belorussia. Đây là máy kéo tốt, nhưng đắt. Mikoian khen ngợi máy kéo này. Stalin hỏi ý kiến tôi, và tôi cũng khoác lác với ông. Sự thật tôi thấy, máy kéo ấy vẫn còn chưa hoàn hảo công suất nhỏ, tuy động cơ diesel. Stalin cũng thích máy kéo diesel, vì rằng nhiên liệu rẻ hơn. Và bỗng nhiên Stalin nảy ra ý nghĩ (hoặc ai đấy đã nói với ông), rằng nên chuyển cho nhà máy khác sản xuất máy kéo diesel. Và Stalin đề nghị chuyển việc sản xuất những máy kéo ấy trước hết cho nhà máy Kharkov.
Tôi cố gắng chứng minh rằng không thể làm điều này. Dân uỷ máy kéo công nghiệp Akopov cũng phát biểu chống lại việc này và giúp tôi những số liệu cần thiết. Nhưng Stalin không nghe và ghi ý tưởng của mình vào nghị quyết Bộ chính trị.
Ý tưởng của ông, tuy nhiên, không được phổ biến cho thậm chí tất cả uỷ viên còn lại Bộ chính trị, trong số này có cả Beria, một điều hiếm xảy ra, cho nên họ cũng đứng về phía chúng tôi. Tranh luận kịch liệt. Sau một thời gian Stalin nhớ lại, hỏi:
- Đã chuyển cho nhà máy Kharkov sản xuất KD-35 chưa?
- Không - tôi nói - chưa chuyển.
Stalin nổi giận. Akopov bị khiển trách vì không thực hiện nghị quyết. Lúc ấy Beria, Malenkov và Mikoian giơ tay: họ tính rằng đừng làm một cái gì cả một khi Stalin muốn điều này.
Tôi vẫn tiếp tục đấu tranh. Một lần Stalin, đang nghỉ ở Sochi, gọi tôi từ Ukraina đến đó. Tôi đến. Ở đó đã có Malenkov, sau đó thêm Beria và Molotov tới. Ông lại đặt vấn đề về vụ máy kéo và quát mắng tôi, như người ta nói là đánh tơi tả. Nhưng tôi chứng minh cho ông:
- Thưa đồng chí Stalin, đừng làm điều này, sẽ gây ra thiệt hại. Hãy nhìn xem, KD-35 có 35 mã lực, mà chúng tôi bây giờ cũng đã sản xuất tại nhà máy Kharkov máy kéo 54 mã lực. Mỗi ngày xuất xưởng 100 máy kéo. Nếu bắt đầu chuyển sang model mới, thì lại bắt đầu từ con số không, mất nhiều thời gian, và chính là chúng ta không đủ máy kéo. Nông nghiệp bị thiệt hại, giảm giảm năng suất lao động. Bây giờ một thợ lái lái máy kéo 54 mã lực, lại hoá ra lái máy kéo 35 mã lực. Máy kéo 54 sức ngựa kéo bộ cày 5 lưỡi, còn chiếc 35 ngựa trong trường hợp tốt nhất kéo được bộ cày 3 lưỡi, bình thường chỉ 2 lưỡi thôi. Như thế giảm năng suất lao động hơn 2 lần khi cày.
Nhưng Stalin vẫn khắc nghiệt.
Beria và Malenkov nói thầm với tôi:
- Đừng cãi nữa. Anh đâm đầu nhảy vào lửa đấy à? Anh cũng nhìn thấy, điều này là không thực tế.
Tôi vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Và cũng đáng chú ý (đây cũng là tính cách của Stalin): con người này khi giận dữ có thể phạm tội ác lớn. Nhưng khi anh chứng minh sự đúng đắn và đưa cho ông những số liệu sống động để ông hiểu rõ, thì ông trở nên có ích và ủng hộ. Tôi hơi bất ngờ, mùa thu Stalin về Moskva và tôi cũng từ Kiev về. Chúng tôi gặp nhau. Tôi thấy Stalin ở tâm trạng tốt. Ông đi đi lại lại trong phòng làm việc của mình. Chúng tôi ngồi vào chỗ của mình. Bỗng nhiên ông nói:
- Thế nào, chú nhóc? (Ít khi ông dùng từ này). Có thể, chúng tôi nhượng bộ anh, đồ quỷ? - và chìa tay cho tôi.
Tôi quay về chứng minh sự cư xử tốt của ông.
- Được - ông tiếp tục - chúng tôi nhượng bộ anh về vụ máy kéo.
Nhưng sau này tôi nói với ông:
- Đồng chí Stalin, ông đã làm một việc tốt. Chúng tôi mất hang nghìn máy kéo, vì rằng thực tế nhà máy Kharkov ngừng sản xuất chúng.
Vâng, có những trường hợp như thế, khi kiên trì phản đối ông, và nếu ông vào sự sự đúng đắn của anh, thì ông sẽ từ bỏ quan điểm của mình và chấp nhận quan điểm của người đối thoại. Điều đó, tất nhiên, là phẩm cách tích cực. Nhưng, đáng tiếc, có thể đếm trên đầu ngón tay những trường hợp, xảy ra như thế. Thường là như thế này: quả là nếu Stalin nói, khôn hoặc dại, lợi hoặc hại, đằng nào cũng thế, bắt người ta làm. Và người ta đã làm như thế!
Một số người stalinit cho rằng đây là phẩm cách tốt đối với lãnh tụ. Tôi cho rằng đây là phẩm chất xấu. Bây giờ, khi tôi viết hồi ký của mình và cố gắng nhớ lại những thời điểm rõ ràng nhất của thời đã qua, thì tôi nhớ đến cả những người bị hại được kể trong đời sống xã hội. Về mặt tích cực trong cuộc sống Liên Xô, bây giờ tôi nói đến vì rằng nó được viết nhiều trong báo chí chúng tôi, có thể là, thậm chí có chút đánh bóng và tô hồng. Chính vì lịch sử phát triển nhà nước xô viết, chiến thắng CNXH ở Liên Xô mà chỉ nói đến những điều tích cực. Nếu ngoảnh lại nhìn con đường chúng ta đã đi sau 50, chúng ta đã trải qua và trưởng thành thì tất cả sẽ rõ hơn.
Có sự khác nhau trong việc đánh giá con đường đã qua ở chỗ một số cho rằng tất cả mọi chiến thắng - đúng là công lao của Stalin. Đúng, trong những thành công đó, công lao của Stalin cũng lớn. Nhưng đây là thành công của nhân dân, mà cơ sở của nó - Lenin, ý tưởng của ông. Bởi vì áp dụng ý tưởng của Lenin, họ cho những kết quả tich cực, dùng Stalin bóp méo quan điểm của Lenin và những chỉ dẫn của Lenin. Học thuyết Mác-Leninlà học thuyết tiến bộ nhất, làm phong phú nhân dân chúng tôi, củng cố và trang bị cho họ. Chính trên cơ sở học thuyết này chúng tôi đạt được những kết quả của mình.
Nhiệm vụ của một người viết hồi ký, tôi cho rằng phải nói hết những tặy tiêu cực của những sự kiện. Lúc ấy không phải là sai lầm, một là sự lạm quyền. Nếu như không có sự lạm quyền, mà Stalin đã làm, thì chúng tôi có có nhiều lần hơn những thành tựu cao. Chính thế tôi tập trung hồi ức lại để giúp đỡ loại trừ khả năng lặp lại những thiệt hại đối với cả giai cấp công nhân, cả nông dân, cả trí thức xô viết, tất cả nhân dân lao động Liên Xô và cả các nước xã hội chủ nghĩa khác, vì rằng Liên Xô đã đem những sai lầm của mình và sự lạm quyền của Stalin tới tất cả các nước anh em.
Suy nghĩ của tôi về Stalin
Thường những người quen, các đồng chí hoặc những người tình cờ tôi gặp, nói chuyện có hỏi tôi có viết hồi ký không. Tôi thường trả lời:
- Không.
Họ tỏ ra tiếc và trách tôi: bảo là cuốn hồi ký như thế rất cần trong tương lai, để mà phán xét tốt hơn và sâu hơn trong nước, Đảng, nhân dân ở thời kỳ, khi tôi sống, làm việc, và nhiều năm là người gần gũi với lãnh đạo, rồi sau đó tham gia vào giới lãnh đạo. Trước đây, có thể là, tôi không hiểu điều này và không nhận làm việc đó. Nhưng, hình như mọi người đúng, và tôi muốn viết một cái gì đó bổ xung những chuyện kể ở trên. Ở đây tôi nêu vấn đề về Stalin ở dang tổng quát.
Nhiều người hỏi Stalin là người thế nào, hỏi về thói quen của ông, và về phong cách lãnh đạo của ông. Trong đầu nhiều người vẫn rối bòng bong về vấn đề Stalin, vì rằng người ta nói về ông cả những điều tốt và những điều xấu. Nó đã như thế và sẽ như thế, có lẽ, với nhiều nhân vật lịch sử khác. Hơn nữa trong chính cuộc đời Stalin cũng đan quyện điều này điều khác. Đòi hỏi phải phân tách! Và tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình về vai trò chung của Stalin trong chiến tranh thế giới 2 và ý nghĩa lãnh đạo đất nước của ông thời kỳ ấy, trả lời vấn đề khó cái gì xảy ra nếu như hoàn toàn không có Stalin. Vấn đề này rất khó khăn, và không những vì rằng những việc xảy ra không làm lại được, mà còn vì rằng không tìm thấy một ông chánh án xác định trên cái cân chính xác, ai đúng và ai không đúng. Kết luận của tôi dựa trên những tiếp xúc lâu và gần gũi với Stalin cả từ trước khi bắt đầu chiến tranh, cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh. Tôi có thể quan sát, từ suốt thời gian ấy sự tính cách của Stalin, đánh giá những biến cố khác nhau và những hoạt động của ông, vai trò của ông trong chiến tranh. Tôi đã mắt thấy tai nghe, ông tham gia cái gì, nói cái gì trong thời gian thất bại và trong thời kỳ chiến thắng.
Một số người phản ứng trước tiên những tình tiết nói Stalin gây nhiều tội ác đối với Đảng và đối với nhân dân, đã giết nhiều người lương thiện, thậm chí cả những anh hùng, trung thành sự nghiệp của Đảng, những người tham gia tích cực xây dựng CNXH. Dù họ dám chắc đó là sự thật, nhưng nghĩ rằng trong cuộc chiến tranh lớn, chúng ta giành chiến thắng chủ yếu do sự lãnh đạo của Stalin, nếu như không có Stalin, thì không biết, liệu chúng tôi có thể địch nổi kẻ thù và chiến thắng nó được không. Quan điểm này tôi không cách nào đồng ý, thậm chí bỏ qua những gì tôi nhìn thấy Stalin, không phụ thuộc vào việc Stalin có vai trò như thế nào trong việc tổ chức chống cự kẻ thù, đánh tan những đạo quân lớn Hittler. Tôi không thể đồng ý với cách lý giải như thế đối với những biến cố vì rằng đây là quan điểm mù quáng.
Chỉ có nô lệ, những người không thể cất nổi đầu gối và liếc nhìn những cái đầu của các ngài, chắc chắn là cần cho ai đấy, người nghĩ về họ, tổ chức cho họ, và trút tất cả lên họ những bất hạnh của tội lỗi và có thể ghi công khi thắng lợi. Đây là tâm lý mù quáng. Tâm lý này không những hoàn toàn vô căn cứ, mà còn rất nguy hiểm. Đó, nói chung, không phải là tâm lý mác xit và không phải tâm lý khoa học, mà là triết học thiển cận. Cần nhớ rằng Stalin chết, còn cuộc sống, cuộc đấu tranh vẫn không ngừng, tiếp tục, xã hội được thay đổi, được thúc đẩy, không đứng tại chỗ.
Nếu bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới mới, thì nó sẽ đổ máu nhiều hơn, nhiều nạn nhân hơn, thậm chí khó hình dung, vì rằng nạn nhân của chiến tranh theo sự tiến bộ hình học ứng với thời kỳ, khi nó xảy ra, và với vũ khí mà quân đội sử dụng. Bây giờ vũ khí nguyên tử, tên lửa. Một người chết, khi mọi người đánh giáp lá cà và đánh nhau bằng, rồi giáo mác và cung nỏ. Khi xuất hiện súng trường và súng máy, nói chung vũ khí bắn nhanh, chiến tranh có thêm nhiều nạn nhân hơn, vì rằng phương tiện sự giết người đã hoàn thiện hơn. Khi xuất hiện máy bay và máy bay ném bom, nhiều người cho rằng bây giờ chiến tranh trở thành không tưởng tượng được, nó huỷ diệt biết bao nhiêu mạng sống! Nhưng không, cuộc chiến tranh vừa qua giết chết hàng chục triệu người. Riêng Liên Xô mất hơn 20 triệu người.
Nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân-tên lửa, thì thậm chí khó tự hình dung, nó giết bao nhiêu người. Đó không phải là chiến tranh trên chiến trường, nghĩa là quân đội không giáp mặt nhau. Chiến tranh sẽ tiến hành ở hậu phương sâu xa, trên toàn bộ lãnh thổ đất nước, vì rằng bây giờ, việc sử dụng phương tiện giết người không bị hạn chế bởi không gian, và có thể bắn và tiêu diệt đúng mọi điểm trên quả địa cầu này.
Nếu không có Stalin thì chúng tôi ra sao? Ai sẽ nghĩ cho chúng tôi? Ai tổ chức quân đội, đất nước, công nghiệp? Rõ ràng là đây là sự bàn luận dốt nát. Nhân dân vẫn là lực lượng chính. Tất nhiên vai trò cá nhân trong lịch sử nhân loại, kể cả tổ chức quốc phòng, là lớn. Nhưng thần thánh hoá ai đấy, là điều không thể. Không những vì đây là xuyên tạc sự đánh giá đúng, mà còn vì rằng điều này làm nhụt chí quần chúng, làm yếu đi sự đóng góp của họ cho chiến thắng, làm kìm hãm sáng kiến. Không có anh hùng, ông biến mất, và chúng tôi chết? Tất nhiên điều này không đúng. Không phải vô cớ người ta hát rằng: “Chúng tôi tự làm sự giải phóng bằng chính tay mình”.
Nếu che chở, như lá chắn, như anh hùng nào đấy, còn sau đó, tước đoạt người anh hùng này, tựa như bắt phải chịu cái chết, thì đó sẽ chính là sự bị hại.
Vai trò của Stalin, tiêu cực hay tích cực? Ở mặt chủ quan hoạt động của ông, vai trò là tích cực theo nghĩa ông còn lại là một người mác xit dựa trên sự giống nhau của lịch sử, trung thành lý tưởng mác xit, làm tất cả cho chiến thắng của sự nghiệp giai cấp công nhân, trong trường hợp đã nêu - đánh bại Hittle. Đấy là mong muốn chủ quan của ông. Một câu hỏi khác, ông đưa điều này trong thực tế như thế nào. Bằng cái gì, mà sự xấu xa thực sự của ông đánh lừa đất nước, như tôi đã nói. Lúc ấy ông giết các tư lệnh, và giết các hạt nhân của Đảng bolsevich. Bị giết trước tiên là thế hệ bolsevich lão thành theo đường lối Lenin. Điều này làm nước ta yếu đi? Hoàn toàn, làm yếu đi.
Sau khi triệt hạ những hạt nhân tiên tiến của những người được hun đúc thời bí mật Nga hoàng, dưới sự lãnh đạo Lenin, thì triển khai mạnh và rộng khắp các vụ giết những người cán bộ lãnh đạo Đảng, xô viết, nhà nước, khoa học, quân đội, cũng như hàng triệu người, mà cách sống và ý nghĩ của họ không làm cho Stalin vừa lòng. Ai giết họ? Stalin. Vì sao? Ông cho rằng sự nghiệp được làm nhân danh lý tưởng của Đảng, nhân danh xã hội mới. Ông không tin tất cả những người này. Một số người trong số này, tất nhiên, ngừng ủng hộ ông, khi nhìn thấy, ông kéo lê họ đi đâu. Stalin hiểu rằng có một nhóm lớn nhân vật tầm cỡ, có tâm lý chống ông.
Những người đối lập không có tư tưởng chống xô viết, chống Đảng, chống mac xit. Đơn thuần là họ muốn thay thế Stalin trong ban lãnh đạo. Chính Lenin cũng muốn làm điều này. Đây không phải là những người chống Lenin, mà là những người ở vị trí Lenin, cho rằng về mặt tính cách thì Stalin không thể ở lâu hơn ở chức vụ trước đây, mà cần thay ông ta. Những người cộng sản, có mặt tại Đại hội 17 đã bỏ phiếu chống Stalin, muốn thực hiện chính cái điều mà Lenin trình ra chúc thư của mình.
Và Stalin đã giết họ. Vì sao? Vì ông coi mình là không thể thay thể được, là người duy nhất là mác xit và có quyền lãnh đạo đất nước. Sự thèm khát quyền lực của ông cũng thôi thúc. Lenin đã nói trong chúc thư trước khi mất về những ác quỷ trong tính tình Stalin: khả năng lạm dụng quyền lực. Và Stalin lạm dụng quyền lực làm hại Liên Xô và người cộng sản trên toàn thế giới. Ông giáng một đòn vào các cán bộ Mác-Lenin không những trong nước, mà còn cả các Đảng anh em, Quốc tế cộng sản, và tất cả những ai mà ông nghi ngờ có thể họ cảm thấy không đồng ý với ông. Và họ ngay lập tức trở thành chống mác xit, phản cách mạng và “kẻ thù nhân dân”.
Ông nghĩ ra và gây sợ hãi trong nhân dân, để nó đóng vai trò của mình. “Kẻ thù nhân dân”! “Người làm hại”! Ông doạ dẫm và làm rối trí những người đã tin ông vô bờ bến, đã tin rằng ông làm tất cả cho lợi ích của Đảng và nhân dân. Tất nhiên khó phán xét. Trước đây quả là có kẻ thù cách mạng, và kẻ thù nhân dân lao động, và kẻ làm hại. Nhưng đây không phải là những người, mà ông rút gươm chém họ và như thế làm yếu Đảng và quân đội, tạo cho kẻ thù khả năng gây tổn thất lớn cho Liên Xô. Nếu Stalin không cầm quyền, thì (tôi hoàn toàn tin như thế) quân ta có đủ sức và phương tiện để đánh bại quân thù ngay ở biên giới, nếu như chúng cả gan tấn công nước ta. Về kết cục như thế đã có những lời huyên thuyên của Dân uỷ Vorosilov hay “xạ thủ Vorosilov”: “Không một tấc đất cho kẻ thù! Không lùi một bước! Nếu chiến tranh, thì nó sẽ tiến hành trên đất kẻ địch!” Sau đó cái gì xảy ra, mọi người đều biết.
Tất nhiên Stalin muốn chiến thắng. Nhưng khi ông nhìn thấy kết quả “lao động” của mình giết cán bộ, nhìn thấy, quân đội làm bị suy kiệt và yếu hẳn đi, những người đưa vào bộ máy lãnh đạo, không đủ kinh nghiệm, không được đào tạo và không có khả năng chỉ huy; và thậm chí trước đó ông nhìn thấy quân ta bị tổn thất trước chống cự kiên cường của nước Phần Lan nhỏ bé, nhân dân Phần Lan anh hùng tuyệt vời, dũng cảm bảo vệ đất nước của mình. Nhìn thấy tất cả điều này, Stalin sợ hãi trước Hittler. Và ông làm tất cả chiều lòng Hittler. Nhưng Hittler có những kế hoạch của mình. Hittler đặt mục tiêu tiêu diệt những người bolsevich. Dỗ dành ông, không thể khước từ khỏi chiến tranh. Lúc ấy ý chí của Stalin bị tê liệt trước ý chí quân thù.
Tôi nhớ câu chuyện Beria kể về Stalin hôm 22 tháng sáu 1941, khi ông bắt đầu đối mặt với chiến tranh. Ban đầu ông không muốn tin vào điều này và bấu níu hy vọng rằng đây là khiêu khích, ông thậm chí ra lệnh không nổ súng, hy vọng vào phép thần, cố gắng che giấu vỡ mộng. Sau đó các tướng lĩnh chứng minh để ông tin rằng thực sự bắt đầu chiến tranh với Đức rồi. Ông được nghe báo cáo về quân đội Hittler tiến quân thắng lợi. Lúc ấy mới lộ ra rằng ông che giấu tất cả mọi người về sự hoảng hốt của ông trước Hittler. Stalin trông có vẻ già đi, ủ dột, bối rối. Ông nói với các uỷ viên Bộ chính trị, tụ hợp tại phòng làm việc của ông:
- Tất cả nhưng gì mà Lenin làm được và những gì mà ông để lại cho chúng tôi, chúng tôi... tất cả... chết...
Và, ông không nói thêm được gì nữa, bước ra khỏi phòng, đi về nhà nghỉ của mình, rồi sau đó có lúc không tiếp ai cả.
Beria kể rằng mọi người còn lại ở trong tình trạng bối rối. Nhưng sau này họ quyết định phải có một vài biện pháp thực tế. Chiến tranh đang xảy ra, phải hành động. Thảo luận công việc, họ quyết định kéo tới chỗ Stalin. Bây giờ tôi không nhớ, ngoài Beria thì còn ai đến đó, nhưng ông không phải một mình. Stalin tiếp họ, và họ bắt đầu thuyết phục ông rằng vẫn chưa phải mất hết tất cả, rằng nước ta là một nước lớn, chúng ta có thể gom góp sức lực để chống cự cho kẻ thù, và thuyết phục ông quay lại lãnh đạo và điều hành phòng thủ đất nước. Stalin đồng ý, quay về vào Kreml và lại khởi đầu công việc, sau đó phát biểu trên đài phát thanh. Đây là lời phát biểu nổi danh của ông ngày 23 tháng sáu 1941. Nhưng suốt thời gian dài ông không ký một chỉ thị nào cả. Tất cả tài liệu đều ký: “Tổng hành dinh”.
Nhưng ông bắt đầu ký với chức danh Tổng tư lệnh tối cao chỉ khi bộ đội chúng tôi chống cự được bọn phát xít. Đấy là câu chuyện Beria kể về trạng thái của Stalin ngày đầu chiến tranh.
Tất nhiên với tâm trạng như thế, khó kiên quyết thực hiện một cái gì đó cản được sự xâm lược của Hittler. Nếu Stalin chết trước khi bắt đầu chiến tranh thế giới 2, nghĩa là năm 1939, thì cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại có thể theo con đường khác. Đất nước được chuẩn bị tốt hơn cho chiến tranh. Nhưng ông vơ tất cả về mình và mắc sai lầm. Thậm chí khó đánh giá gần đúng những tội ác mà ông gây ra cho đất nước. Ông muốn giết tất cả những ai mà ông cho là chống lại ông. Ông nhìn, đôi khi, vào một người gần ông và nói “Mắt anh chạy đi đâu rồi?”.
Có trường hợp, sau câu hỏi ấy, nhiều người tự sát. Mọi người phụ thuộc vào tâm trạng của ông. Không cần toà án, không cần chứng cớ, không cần sự phân tích thật sự. Chỉ cần một ngón tay út của ông lay động theo một hướng nào thì người ta sẽ bị trấn áp. Và ông cũng quen thói này khi sau chiến tranh nói, quyết định trấn áp Tito:
- Ngón tay tôi nhúc nhích, sẽ không còn Tito nữa.
Ông không với được tới Tito. Nhưng trong nước ông làm chết hàng triệu người.
Như thế nếu tính cộng lại tất cả thành tổng số, thì tin rằng: giá như Stalin không tồn tại, thì chiến tranh phát triển đối với chúng tôi là thành công hơn. Trong lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh. Napoleon cũng tấn công nhân dân Nga, sử dụng một đội quân lớn, và cũng tấn công một cách phản bội. Không chỉ một lần xảy ra chiến tranh, bắt đầu cuộc tấn công phản bội. Năm 1812 Aleksandr I, chính ông đi đến cách giải quyết khôn ngoan hoặc người ta khuyên ông, đã bỏ mặt trận và chạy về Peteburg, bổ nhiệm Kutuzov chỉ huy. Kutuzov là người đã già, thường ngủ gà ngủ gật tại phiên họp hội đồng quân sự. Nhưng nhân dân tin ông, và ông biết dựa vào lòng tin của nhân dân. Nhân dân làm tất cả để đánh đuổi quân Pháp, và đạt được điều này dưới sự lãnh đạo Kutuzov. May mắn cho đất nước và cho Kutuzov, một tổng tư lệnh, khi đó phương tiện liên lạc khá bị hạn chế, và Aleksandr 1, đi về Peteburg, nhưng thể xác mất khả năng can thiệp trực tiếp chỉ huy. Nhưng Stalin, ở Moskva, có khả năng can thiệp trực tiếp trong mọi việc và đôi khi sự can thiệp của ông đáng giá nhiều sinh mạng trên mặt trận. Nhưng cuối cùng chúng tôi dưới sự lãnh đạo của Stalin đã giành được chiến thắng, nhưng với số nạn nhân lớn quá đáng, thiệt hại vô cùng to lớn. Không có của Stalin, kẻ thù rõ ràng bị thất, mà chúng tôi tổn thất ít hơn.
Nếu xảy ra chiến tranh trong tương lai, nếu sử dụng đúng tài nguyên đất nước, biết cách tổ chức công việc chuẩn bị chiến tranh thì chúng tôi sẽ chiến thắng trong cuộc chiến tranh mới. Có thể sự hùng mạnh của chúng tôi giúp sớm tránh được chiến tranh. Mỗi nước có tình báo và thông tin ít nhiều về vũ khí và trạng thái chung của địch thủ của mình. Viễn cảnh va chạm với một quân đội được chuẩn bị tốt tập đoàn quân sẽ làm nguội bất kỳ cái đầu nóng nào. Tôi không thể nói rằng có thể loại trừ chiến tranh nói chung. Đây là vấn đề giai cấp. Chừng nào còn tồn tại giai cấp, thì cũng có nguy cơ chiến tranh. Vì thế cần chuẩn bị chiến tranh. Nhưng nếu Đảng hiểu đúng nhiệm vụ của mình, gắn bó với quần chúng, biết tổ chức quần chúng, công nghiệp và nông nghiệp, thì Đảng có thể và phải đạt được đánh gục bất kỳ cuộc chiến tranh từ phía bên kia dám công tấn công Liên Xô.
Một lần nữa tôi nhắc lại, rằng tôi không chấp nhận tư tưởng mù quáng: Stalin được sinh ra, và chúng tôi trao số phận của mình cho ông. Lúc đó chấp nhận rằng nếu ông chết và đất nước bị mất đầu, bị mất hết những gì mà chúng tôi có được. Đó là ngu ngốc! Đấy là Marx, và là Lenin, còn Stalin không xứng với Lenin. Lenin quả là lãnh tụ, người thấy trước tất cả từ nhiều năm trước. Ông, cùng với Plekhanov đặt nền móng xây dựng Đảng, tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp công nhân ở nước Nga. Đúng như thế và công nhận rằng Lenin thiên tài xác định trước tất cả. Nhưng ông sống ngắn ngủi, nhưng cũng kịp đưa đất nước thoát ra khỏi nội chiến, thời ấy đã nảy sinh những anh hùng. Đó là những người của chủ nghĩa nhiệt thành, họ sống bởi lý tưởng Lenin, bản thân họ đôi khi không được phân tích sâu về bản chất sự nghiệp. Nhưng họ muốn thắng lợi của nhân dân và tin rằng Lenin đứng về phía nhân dân, chống tư sản và địa chủ. Và nhân dân dưới sự lãnh đạo Lenin giành chiến thắng kẻ thù cách mạng.
Sau đó Lenin xác định sự phát triển tiếp đất nước ta, công nghiệp và văn hoá. Đáng tiếc, ông mất rất sớm. Nhân dân khóc ông, nhưng đất nước vẫn sống và tiến lên. Chúng tôi cải tổ kinh tế, giáo dục, văn hoá, đạt được nhiều thắng lợi. Nếu như Stalin không gây ra thiệt hại cho Liên Xô, khi ông giết cán bộ, sự tiến lên phía trước của chúng tôi còn thành công hơn. Bắt đầu cuộc chiến tranh với dân chúng là năm 1934, khi giết Kirov. Ông bị giết, tôi tin điều này, theo chỉ thị của Stalin, để lung lạc nhân dân, đe doạ nhân dân: Đấy, dường như, kẻ thù thò tay và giết Kirov, bây giờ đe doạ tất cả giới lãnh đạo đất nước và Đảng.
Nhân dân tin rằng có “kẻ thù” và ủng hộ tên bạo chúa, tên này theo cách chọn riêng, như trong đàn cừu, lựa chọn và cắt cổ người ta, một cách thẳng thừng, mà biến mất đơn giản không vết tích. Chẳng có lẽ đây là hành động của một người mác xit thực sự? Đây là sự xấu xa của tên bạo chúa hoặc kẻ bệnh hoạn. Nhan danh cách mạng, nhân danh nhân dân ông giết những tinh hoa của những người lãnh đạo nhân dân và Đảng, và thậm chí giết chính quần chúng nhân dân. Những hành động tương tự như thế không thể biện minh được. Xảy ra những vụ việc đáng sợ, thế mà bây giờ một số người nói rằng chỉ có con người như thế mới có thể đưa chúng ta đến thắng lợi, còn nếu như không có Stalin, thì chúng tôi có lẽ chết. Không, không và không! Tôi không đồng ý, đây là sự hiểu biết mù quáng đi ngược học thuyết Mác-Lenin. Và rất tiếc rằng một số những người có uy tín trong khoa học, chính trị, quân sự rơi vào sai lầm này.
Mặt khác, Stalin về nguyên tắc (không phải trong sự xấu xa cụ thể) vẫn là một người mác xit. Và, nếu loại trừ tính đa nghi bệnh hoạn, sự tàn nhẫn và sự phản bội của ông, thì ông đánh giá tình hình đúng và tỉnh táo. Chính ông nhiều lần khi có mặt tôi đã phỉ nhổ thái độ bợ đỡ xun xoe, nói:
- Triết học tương phản cá nhân anh hùng cho đám đông - đó là triết học cách mạng. Những người đứng ở vị trí như thế - không phải là những người mác xit. Nhưng chúng tôi tin vào quần chúng, vào nhân dân, luôn luôn tách rời trong thời gian cần thiết lãnh tụ của mình.
Chỉ có lời nói của ông tách rời công việc. Vì thế, khi nói về quá trình lịch sử, phải giữ được những chứng cớ, đối chiếu chúng, không lờ đi một cái gì, và khi đó vai trò của mỗi cá nhân trong từng giai đoạn ấy sẽ rõ ràng. Tôi muốn giữ đúng nguyên tắc này, mặc dù đôi khi là khó, vì rằng một người cảm nhận những biến cố đó hoàn toàn chủ quan.
Khi Stalin chết và chúng tôi còn lại không có ông, chúng tôi ban đầu than khóc tình thế của mình, trong tâm trạng sốc. Không phải mọi người biết rằng chúng tôi làm gì khi mọi việc tiến hành không có Stalin. Chỉ có Beria hân hoan. Đa số giới lãnh đạo đánh giá Beria là hình ảnh tội ác. Mọi người biết ảnh hưởng xấu xa của ông đối với Stalin. Và mọi người cũng biết không phải Beria nghĩ ra Stalin, mà Stalin nghĩ ra Beria. Trước Beria, trong NKVD là Yagoda. Stalin biến Yagoda thành tội phạm, cho tay chân mình giết Kirov. Sau Yagoda là Ezov, Stalin cũng giết ông ta. Sau Ezov đến Beria và sau này là Abakumov, một người chẳng tốt hơn Beria là mấy, chỉ ngốc hơn. Beria trong số này là người nguy hiểm nhất, vì rằng ông là hiểu biết và có có khả năng tổ chức. Tuy nhiên tôi lạc hướng về những việc sau chiến tranh.
Quay lại thời gian trước chiến tranh, một lần nữa tôi nhớ rằng chúng tôi bắt đầu chiến tranh thiếu vũ khí và không cơ động, quân đội hoàn toàn không chuẩn bị, mặc dù chính Stalin biết rõ rằng chiến tranh không tránh khỏi. Nhưng ông là bị tê liệt trước Hittler, như thỏ đứng trước sói, sợ cả việc tăng cường phòng thủ biên giới, cho là Hittler có thể đánh giá việc này như chúng tôi chuẩn bị tấn công ông ta. Ông cũng nói như thế với chúng tôi, khi chúng tôi và Kirponos đề nghị huy động nông trang viên để đào hào chống tăng dọc biên giới và tăng cường phòng thủ. Stalin tuyên bố rằng điều này sẽ là khiêu khích, không thể làm. Nghĩa là, mặc dù Stalin tin là Hittler tấn công chúng tôi, ông trông mong rằng ông có thể là, né được đòn tấn công. Kết cục thế nào, ai cũng biết. Và ông không có giáng trả, và bỏ ngỏ đất nước.
Quan điểm cho rằng chỉ có cá nhân Stalin mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng do chiến tranh gây ra, và quân ta chiến thắng do sự lãnh đạo thiên tài của Stalin, là hoàn toàn vô căn cứ. Quân đội ta chiến thắng không cần Stalin, và thậm chí thiệt hại còn ít hơn. Chính quân đội ta chiến đấy vì mảnh đất của mình, vì nhân dân của mình, vì cuộc sống của mình, vì tương lai của mình, mà hoàn toàn không phải vì Stalin. Khẩu hiệu “Vì Stalin!” - đây là kết quả không đúng tri giác.
Stalin tự mình thổi phồng vai trò của mình và dạy dỗ người ta tinh thần nịnh bợ, buộc những người gần ông phải có ý tưởng suy tôn cá nhân mình. Dù ông không cản Kaganovich, người đứng ở bàn Stalin luôn luôn tuyên bố đanh thép:
- Đấy là Stalin! Stalin là thế này, Stalin thế kia, không có Stalin chúng tôi chẳng là ai cả.
Lúc ấy thường Stalin cất giọng và nói rằng đây là quan điểm cách mạng, và chính ông thúc đẩy Kaganovich đến “hoạt động” lớn.
Tôi chân thật tiếc cho những ai kém hiểu biết tin rằng không có Stalin, chúng tôi không đạt được một kết quả tốt nào cả. Sự thiếu chín chắn nhận thức trong xã hội có thể trong tương lai dẫn đến tái phạm có hại. Không ai cần tính rằng nhân dân quên tất cả, khi nghĩ về những người lãnh đạo trong quá khứ. Có nhiều bài viết về Chinggiskhan. Mao Trạch Đông, chẳng hạn, người ta gọi ông là anh hùng. Cũng mô tả nhiều mặt tốt Napoleon, dù rằng ông làm chết hàng trăm nghìn người. Họ là những kẻ sát nhân tầm cỡ nhà nước. Họ tổ chức chiến tranh nhân dân, tổ chức quân đội và đưa họ đến cái chết vì quyền lợi của mình. Đây không phải là kẻ sát nhân, vào ban đêm dùng dao găm và súng lục giết một hai người để trấn lột. Không, những người đó trấn giết toàn bộ nhân dân, gây thiệt hại cho cả nhan loại. Phải tiến hành việc giáo dục lòng tin để kết án việc này, định hướng đúng lớp trẻ, dạy dỗ nhân dân có hiểu biết đúng vai trò của cá nhân trong lịch sử, trách nhiệm của họ trước lịch sử và vinh danh không phải những tên giết người, những tên bạo chúa, mà vinh danh những người sáng tạo trong những điều kiện cuộc sống hoà bình.
Tôi muốn bây giờ nói hết về những người sống theo lý tưởng Mác-Lenin và đem hết sức lực mình để giữ vững lý tưởng này. Có thể có trường hợp những người tốt của chúng tôi trải qua cùng với con đường vĩ đại của Lenin từ việc xây dựng Đảng bolsevich đến làm cuộc cách mạng tháng Mười, đã bị chết dưới cái mác “kẻ thù nhân dân”, kẻ thù của Đảng, kẻ thù lý tưởng CNXH và chủ nghĩa cộng sản? Chẳng lẽ Lenin không thể phân xử được, khi ông chọn những người này và làm việc với họ? Chẳng lẽ Lenin lầm à? Tất nhiên vĩ nhân cũng có thể sai lầm. Trong Đảng từng có nội gián của mật vụ Roman Malinovski, người được Lenin tin dùng. Cũng có cả những nội gián khác. Nhưng hiến binh mật phái chúng. Những người, mà tôi nói về họ, đã trải qua con đường đấu tranh thực sự cùng với Lenin và tỏ ra trước và sau cách mạng trung thành với sự nghiệp ĐCS. Và chính họ bị hành hạ, chết, bị giết không có xét xử, không có điều tra dưới thời Stalin. Một số trong những người này cũng được ra toà, nhưng là toà án do Semiakin làm chánh án, ông này làm tất cả những gì người ta ra lệnh cho ông. Đây là toà án gây ra sự trấn áp để làm vừa lòng một cá nhân.
Tôi sẽ cố gắng một cách chủ quan làm rõ vấn đề phức tạp này, bởi tôi hiểu những gì đang xảy ra những gì tôi được biết ngay sau khi Stalin chết. Sau Đại hội 20 ĐCSLX, thành lập một Uỷ ban xem xét riêng nghiên cứu vấn đề này. Họ báo cáo kết quả điều tra cho tôi, là bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng. Cái gì được sáng tỏ? Vì sao Stalin, cũng là người gần gũi với Lenin và cũng cùng với Lenin và dưới sự lãnh đạo Lenin chuẩn bị lễ mừng công lý tưởng Mác-Lenin, tỏ ra vô căn cứ như vậy trong sự xấu xa của mình? Stalin liên quan gì với người khác? Có thể Stalin bị biến chất và nói chung chống lý tưởng CNXH, sau đó cũng tiêu diệt những người ủng hộ ông? Hoàn toàn không. Stalin về nguyên tắc vẫn tin vào lý tưởng CNXH. Nhưng về tính cách, ông là nhà độc tài, là một con người không nghe và không muốn nghe ai trừ bản thân ông. Lúc ấy, là đặc điểm của cá nhân ông. Nếu đặc điểm ấy nằm ở con người nhỏ, thì gây khổ sở cho gia đình và láng giềng. Nếu đặc điểm này rơi vào người có địa vị cao, làm khổ quần chúng.
Người ta muốn ý nghĩ, muốn phán xét, muốn biết rõ. Điều này là bình thường. Nhưng nếu sự bàn luận không trùng với hiểu biết của Stalin về công việc, thì bắt đầu cuộc đấu tranh tự nhiên về tư tưởng. Thông thường mối quan hệ xã hội chỉ là cãi nhau. Nhưng do đặc điểm cá tính của Stalin thì những người như thế trở thành kẻ thù riêng của Stalin, mà đã là kẻ thù của ông, thì ông gọi là kẻ thù của CNXH. Đã là kẻ thù, thì phải tiêu diệt. Và ông giết họ. Một số người nói:
- Chính Stalin phát biểu vì cách mạng, vì chủ nghĩa cộng sản, sao ông có thể làm như thế?
Một số khác nghi ngờ Stalin trừng phạt sự lạm quyền. Dường như, những người có lỗi là Yagoda, Ezov, Beria, Abakumov và những người khác.
Những phán xét tương tự là vô căn cứ, vì rằng chẳng phải Ezov, chẳng phải Beria, thực chất là của bản thân Stalin. Họ không chọn sếp, mà sếp chọn họ theo khẩu vị của mình. Nếu Ezov hoặc Beria không làm Stalin vừa lòng, ông dễ dàng thay thế họ, điều này không khó gì đối với Stalin. Stalin cần những người như Yagoda, Ezov, Beria, Abakumov để che giấu cái đuôi của mình; ông đưa Ezov để giết Yagoda, đưa Beria và dùng tay hắn giết Ezov. Hơn nữa ông cho rằng bây giờ tất cả sự tham gia của cá nhân ông vào cái trò tạo ra một cái đèn cù, luôn luôn được giấu kín. Ban đầu mọi người đổ tội cho “bọn Ezov”. Sau đó đổ cho “bọn Beria”, vì rằng Beria tiếp tục công việc này và với sự hung bạo như Ezov. Stalin chưa kịp vứt nốt Beria - thì ông chết.
Mọi việc bắt đầu từ cái gì? Vì sao Stalin chọn con đường này? Những năm đầu sau khi Lenin chết, trong đấu tranh, Stalin vẫn còn sử dụng phương pháp của Đảng. Có đấu tranh, có tồn tại ý kiến đối lập, tiến hành thảo luận, tiến hành tranh cãi. Chúng diễn ra khắc nghiệt, nhưng trong khuôn khổ của Đảng. Các Đảng viên có khả năng được tranh cãi theo những quan điểm khác nhau, nghe hướng này hướng kia, theo lãnh tụ này theo lãnh tụ kia, và mỗi một đảng viên có thể xác định mối quan hệ của mình họ. Trong các cuộc tranh cãi ấy, Stalin chiến thắng, và Đảng ủng hộ ông. Tất nhiên những người thất bại tức giận và không được Stalin hài lòng.
Và chúng tôi nói về tình hình trước khi triệu tập Đại hội 17. Tôi nhớ Đại hội này. Tôi tham gia tất cả các hội nghị Đảng và Đại hội Đảng, bắt đầu từ Đại hội 14 (trừ Đại hội 16, tôi không có mặt, do học tại Học viện công nghiệp, nhưng có mặt tại các phiên họp của nó). Trước Đại hội 17, triển khai thảo luận, như thường lệ, trong Đảng bàn cãi dề cương báo cáo tổng kết, chuẩn bị các Đảng viên hiểu đúng cách giải quyết, được chấp nhận tại Đại hội. Đại hội này là Đại hội đặc biệt ở ý nghĩ rằng đến năm 1934 vẫn chưa có một học thuyết đối lập nào trong Đảng. Các vấn đề công nghiệp hoá và tập thể hoá nông nghiệp không phải là chủ đề thảo luận, mà là cơ sở hoạt động thực tế của Đảng và nhân dân. Vì thế Đại hội diễn ra rất tốt.
Khi đưa ra ứng cử viên BCHTƯ, họ cũng đề cử tôi. Tôi chịu đựng cảm giác đặc biệt, khi bỏ phiếu, và tôi cũng ngang hàng với những người khác nhận thẻ bầu. Tôi nhớ, Kaganovich nói với tôi rằng cần bỏ gạch một số ứng cử viên được đề cử vào BCHTƯ. Ông giải thích rằng những đại biểu này có thể bỏ phiếu chống Stalin, vì thế phải làm đừng để những người khác thu được phiếu nhiều hơn Stalin. Để tất cả ở mức độ nào đấy ngang nhau, phải bỏ phiếu chống họ. Tôi khó nói, liệu Stalin có trao nhiệm vụ như thế cho Kaganovich, hay là Kaganovich hành động theo lý trí của ông ta.
Khi biết rõ hơn Kaganovich, sau này tôi nghĩ ông làm điều này cũng từ quyền lợi riêng: nếu những người không số phiếu bầu nhiều hơn Stalin, thì trong tất cả mối quan hệ điều này có lợi cho Kaganovich, bởi vì họ không có số phiếu nhiều hơn Kaganovich. Tất cả các phiếu bầu được phân phát cho các góc phòng họp, mọi người xem danh sách và gạch tên ai mà họ muốn. Nhưng một số đi thẳng đến thùng phiếu và lập tức bỏ phiếu bầu. Tôi thấy, Stalin hiên ngang đi tới hòm phiếu và thả phiếu bầu. Thậm chí ông cũng chẳng nhìn vào nó nữa. Điều này không có gì ngạc nhiên, vì rằng danh sách từ trước Stalin không những đã xem, mà còn được ông tán đồng nữa. Chẳng việc gì mà phải mất thời gian xem lại chúng một lần nữa? Chính là có những người theo dõi điều này để ngoài những người được đề cử, không ai rơi vào trong danh sách.
Nghỉ xong. Uỷ ban kiểm phiếu thực hiện công việc của mình. Phiên họp được triệu tập để nghe kết quả kiểm phiếu. Đó là những phút mừng và căng thẳng. Thậm chí tôi không biết, có cái gì hơn: mừng hoặc phấn khởi, đặc biệt đối với người trúng cử vào cơ quan lãnh đạo. Có thể tôi truyền đạt chỉ có tâm trạng riêng của mình, nhưng tôi nghĩ rằng những người khác cũng lo lắng. Chủ tịch hội đồng kiểm phiếu đề nghị mọi người cất bút chì và sổ tay và không ghi gì cả, chỉ nghe thôi. Ông tuyên bố, tại Đại hội có mặt chừng này đại biểu và chừng này trong số đó tham gia bỏ phiếu. Sau đó bắt đầu đọc theo thứ tự abc, ai và bao nhiêu phiếu đã bầu mình. Đến lượt Stalin. Tôi tính: ông thiếu sáu phiếu. Đến lượt tên tôi. Tuyên bố tôi cũng thiếu sáu phiếu. Nghĩa là sáu đại biểu gạch tên tôi. Tôi tự nói với mình: người ta cho mình sáu con giun và cả cho Stalin - cũng sáu con giun (như thường nói hồi đó).
Lần đầu tiên tôi được vào BCHTƯ. Theo tuổi tác và thâm niên Đảng, thậm chí tôi chưa dến được điều này. Chức vụ như vậy đối với tôi là khá cao. Và tôi rất hài lòng được bầu vào BCHTƯ, còn sáu phiếu không bầu tôi, tôi cũng chẳng chút lo ngại, hơn nữa trên bình diện này, Stalin cũng đã nhận sáu phiếu “chống”.
Tôi tức giận chỉ có là ai đấy không bầu Stalin. Việc bầu bán tiến hành như thế. Nhưng vì sao tôi dừng lại tỷ mỷ ở đấy, vì nó rõ ràng hơn từ các Đại hội sau.
Kết thúc Đại hội. Tất cả mọi người về chỗ của mình và nhận việc. Chúng khi đó công tác với nhiệt huyết lớn. Mỗi người (tôi tự xét bản thân tôi) sống không phải cì cuộc sống của mình, mà là vì cuộc sống của Đảng, vì lợi ích nhân dân. Tiền nong chúng tôi không chú ý. Chúng tôi nhìn vào tiền chỉ có mà chết đói. Tất cả những thứ còn lại là vì lợi ích sự nghiệp, còn chúng tôi chỉ cần những thức cần thiết nhất. Bây giờ điều này đối với một số người quan liêu, có lẽ, lạ lùng. Nhưng đấy là sự thật. Trước cách mạng tôi làm thợ nguội và kiếm được 40-45 rúp một tháng, thế nhưng về vật chất thì tốt hơn khi làm bí thư tỉnh uỷ Moskva và Đảng bộ thành phố. Tôi không hối tiếc mà đơn giản chỉ minh hoạ chúng khi đó tôi sống như thế này. Chúng tôi sống cho sự nghiệp cách mạng, vì tương lai chủ nghĩa cộng sản, tất cả mọi người chúng tôi đềuchịu điều này. Quả là chúng tôi sống khổ. Nhưng chúng tôi hiểu rằng chúng tôi là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng chủ nghĩa xã hội và vì thế thắt lưng buộc bụng, để dành tiền cho công nghiệp hoá đất nước. Nếu khác đi lý tưởng chính cách mạng bị đánh gục và kẻ thù bóp cổ chúng tôi. Thời gian ấy sao tuyệt vời đến thế! Không có khó khăn vật chất nào có thể so sánh với lý tưởng vĩ đại mà chúng tôi tận tâm phục vụ!
Tôi đặc biệt hài lòng công tác ở Moskva, thủ đô lớn. Trước đây tôi chưa đụng chạm với kinh tế thành phố. Đối với tôi là mới mẻ chừng nào, thú vị chừng nào cả trong kinh tế, cả ở người dân, mà tôi giao tiếp, xem xét và giải quyết các vấn đề khác nhau của cuộc sống và cải tổ thành phố Moskva. Đó là công việc say mê, và tôi được cống hiến cho nó hoàn toàn. Tôi về nhà muộn vào ban đêm và, ra đi rất sớm. Nhưng trong những ngày, mà tôi đã kể, mọi việc tiến hành bình thường, nhưng đột ngột thay đổi vào đầu tháng 12-1934, khi chuông điện thoại réo và tôi nghe giọng Kaganovich:
- Đến ngay Kreml và vào phòng khách của Stalin.
Ở đó người ta nói cho tôi biết Kirov bị giết. Bọn sát nhân là bọn Troskit, bị tình báo nước ngoài lôi kéo. Rõ ràng là Kirov bị giết bởi kẻ thù cách mạng, kẻ thù của Liên Xô. Vì thế lời kêu gọi tinh thần cảnh giác vang lên từ miệng Stalin đối với chúng tôi là đương nhiên.
Những sự đàn áp mới được triển khai sau vài năm. Stalin gọi tất cả những người, không đồng ý với ông là “kẻ thù nhân dân”, những người muốn quay vềtrật tự cũ trong đó “kẻ thù nhân dân” gắn chặt với bọn phản động quốc tế. Sau đó hàng trăm nghìn người lương thiện bị giết. Lúc đó tất cả mọi người sống trong sự sợ hãi. Người ta những tiếng gõ cửa vào ban đêm, và tiếng gõ cửa đều đều này mang đến điều bất hạnh! Không phải ngẫu nhiên Gamarnik, bị gõ cửa vào ban đêm, đồng chí tự sát. Sau đó, vụ tự sát của Gamarnik làm cơ sở cho Stalin xác nhận ông là kẻ thù chưa bị vạch mặt, hiểu rằng không muốn bị đánh chết, không muốn đưa tay cơ quan luật pháp, đã tự sát. Nhưng nếu như Gamarnik đưa tay vào còng thì sao? Đằng nào cũng thế, người ta cũng bắn ông. Gamarnik là một người thông minh, hiểu cái gì đang đợi ông. Ông được minh oan sau Đại hội 20, cũng như nhiều người khác.
Nhưng trước tại Đại hội 20 cũng đặt vấn đề minh oan những người vô tội và về sùng bái cá nhân của Stalin, trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ xảy ra cuộc đấu tranh lớn. Thẳng thừng chống việc đưa ra vấn đề này là Molotov, Vorosilov và Kaganovich. Điều này tôi không sửng sốt, vì rằng những người này, đặc biệt Molotov và Vorosilov, cùng với Stalin chịu trách nhiệm về tất cả những việc làm vô luật pháp. Tôi tin rằng Stalin hội ý với họ, và họ cùng nhau chấp nhận quyết định. Vô điều kiện, không phải tất cả các ứng cử viên, khổ sở vì giết chóc, có một ý kiến thống nhất. Nhưng họ là một khối theo hướng biện pháp - giết hại dã man các Đảng viên. Họ là tác giả khẩu hiệu đấu tranh khét tiếng với “kẻ thù nhân dân”.
Khi chúng tôi xây dựng Uỷ ban nghiên cứu tỷ mỷ tài liệu liên quan với sự đàn áp, phát hiện trong số thư của Ezov gửi Molotov. Trong đó ghi họ tên các bà vợ của một loạt “kẻ thù nhân dân”, đề nghị đầy họ đi khỏi Moskva. Molotov đưa ra quyết định:
- Bắn.
Và họ đã bị bắn. Điều này thật là khủng khiếp: thậm chí NKVD viết là chỉ phải mang họ đi đầy; tiếp theo, không làm một tội ác nào khác. Tài liệu này, cũng như và một loạt tài liệu khác, xác nhận rằng Molotov ngang hàng với Stalin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự chuyên quyền, về sự giết người. Như thế họ đã giết hại những người không làm vừa lòng Stalin, những người này những người lương thiện những đảng viên, những người tốt, trải qua trường học đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo Lenin. Và mọi người bây giờ phải tha thứ và quên tất cả? Không bao giờ!
Một lần nữa nói về Beria
Trước đây tôi nhiều lần nói về Beria, nhưng chủ yếu là các sự kiện liên quan tới ông hoặc liên quan tới những người khác. Nhưng bây giờ tôi muốn nói hết riêng về Beria, vai trò và ảnh hưởng của ông đối với xã hội xô viết. Trong quá trình làm quen và gặp riêng với ông dần dần vạch trần và để lại cho với tôi những hiểu biết hơn về diện mạo chính trị của ông. Thời gian đầu, ông gây cho tôi ấn tượng rất tốt. Chúng tôi và ông tại những Plenum BCHTƯ luôn luôn ngồi bên cạnh, trao đổi ý kiến, có lần đùa nhau như giữa những người bình thường có những quan hệ tốt.
Còn sau đó, thì bắt đầu! Cũng không phải ngay lập tức. Khi Stalin nảy ra ý nghĩ, thay thế Dân uỷ nội vụ Yagoda bằng Ezov, vì Yagoda làm không đúng. Ezov là người lãnh đạo công tác cán bộ BCHTƯ Đảng. Tôi biết rõ ông. Từ năm 1929, khi tôi theo học tại Học viện công nghiệp, và đặc biệt sau khi tôi được chọn bí thư đảng bộ, Ezov ở mức độ nào đấy là người lãnh đạo tôi, vì rằng Học viện công nghiệp thuộc cơ quan Ban tổ chức cán bộ BCHTƯ và chịu sự lãnh đạo của BCHTƯ thông qua Ezov. Tôi như chi bộ cơ sở phải báo cáo về tình hình công việc tại Học viện công nghiệp cho ông. Nếu tiến hành động viên học viên Học viện thu thập tài liệu hoặc tiến hành chiến dịch chính trị gì đấy, thì BCHTƯ cũng trực tiếp qua tôi, và không ai có quyền sắp xếp họ, tập hợp mọi người để tiến hành chiến dịch chính trị nào đấy và v.v... tất cả được làm chỉ theo quyết định BCHTƯ. Các điều kiện được tạo ra như thế, nên tôi ít nhiều thường gặp Ezov. Ông gây cho tôi ấn tượng tốt, một người đáng chú ý. Tôi biết rằng Ezov - công nhân Piter và từ năm 1917 là Đảng viên. Cái mác “Piter công nhân” có giá trị cao!
Khi Ezov được điều động về NKVD, tôi cũng không biết cơ quan này hoạt động kiểu gì và lập luận của Stalin ra sao. Bản thân tôi quan hệ không tồi với Yagoda và không cảm thấy ông có hoạt động gì chống Đảng. Nhưng khi Ezov được bổ nhiệm thì việc đàn áp mạnh hơn. Đúng là bắt đầu giết chóc cả những cán bộ quân sự, cả dân thường, cả Đảng viên, cả cán bộ kinh tế. Ordzonikidze lãnh đạo công nghiệp nặng, Kaganovich lãnh đạo giao thông liên lạc. Ở nơi đó cũng xảy ra việc bắt bớ mọi người tràn lan. Nhân thể nói thêm, Ezov có những quan hệ bạn bè với Malenkov và cùng làm việc với ông. Nhưng Malenkov lại không đứng ở phía “bè lũ Ezov”.
Đầu năm 1938 Stalin gọi tôi và đề nghị làm việc tại Ukraina: nói rằng Kosior ở đó kém cỏi. Tôi rất kính trọng Kosior. Biết ông từ lần đầu tiên làm việc tại Ukraina là Tổng bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina sau Kaganovich, năm 1928. Kaganovich về BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b), còn Kosior đến thay chỗ ông. Năm 1929 tôi đề nghị cho tôi theo học tại Học viện công nghiệp, chính Kosior chấp nhận về vấn đề này. Việc Stalin đề nghị tôi thay thế Kosior, làm cho tôi chết điếng. Tôi đánh giá cao Kosior và cho rằng tôi không thể nào thay thế ông được, rằng tôi chưa lớn đến mức như thế. Và vấn đề dân tộc cũng có vai trò. Tôi, tất nhiên, từng công tác tại Ukraina và thậm chí ở Kiev. Sự thật Chính phủ CHXHCN Ukraina vẫn còn nằm ở Kharkov. Nhưng, đằng nào cũng thế, tôi là người Nga, tôi cảm thấy mình cũng không tháo vát. Tôi quan hệ tốt với người Ukraina - và những người cộng sản, và những người không đảng viên, tuy nhiên tôi thường xuyên cảm thấy còn nhược điểm là không thể phát biểu bằng tiếng Ukraina. Và tôi trả lời cho Stalin:
- Chưa chắc cử một người Nga đến đấy là hợp lý đâu.
Tuy nhiên Stalin chứng minh, người Nga chẳng có gì kém hơn người Ba Lan. Kosior là người Ba Lan tại Ukraina, vì sao người Nga lại kém hơn?
Tôi rất lo lắng vì không làm nổi. Nhưng không phủ nhận rằng đề nghị này làm tôi sung sướng: thế là BCHTƯ tin tôi, một chức vụ cao đến như thế! Và tôi đến Ukraina. Kosior trao lại công việc cho tôi, tôi nhận. Ông rời Ukraina và được bổ nhiệm đến chỗ Molotov là phó chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên Xô. Thời gian trôi qua, và cuối 1938 hoặc đầu 1939 bỗng nhiên vấn đề bổ nhiệm tôi cũng làm phó cho Molotov. Ban đầu, Molotov gọi cho tôi nói điều này, sau đó Stalin gọi, khi tôi đến Moskva:
- Này, Molotov vật nài xin ông về làm phó cho ông ấy. Hình như phải nhượng bộ Molotov thôi. Ông nghĩ xem?
Tôi đề nghị đừng làm điều này: vừa mới đến Kiev, người Ukraina có những quan hệ tốt với tôi. Chứng cớ chủ yếu nhất là ở chỗ chúng tôi sắp có chiến tranh, nhưng tôi ít nhiều biết Ukraina, nếu bây giờ cử đến đó một người mới, thì tất cả việc tổ chức sẽ phức tạp với ông ta, giá như chiến tranh nhanh chóng bùng nổ. Vì thế việc ra đi của tôi chưa chắc sẽ vì lợi ích sự nghiệp; còn đưa về Moskva, cứ nhặt những người khác còn dễ hơn. Stalin đồng ý tại cuộc họp Bộ chính trị:
- Thôi ngừng cuộc nói chuyện này lại, cứ để Khrusev ở lại Ukraina.
Năm 1938 Stalin đặt vấn đề phải “củng cố” Ezov, bằng cách đưa cho ông một người phó thứ nhất, và hỏi Ezov về điều này. Ezov trả lời:
- Tốt thôi.
- Ông chọn ai?
- Tôi yêu cầu cho tôi Malenkov làm phó thứ nhất.
Cuộc nói chuyện như thế phát sinh đôi lần, nhưng vấn đề không được quyết định. Cuối cùng Stalin nói Ezovу:
- Không, ông không được lấy Malenkov, vì rằng Malenkov bây giờ lãnh đạo Ban cán bộ BCHTƯ và ở đó cần hơn.
Khi Malenkov lãnh đạo Ban cán bộ BCHTƯ, Ezov vẫn còn là sếp trên Malenkov. Như thế, Ban tổ chức cán bộ lúc ấy thực tế vẫn dưới sự điều khiển của Ezov. Đây là thời kỳ mà Đảng bắt đầu loại bỏ những nhân vật trước đây và Đảng bắt đầu chịu sự lãnh đạo của Dân uỷ nội vụ. Ranh giới là giữa thập niên 30.
Tôi cho họp hội nghị Đảng bộ Moskva vào năm 1937. Tất cả các ứng cử viên được dự kiến đưa vào Đảng bộ tỉnh Moskva và thành uỷ Moskva, từ trước đã được xem xét và “được hoá phép” bởi Dân uỷ nội vụ. Không phải BCHTƯ, hơn nữa cũng không phải những đảng viên giải quyết, mà chính NKVD! Ông phát biểu lời cuối cùng phẩm chất của người được chọn nào đấy, về khả năng làm việc của người ấy trong cơ quan Đảng. Thề rằng, chúng khi đó tôi cho rằng đây là giúp đỡ tổ chức Đảng nghiên cứu cán bộ tốt hơn và vạch mặt kẻ thù, có thể luồn thậm chí vào ban lãnh đạo. Thời ấy, chúng tôi được giáo dục như thế!
Có một trường hợp. Tại một Học viện quân sự chính uỷ là một người cộng sản có bộ râu đẹp, khoảng 50 tuổi. Theo quan điểm Đảng bộ Moskva, ông là hoàn toàn xứng đáng chỗ của mình. Và hội nghị chấp nhận ông ta một cách tuyệt vời, khi bàn cãi vấn đề đưa ông vào danh sách ứng cử viên để bầu. Bỗng nhiên trước khi bỏ phiếu, Ezov gọi tôi và nói:
- Phải làm tất cả để làm bại người này. Ông ta không xứng đáng lòng tin, ông liên quan với kẻ thù nhân dân và sẽ bị bắt chẳng bao lâu nữa đâu.
Chúng tôi làm theo đề nghị của người ta. Nhưng xảy ra một sự rạn nứt về tinh thần và xấu xa đến mức ảnh hưởng đến các đại biểu hội nghị! Người ta bầu, người ta vỗ tay (còn ông đến đúng lúc dưới những tràng vỗ tay như pháo), và thế là chúng tôi phải chứng minh cho mọi người họ đừng bỏ phiếu cho ông. Chúng tôi đánh đổ ông. Ông giận dữ: Việc gì thế này? Đêm hôm sau, ông bị bắt, vấn đề đối với tất cả mọi người được sáng tỏ.
Một trường hợp khác. Emelian Jaroslavski - một lão thành bolsevich, một người được kính trọng trong Đảng. Ông được đưa làm ứng cử viên Đảng bộ Moskva ĐCS toàn Nga (b). Trong thời gian đó, Đảng bộ Moskva bầu nhiều uỷ viên Bộ chính trị và những nhà lãnh đạo khác của Đảng. Chính Stalin và những người khác cũng vào đấy, nhưng không phải tất cả. Người ta đưa cả Jaroslavski, còn ông là khi đó bí thư Hội đồng kiểm tra và được coi là nhân vật hoàn hảo về mặt Đảng. Bỗng nhiên Ezov (không phải Malenkov) gọi cho tôi và nói rằng phải đánh đổ Jaroslavski. Đây là một việc cực kỳ nặng nề đối với cá nhân tôi, tuy nhiên tôi phải thực hiện nhiệm vụ và nói với Bí thư chi bộ để họ tuyên truyền tương ứng trong Đoàn đại biểu của mình, để không bỏ phiếu cho Jaroslavski. Khi kiểm phiếu, té ra là Emelian dù sao chăng nữa vẫn được bầu, bất chấp hành động của chúng tôi, hình như, chỉ có “dư” một phiếu. Tôi nhớ, ngay sau hội nghị này, bà Zemlachka, người mà tôi kính trọng, gửi một bức thư lên BCHTƯ, buộc tội tôi, Thành ủy Moskva ĐCS toàn Nga (b) ở hội nghị tiến hành vận động chống Jaroslavski. Tôi không thể giải thích cho bà ngay lập tức rằng tôi thực hiện ý kiến của BCHTƯ. Sau này bà hiểu việc đó. Tất nhiên tuyên bố của bà không gây hậu quả xấu cho tôi.
Tình hình là như vậy. Các cơ quan NKVD có tiếng nói quyết định mọi sự điều động hoặc thuyên chuyển các cán bộ Đảng, nhà nước và kinh tế, và họ luôn luôn được sự đồng ý từ NKVD. Tất nhiên đây là hiện tượng xấu hổ, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng! Cuối cùng, Stalin đề nghị bổ nhiệm Beria là phó thứ nhất Beria cho Ezov. Trước thời kỳ này tại các cuộc tuần hành thường có các các tranh cổ động vẽ một chiếc găng nhọn. Cái lệ này đặt ra sau khi Stalin nói:
- Ezov - đây là găng của Ezov, đây là Ezov thân yêu.
Và ông bình phẩm tốt về hoạt động của Ezov. Nhưng khi Stalin bổ nhiệm Beria, thì sự thật là việc thay thế Ezov đã được hoạch định. Ezov hiểu đúng tất cả. Ông hiểu rằng ông đã hết thời và ngôi sao của ông vụt tắt. Nhưng ông từng trải và biết các cử chỉ này, cảm thấy việc này cũng có thể kết thúc cả sự tồn tại của ông. Tuy vậy, ông nói:
- Tất nhiên, đồng chí Beria là người đàng hoàng, ở đây không có vấn đề. Beria có thể không những là phó, mà còn Dân uỷ viên.
Stalin phản đối:
- Dân uỷ viên, tôi cho rằng, Beria không thể được, còn làm phó cho ông sẽ là tốt.
Và thế là Beria được chuẩn y làm phó Ezov.
Bởi vì у tôi có mối quan hệ tốt với Beria, tôi đến gặp ông sau cuộc họp và chúc mừng ông nửa đùa nửa thật. Ông trả lời:
- Tôi không nhận lời chúc mừng của anh.
- Vì sao?
- Anh cũng không đồng ý, khi có vấn đề anh và người ta lôi anh về làm phó cho Molotov. Như thế tại sao tôi phải vui việc tôi được bổ nhiệm phó cho Ezov? Với tôi, tốt hơn cả là cứ ở Gruzia.
Tôi không biết, ông nói điều này chân thật đến mức nào. Nhưng khi Beria chuyển về NKVD, thì thời gian đầu ông không ít lần nói chuyện với tôi:
- Cái gì thế này? Chúng tôi bắt giam tất cả mọi người liền tù tì, thậm chí nhiều nhà hoạt động nổi tiếng cũng ngồi tù, rằng chẳng lâu nữa sẽ không còn ai nữa, phải kết thúc việc này thôi.
Xuất hiện quyết định về “thái quá”. Nó được viết bởi ảnh hưởng của Beria. Nhân dân cho rằng Beria đến NKVD, sắp xếp, trình cho Stalin và Stalin nghe ông. Plenum của BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) có phê bình mạnh. Mỗi người phát biểu phê bình một ai đấy. Trong số này, tôi nhớ lời phát biểu Malenkov. Khi đó ông phê bình một trong những bí thư Đảng Trung Á (người này sau đó bị bắt). Sự phê bình nhằm chống sự khoe khoang. Malenkov nói rằng những nhà leo núi thực hiện cuộc leo núi lên đỉnh cao nhất trong dãy núi ở Trung Á và đặt tên của Bí thư Đảng Trung Á cho đỉnh núi này.
Người duy nhất, có chức vụ tương đối cao trong ban lãnh đạo Đảng cũng vì một lý do nào đó không tránh khỏi bị phê bình, đó là Khrusev. Nhưng người phát biểu là Yakov Arkadevich Yakovlev, lãnh đạo nông nghiệp của BCHTƯ Đảng, và phê bình tôi. Vả lại, cách phê bình của ông cũng tương đối cổ điển: ông mắng tôi vì rằng trong Đảng bộ Moskva đều gọi tôi là Nikita Sergeevich. Tôi cũng phát biểu và giải thích, đây là tên tôi và phụ danh, như thế người ta gọi đúng. Người ta cũng bóng gió nói rằng ngay tên ông không phải là Yakovlev, mà là Epstein. Ngay sau cuộc họp, Mekhlic đến với tôi, lúc ấy ông còn chủ bút báo Sự Thật, và phẫn nộ về lời phát biểu Yakovlev. Mekhlic là người Do Thái, biết truyền thống cổ của nhân dân mình và nói với tôi:
- Yakovlev - người Do Thái, nên ông cũng không hiểu rằng ở người Nga cũng thậm chí gọi nhau một cách chính thức theo tên và phụ danh.
Lời phát biểu Grigori Naumovich Kaminski là thế này. Lúc ấy Grigori Naumovich là Dân uỷ viên y tế Liên Xô. Đó là một đồng chí rất đáng kính có thâm niên trước cách mạng, nhiều lần gặp gỡ với Lenin. Tôi làm quen với ông, khi ngay khi bắt đầu công tác ở Đảng bộ Moskva. Ông lúc ấy là một trong những bí thư một đảng bộ Moskva ĐCS toàn Nga (b), sau đó là Chủ tịch đảng bộ tỉnh, sau đó người ta đưa ông vào làm Dân uỷ y tế nước Nga và sau đó là Liên Xô. Đây là một người thẳng tính, chân thật, có cảm giác thiêng liêng tính Đảng và biết lẽ phải. Ông nói:
- Ở đây tất cả mọi người phát biểu đều nói về cái gì họ biết về người khác. Tôi cũng muốn nói rằng để Đảng được biết điều này. Năm 1920 tôi được cử đến Baku và làm việc ở đó là bí thư BCHTƯ ĐCS Azerbaizan và Chủ tịch Xô viết Bankin, đã có tin đồn rằng đồng chí Beria trong thời gian Baku bị chiếm đóng, đã cộng tác với cơ quan phản gián của Musavist mà trước đó nó là phản gián Anh.
Không ai phát biểu phủ nhận. Thậm chí Beria cũng không phát biểu để chỉnh lại theo lý do này. Im lặng, và tất cả để đó... Nhưng chẳng bao lâu Kaminski bị bắt và mất tích. Vấn đề này sau này vẫn dằn vặt tôi lâu, vì rằng tôi tuyệt đối tin Grigori và biết rằng ông không bao giờ nghĩ ra một cái gì và phí công nhắc lại nó. Nhưng ai có thể cự được với NKVD và những những người lãnh đạo nó?
Khoảng một tháng sau một phiên họp BCHTƯ Đảng, mọi người tản ra ăn trưa. Tôi bị chậm một chút và không kịp đi. Lúc ấy Stalin gọi giật tôi:
- Khrusev, đi đâu thế?
- Đi ăn trưa.
- Đi với tôi, chúng ta cùng nhau ăn.
- Cám ơn.
Khi chúng tôi ra, Yakovlev lượn quanh Stalin. Ông tựa như không có lời mời lẽo đẽo theo Stalin và cũng xuất hiện ở nhà riêng của Stalin. Hai chúng tôi ăn trưa. Stalin nói chuyện, còn Yakovlev rất bồn chồn. Cảm thấy ông đang chịu đựng nhức nhói trong nội tâm. Có lẽ ông sợ người ta sẽ bắt giam ông, và muốn tìm kiếm sự bảo vệ ở Stalin. Tôi biết Yakovlev từ khi công tác tại Ukraina, tôi làm quen với ông ở hoàn cảnh thú vị. Lúc đó, vào giữa thập niên 20, cần giải quyết cánh đối lập Zinovevо-Kamenov. Khi chúng tôi đi đến Đại hội Đảng, thì Yakovlev đến gặp chúng tôi và thông báo cho chúng tôi về tình hình có thể nảy sinh tại Đại hội. Ông nói Zinovev, hình như sẽ là người đồng báo cáo. Điều này được thông báo theo cách để chúng tôi hiểu rằng ông là người được Stalin tin tưởng thông báo cho chúng tôi. Tôi nhắc đến điều này để thấy rằng con người này gần gũi Stalin và cống hiến tất cả sức lực để đấu tranh chống phe đối lập, còn sau đó cố gắng làm tập thể hoá. Dù thế, đối với ông ta, bây giờ tình hình khó khăn, mặc dù tôi không biết vì sao. Và ông cũng không nhầm, ông bị bắt, cho dù nhã nhặn, lịch thiệp trao đổi ý kiến với Stalin trong thời gian ăn trưa tại nhà riêng Stalin, và chẳng bao lâu cũng chết.
Plenum, mà tôi đang kể, vừa đúng ra quyết định, kết tội thái quá trong công tác NKVD. Plenum này đem lại cho nhân dân niềm tin kết thúc sự chuyên quyền man rợ, bao trùm trong nước và gây ra mất lòng tin ở mọi người: liệu người ta có còn sống không, liệu có thể bị giết không, hoặc liệu có bị mất tích không. Tôi, và nhiều người khác, hết lòng hết dạ tin vào Stalin, và chúng tôi tự buộc tội mình rằng chúng tôi như người mù, không nhìn thấy và không cảm thấy kẻ thù, không thính về chính trị, không có hiểu biết sâu sắc về đấu tranh giai cấp, không biết cách vạch mặt kẻ thù như đồng chí Stalin đã làm điều này. Dần dần tôi bắt đầu hiểu rằng tất cả còn xa lắm.
Một lần, tôi từ Ukraina về Moskva. Tôi ngồi ở chỗ Stalin, một phòng ở Kreml. Điện thoại réo chuông. Stalin đến máy, nói với ai đó, sau đó đặt ống nghe xuống và, tiến sát chúng tôi nói rằng Chubar gọi điện cho ông: khóc, lo lắng, chứng minh rằng ông là một người trung thực; còn giọng của Stalin nhại giống Chubar. Stalin tỏ ra thông cảm nỗi chịu đựng của Vlasa Yakovlevich. Và tôi rất ngạc nhiên, đúng hôm sau Chubar bị bắt, còn sau đó chết. Tôi biết Chubar khi công tác tại Ukraina, nơi ông là Chủ tịch Hội đồng dân uỷ. Tôi gặp ông tại Đại hội ĐCS Ukraina, để thảo luận công nhân mỏ than (có một thời gian ông lãnh đạo công nghiệp than Donbass). Mọi người kính trọng Chubar. Khi cả ông, cả tôi làm việc bên cạnh nhau ở Moskva, thì khi gặp nhau ông cũng luôn luôn gây ấn tượng rất tốt, đặc biệt trong ý nghĩ tính Đảng. Và bỗng nhiên?
Sau Plenum đã nói trên, đánh dấu sự giảm bớt việc bắt bớ, giam cầm, nhưng cũng không giảm không rõ nét. Mọi người tiếp tục cánh cánh sự mất tích, tựa như ở trên băng: có những vết nứt không có dấu vết, và không ai quay trở lại. Tôi chưa quen việc chuyển từ đảng bộ này sang Đảng bộ khác lôi kéo về mình những người, công tác với tôi trước đây: kéo lê cái đuôi như đã nói khi đó. Tôi lên án những phương pháp như thế. Tuy nhiên, khi về Ukraina, ở đó trong tư tưởng cán bộ, gọi là tinh khiết: không có Bí thư tỉnh uỷ, không Chủ tịch tỉnh, không Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ, không có phó của ông. Đấy là sự thất bại hoàn toàn sự lãnh đạo của Đảng, xô viết kinh tế. Tôi miễn cưỡng đề nghị Stalin quyết định cho lấy người từ Moskva.
Trong số những người như thế có cả Lusakov. Tôi biết ông công tác ở Moskva, dưới sự lãnh đạo của Badaev, ông phụ trách bộ phận hoa quả và rau và làm tôi hài lòng vì sự hợp tác, tinh thần vì công việc và tháo vát. Tôi xin Stalin, cho Lusakov làm Dân uỷ viên thương nghiệp tại Ukraina. Stalin đồng ý. Sau đó Lusakov cũng bị bắt. Đối với tôi đây là điều rất khó chịu. Thứ nhất, tôi biết rất rõ Lusakov, sau này tôi nói Stalin về việc của ông. Cái lần ông bị bắt, có thể được lý giải xấu rằng: tôi giới thiệu và nhận kẻ thù nhân dân. Thời gian trôi qua, và Lusakov được thả (khi đó hiện tượng này là hiếm). Ông về Ukraina, ông bị hành hạ, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Ông kể cho tôi, rằng ông bị hành hạ và người ta đòi hỏi ông phải chỉ tôi: tôi, dường như, tổ chức một âm mưu nào đấy. Té ra, lúc còn ở Moskva tôi làm tờ chứng nhận để cử Lusakov sang Ba Lan và Litva để mua hạt rau. Và thế là bây giờ người ta bắt ông phải chỉ ra rằng việc gửi ông ra nước ngoài nhằm phục vụ thiết lập một liên lạc chống các tổ chức xô viết. Ông kiên trì, không nhận và được tha. Tôi kể cho Stalin về điều này. Stalin nói với tôi:
- Đúng, có những điều quái gở. Và người ta cũng thu thập tài liệu gửi tôi. Ezov thu thập.
Một thời gian trôi qua, và vấn đề về Ezov lại đặt ra. Vị thế của ông bị lung lay. Sự sụp đổ hoàn toàn của Ezov xảy ra trước tình tiết như sau. Stalin gọi tôi:
- Có chứng cớ về Dân uỷ nội vụ Ukraina Uspenski, và chúng tôi không có nghi ngờ gì.
Tôi nghe qua điện thoại tưởng Stalin nói Usenko, một cán bộ Đoàn thanh niên. Stalin nói:
- Có thể bắt ông ta không?
- Có thể, nếu có lệnh.
- Bắt đi!
Nhưng khi Stalin bắt đầu giải thích thêm chi tiết, tôi hiểu rằng đang nói về Uspenski. Tôi chưa kịp đặt ống, Stalin lại gọi:
- Về việc Uspenski, không cần làm cái gì cả. Tự chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi sẽ gọi ông ta về Moskva và trên đường chúng tôi sẽ bắt giam.
Tôi chuẩn bị đi đến Dnepropetrovsk. Khi tôi đến, Uspenski đi về Moskva. Tôi có linh tính rằng ông Uspenski không về Moskva, vì ông đoán được rằng có thể bị bắt. Và, ông chạy trốn, tôi nói với Korochenko, Chủ tịch Hội đồng dân uỷ Ukraina:
- Anh giả vờ gọi cho Uspenski về công việc, theo dõi ông ta, chính anh thay tôi làm việc này.
Buổi sáng tôi đi đến Dnepropetrovsk, thì Beria gọi tôi. Chính Beria, mà không phải Ezov:
- Này, anh chạy đi khắp ngả đi, Uspenski của anh bỏ chạy rồi.
- Sao?
- Hắn bỏ chạy, thế thôi!
Tôi cấp tốc quay về Kiev. Quả là, Uspenski không thấy đâu. Sau đó, khi tôi có mặt ở Moskva, Stalin nói với tôi hình như Ezov cảnh báo Uspenski:
- Ezov nghe trộm chúng tôi, khi tôi nói chuyện với ông, và cảnh báo Uspenski qua điện thoại.
Trước đó Stalin từng không ít lần phát biểu tỏ ý không hài lòng những hoạt động Ezov, ngừng tin Ezov và muốn gạt bỏ ông. Sau này Ezov bị bắt. Và các phó của ông cũng bị bắt. Nói chung bất kỳ ai quan hệ với Ezov cũng bị bắt. Lúc đó mây đen treo trên đầu Malenkov, bạn thân của Ezov. Stalin biết điều này. Và tôi cũng biết Ezov là bạn với Malenkov đã nhiều năm. Chúng tôi làm việc cùng với nhau từ lúc công tác Đảng bộ Moskva. Tôi nhận thấy người ta nghi ngờ Malenkov trong trường hợp thế này. Có lần tôi từ Ukraina về Moskva, Beria mời tôi đến nhà nghỉ của ông:
- Đến đi, tôi ở một mình, không có ai hết. Cùng nhau dạo chơi, anh và tôi ngủ ở đây.
- Được thôi, đằng nào cũng thế, tôi cũng một mình.
Tôi đến, chúng tôi đi dạo trong công viên. Và Beria nói với tôi:
- Nghe nhé, anh không nghĩ gì về Malenkov à?
- Nghĩ cái gì cơ?
- Ezov bị bắt ấy mà.
- Có lẽ đúng, họ làm bạn nhau - tôi nói - Nhưng cũng như anh đánh bạn với tôi, và tôi cũng vậy. Tôi nghĩ rằng Malenkov - là người trung thực, hoàn hảo.
- Không, không, nghe đây, cứ nghĩ đi, anh bây giờ cũng gần với Malenkov, nghĩ đi!
Ừ, tôi nghĩ, nhưng tôi chẳng làm kết luận gì đặc biệt cả và tiếp tục kết bạn với ông. Khi về Moskva, trong những ngày nghỉ tôi luôn luôn ở chỗ ở nhà nghỉ cuối tuần Malenkov. Tôi cho rằng Stalin nói để Beria cảnh báo tôi về Malenkov. Sau này Malenkov gần gũi và đánh bạn với Voznesenski, còn sau đó trở thành một người bạn không rời nhau với Beria.
Sau khi bắt Ezov, Beria nhanh chóng thu vén quyền lực. Ông quan tâm trước tiên là sắp xếp lại cán bộ. Ở Ukraina khi đó không có Dân uỷ NKVD, và Beria cử Kobulov đến nhận cương vị này. Kobulov là em trai của Kobulov đang làm phó cho Beria, Dân uỷ nội vụ Liên Xô, từng làm việc trước đây với Beria ở Gruzia. Đối với Ukraina, Kobulov vẫn chỉ là một chú nhóc, và chưa được đào tạo. Có lần ông đến BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina và nói rằng phải bóc trần nhóm người dân tộc chủ nghĩa Ukraina, vì nhóm này đang hoạt động chống lại sự nghiệp xô viết. Tôi nói với ông:
- Có thể về nguyên tắc điều này có như thế. Nhưng cụ thể là ai? Xin cho họ tên.
- Tên... tên....
Và ông nói tên một số nhà văn và những nhân vật trí thức khác. Tôi biết rõ họ. Và trong số những người ông nhắc đến, có Rylski. Tôi trả lời:
- Những người này không thể nào chống lại sự nghiệp xô viết. Họ có thể tỏ ra không hài lòng, phát biểu chỉ trích, nhưng điều này hoàn toàn không phải là những người chống xô viết. Nhưng người ta buộc tội họ cụ thể là cái gì? Nhân viên mật vụ nói với ông điều này phải không?
- Họ tụ tập nhau, uống rượu, rồi hát.
- Chỉ có thế thôi ư?
- Họ hát bài hát như thế này: “... Vâng anh đi, nguyện vọng của tôi, tôi không báo anh đâu....”
Tôi cười vang:
- Ông là người Armenia và không biết văn hoá Ukraina. Mật vụ của ông nhạo báng ông đấy, nếu họ viết những điều như thế. Mọi người đều hát bài này. Nếu chúng tôi và anh khi nào đó tụ họp thành nhóm, thì tôi không đảm bảo rằng tôi không cùng tụ hợp mọi người hát bài này. Đây là bài dân ca rất hay của Ukraina.
Thế mà ông ta là người ở chức trách Dân uỷ!
Cũng trong tuần lễ đó, một nhân vật khác được Beria bổ nhiệm về Belorussia. Beria cử đi khắp nơi cán bộ của mình. Thời kỳ này, tình hình phức tạp đến mức tất cả cán bộ được điều động đến công tác Đảng, xô viết, kinh tế hoặc quân sự đều phải qua “hoả ngục” ở NKVD. NKVD trở thành những cơ quan chủ yếu của đất nước. Nhưng bất kỳ một cán bộ lãnh đạo nào nói chung được đưa ra chỉ với sự đồng ý sơ bộ của Beria. Dần dần chúng tôi và Beria rất hay gặp nhau ở chỗ Stalin, và tôi bắt đầu biết rõ hơn về Beria. Khi đó tôi với Beria còn tốt với nhau và chỉ sau này tôi bị thất bại bởi lá mặt lá trái của ông. Một thí dụ. Beria có thể ở Stalin ăn trưa, đặt một vấn đề gì đấy; và, nếu Stalin gạt đi, thì Beria nhìn vào ai đấy trong số những người đang có mặt và nói:
- Tôi cũng nói với anh rằng vấn đề này không cần phải đưa ra.
Tôi há mắt và há mồm: sao điều này có thể thất thố như thế ở chỗ Stalinе? Chính Stalin mặc dù cũng in lặng, nhìn thấy và nghe được cái gì mà chính Beria vừa mới đặt vấn đề này. Và không sao! Đấy là sự phản bội. Theo cung cách Beria được “củng cố”, sự trơ trẽn và đê tiện cũng thể hiện ngày càng rõ nét hơn.
Trước đây tôi đã nghe hồi lâu rồi Redens là phó Dân uỷ nội vụ ở Gruzia ở Beria. Redens biết rõ cán bộ cũ. Tôi nhiều lần gặp ông, khi ông làm toàn quyền NKVD tỉnh Moskva. Ngoài ra, tôi thường gặp ông ta bầu không khí gia đình, trong các bữa cơm gia đình ở Stalin, vì Redens lấy Anna Sergeevna, em gái của Nadezda Sergeevna Alliluev (vợ Stalin). Chính thế Beria phải thực hiện đẩy Redens ra khỏi gia đình Stalin? Ban đầu ông đặt nhiệm vụ tống khứ Redens khỏi Gruzia, vì rằng không muốn Stalin có một người thông tin từ Gruzia ngoài ông, Beria. Và ông trao quyền cho tay chân của mình dụ dỗ Redens vào quán rượu. Họ lợi dụng tính nhu nhược của ông, chuốc rượu để ông say, sau đó dẫn ông ra và quẳng ông vào rãnh nước bên hè phố. Cảnh sát đi ngang qua, và nhìn thấy Redens nằm lăn ở tình trạng như thế, trình lên trên. Và việc việc đi tiếp! Người ta đặt vấn đề trước Stalin rằng Redens mất uy tín. Thế là Redens, bị triệu hồi từ Gruzia về tỉnh Moskva. Sau đó người ta gạt Redens khỏi Kreml, nơi sống, và nói chung là vứt bỏ.
Năm 1953, khi gạt bỏ Beria, BCHTƯ ĐCSLX đã nhận một bức thư từ một người Gruzia từng bị kết tội. Trong một bức thư dầy, ông kể bao nhiêu người ở Gruzia là nạn nhân của Beria do các vụ thanh trừng. Nhưng điều này, tất nhiên, chỉ có thể xảy ra sau khi Beria bị bắt. Nhưng trước đây chắc chắn người ta đã giữ một bức thư như thế. Cuộc chiến tranh vệ quốc đã làm tăng ảnh hưởng của Beria. Khi đó Beria có uy lực lớn. Stalin lơ là kiểm tra Beria, đặc biệt những tháng nặng nề chúng tôi rút lui trên mặt trận. Beria dần dần trở thành cán bộ Đảng đáng gờm. Ông ảnh hưởng cả đến những người quanh Stalin. Ở đó đội ngũ phục vụ bị thay. Trước đó ở chỗ Stalin làm việc chủ yếu là người Nga. Những người bồi bàn vẫn là những người Nga nhưng cũng xuất hiện cả người Gruzia. Mỡ nó rán nó, Beria thậm chí trở thành tướng như thế, và mỗi lần đến Tổng hành dinh, tôi thấy ông đeo những cuống huân chương và với cái băng - chứng thực phần thưởng kỹ năng nướng thịt. Có lần Stalin nhận xét để tôi xem xét các cuống huân chương trên ngực vị tướng mới xuất hiện, nhưng tôi không nói gì cả, và tôi cũng im lặng.
Sau chiến tranh – khỏi phải nói! Beria trở thành uỷ viên Bộ chính trị. Cả Malenkov cũng thu vén quyền lực, mặc dù tình thế của ông thay đổi cách chu kỳ cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh - Có lần Stalin thậm chí đầy ông về Trung Á. Lúc ấy, Beria cũng thò tay giúp đỡ ông, và sau đó họ thành những người bạn không rời nhau nửa bước. Stalin tại bàn ăn không hiếm khi gọi đùa họ là hai tên lừa đảo, nhưng không phải giọng thoá mạ, mà tựa như hữu nghị. Ở đây, người ta nói là, đây là hai con bài trùng lừa đảo. Lúc ấy không có Beria đúng là không giải quyết được việc gì cả. Thậm chí gần như không thể trình nổi một cái gì cho Stalin, nếu Beria không ủng hộ. Đằng nào cũng thế, Beria, nếu anh báo cáo khi có mặt ông, nhất định những việc của anh xoay quanh bởi đủ loại vấn đề và phản vấn đề, và mất uy tín trong con mắt của Stalin và sự sụp đổ.
Thời kỳ này Beria không trọng và coi thường Malenkov, chỉ theo đuổi đánh bạn với ông vì mục đích riêng. Beria bản thân có lần nói với tôi:
- Hãy nghe đây, Malenkov - một người nhu nhược. Nói chung một con dê, có thể đột ngột nhảy phốc ra, nếu không giữ nó. Vì thế tôi giữ ông ta và ủng hộ, đi với ông. Dù sao ông cũng là người Nga và có văn hoá, có thể có hữu ích khi cần.
“Có hữu ích” là điều chủ yếu ở Beria. Tôi, Malenkov và Bulganin làm bạn với nhau khi công tác Đảng ở Moskva. Chúng tôi khi đó thường cùng nhau trong những ngày nghỉ, sống cùng nhau ở nhà nghỉ cuối tuần. Vì thế, dù Malenkov thể hiện sự trơ trẽn nhỏ mọi nào đấy đối với tôi trong thời gian chiến tranh, đặc biệt khi Stalin tỏ ra không hài lòng với tôi, tôi không phá vỡ mối quan hệ với ông.
Việc Stalin không hài lòng tôi xảy ra trong thời kỳ rút lui: bỏ Ukraina? Ông tìm người có lỗi, người sẽ phải chịu tôi vì thất bại. Tất nhiên tôi là người đầu tiên cần phải trả lời, vì lúc ấy tôi là bí thư BCHTƯ ĐCS Ukraina. Mặc dù tổng tư lệnh là Stalin, nhưng ông tựa như không chịu trách nhiệm gì cả, mà chỉ những cấp dưới. Cả Malenkov cũng tốn tránh trách nhiệm. Vả lại, tôi không buộc lỗi Malenkov. Sau chiến tranh, có lần tôi đến Sochi gặp Stalin theo lời mời của ông (tôi - từ Ukraina, Malenkov và những người khác - từ Moskva) để xem xét những vấn đề nào đấy, sau đó đi dạo, tôi đi với Malenkov và nói với ông:
- Tôi ngạc nhiên, chẳng lẽ anh không nhìn thấy, và không hiểu, Beria đối xử với anh như thế nào?
Malenkov im lặng.
- Anh nghĩ đi - tôi tiếp tục - ông tôn trọng anh cái gì? Theo tôi, ông nhạo báng anh đấy.
Cuối cùng Malenkov trả lời:
- Đúng, tôi thấy, nhưng tôi có thể đành chịu?
- Tôi đơn giản muốn để anh thấy và hiểu. Nhưng chắc là bây giờ anh có thể phải chịu thôi.
Tiếp theo, tôi có những lo sợ nhất định. Đến lúc mà Stalin chết, thời điểm đó, đất nước có thể rơi vào tình thế nặng nề - không có lãnh tụ. Tôi sợ ông chết. Và còn sợ hơn nữa về hậu quả: sau này có còn Liên Xô nữa không?
Những năm ấy, dù tôi từ lâu nghi ngờ tính xác đáng của những lời buộc tội “kẻ thù nhân dân”, nói chung tôi chưa phát sinh không tin vào Stalin. Tôi cho rằng việc xảy ra là thái quá, tuy nhiên chủ yếu vẫn là đúng. Thậm chí tôi suy tôn vì rằng Stalin ông không sợ phiền toái, vẫn tiến hành thanh trừng và chính là đoàn kết, gắn chặt những người thiện. Tuy nhiên đầu thập niên 50 tôi cũng suy nghĩ khi Stalin chết cần làm tất cả để không để cho Beria chiếm thế thượng phải trong Đảng. Nếu không như thế, - Đảng kết liễu! Tôi cho rằng có thể bị mất tất cả thành quả, sự xâm chiếm cách mạng, bởi vì Beria quay sự phát triển từ chủ nghĩa xã hội sang con đường chủ nghĩa tư bản. Ý nghĩ của tôi là như thế.
Một lần, khi tôi đang ở Lvov, Stalin gọi tôi cấp tốc về Moskva. Đó là những tháng cuối năm 1949. Tôi đi và không biết cái gì đang chờ tôi. Có thể có phần thưởng bất ngờ. Bầu không khí khi đó là như thế. Tôi đi và không biết, tại sao lại đi, đi đâu và có quay lại được không. Bulganin biểu hiện những chịu đựng giống tôi, có lần sau bữa ăn ở Stalin, Bulganin nói với tôi:
- Ừ anh đến chỗ Stalin ăn cơm tựa như một người bạn, mà anh không biết liệu mình có trở về nhà hoặc người ta dắt anh đi chỗ khác.
Ông nói điều này với mức độ khá nặng. Nhưng chính lại tỉnh táo trong đầu... Bulganin phản ánh ý nghĩ của người người, nếu không phải tất cả chúng tôi. Có bầu không khí chung không tin tưởng vào ngày mai. Thế là tôi về Moskva. Stalin nói:
- Ông ngồi tương đối lâu tại Ukraina rồi đấy. Ông đã làm việc ở đó nhiều năm.
- Đúng, cũng nhiều năm. Thời gian đã trôi qua với tôi ở đó, mặc dù mối quan hệ với tôi ở đó rất tốt, và tôi cám ơn tất cả mọi người xung quanh tôi và giúp đỡ tôi trong công tác tại Ukraina.
- Chúng tôi muốn đưa ông về Moskva. Có bất ổn ở Leningad, có những mưu phản ở đó. Moskva cũng không yên, và chúng tôi muốn ông lại lãnh đạo Đảng bộ Moskva. Để Đảng bộ Moskva làm chỗ dựa cho BCHTƯ.
Tôi nói với ông:
- Nếu ông tin, thì tôi sẽ hết sức mình làm tất cả việc đó, và tôi thích quay về Moskva với tư cách Bí thư Thành uỷ Moskva.
- Đúng, không những thế, ở đây ông sẽ còn là bí thư BCHTƯ.
Cuộc nói chuyện này vừa vặn trước lễ 70 tuổi của Stalin. Và ông nói thêm:
- Ông nhớ về trước sinh nhật của tôi.
Tôi cũng đến vào những ngày của tháng mười hai. Trao lại công việc tại Ukraina, tôi quay về Moskva. Lúc ấy tôi được chọn làm bí thư Đảng uỷ Moskva, tôi bắt đầu làm việc mới. Tôi nhanh chóng nhìn thấy, rằng chuyến quay về Moskva của tôi đi ngược với đề nghị của Beria và Malenkov. Tôi khi đó có ấn tượng rằng Stalin (ông không nói với tôi điều này), gọi tôi về Moskva, muốn gây ảnh hưởng đến bố trí lực lượng tại thủ đô và giảm bớt vai trò Beria và Malenkov. Thậm chí đôi lúc tôi cảm thấy rằng bản thân Stalin cũng sợ Beria, vui sướng được được cứu thoát khỏi hắn, nhưng không biết làm thế này cho tốt hơn. Việc chuyển tôi về Moskva có lẽ là tương phản chúng tôi trói tay Beria. Stalin, như tôi cảm nhận, đối xử tốt với tôi và tin tôi. Mặc dù ông thường phê bình tôi, nhưng sau đó cũng ủng hộ, và tôi đánh giá điều này.
Cái chết của Stalin
Tháng hai 1953 Stalin đột ngột ốm. Việc này xảy ra như thế nào? Tất cả chúng tôi ở cạnh ông vào thứ bẩy. Việc này xảy ra sau Đại hội 19, khi Stalin còn “treo” số phận Mikoian và Molotov. Tại Plenum đầu tiên sau Đại hội, ông đề nghị thay thế Bộ chính trị, bằng Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng gồm 25 người và điểm tên nhiều người mới. Tôi và nhiều uỷ viên Bộ chính trị rất ngạc nhiên, cái danh sách ấy được lập ra như thế nào và ai lập? Chính Stalin cũng không biết những người đang giúp ông. Đến bây giờ tôi không biết thực chất. Hỏi Malenkov, ông trả lời rằng bản thân ông không biết. Theo tình thế ấy, Malenkov lẽ ra phải tham gia vào việc cải cách Đoàn chủ tịch, chọn người và lên danh sách, nhưng lại không được làm. Có thể tự tay Stalin làm? Theo một số dấu hiệu, tôi giả thiết rằng Kaganovich giúp Stalin chọn cán bộ mới. Bên trong Đoàn chủ tịch, có một Văn phòng hẹp hoạt động. Đoàn chủ tịch thực tế cũng không tập hợp các vấn đề, mà tất cả các vấn đề lại do Văn phòng này giải quyết. Đây là Stalin nghĩ ra một công thức hoàn toàn không có trong điều lệ: không có Văn phòng nào như thế tìm thấy trong Điều lệ Đảng.
Stalin xây dựng Văn phòng Đoàn chủ tịch để làm gì? Hình như Stalin muốn lập tức tống cổ Molotov và Mikoian, và ông làm một Đoàn chủ tịch mở rộng, còn sau đó chọn vào Văn phòng một số nhân vật. Như ông nói, là để lãnh đạo linh hoạt. Và trong Đoàn Chủ tịch Văn phòng này không có Molotov, không có Mikoian, nghĩa là “treo” họ. Tôi tin rằng giá như Stalin sống lâu thêm một thời gian nữa, cuộc đời của cả hai Molotov và Mikoian sẽ kết thúc một cách thê thảm. Nói chung, ngay lập tức sau Đại hội Đảng 19, Stalin tiến hành chính sách cô lập Molotov và Mikoian, không mời họ đi đâu cả, không đến nhà nghỉ, không đến nhà riêng, không đến xem phim mà chúng tôi trước đó thường đi cùng với nhau.
Nhưng Vorosilov được bầu vào Văn phòng Đoàn chủ tịch. Khá thú vị, có lần chúng tôi ngồi ở chỗ Stalin vì một bản án kéo dài đã lâu, bỗng nhiên ông nói:
- Vorosilov chui vào Văn phòng như thế nào?
Chúng tôi không nhìn vào ông, mắt đang cụp xuống. Thứ nhất, vì câu nói “chui vào”? Sao mà Vorosilov có thể “chui vào”? Sau đó chúng tôi nói:
- Chính ông bổ nhiệm Vorosilov, và ông là được bầu.
Stalin không phát triển chủ đề này thêm nữa. Tuy nhiên tuyên bố của ông cũng hiểu được, vì Vorosilov trước Đại hội 19, chưa lôi cuốn vào công tác như một uỷ viên Bộ chính trị: ông không tham gia các phiên họp, không nhận tài liệu. Stalin nói với chúng tôi trong vòng hẹp rằng ông nghi Vorosilov là điệp viên Anh. Không tưởng tượng được, tất nhiên, sự ngu ngốc này. Nhưng ông có lần “nghi ngờ” Molotov. Tôi có mặt nhà nghỉ cuối tuần ở Stalin tại Novo Afon. Và bỗng nhiên trong đầu ông lởn vởn ý nghĩ rằng Molotov là điệp viên của đế quốc Mỹ, bán mình cho Mỹ, vì rằng năm 1945 sang Mỹ bàn về Liên Hiệp Quốc đi trên toa xe hoả đặc biệt sang trọng. Nghĩa là, có toa riêng, như thế là bị bán rồi! Chúng tôi giải thích là Molotov không thể nào có một toa xe riêng nào cả, ở Mỹ các toa xe thuộc về các hãng xe lửa tư nhân. Đấy, đầu óc mụ mị của Stalin trong những tháng cuối cùng của cuộc đời.
Và có lần vào thứ bẩy ông gọi chúng tôi vào Kreml. Ông đích thân mời tôi, Malenkov, Beria và Bulganin. Chúng tôi đến. Ông nói:
- Chúng ta xem phim.
Chúng tôi xem. Sau đó ông lại nói:
- Đi thôi, chúng ta sẽ ăn ở một nhà nghỉ gần.
Chúng tôi đén đó, ăn tối. Bữa ăn kéo dài. Stalin gọi những bữa ăn tối như thế, một bữa ăn rất muộn là “bữa trưa”. Chúng tôi ăn xong, có lẽ, 5 hoặc 6 giờ sáng. Thời gian bình thường, khi kết thúc “bữa trưa”.
Stalin rất vui vẻ, có mối thiện cảm rất tốt về tinh thần. Không ai chứng minh rằng có thể xảy ra một điều bất ngờ gì đó. Chúng tôi từ giã và ra về.
Chúng tôi ra chỗ treo áo, Stalin, như thường lệ, đi đến chỗ chúng tôi. Ông hay đùa, giơ tay, những ngón tay thọc vào bụng tôi, gọi Mikita. Khi nào ông có mối thiện cảm tốt về tinh thần, ông luôn luôn gọi tôi theo tiếng Ukraina là Mikita. Chúng tôi cũng ra về trong tâm trạng tốt, vì rằng không xảy ra cái gì xấu trong bữa ăn, mà không phải bữa ăn nào cũng được kết thúc tốt đẹp như thế này. Chúng tôi ai nấy về nhà. Tôi chờ đợi, vì sáng mai là ngày nghỉ, Stalin nhất định gọi chúng tôi, vì thế cả ngày tôi không dám ăn, nghĩ có thể là ông lại mời sớm hơn? Sau đó tôi ăn qua loa. Không và vẫn không có chuông! Tôi không tin là ngày nghỉ có thể uổng phí thế này, điều gần như ít xảy ra. Nhưng không! Cũng đã muộn, tôi cởi quần áo, chui lên giường.
Malenkov bỗng nhiên gọi tôi:
- Một thằng nhóc ở chỗ Stalin (ông nói tên), nhân viên Cheka, vừa gọi đến cho tôi và họ băn khoăn nói rằng dường như một điều gì đó xảy ra với Stalin. Phải nhanh chóng đến đó. Tôi gọi cho anh và đã báo cho Beria và Bulganin. Đến thẳng đó nhé.
Lúc ấy, tôi cho gọi xe. Xe của tôi đang ở nhà nghỉ cuối tuần. Tôi mặc nhanh quần áo, đi ngay đến đó, mất chừng 15 phút. Chúng tôi đã quy ước với nhau là không đi vào chỗ Stalin, mà đến trực ban. Chúng tôi rẽ vào, hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Họ trả lời:
- Bình thường đồng chí Stalin vào thời gian 11 giờ, nhất định gọi mang trà cho ông. Có lúc thì ông đòi món ăn. Bây giờ không thấy điều này.
Chúng tôi cử đi bà Matrena Petrovna người đi thám thính, bà ta là người hầu phòng, một phụ nữ không còn trẻ và nhiều năm phục vụ ở chỗ Stalin, ít hiểu biết, nhưng là một phụ nữ trung thành với ông.
Nhân viên Cheka nói với chúng tôi rằng họ cũng đã cử bà đến đó xem tình thình ra sao. Bà kể là đồng chí Stalin nằm ở trên sàn, ngủ, còn dưới ông có nước. Nhân viên Cheka đỡ ông dậy, đặt ông lên đi văng ở phòng làm việc nhỏ. Ở ấy có một phòng làm việc nhỏ và một phòng làm việc lớn. Stalin nằm ở sàn phòng làm việc lớn. Tiếp theo họ đặt ông lên giường, đi qua phòng làm việc, nơi ông trượt ngã bị ướt. Khi đó họ kể cho chúng tôi cũng có lần xảy ra như thế như thế và bây giờ ông dường như đang ngủ, chúng tôi cho rằng không có lợi chúng tôi xuất hiện ở chỗ ông và ghi lại sự có mặt của mình, nhìn thấy ông ở đó trong tình thế không đẹp như thế này. Chúng tôi trở về nhà.
Một lúc sau, tôi lại nghe chuông. Một lần nữa, Malenkov gọi:
- Thằng nhóc ở chỗ đồng chí Stalin lại gọi điện nói rằng một điều gì đó với ông không phải như thế. Mặc dù Matrena Petrovna cũng nói rằng ông ngủ ngon, nhưng đây là một giấc ngủ không bình thường. Phải đến đó một lần nữa đi.
Chúng tôi thoả thuận rằng Malenkov gọi tất cả các uỷ viên Văn phòng, kể cả Vorosilov và Kaganovich là những người không có mặt trong bữa ăn và không có đến đến nhà nghỉ lần đầu. chúng tôi cũng thoả thuận gọi cả bác sỹ. Chúng tôi đến chỗ trực ban. Có mặt Kaganovich, Vorosilov, bác sỹ. Trong số bác sỹ, tôi nhớ tên giáo sư tim mạch nổi tiếng Lukomski. Nhưng cùng với ông còn có cả những nhân viên y tế mà tôi không nhớ tên. Chúng tôi vào phòng. Stalin nằm trên đi văng. Chúng tôi nói với bác sỹ để họ bắt đầu công việc của mình và kiểm traл tình trạng đồng chí Stalin. Người đầu tiên là Lukomski, rất cẩn thận, và tôi hiểu ông. Ông sờ vào tay Stalin, như là sờ cục sắt nóng, thậm chí tay giật giật. Beria thô lỗ nói:
- Ông là bác sỹ, phải biết làm chứ?
Lukomski tuyên bố rằng tay phải Stalin không hoạt động, tê liệt chân trái, và không nói được. Tình huống thật nặng nề. Lúc ấy người ta lập tức rạch quần áo Stalin, mặc quần áo mới và đặt ông lên đi văng ở phòng lớn, nơi ông thường ngủ và có nhiều không khí hơn. Lúc đó chúng tôi quyết định đặt trực ban bác sỹ bên cạnh với ông. Chúng tôi, các uỷ viên Văn phòng Đoàn chủ tịch, cũng phải thường xuyên trực. Sắp xếp như thế này: Beria và Malenkov hai người trực, Kaganovich và Vorosilov, tôi và Bulganin. Nhưng “chủ lực” là Malenkov và Beria. Họ họ trực sáng, chúng tôi với Bulganin trực đêm. Tôi rất lo lắng và, thú nhận rằng tôi tiếc là có thể mất Stalin, người đang nằm trạng thái nguy kịch. Bác sỹ nói rằng mắc chứng bệnh như thế này hầu như không ai có thể quay lại làm việc. Người ta có thể còn sống nhưng không còn khả năng làm việc, có lẽ phần nhiều những căn bệnh như thế này không tiếp tục, mà kết thúc bằng thảm hoạ.
Chúng tôi thấy rằng Stalin nằm bất tỉnh: không biết ông ở trạng thái nào. Người ta cho ông ăn bằng từng thìa nước dùng và trà đường. Các bác sỹ đứng ở đó. Họ lấy nước tiểu của ông, ông vẫn nằm bất động. Tôi nhận xét rằng khi hút nước tiểu ông cố gắng như được che chở, cảm giác không lanh lợi. Nghĩa là, có biết một điều gì đó. Một hôm Stalin hơi tỉnh. Nét mặt ông thể hiện rõ điều này. Nhưng ông không thể nói, cất tay trái và bắt đầu chỉ lên trần, rằng chỉ xuống đất, chỉ vào tường. Môi ông mấp máy tựa như cười. Sau đó bắt đầu nắm tay chúng tôi. Tôi chìa tay mình cho ông và ông chìa tay trái, tay phải không cử động. Bằng việc nắm tay, ông truyền cảm giác của mình. Lúc đó tôi nói:
- Ông biết, vì sao ông chìa tay cho chúng tôi? Trên tường treo một bức tranh, được cắt từ tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”, in lại bức tranh của hoạ sỹ này. Trong bức tranh có một cô gái đang cho thiên thần nhỏ bú một chai sữa. Nhưng chúng tôi cho đồng chí của Stalin ăn bằng thìa, và ông, có lẽ chỉ ngón tay lên bức tranh, mỉm cười: này, hãy xem, tôi trong trạng thái này cũng giống như những thiên thần nhỏ.
Ngay khi Stalin trút hơi thở cuối cùng, Beria công nhiên sùng sục những hành động độc ác chống Stalin. Beria chửi rủa ông, và nhạo báng ông. Đơn giản là không thể nghe ông được! Cũng hay, vả lại, ngay lúc Stalin có được cảm giác và hiểu có thể khỏi bệnh, Beria sán lại ông, đặt tay lên đầu gối, lắc tay ông và bắt đầu hôn tay ông. Khi Stalin lại hôn mê và nhắm mắt, Beria cất bước và nhỏ ra sàn. Chân dung của Beria đấy! Quỷ quyệt thậm chí trong quan hệ với Stalin, người mà Beria từng như tán tụng và sùng bái.
Đến phiên trực của tôi với Bulganin. Chúng tôi vào ban ngày cùng với ông đến chỗ Stalin, khi có các giáo sư, và chúng tôi trực đêm. Tôi với Bulganin khi đó là khá cởi mở hơn so với những người khác, tôi tin ý nghĩ cởi mở nhất của ông và nói:
- Nicolai Aleksandrоvich, thấy chưa, bây giờ chúng ta ở trong tình thế là Stalin chẳng bao lâu sẽ chết. Ông chắc là không qua được đâu. Và bác sỹ nói rằng ông không thể sống được đâu. Anh biết, Beria nhắm chức vụ nào cho mình?
- Chức nào?
- Hắn sẽ lấy chức Bộ trưởng an ninh quốc gia (lúc ấy Bộ an ninh quốc gia và nội vụ đã tách ra). Chúng ta không thể còn cách nào thông qua việc này. Nếu Beria nhận Bộ an ninh quốc gia - điều này sẽ là bắt đầu sự kết thúc của chúng ta. Hắn sẽ lấy chức vụ này để tiêu diệt tất cả chúng ta. Và hắn sẽ làm điều này!
Bulganin đồng ý với tôi. Và chúng tôi bàn bạc sẽ hành động như thế nào. Tôi nói với ông:
- Tôi sẽ nói chuyện với Malenkov. Tôi nghĩ rằng Malenkov cũng có ý nghĩ, ông cần phải hiểu phải một điều gì đó làm, nếu khác đi sẽ là thảm hoạ đối với Đảng.
Vấn đề này đụng chạm không những đối với chúng ta, mà còn tất cả đất nước, mặc dù và tất nhiên chúng ta không muốn rơi vào lưỡi dao của Beria. Sẽ quay lại thời kỳ 1937-1938, có thể thậm chí tệ hơn. Tôi còn một ngờ vực: tôi không coi Beria là một người cộng sản và nghĩ rằng hắn đơn giản chui qua vao Đảng. У tôi lờ mờ nhận ra lời của Kaminski rằng hắn là điệp viên nước khác, đây là con sói đội lốt cừu, tạo tín nhiệm với Stalin và chiến chức vụ cao. Chính Stalin cũng kéo hắn. Tôi cảm thấy rằng có ngày chính Stalin lại sợ Beria.
Có một sự cố đụng đến tôi theo ý nghĩ tương tự, tôi muốn kể hết về nó. Có lần chúng tôi ngồi ở Stalin. Bỗng nhiên ông nhìn vào Beria và nói:
- Tại sao bây giờ tôi những người quanh hoàn toàn người Gruzia? Tại sao lại như vậy?
Beria nói:
- Đây là những người trung thành và được ông tin.
- Nhưng cớ gì, đây là những người Gruzia được tin và trung thành? Chả lẽ người Nga không trung thành và không được tin cậy sao? Dẹp đi!
Và thời điểm ấy người ta bỏ đi những người này. Beria có khả năng qua tay chân của mình làm với Stalin những gì mà hắn đã tiến hành với người khác theo chỉ thị của Stalin: tiêu diệt đầu độc và v.v... Vì thế Stalin, có lẽ (lập luận thay cho ông) cho rằng Beria có khả năng làm những điều như thế với ông. Nghĩa là, phải dẹp đám người hầu cận, qua đó Beria có thể thâm nhập vào buồng ngủ và nhà bếp.
Nhưng vì tuổi tác đã già, Stalin không hiểu Dân uỷ an ninh quốc gia khi đó là Abakumov báo cáo ông mọi vấn đề sau khi Abakumov trình Beria và nhận những chỉ dẫn nói như thế nào cho Stalin. Stalin nghĩ rằng Abakumov sắp xếp những người mới và Abakumov làm điều này để Stalin sai bảo. Theo mặt này thì “vụ án mingrel” bị xổ tung.
Khi đó Stalin áp đặt quyết định (và nó được được công bố), rằng những người mingrel liên quan với Thổ nhĩ Kỳ trong số họ có những nhân vật nhắm hướng Thổ Nhĩ Kỳ. Tất nhiên chuyện vớ vẩn! Tôi cho rằng có xảy ra một hành động của Stalin nhằm chống Beria, vì rằng Beria - là minggrel. Như thế, Stalin cũng chuẩn bị đòn chống Beria. Lúc đó nhiều người bị bắt, nhưng Beria khôn khéo quay lại: chui vào “con dao của Stalin” và Beria bắt đầu trấn áp những người mingrel. Những người nghèo tội nghiệp. Người ta lôi họ lên đoạn đầu đài như lôi những con cừu.
Có những sự thật chứng minh sự phản bội của Beria, về sự không tin cậy của Stalin đối với Beria. Như vậy, tôi đã nói tất cả với Bulganin, kết thúc buổi trực, và tôi về nhà.
Muốn ngủ bù, vì rằng lâu không ngủ tại phiên trực. Bị mất ngủ và đau chân. Chỉ có chân chân đau, nhưng không ngủ được, nghe chuông. Malenkov nói:
- Đến ngay, Stalin xấu đi rồi. Đi ngay thôi!
Tôi gọi xe. Quả là, Stalin ở trong trạng thái xấu. Những người khác lục tục kéo đến. Mọi người thấy rằng Stalin đang chết. Các bác sỹ nói với chúng tôi rằng ông bắt đầu hấp hối. Ông ngừng thở. Làm thở nhân tạo cho ông. Xuất hiện một người đàn ông to cao, bắt đầu nén bóp ngực ông, thực hiện thao tác để giúp ông thở. Tôi thú thực rằng toi rất thương Stalin, anh ta làm ông đau. Và tôi nói:
- Nghe đây, thôi đi. Người ta chết rồi. Anh còn muốn cái gì nữa? Không thể làm ông sống lại được.
Stalin chết, nhưng chính là đau lòng nhìn người ta làm đau ông. Hô hấp nhân tạo ngừng lại.
Ngay khi Stalin chết, Beria ngay lập tức vào xe của mình từ “nhà nghỉ gần” và chạy vụt về Moskva.
Chúng tôi quyết định gọi đến đây tất cả các uỷ viên Văn phòng hoặc, nếu được, tất cả các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng. Chính xác tôi không nhớ. Trong lúc họ chưa đến, Malenkov đi đi lại lại trong phòng, vẻ, lo lắng. Tôi quyết định nói chuyện với ông:
- Egor, tôi nói - tôi phải nói chuyện với anh.
- Về cái gì? - Malenkov lạnh lùng hỏi lại.
- Stalin chết. Chúng ta sẽ sống tiếp như thế nào?
- Nói gì bây giờ? Triệu tập mọi người lại, chúng tôi sẽ nói. Để làm điều này, chúng ta triệu tập nhau lại.
Dường như đây là câu trả lời phô diễn. Nhưng tôi hiểu theo nghĩa khác, hiểu rằng mọi vấn đề đã được Malenkov với Beria dự kiến, và đã được thảo luận từ lâu.
- Thôi được - tôi trả lời - sau này chúng ta sẽ nói chuyện.
Mọi người tụ hợp. Họ cũng nhìn thấy Stalin đã chết. Cả Svetlana cũng đến. Tôi gặp cô. Khi gặp, cô rất bồn chồn và khóc, không thể thể kìm được. Tôi thật sự thương Stalin, các con của ông, từ đáy lòng tôi than khóc cái chết của ông, lo lắng cho tương lai đất nước, cho Đảng. Cảm thấy rằng bây giờ Beria bắt đầu chỉ huy tất cả mọi người. Tiếp tục bắt đầu cái vòng được chuẩn bị bởi những tên đao phủ, những tên sát nhân này. Và có sự phân bố “ghế”.
Beria đề nghị bổ nhiệm Malenkov làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, và Malenkov thôi chức vụ Bí thư BCHTƯ Đảng. Malenkov đề nghị chuẩn y phó thứ nhất của mình là Beria và chia đôi hai Bộ, thành Bộ an ninh quốc gia và Bộ nội vụ, trong Bộ nội vụ, Beria bổ nhiệm Bộ trưởng. Tôi im lặng. Bulganin cũng inm lặng. Lúc ấy tôi sợ rằng Bulganin nhảy ra không đúng lúc, vì rằng không được lộ diện sớm quá. Tôi cũng thấy tâm trạng của những người còn lại. Nếu như tôi và Bulganin nói rằng chúng tôi chống, thì bằng đa số phiếu họ sẽ buộc tội chúng tôi là người phá hoại tổ chức, là khi xác Stalin chưa nguội mà chúng tôi đấu đá giành chức vụ. Vâng, tất cả xảy ra theo hướng này hướng, như tôi nghĩ trước.
Molotov cũng bổ nhiệm phó thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Kaganovich - là phó. Vorosilov đề nghị bầu Chủ tịch Đoàn chủ tịch xô viết tối cao Liên Xô, cách chức Svernik. Beria thể hiện rất láo xược với Svernik: nói rằng dân trong nước nói chung không ai biết ông. Tôi thấy lộ diện chi tiết kế hoạch của Beria, biến Vorosilov thành người soạn thảo các quyết định mà Beria làm, khi cối xay thịt của hắn bắt đầu làm việc. Beria đề nghị tôi thôi chức Bí thư Thành uỷ Moskva để tôi tập trung những hoạt động của mình vào công tác BCHTƯ Đảng. Chúng tôi tiến hành cả những bổ nhiệm khác. Đưa ra nghi lễ chôn cất và nghi thức thông báo nhân dân về cái chết của Stalin. Như thế chúng tôi, những người thừa kế của Stalin khởi đầu hoạt động độc lập của mình điều khiển Liên Xô.
Có một thoả thuận: hai người lập chương trình nghị sự phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ - Malenkov và Khrusevу. Malenkov chủ toạ phiên họp, nhưng tôi chỉ nhận tham gia lập chương trình nghị sự. Beria vơ lấy nhiều quyền lực, sự trơ trẽn của ông tăng lên. Lúc đó xảy ra va chạm đầu tiên của các uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ với Beria và Malenkov. Đoàn chủ tịch, về thành phần bị thay đổi. Chúng tôi quay trở lại nhóm hẹp các uỷ viên, còn Văn phòng do Stalin lập ra tại Plenum sau Đại hội 19, chúng tôi huỷ bỏ.
Beria và Malenkov đề nghị bãi bỏ một nghị quyết từ thời Stalinе về xây dựng CNXH ở CHDC Đức. Họ đọc tài liệu cần thiết, nhưng không đưa cho nó vào tay chúng tôi, mặc dù ở Beria có văn bản viết. Beria đọc nó nhân danh bản thân và Malenkov. Molotov phát biểu đầu tiên. Ông kiên quyết chống lại đề nghị đó và lập luận rất hay tại sao ông phản đối. Tôi mừng là Molotov phát biểu dũng cảm và có căn cứ. Ông nói rằng chúng tôi không thể làm việc này; rằng đây là một sự bỏ vị trí; rằng từ bỏ xây dựng CNXH ở CHDC Đức - nghĩa là làm mất phương hướng sức mạnh của Đảng ở phương Đông và không những ở Đông Đức, mà còn thủ tiêu triển vọng, rằng đây là đầu hàng trước người Mỹ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với Molotov và ngay lập tức cũng phát biểu, ủng hộ Molotov. Sau tôi nói với Bulganin đang ngồi bên cạnh tôi. Sau đó các uỷ viên còn lại của Đoàn chủ tịch phát biểu. Và Pervukhin, và Saburov, và Kaganovich phát biểu chống đề nghị của Beria - Malenkov đối với CHDC Đức. Lúc đó Beria với Malenkov rút tài liệu của mình. Chúng tôi thậm chí bỏ phiếu và không chép vào biên bản kết quả thảo luận. Tựa như vấn đề chưa hề có. Lúc ấy là mánh khoé, thủ đoạn.
Chúng tôi ra về sau phiên họp, nhưng về mặt tinh thần vẫn nóng bỏng. Làm sao có thể đưa một đề nghị về vấn đề quan trọng như thế này? Tôi cho rằng đây là quan điểm chống cộng. Chúng tôi hiểu, tất nhiên, Beria sử dụng Malenkov, còn Malenkov, như con bê, theo đuôi với Beria trong việc này. Kết thúc phiên họp, bộ ba ra về từ phòng họp - Malenkov, Beria và tôi. Nhưng không tranh cãi gì cả. Ngay hôm đó tôi gặp Molotov, và ông nói với tôi:
- Tôi rất hài lòng, ông có quan điểm như vậy. Tôi, thừa nhận, tôi bất ngờ, vì rằng tôi thấy ông luôn luôn với bộ ba này và cho rằng ông cũng có cùng quan điểm thống nhất với Malenkov và Beria, tôi nghĩ rằng Khrusev, có lẽ, biết trước vấn đề này. Rõ ràng ông có quan điểm vững chắc, làm tôi rất hài lòng.
Và ông đề nghị tôi gọi ông là “anh”.
Phần mình, tôi nói rằng cũng hài lòng rằng Viacheslav Mikhailovich có quan điểm đúng như thế.
Một thời gian sau, Bulganin gọi cho tôi:
- Người ta vẫn chưa gọi điện cho anh à?
Tôi lập tức hiểu ý định của ông mà không cần giải thích thêm:
- Không, người ta đã không gọi điện. Cũng sẽ không gọi điện cho tôi.
- Còn tôi người ta cũng đã gọi.
- Và anh trả lời gì?
- Họ nói rằng tôi nghĩ thêm một lần nữa: liệu tôi có muốn giữ chức Bộ trưởng quốc phòng?
- Ai gọi điện cho anh?
- Ban đầu một người, sau đó người kia. Cả hai đã gọi.
- Không, họ không gọi tôi, vì họ biết rằng chuông của họ có thể làm hại họ.
Sau đó, từ phía Beria quan hệ với tôi vẻ bề ngoài tựa như không thay đổi. Nhưng tôi hiểu rằng đấy chỉ là mánh khoé của “dân châu Á”. Trong thuật ngữ này, chúng tôi sự đóng góp vào tư duy là con người nghĩ một đằng nói một nẻo “nói dzậy những không phải dzậy”. Tôi hiểu rằng Beria tiến hành chính sách hai mặt, chơi với tôi, làm tôi yên tâm, còn hắn chờ thời điểm sẽ trấn áp tôi trước tiên, khi có thời gian thích.
Tại phiên họp Beria đưa đề nghị như thế này:
- Bởi vì ở nhiều người bị kết án hoặc bị đi đày đã kết thúc thời hạn tù hoặc đi đày và họ cần được quay về nhơi họ cư trú trước đây, tôi đề nghị chấp nhận quyết định là không ai có quyền quay về nếu thiếu quyết định của Bộ trưởng Bộ nội vụ và phải sống trong khu vực, mà Bộ nội vụ nói trước.
Tôi nổi giận và phát biểu chống, nói:
- Tôi thẳng thừng phản đối, đây là sự chuyên quyền. Sự chuyên quyền trước đây từng hoành hành. Những người này bị bắt bởi An ninh quốc gia, tiến hành điều tra cũng là An ninh quốc gia và kết án cũng là An ninh quốc gia. “Bộ ba”, được xây dựng trong An ninh quốc gia, tạo ra cái gì mà họ muốn. Không điều tra viên, không công tố viên, không toà - chẳng có cái gì cả, đơn giản là tón người ta và giết. Giờ đây những người đã quá hạn bị trừng phạt thậm chí theo kết án của “bộ ba”, lại bị tước bỏ tất cả, vẫn còn là phạm nhân, và chỗ cư trú của họ lại do Bộ nội vụ đưa ra. Điều này là không được.
Những người khác ủng hộ tôi. Beria lại khôn khéo rút đề nghị của mình. Malenkov ghi biên bản, và vấn đề này, một lần nữa, không có trong biên bản.
Có những tín hiệu khá nghiêm trọng từ phía Beria. Sau đó Beria lại đưa ra một đề nghị có vẻ tự do: thay đổi những quyết định (thay số quyết định và thời gian), dự tính trước các vụ bắt bớ và kết án những người bị “bộ ba” bắt thời hạn đến 20 tù hoặc lưu đày. Beria đề nghị giảm thời hạn xuống dưới 10 năm. Tỏ ra là một đề nghị nhân hậu. Nhưng tôi hiểu đúng Beria và nói:
- Tôi thẳng thừng chống điều này, vì rằng phải xem xét lại tất cả hệ thống bắt bớ, toà và thực tế điều tra. Đấy là sự chuyên quyền. Nhưng vấn đề, khép tội 20 hoặc 10 năm tù, không có giá trị nào cả, vì rằng có thể ban đầu khép tội 10 năm, sau này thêm 10 năm nữa và lại thêm 10 năm nữa. Có những việc như thế. Chúng tôi có những tài liệu, nêu rõ các phương pháp tương tự đã được thi hành. Vì thế tôi thẳng thừng chống.
Và Beria lại rút đề nghị của mình.
Như thế tôi tích cực phát biểu chống Beria về hai vấn đề. Vấn đề đầu tiên là ủng hộ lời phát biểu Molotov, vấn đề thứ hai, những người khác ủng hộ tôi. Như thế, tôi không còn nghi ngờ, Beria bây giờ hiểu đúng về tôi và cũng hoạch định những “biện pháp” của mình, vì rằng ông không thể giảng hoà với ai cản đường ông. Điều kiện công việc xảy ra như thế. Sau đó Beria có một đề nghị, như nhử mồi? Có lần chúng tôi đi, dạo chơi, và Beria nói ý nghĩ của mình:
- Tất cả chúng ta đi dưới một bầu trời, như đã nói trong thời kỳ cũ, chúng tôi đang già đi, mọi thứ có thể xảy ra ở mỗi một người trong chúng ta, chúng ta còn có gia đình. Phải nghĩ về tuổi già, và về gia đình của mình. Tôi đề nghị xây dựng những nhà nghỉ cho quan chức mà những nhà nghỉ này được nhà nước chuyển thành sở hữu riêng cho những ai xây dựng chúng.
Tôi cũng chẳng ngạc nhiên cách suy nghĩ này. Nó hoàn toàn gắn liền với kiểu cách Beria. Và tôi tin tất cả điều này được nói nhằm mục đích khiêu khích. Nhưng Beria tiếp tục:
- Tôi đề nghị xây dựng những nhà nghỉ này không phải ở ngoại ô Moskva, mà là ở Sukhumi. Ái chà, thành phố này đẹp như thế nào!
Và Beria tả thành phố đẹp lạ lùng như thế nào.
- Nhưng tôi đề nghị xây dựng không phải ở ngoại ô Sukhumi. Tại sao cứ phải ra khỏi thành phố? Phải giải phóng một khoảnh đất rộng ở trung tâm thành phố, làm một công viên, trồng đào.
Và Beria bắt đầu bốc lên, nào là trồng ở đó loại đào gì, nho nào. Sau đó Beria tiếp tục phát triển ý nghĩ của mình.
Beria có tính toán kỹ càng: cán bộ nào cần, nhân viên nào cần. Ông ta đặt tất cả lên bàn chân trần và rộng lớn.
- Dự án và xây dựng do Bộ nội vụ tiến hành. Trước hết theo tôi, phải xây dựng cho Egor (nghĩa là cho Malenkov), sau đó là anh, Molotov, Vorosilov, và sau đó là những người khác.
Tôi im lặng nghe, chừng nào chưa phản đối. Sau đó tôi nói:
- Cần phải nghĩ đã.
Kết thúc cuộc nói chuyện, bộ ba đến nhà nghỉ. Hai người ngồi chung một xe. Đến gần chỗ rẽ vào đại lộ Rulevsk. Ở đó tôi với Malenkov phải đi tiếp tiếp sang trái, còn Beria - đi thẳng. Tôi ngồi với Malenkov trong một xe. Tôi nói với ông:
- Anh xem thế nào? Đây có phải là khiêu khích đơn thuần không.
- Vì sao mà anh dây vào những lời của ông ấy nhỉ?
- Tôi nhìn xuyên qua nó, đây là khiêu khích. Chẳng có lẽ có thể làm như thế? Bây giờ không phản đối được, cứ để ông ta chúi mũi vào chuyện này và nghĩ rằng, mưu đồ của ông không ai hiểu.
Và Beria bắt đầu thúc đẩy ý tưởng của mình. Cho người làm thiết kế. Khi thiết kế xong, mời chúng tôi xem thiết kế và đề nghị bắt đầu xây dựng. Báo cáo về vấn đề này là một kiến trúc sư nổi tiếng. Bây giờ đồng chí này là người chỉ huy xây dựng nhà máy điện nguyên tử. Tôi biết ông từ trước chiến tranh và ở các sự kiện trong chiến tranh. Beria coi ông là nhân vật gần gũi, hoặc ông làm việc ở chỗ Beria và thực hiện cái gì mà Beria nói. Sau cuộc gặp gỡ này, tôi nói Malenkov:
- Lấy đi. Beria có nhà nghỉ. Ông nói với chúng tôi là cho người ta xây dựng, nhưng ông ấy không xây dựng cho mình. Mà xây cho anh, và làm điều này để làm mất uy tín anh đấy.
- Không, không, anh nói gì thế!
Đối với tôi sự thật là Beria đề nghị xây dựng nhà nghỉ riêng dứt khoát ở Sukhumi. Trong đồ án có địa điểm được hoạch định, nơi nhà nghỉ của Malenkov sẽ được xây cất. Theo kế hoạch, thấy trước là việc đuổi một số lượng người dân ra khỏi chỗ họ đang sống ở đó. Bộ trưởng báo cáo cho chúng tôi rằng phải đuổi một lượng lớn dân và việc xây dựng như thế quả thật là một tai hoạ. Người ta nói đùa, ở đó bao nhiêu nhà riêng của họ, bao thế hệ sinh sống ở đó từ lâu, và bỗng nhiên lại đuổi họ đi?
Beria giải thích là đã được chọn để Malenkov từ nhà nghỉ của mình có thể nhìn thấy Biển Đen quan sát được Thổ Nhĩ Kỳ. Beria thậm chí đùa:
- Bờ Thổ Nhĩ Kỳ nằm ngang chân trời, rất đẹp.
Nhưng khi mọi người ra về và chúng tôi còn lại chỉ hai người với nhau, tôi nói với Malenkov:
- Chẳng lẽ anh không hiểu Beria muốn gì? Ông ấy muốn tàn sát, quẳng người ta đi, phá huỷ những tổ ấm của họ và xây dựng một cung điện ở đó cho anh. Tất cả sẽ có hàng rào vây quanh. Bắt đầu căm tức sôi sục trong thành phố. Mọi người sẽ chú ý rằng cái này xây cho ai? Và khi tất cả xong, anh đến đó, và mọi người nhìn thấy trong xe là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; tất cả những việc tàn phá, đuổi dân hoá ra được làm vì anh. Sự phẫn nộ xuất hiện không những chỉ ở Sukhumi, mà bó còn sang các nơi khác. Nhưng Beria cần điều này. Anh khi đó lại tự yêu cầu từ chức.
Malenkov lưỡng lự.
Beria cũng nói về nhà nghỉ với cả Molotov. Tôi không nghĩ rằng Molotov làm như thế, nhưng Molotov bỗng nhiên đồng ý. Ông nói rằng cứ xây cho ông nhưng không phải ở Kavkaz, mà ở ngoại ô Moskva. Tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ là Molotov nổi cáu và phản đối. Tôi không biết điều này xảy ra như thế nào.
Như vậy không ai tỏ ra tích cực chống, cỗ máy bắt đầu chạy. Thiết kế xong, Beria xem. Sau công việc, chúng tôi tới gặp Beria, và ông chỉ cho tôi bản thiết kế nhà nghỉ của tôi.
- Ôi, xin nghe nhé, căn nhà tốt làm sao, đẹp thế nào.
Tôi nói với ông:
- Đúng, tôi rất thích.
- Cứ cầm bản thiết kế về nhà.
Tôi mang bản thiết kế về nhà và, thú thực là không biết nhét nó vào đâu. Vợ tôi, Nina Petrovna, nói với tôi:
- Anh có cái gì đấy?
Tôi thú thực với bà. Vợ tôi nổi giận:
- Bậy bạ quá chừng!
Tôi không giải thích một điều gì cho Nina Petrovna và chỉ nói:
- Thôi mà, chúng ta xếp nó lại, nói chuyện sau.
Như vậy, vụ việc xoay vần. Beria đẩy mạnh xây dựng, nhưng trước khi ông bị bắt thực chất cũng chưa làm được gì cả. Khi ông bị bắt, chúng tôi lập tức bãi bỏ tất cả. Nhưng bản thiết kế nhà nghỉ, thời gian dài lăn đi lăn lại ở đâu đó trong nhà tôi. Lúc đó Beria tăng cường những hoạt động điên cuồng can thiệp vào sinh hoạt các tổ chức Đảng. Beria chế tạo tài liệu về tình hình công việc trong lãnh đạo Ukrainaе. Đòn đầu tiên mà ong nghĩ ra là quyết định giáng vào tổ chức Đảng Ukraina. Tôi nghĩ ông triển khai vụ này để lôi người của tôi. Ông chuẩn bị những tài liệu cần thiết thông qua Bộ nội vụ CHXHCN Ukraina và bắt đầu lôi kéo tỉnh trưởng công an trong việc chuẩn bị vụ việc. Tỉnh trưởng công an ở Lvov Strokach. Giờ đã chết. Đó là một người cộng sản chân chính và một quân nhân tốt. Trước chiến tranh ông là trung tá, tư lệnh biên phòng. Trong thời gian chiến tranh là tham mưu trưởng du kích Ukraina và luôn luôn báo cáo tôi về tình hình tại vùng lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng. Tôi thấy ông là người trung thực và đứng đắn. Sau chiến tranh ông được bổ nhiệm toàn quyền Bộ nội vụ tỉnh Lvov, nơi bọn chống đối hoạt động.
Sau này chúng tôi biết rằng khi đó Bộ trưởng Bộ nội vụ Ukraina yêu cầu cầu ông thu thập những tài liệu tư liệu bôi nhọ thanh danh các cán bộ Đảng, thì Strokach nói rằng đây không phải là việc của ông, mà là Bí thư tỉnh uỷ, cứ gọi đến đó. Lúc đó Beria gọi cho Strokach và nói rằng nếu ông cứ làm theo ý mình, thì sẽ bị biến thành bụi ở trại tập trung. Nhưng năm 1953, chúng tôi ban đầu chẳng biết một cái gì cả, mặc dù cảm thấy rằng đang có cuộc tấn công vào Đảng, bắt nói phải khuất phục Bộ nội vụ. Chúng tôi bàn cãi tại BCHTƯ ĐCSLX về bản danh sách của Beria về cán bộ lãnh đạo Ukraina. Do đó, thông qua quyết định cách chức Melnikov khỏi chức vụ Bí thư BCHTƯ ĐCS Ukraina, thay vào đó Kirichenko. Ý tưởng Beria là ở chỗ các cán bộ địa phương, dân tộc Ukraina dường như không đưa vào ban lãnh đạo, không điều động họ, và đề nghị đưa Korneychuk vào Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCS Ukraina. Việc này được làm tại Plenum. Sau khi Beria bị bắt, các đồng chí kể cho tôi nghe Plenum tiến hành ra sao. Korheychuk hiểu không đúng, vì sao những ứng cử viên của ông không được điều động, và bắt đầu đấu khẩu, nói lung tung có lợi cho Beria. Ông không sáng trí, vì Beria đã nói như thế.
Bản danh sách sau của Beria động đến những người Baltic, sau đó Belorussia. Và cũng cùng một hướngh. Bản đề nghị của Beria chẳng có gì không đúng. BCHTƯ ĐCSLX và chính Beria trước đó đã có lớp học điều động cán bộ dân tộc. Và chúng tôi quyết định rằng ở nước cộng hoà chức vụ Bí thư thứ nhất BCHTƯ phải là người địa phương, không phải là người Nga được cử từ Moskva. Nói chung Beria có xu hướng bài Nga. Ông tuyên truyền rằng tại nơi có nhiều người Nga thì phải phong tỏa họ. Tất cả mọi người cũng hiểu và bắt đầu đả kích không những người Nga, mà còn những cán bộ dân tộc không đấu tranh với “thế lực” Nga. Điều này xảy ra tại nhiều tổ chức Đảng nước cộng hoà tự trị.
Tôi nhiều lần nói với Malenkov:
- Chẳng lẽ anh không nhìn thất sự việc sẽ nhân rộng đi đâu à? Chúng ta đang đi đến thảm họa. Beria thu nhặt dao đâm chúng tôi.
Malenkov nói với tôi:
- Ừ, làm gì? Tôi nhìn thấy, nhưng làm sao tham gia?
Tôi nói với ông:
- Phải chống cự, mặc dù trong hình thức thế này: anh nhìn thấy các vấn đề mà Beria đưa ra, thường mang xu hướng chống đảng. Không được chấp nhận chúng, mà phản đối chúng.
- Anh muốn tôi còn lại một mình hay sao? Nhưng tôi không muốn.
- Tại sao anh nghĩ chỉ còn mình anh, nếu anh bắt đầu phản đối? Anh và tôi - cũng hai người. Bulganin, tôi tin, cũng nghĩ như vậy, vì rằng tôi đôi lần trao đổi với ông những suy nghĩ. Những người khác cũng cùng đi với chúng tôi, nếu chúng tôi phản đối lập luận, từ quan điểm. Bản thân anh không có khả năng nói được ai. Ngay khi Beria đưa đề nghị ra, anh nhanh chóng ủng hộ ông ta, tuyên bố: đúng, đây là đề nghị đúng, tôi “đồng ý”, ai “chống”? Và lập tức anh cho bỏ phiếu. Nhưng anh phải tạo khả năng cho người khác phát biểu, bằng cách ghìm mình, đừng nhảy vọt ra và anh thấy không phải một người nghĩ đâu. Tôi tin tưởng rằng nhiều người không đồng ý về hàng loạt vấn đề với Beria”.
Và tôi đề nghị:
- Chúng ta lập chương trình nghị sự. Đưa các vấn đề các gai góc mà theo quan điểm của chúng ta, Beria đưa ra là không đúng, và chúng ta bắt đầu phản đối ông ta. Tôi tin tưởng rằng chúng tôi huy động được cũng uỷ viên Đoàn chủ tịch, và không chấp nhận cách giải quyết của Beria.
Malenkov cuối cùng cũng phải đồng ý. Tôi, thề rằng, cũng ngạc nhiên và vui lòng. Chúng tôi cùng lập chương trình nghị sự các phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Bây giờ tôi không nhớ, khi đó các vấn đề đưa ra như thế nào, vì lâu quá rồi. Tại cuộc họp chúng tôi phát biểu lập luận “chống” về mọi vấn đề. Những người khác cũng ủng hộ chúng tôi, và ý đồ của Beria không được thông qua. Liền tù tì nhiều phiên họp. Ngay sau việc này, Malenkov tìm thấy niềm tin là, té ra, với Beria có thể đấu tranh hoàn toàn bằng phương pháp Đảng, Malenkov tỏ ra cũng có ảnh hưởng của mình giải quyết vấn đề và phủ quyết những đề nghị, mà theo quan điểm của chúng tôi, là có hại cho Đảng và đất nước.
Chúng tôi thấy rằng Beria bắt đầu đẩy mạnh các sự kiện. Ông cảm thấy mình đứng trên các uỷ viên Đoàn chủ tịch, lên mặt và thậm chí vẻ bề ngoài biểu thị sự lấn át của mình. Chúng tôi trải qua thời điểm rất tốt nghuy hiểm. Tôi cho rằng cần phải nhanh tay, và nói với Malenkov rằng cần phải nói chuyện với các uỷ viên Đoàn chủ tịch về lý do này. Hình như tại cuộc họp không thể làm thế được, mà phải mặt đối mặt nói chuyện với từng người một để hiểu ý nghĩ về những vấn đề cụ thể đối xử với Beria. Với Bulganin tôi đã nói vấn đề này từ trước đây và biết ý kiến của ông. Ông đứng ở trên cao trí và hiểu rõ sự nguy hiểm, đang đe dọa Đảng và tất cả chúng ta từ phía Beria. Malenkov cũng đồng ý:
- Đúng, phải hành động.
Chúng tôi thỏa thuận rằng trước tiên tôi phải tới gặp và nói chuyện với Vorosilov. Có một Uỷ ban nào đấy trong đó phải có sự tham gia của tôi và Vorosilov. Tôi quyết định dùng tình tiết này, gọi Klimentу Efremovichу và nói rằng muốn gặp ông nói chuyện về vấn đề gì đó. Vorosilov trả lời ông muốn bây giờ đi cùng với tôi đến BCHTƯ.
- Không - tôi nói - tôi đề nghị ông tiếp tôi, tôi tự thân đến ông.
Nhưng ông vật nài là ông phải đi. Cuối cùng tôi nài nỉ theo ý mình. Chúng tôi quy ước với Malenkov là sau khi nói chuyện với Vorosilov (trước bữa ăn trưa) tôi quay về nhà, ghé vào Malenkov, và chúng tôi ăn trưa cùng với nhau. Khi đó, tôi và Malenkov sống ở cùng một số nhà, cùng cửa ra vào, chỉ khác là tôi ở tầng cao hơn.
Tôi đi đến gặp Vorosilov tại Xô viết tối cao, nhưng tôi không đạt được cái điều mà tôi đã tính. Ngay khi tôi mở cửa và bước qua ngưỡng cửa phòng làm việc của ông, ông đang lớn giọng tán tụng Beria:
- Hân hạnh cho chúng tôi, đồng chí Khrusev, chúng tôi có một người tuyệt vời Larenti Pavlovich, đây là một con người xuất chúng!
Tôi nói với ông:
- Có thể, anh đừng phí công nói như thế nữa, anh đang thổi phồng tư cách ông ta phải không?
Nhưng tôi cũng không thể nói với ông về Beria như tôi nghĩ. Sự đánh giá là hoàn toàn ngược lại, và tôi bằng ý kiến của mình đặt Vorosilov vào tình thế khó xử; Ông có thể không đồng ý với tôi đơn giản vì tự ái: khi tôi vừa mới vào, ông đang ca tụng Beria, nhưng sau này lập tức chuyển sang quan điểm của tôi là đi đến sự cần thiết phải loại bỏ Beria. Và tôi quẳng lại cho ông những lời về vấn đề, mà chúng tôi thoả thuận một cách chính thức qua điện thoại: về vấn đề vớ vẩn nào đấy. Và bây giờ tôi quay về ăn trưa, như đã quy ước với Malenkov. Tôi kể cho Malenkov rằng tôi không nhận được cái gì cả, rằng tôi không thể nói chuyện với Vorosilov, như đã nghĩ. Tôi nghĩ rằng Vorosilov có thể, nói như thế để đề phòng người ta nghe trộm, và nói điều đó để cho bọn “tai mắt” của Beria.
Mặt khác, ông cũng coi tôi là người gần với Beria, vì rằng thường thấy chúng tôi bên nhau: Beria, Malenkov và tôi. Nghĩa là, ông nói điều này đối với Beria, ông cũng chứng minh bầu không khí, buộc mọi người phải chấp nhận tính cách và ôm lấy tội lỗi trong óc chống lại lương tri của mình.
Chúng tôi thoả thuận với Malenkov là tiếp đây, tôi sẽ nói chuyện với Molotov. Molotov khi đó là Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Trước đây ông thường gọi điện cho tôi, nói rằng muốn cùng tôi gặp BCHTƯ và nói chuyện về các vấn đề cán bộ Bộ Ngoại Giao. Tôi lợi dụng cuộc gọi của ông và nói:
- Anh muốn gặp tôi phải không? Tôi sẵn sàng. Nếu có thể, anh đến chỗ tôi, tôi ta sẽ nói chuyện với về chuyện cán bộ.
Nhưng khi ông đến, tôi nói với ông:
- Chúng ta nói chuyện về cán bộ, nhưng không phải về cán bộ của Bộ ngoại giao đâu.
Và tôi bắt đầu kể cho Molotov đánh giá của tôi về vai trò của Beria. Tôi nói có sự nguy hiểm như thế nào bây giờ đe doạ Đảng nếu không ngăn chặn Beria đang thực hiện quá trình làm đổ sự lãnh đạo của Đảng. Molotov, hình như bản thân cũng nghĩ nhiều về điều này. Ông không thể không nghĩ, vì rằng bản thân ông biết tất cả và thấy dự giống nhau hơn từ khi Stalin còn sống. Khi Molotov còn được Stalin tin ở Stalin, tôi chính tai đã nghe, ông phát biểu rất mạnh như thế nào chống Beria, nhưng khi không còn Stalinе, Beria có phương pháp khiêu khích. Nếu Beria đưa một đề nghị nào đấy, mà Stalin phát biểu chống, thì Beria quay bề người nào đó đang ngồi:
- Đấy, anh cứ đề nghị mãi? Cái này chưa có lợi!
Như thế Beria không ít lần chỉ vào Molotov, và Molotov phản ưng rất rất mãnh liệt.
Vì vậy, ngay khi tôi bàn mưu với Molotov, ông hoàn toàn đồng ý với tôi.
- Đúng, đúng, nhưng tôi muốn hỏi: thế ý Malenkov ra sao?
- Tôi nói chuyện lúc này với anh nhân danh và Malenkov, và Bulganin. Malenkov, Bulganin và tôi cũng trao đổi ý kiến về vấn đề này.
- Đúng, Các ông hiểu vấn đề này. Tôi hoàn toàn đồng ý và ủng hộ ông. Nhưng ông làm tiếp cái gì và việc này dẫn đến đâu?
- Trước hết cần cách chức Beria khỏi chức vụ uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ, phó Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và Bộ trưởng Bộ nội vụ.
Nhưng Molotov nói rằng điều này không đủ:
- Beria rất nguy hiểm, và tôi cho rằng phải dùng những biện pháp cực đoan hơn.
- Có thể giữ ông ta để điều tra?
Tôi nói “giữ” vì rằng chúng tôi không có những chứng cớ để buộc tội trực tiếp Beria. Tôi có thể nghĩ rằng ông là điệp viên của Musavist, nhưng chỉ Kaminski nói về điều này. Và những bằng chứng như thế không cách nào kiểm tra được, nhưng tôi chưa nghe thấy có sự kết án vụ này. Có thể là thật và cũng có thể là không đúng, tuy nhiên tôi tin Kaminski, vì rằng ông là người đứng đắn và hoàn toàn vì Đảng. Nhưng tính cách khiêu khích của Beria, tất cả chúng tôi dựa trên sự linh cảm. Nhưng không thể bắt người theo linh cảm. Vì thế tôi nói rằng phải giữ Beria “để kiểm tra”.
Điều này thì đúng là có thể.
Như vậy, tôi thoả thuận được với Molotov, còn sau đó tôi kể tất cả cho Malenkov và Bulganinу. Và chúng tôi quyết định, cần đẩy nhanh công việc, vì rằng chúng tôi có thể bị nghe trộm hoặc ai đó vô tình sảy miệng, những bằng chứng về những bước đi của chúng tôi lọt tới tai Beria, và Beria bắt chúng tôi một cách đơn giản. Lúc đó chúng tôi quy ước tôi cần phải nói chuyện với Saburov, cũng là uỷ viên Đoàn chủ tịch. Saburov rất nhanh trả lời tôi:
- Tôi hoàn toàn đồng ý.
Và cũng hỏi:
- Thế còn Malenkov?
Về điều này những ai dự mưu với tôi đều cũng hỏi như thế. Kaganovich trong thời gian ấy không có mặt ở Moskva, ông ở bận thu mua gỗ, ông kiểm tra công việc ở đó chạy ra sao. Khi Kaganovich quay về, tôi đề nghị ông rẽ vào BCHTƯ. Ông đến buổi chiều, và chúng tôi ngồi với ông rất lâu. Ông tỷ mỷ kể cho tôi về Siberi, về thu mua thu mua gỗ. Tôi không cắt lời ông, mặc dù trong đầu tôi hoàn toàn nghĩ những chuyện khác. Tôi tỏ ra lễ độ, chiến thuật, chờ khi câu chuyện của ông cạn hết.
Khi thấy thời cơ đến, tôi nói:
- Những điều anh kể cũng hay đấy. Giờ đây tôi muốn nói hết với ông rằng chúng tôi đang làm gì.
Kaganovich lập tức vểnh tai nghe:
- Thế ai “đồng ý”?
Ông đặt vấn đề như thế, thăm dò, tương quan lực lượng. Tôi nói rằng Malenkov, Bulganin, Molotov và Saburov đồng ý, như thế, nói riêng, và không có ông thì chúng tôi cũng có số đông. Lúc đó Kaganovich tuyên bố:
- Tôi cũng “đồng ý”, tất nhiên, “đồng ý”, nhưng tôi đơn giản chỉ hỏi thế thôi.
Nhưng tôi hiểu đúng ông, và ông hiểu tôi. Sau đó hỏi:
- Thế còn Vorosilov?
Và tôi kể cho ông, tôi nhận thấy mình không tháo vát với Vorosilov.
- Ông nói với với anh như thế à?
- Đúng, ông ta ca tụng Beria.
Kaganovich chửi rủa Vorosilov, nhưng không độc ác:
- Thằng cáo già. Ông ấy không nói thật với anh đâu. Chính ông ấy nói với tôi thật sự là không thể sống tiếp được với Beria, rằng Beria là người rất nguy hiểm, rằng Beria có thể tìm và tiêu diệt tất cả chúng ta.
- Thế thì cần phải nói chuyện với ông ta hội đàm một lần nữa. Có thể Malenkov nói chuyện với ông ta được không? Tốt hơn, tôi không nên quay lại nói chuyện với ông nữa để không đặt ông ta vào tình thế khó xử.
Cả hai chúng tôi đồng ý.
Kaganovich hỏi:
- Còn Mikoian?
- Với Mikoian, về vấn đề này tôi vẫn còn chưa nói, vì có vấn đề phức tạp.
Tất cả chúng tôi biết những người Kavkaz như Mikoian và Beria có những quan hệ tốt nhất, họ luôn luôn không rời nhau nửa bước. Và tôi kể đã nói chuyện với Mikoian, hình như phải gác lại muộn hơn. Về các cuộc nói chuyện mới, tôi thông báo cho Malenkov, và ông cũng đồng ý trong tình hình hiện tại, tốt hơn là nói cho Vorosilov biết. Giờ đây còn Pervukhin. Malenkov nói:
- Với Pervukhin, tôi muốn tự đến bàn bạc.
- Lưu ý rằng Pervukhin là người phức tạp, tôi biết ông ta.
- Nhưng cả tôi cũng biết ông ấy.
- Thôi được, xin cứ việc!
Malenkov mời Pervukhin đến gặp và sau đó gọi cho tôi:
- Tôi gặp Pervukhin, kể hết với ông ta tất cả, nhưng Pervukhin trả lời rằng còn suy nghĩ. Điều này rất nguy hiểm. Tôi phải thông báo điều này để giục ông ta nhanh hơn. Không biết, điều này có thể kết thúc như thế nào.
Tôi gọi cho Pervukhin. Ông đến với tôi, và tôi hết cho ông nghe một cách thẳng thắn. Mikhail Georgy trả lời:
- Nếu như Malenkov nói tất cả với tôi như thế này, như anh nói, tôi đâu có những vấn đề như thế. Tôi hoàn toàn đồng ý và xem rằng không còn lối thoát khác.
Tôi không biết Malenkov nói với Pervukhin như thế nào, nhưng kết thúc như thế.
Như thế, chúng tôi đã bàn bạc công việc với tất cả uỷ viên Đoàn chủ tịch, trừ Vorosilov và Mikoian.
Tôi và Malenkov quyết định bắt đầu hành động trong ngày họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Tại cuộc họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tôi luôn luôn có mặt: vì biên bản đã ghi là tôi phải tham gia những phiên họp như thế. Tại những phiên họp này vắng mặt Vorosilov. Vì thế chúng tôi quyết định, mời Vorosilov tham dự phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Khi mọi người đến đông đủ, thay bằng phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, là phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Chúng tôi quy ước, ngay trước phiên họp này tôi nói chuyện với Mikoian, còn Malenkov nói với Vorosilov.
Sáng sớm hôm ấy, tôi ở nhà nghỉ cuối tuần. Tôi gọi cho Mikoian và mời ông rẽ qua tôi, đi cùng tôi cùng tới phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Mikoian đến, và ở đó tôi tiến hành hội đàm. Cuộc hội đàm rất dài. Tôi nhớ rằng chúng tôi nói chuyện khoảng hai tiếng đồng hồ, nói hết và tỷ mỷ, còn sau đó lại hai ba lần đôi lần quay lại những chuyện đã bàn rồi. Vị thế của Mikoian là thế này: Beria quả là có tư cách xấu, nhưng ông không tuyệt vọng, trong thành phần tập thể có thể làm được việc. Đó là một vị trí hoàn toàn đặc biệt, không phải ai trong số chúng tôi có thể giữ được. Tạm thời kết thúc đàm phán, thời gian còn lại chỉ kịp có mặt tại phiên họp. Tôi ngồi chung xe với nhau và đi vào Kreml. Trước đó Malenkov cũng nói chuyện với Vorosilov.
- Thế nào? Ông ta vẫn như trước đây khen ngợi Beria à?
- Khi tôi vừa mới lắp bắp vài lời về dự định của chúng tôi, Klim (tên gọi thân mật của Vorosilov) ôm quàng lấy tôi, hôn và khóc.
Thật thế không, tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ rằng Malenkov nói dối chẳng để làm gì.
Sau đó nảy sinh sinh vấn đề thảo luận bắt giữ Beria. Nhưng ai là người bắt Beria? Đội bảo vệ của chúng tôi lại dưới quyền cá nhân Beria. Trong thời gian họp uỷ viên Đoàn chủ tịch, đội bảo vệ ngồi ở phòng bên cạnh. Ngay khi chúng tôi đưa ra vấn đề này, Beria sẽ ra lệnh cho đội bảo vệ bắt chính chúng tôi. Lúc đó chúng tôi thoả thuận gọi các tướng lĩnh. Chúng tôi quy ước là tôi nhận trách nhiệm đi mời các tướng lĩnh. Thế là tôi làm như thế, mời Moskalenko và những người khác, tất cả là năm người. Sau đó Malenkov với Bulganin nới rộng vòng của họ và mời thêm cả Zukov. Do vậy chúng tôi có 11 nguyên soái và tướng. Chúng tôi thoả thuận rằng các tướng lĩnh sẽ chờ đợi ở phòng riêng, còn khi nào Malenkov báo cho biết biết, thì họ đi vào gian phòng đang diễn ra phiên họp, và sẽ bắt Beria.
Và thế là phiên họp khai mạc. Vorosilov với tư cách Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, đương nhiên, không thể có mặt tại phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Vì thế sự xuất hiện của ông tựa như khó hiểu. Và Malenkov, khai mạc phiên họp, lập tức đặt vấn đề:
- Chúng ta thảo luận công tác Đảng. Có những vấn đề cần phải thảo luận ngay, trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ.
Tất cả đồng ý. Như đã thoả thuận từ trước, tôi xin phép Malenkov được nói và đề nghị thảo luận vấn đề Beria. Beria ngồi bên phải. Beria giật mình, cầm lấy tay tôi, nhìn vào tôi và nói:
- Anh nói gì thế, Nikita? Anh định giở trò gì?
Tôi nói với Beria:
- Thì anh cứ nghe đã, ngay đây tôi muốn nói hết với anh.
Thế là tôi nói.
Tại Plenum BCHTƯ trước chiến tranh, khi thảo luận tình hình công việc trong Đảng, có lời phát biểu của Kaminski, Dân uỷ y tế Liên Xô. Ông lên diễn đàn và tuyên bố:
- Tôi muốn nói rằng khi tôi làm việc ở Baku, có tin đồn dai dẳng lan đi trong số những người cộng sản rằng Beria làm việc trong cơ quan phản gián Musavist. Tôi muốn nói về điều này, để Đảng biết và kiểm tra điều này. Phiên họp khi đó kết thúc, và không ai phát biểu thêm nữa về vấn đề đã nêu, bản thân Beria cũng không cải chính, mặc dù có mặt. Sau đó nghỉ ăn trưa. Sau bữa ăn Plenum tiếp tục, nhưng Kaminski không đến, và không ai biết vì sao. Lúc đó điều này là đúng luật. Nhiều uỷ viên BCHTƯ, có mặt tại một phiên họp, người phiên không đến, bị rơi vào “kẻ thù nhân dân” và bị bắt. Số phận đã rơi vào Kaminski.
Tôi biết Kaminski, khi tôi là bí thư Bauman, sau đó Kraskaia Presnia, thành uỷ Moskva và đặc biệtgần gũi với ông khi ông được bầu bí thư đảng uỷ Moskva đầu 1932. Kaminski chơi thân với Mikhain Mikhailovich, một cán bộ triển vọng. Tôi rất kính trọng ông và cũng đánh bạn với ông. Đương nhiên, tôi xây dựng tình hữu nghị với Kaminski. Vì thế tôi tin rằng Grisa - là người đứng đắn. Ông là người đặc biệt trong sạch và có đạo đức. Tuy nhiên, mặc dù không ai tại Plenum cho một lời giải thích nào cả về việc số phận Kaminski, ông như chìm vào nước. Bị chìm không chỉ Kaminski. Hàng trăm, hàng nghìn người mất tích. Sau đó người ta tuyên bố rằng họ là “kẻ thù nhân dân”, vâng tôi đã nói không phải về mỗi người. Từ lâu, trong đầu tôi lẩn quẩn ý nghĩ: Vì sao, khi Kaminski tuyên bố như thế, không ai có lời giải thích xem ông nói đúng hoặc không đúng, điều này có hay không có - không biết...
Sau đó tôi kể và những hoạt động gần đây của Beria, từ sau khi Stalin chết, trong quan hệ các tổ chức Đảng - Ukraina, Belarussia và những nước khác. Trong các thư của mình Beria đặt các vấn đề (thư này còn nằm trong lưu trữ) về mối quan hệ tương hỗ trong việc lãnh đạo các nước cộng hoà dân tộc, đặc biệt trong sự lãnh đạo của các cơ quan Cheka, và đề nghị điều động các cán bộ dân tộc. Điều này đúng, đường lối như thế luôn luôn rồn tại trong Đảng. Nhưng Beria đặt vấn đề này theo hướng bài Nga trong việc bồi dưỡng, điều động và lựa chọn cán bộ. Ông muốn cột chặt các dân tộc và tập hợp họ chống người Nga. Luôn luôn tất cả các kẻ thù ĐCS luôn luôn tính đến cuộc đấu tranh giữa các dân tộc, và Beria cũng bắt đầu từ điều này.
Sau đó tôi kể về đề nghị cuối cùng của Beria - về việc từ bỏ xây dựng CNXH ở CHDC Đức - và đề nghị đối với những người bị kết án bị trừng phạt biệt xứ, khi Beria đề nghị không cho phép họ quay về chỗ cư trú, mà quyền quyết định nơi ở của họ do Bộ nội vụ làm, nghĩa là do bản thân Beria. Lúc ấy sự chuyên quyền về luật pháp! Tôi nói cả về đề nghị và Beria thay bằng giải quyết tận gố vấn đề việc bắt người và kết án họ dưới thời Stalinе, giảm thời hạn cực đại những người bị kết ăn bởi cơ quan Bộ Nội vụ từ 20 xuống 10 năm. Thoáng nhìn, đề nghị này tựa như tự do, còn theo thực chất là họp pháp hoá những gì đang tồn tại. Khép tội 20 năm hoặc 10 năm, tình thế vẫn không thay đổi. Tới 10 năm, và, nếu cần, Beria cho thêm 10 năm, còn sau đó lại 10 năm, chừng nào người ta còn chưa chết. Và tôi kết thúc:
- Do những theo dõi những hoạt động của Beria tôi có ấn tượng rằng ông ta nói chung không phải là một người cộng sản, mà làm kẻ hám lợi, chui vào đảng vì động cơ hám lợi. Ông làm những việc để đề cao mình và không thể chấp nhận được. Không tưởng tượng được một người trung thực có thể làm việc vì mình.
Sau tôi, Bulganin tiếp lời. Tôi và ông từ khi Stalin còn sống đã có cùng một ý kiến về Beria. Ông cũng phát biểu trong tinh thần như thế. Và những người khác thể hiện tính nguyên tắc, trừ Mikoian. Mikoian phát biểu cuối cùng. Ông phát biểu (tôi không còn nhớ chi tiết lời của ông): lặp lại cái điều đã nói với tôi, khi tôi và ông bàn bạc trước phiên họp, tuyên bố rằng Beria có thể tính đến sự phê bình, rằng ông không mất tuyệt vọng, trong một tập thể ông có khả năng ích lợi.
Khi tất cả phát biểu hết, Malenkov, với tư cách Chủ tịch phải tổng kết và làm văn bản quyết định. Nhưng ông lúng túng, và phiên họp chấm dứt ở diễn giả cuối cùng. Phiên họp ngừng lại ít phút.
Tôi thấy vấn đề như thế đã chất đống lên rồi, và đề nghị Malenkov để ông chuyển lời của tôi vào bản dự thảo. Như chúng tôi đã quy ước với nhau, tôi đề nghị Plenum quyết định vấn đề cách chức Beria (Đoàn chủ tịch BCHTƯ làm điều này) khỏi tất cả các chức vụ mà ông giữ. Malenkov vẫn còn bối rối và thậm chí không đưa đề nghị của tôi ra bỏ phiếu, mà lập tức ấn nút bí mật gọi các tướng lĩnh. Người đầu tiên vào là Zukov, sau ông là Moskalenko và những người khác. Zukov khi đó thứ trưởng Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Lúc ấy giữa tôi và Zukov còn tồn tại mối quan hệ tốt, mặc dù ông trong thời kỳ đầu không được tính trong số tướng lĩnh giúp đỡ chúng tôi xử lý Beria.
Vì sao chúng tôi lôi kéo các tướng lĩnh. Cũng có những suy tính được nêu ra, nếu chúng tôi quyết định giữ Beria, ai dám chắc Beria không gọi các Chekist, bảo vệ, những người này đang dưới quyền ông, và ông ra lệnh cho họ cô lập chúng tôi? Chúng tôi không có lực lượng, vì rằng ở Kreml có một lượng lớn người của Beria được vũ trang và huấn luyện kỹ càng. Vì thế chúng tôi quyết định lấy các tướng lĩnh quân đội vào việc.
Đầu tiên, chúng tôi trao lệnh cho Moskalenko và 5 tướng bắt Beria. Moskalenko cùng các đồng chí của mình có vũ khí, mà họ cùng vũ khí đó được Bulganin chở vào Kreml. Khi các tướng lĩnh vào Kreml, đã trao vũ khí cho trực ban. Ngay trước phiên họp phiên họp, nhóm Moskalenko được bổ xung thêm nguyên soái Zukov và một số người khác. Và tiến vào phòng họp khoảng 10 người hoặc hơn. Malenkov nói nhẹ nhàng, đề nghị với Zukov:
- Tôi đề nghị ông, thay mặt Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô giữ Beria.
Zukov ra lệnh cho Beria:
- Giơ tay lên!
Moskalenko và những người khác lột vũ khí, cho là Beria có thể gây khiêu khích. Beria kéo mạnh về phía mình chiếc cặp đang nằm ở bậu cửa sổ, sau lưng ông ta. Tôi tóm tay Beria để ông không thể sử dụng súng, nếu súng nằm trong cặp. Sau đó kiểm tra: không có súng trong túi, cũng như trong cặp. Beria đơn giản có phản xạ thôi.
Beria bị tống giam vào một gian phòng nhỏ, cạnh văn phòng làm việc Malenkov của trong dinh Hội đồng Bộ trưởng. Và chúng tôi quyết định, sáng mai hoặc sang ngày kia, càng nhanh càng tốt, triệu tập Plenum BCHTƯ Đảng, xử lý vấn đề Beria. Đồng thời cách chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô, vì rằng ông không được chúng tôi tin cậy, và chúng tôi nghi ngờ, liệu ông có tiến hành điều tra một cách khách quan không. Viện trưởng Viện kiểm sát mới được bổ nhiệm là Rudenko và được trao quyền tiến hành điều tra vụ Beria. Như vậy, Beria bị bắt. Nhưng đư hắn đi đâu? Chúng tôi không thể tin đội bảo vệ của Bộ nội vụ, vì rằng đây là cơ quan của Beria, với tay chân của Beria. Lúc đó thứ trưởng Bộ nội vụ Kruglov và, hình như, Serov. Tôi ít biết về Kruglov, còn Serov tôi biết rõ hơn và tin ông. Tôi cho rằng Serov là một người trung thực. Nếu có một cái gì đấy làm ông thay đổi, cũng mọi nhân viên Cheka khác, thì ông cũng là nạn nhân của cùng một chính sách chung do Stalin tiến hành. Vì thế tôi đề nghị trao quyền giữ Beria cho chính Serov. Nhưng các đồng chí khác suy nghĩ rằng dù sao chăng nữa phải thận trọng hơn - tất cả chúng tôi không ai tin Kruglov cả. Rồi chúng tôi thoả thuận rằng tốt nhất là trao vụ này tư lệnh quân đoàn phòng không, quân khu Moskva Moskalenko. Moskalenko nhận Beria, cho người của mình vây quanh và giải Beria về chỉ huy sở của mình, trong một cái hầm chống bom. Tôi thấy ông làm tất cả những gì cần thiết. Phiên họp này kết thúc.
Ngay khi phiên họp kết thúc, Bulganin đến gặp tôi:
- Anh hãy nghe tay đội trưởng bảo vệ của tôi kể.
Viên đội trưởng này đến chỗ tôi, kể:
- Tôi biết vừa mới bắt Beria, và tôi muốn nói với ông Beria hiếp đứa cháu gái của tôi, học sinh lớp 7. Hơn một năm trước đây bà của nó đã chết, còn vợ tôi vì đột quỵ và nằm ở bệnh viện. Cô bé ở nhà một mình. Một lần vào buổi chiều nó chạy đi mua bánh mỳ thì qua đúng ngôi nhà mà Beria ở. Ở đó, cháu gặp một người đàn ông già đang nhìn chăm chăm vào nó. Cháu khiếp sợ. Sau đó, một nhân viên Cheka gọi cháu và dẫn cháu vào nhà Beria. Beria ngồi ăn cơm chiều cùng với cháu, đề nghị uống rượu chúc Stalin. Cháu từ chối, nhưng ông ta cứ nài nỉ phải uống vì Stalin. Cháu đồng ý, rồi uống, còn sau đó cháu thiếp đi và ông ta hiếp cháu.
Tôi trả lời người này:
- Tất cả những gì ông kể, công tố viên sẽ điều tra”.
Sau đó người ta đưa chúng tôi một danh sách trong đó có họ tên hơn 100 phụ nữ. Tay chân của Beria dẫn họ tới Beria. Nhưng việc tiếp khách ở chỗ Beria tất cả mọi người đều theo một cách: tất cả những ai vào nhà Beria lần đầu tiên, ông đều mời ăn và đề nghị uống rượu vì sức khoẻ của Stalin. Trong rượu vang ông bỏ sẵn thuốc ngủ. Sau đó ông làm với họ cái gì mà ông muốn. Khi Beria bị cách ly, ông xin bút và giấy. Chúng tôi bàn bạc và quyết định cứ đưa cho ông: biết đâu trong lòng ông thức tỉnh một khát vọng chân thật để ông nó những gì ông ấy biết là chúng tôi buộc tội ông. Và ông bắt đầu viết. Ban đầu, thư cho Malenkov:
- Egor, anh thật đáng khinh, tôi biết anh, chúng ta là bạn nhau, sao anh lại tin Khrusev? Ông ta xúi giục anh làm điều này... và vân vân.
Với tôi ông cũng có một bức thư, trong đó viết rằng ông là một người trung thực. Ông gửi một số thư như thế: Malenkov băn khoăn khi đọc những thư này. Sau đó Malenkov bắt đầu lo lắng rằng ông và Beria cùng đưa ra ý tưởng từ bỏ xây dựng CNXH ở Đông Đức, và ông sợ rằng vụ việc nhằm chống Beria, xoay sang chống ông. Nhưng chúng tôi nói với ông rằng bây giờ chưa phán xét vấn đề này. Vấn đề Beria còn sâu rộng hơn nhiều so với vấn đề Đức.
Khi Rudenko bắt đầu thẩm vấn Beria, thì chúng tôi ngỡ ngàng thấy một con người tàn ác, khốn nạn, không có một cái gì thiêng liêng cả. Ở Beria không hề có chủ nghĩa cộng sản, và nói chung không có bộ mặt đạo đức con người. Nhưng quả là về tội ác của Beria khu vựcc gì để nói, vì ông làm chết bao nhiêu người lương thiện!
Sau khi bắt Beria được một thời gian, lại có vấn đề về Merkulov, từng là Thanh tra nhà nước Liên Xô. Tôi, thú thực rằng, trước đây tôi kính trọng Merkulov và coi ông là người của Đảng. Ông là con người có văn hoá và nói chung tôi quý ông. Vì thế tôi nói các đồng chí của mình:
- Có một sự kiện, Merkulov là trợ lý của Beria ở Gruzia, còn chưa đủ chứng minh rằng ông là đồng bọn của Beria. Có thể dù sao đi nữa, điều này không phải thế? Chính Beria giữ rất chức vụ cao và chính hắn chọn người cho mình, mà không phải ngược lại. Người ta tin Beria và làm việc với ông ta. Vì thế không thể coi những ai làm việc làm việc với Beria, như là những cộng sự gây những tội ác. Chúng ta gọi Merkulov, nói chuyện với ông. Có thể, ông thậm chí giúp đỡ chúng ta tốt hơn trong việc phán xét Beria.
Và chúng tôi quy ước rằng tôi gọi ông đến BCHTƯ Đảng. Tôi gọi Merkulov, nói rằng Beria bị bắt, rằng đang tiến hành điều tra.
- Ông nhiều năm làm việc với Beria, liệu có thể giúp đỡ BCHTƯ.
- Tôi sẵn sàng làm tất cả những gì có thể.
Và tôi đề nghị Merkulov:
- Hãy trình bằng văn bản tất cả những gì cần thu thập.
Sau bao nhiêu ngày trời, ông mới viết một bức thư dày, tất nhiên, vẫn nằm ở lưu trữ. Nhưng bức thư này chẳng giúp chúng tôi một cái gì cả. Ở đó chỉ là những ấn tượng chung chung, suy lý, tựa như tác phẩm nào đó. Merkulov viết một cái gì đó, kể cả bài hát, và thói quen sáng tác. Khi tôi gửi tài liệu này cho Rudenko, thì ông nói thẳng rằng phải bắt Merkulov, vì rằng điều tra vụ Beria mà không bắt Merkulov thì sẽ công việc sẽ bị cản trở và không làm đày đủ.
BCHTƯ Đảng quyết định bắt Merkulov. Tôi đau lòng, thấy rõ rằng mình phí công tin ông. Merkulov có liên quan với Beria trong những tội ác như thế, và chính ông phải ngồi trên ghế bị cáo và cùng trách nhiệm với Beria. Trong lời nói cuối cùng, khi bị kết án trước toà, Merkulov nguyền rủa cái ngày giờ, khi gặp với Beria. Ông nói rằng Beria đã đưa ông tới toà.
Từ Đại hội 19 đến Đại hội 20 ĐCSLX
Ngay sau khi kết thúc Đại hội 19 ĐCSLX, nảy sinh việc thay thế Bộ chính trị BCHTƯ Đảng trước đây bằng một cái tên gọi mới - Đoàn chủ tịch BCHTƯ ĐCSLX, Stalin đã hình thành những hội đồng rộng rãi gồm nhiều thành viên về các lĩnh vực khác nhau. Trên thực tế té ra là những hội đồng này chẳng có khả năng làm việc, mặc dù tôi xem rằng nếu có sự lãnh đạo thích đáng lãnh đạo thì nó cũng giải quyết nhiệm vụ cụ thể mà quyền hạn chủ yếu - hội đồng này đưa ra những dự thảo, thì họ đóng một vai trò tích cực. Nhưng họ không thể làm nổi vai trò đó, vì rằng nó được trình cho chính họ, và không hề có một kế hoạch nào cả để lãnh đạo những hội đồng này, và các vấn đề đặt ra trước đây với họ vẫn không giải nghĩa được. Các vấn đề đang được suy nghĩ. Tóm lại, một người có dụng cụ của mình thích dùng lúc nào thì dùng. Không có ai lãnh đạo cả.
Rồi Stalin chết. Tôi rất trải qua nặng nề về cái chết của ông. Nếu nói chân thật, thì tôi chịu đựng không phải vì tôi có mối ràng buộc với Stalin, mặc dù nói chung tôi cũng ràng buộc với ông. Đơn giản là ông đã già, và không tránh khỏi cái chết luôn cặp kè với ông. Đối với tôi dó là quy luật bi thảm của tự nhiên: mọi người sinh ra và chết đi, phải coi trọng điều này. Stalin ở độ tuổi như thế, không thể tránh khỏi cái chết. Nôi lo lắng trước tiên của tôi là thành phần Đoàn chủ tịch vẫn tồn tại sau khi Stalin chết, và vai trò đặc biệt của nó đang nằm trong tay Beria và được ông ta củng cố: vai trò này đang báo trước, theo đánh giá của tôi, có một công việc lớn và là một bất ngờ lớn, tôi thậm chí nói rằng hậu quả thảm khốc. Vì thế tôi than khóc Stalin như một lực lượng duy nhất hiện thực đoàn kết. Mặc dù lực lượng này thường được sử dụng rất lung tung và không phải luôn luôn đi theo hướng cần thist, nhưng tất cả sức lực của Stalin là nhằm đến sự vững mạnh và phát triển sự nghiệp CNXH, sự vững mạnh thành quả của cách mạng tháng Mười. Điều này tôi không nghi ngờ. Ông đã thi hành cách thức dã man trong hành động, nhưng khi đó tôi còn chưa biết, sự xấu xa của ông là hoàn toàn vô căn cứ đến nhường nào, từ quan điểm của những người bị bắt và bị tử hình một cách vô cớ.
Tất nhiên ở tôi, cũng như mọi người khác thoáng hiện một ngờ vực:
- Thế này là thế nào? Trong số những người bị bắt hoặc bị tù hầu như không có ai quay lại và hầu như họ không đúng?
Trong cuộc sống không cần phải có như thế. Những nghi ngờ phát sinh đều có căn cứ, như phải theo chuẩn mực đúng trong ý nghĩ. Nhưng Stalin - là Stalin. Uy tín của ông rất lớn, và tôi không nghĩ rằng con người này về nguyên tắc có khả năng cố ý lạm dụng quyền lực.
Beria, khi Stalin chết, lại vào đúng chỗ đó. Ông thay đổi hẳn, trẻ ra, ăn nói thô lỗ, vui vẻ lên, đứng ở thi hài Stalin đặt trong quan tài chưa đến giờ chôn. Beria cho rằng thời của ông đã đến. Bây giờ không còn thế lực nào có thể kiềm chế ông, mà thế lực đó ông cần tính đến. Giờ đây ông có thể làm tất cả những gì ông xem là cần thiết.
Malenkov?
Malenkov không bao giờ giữ vị trí riêng, ông không có vai trò đặc biệt. Ông luôn luôn là người đầu sai. Stalin trong các cuộc nói chuyện hẹp đã nói một cách tương đối hình ảnh về Malenkov:
- Đây là một thợ viết. Ông ta viết nghị quyết rất nhanh, không phải luôn luôn một mình mà con tổ chức mọi người. Điều này ông làm nhanh hơn và tốt hơn những người khác, nhưng ông không có khả năng suy nghĩ và sáng kiến độc lập.
Đúng, Malenkov, theo tôi, cũng không có tham vọng trực tiếp cho điều này. Năm năm trước khi Stalin mất, tôi có mặt ở Sochi theo lời mời của Stalin, tôi có một lần nói với Malenkov, nhắc ông nên lưu tâm rằng ông có chỗ đứng của mình và không phải là dường cột trong quan hệ Beria, còn Beria nhạo báng ông. Lúc đó Malenkov nói với tôi là ông biết điều này, nhưng ông có khả năng để làm đúng công việc và thoát khỏi điều này. Ông cho rằng ông cùng với Beria là có lợi cho cá nhân ông. Vả lại, quả là đúng như vậy. Ông ủng hộ Beria, còn Beria ủng hộ Malenkov. Vì thế Stalin đánh giá cao hoạt động của Malenkov, mặc dù ông phê phán mạnh về khả năng của Malenkov trong lãnh đạo.
Bulganin?
Bulganin rất thận trọng với Beria, và khi tôi với ông nói về vấn đề này, thì ông phát biểu nhận xét tiêu cực đối với Beria, ông đồng ý với tôi.
Với ý nghĩ như thế, tôi đứng cạnh thi hài Stalin. Trước đây tôi đã kể về hoạt động của chúng tôi sau khi Stalin chết và về việc bắt Beria và tôi không bây giờ không lặp lại nữa. Nhưng sau khi bắt Beria và điều tra thì khám phá được những thôi thúc bí mật che dấu chúng tôi, những thôi thúc này trước đây đẻ ra sự lạm quyền lớn biết nhường nào dẫn đến cái chết của nhiều người lương thiện. Đối với tôi, nói riêng, ấn tượng mạnh nhất là cái chết Kedrov, cha của viện sỹ triết học Kedrov. Cá nhân tôi không biết Kedrov cha. Ông là một chính khách lớn, một trong những nhà lãnh đạo bộ đội Liên Xô ở miền Bắc, trong những năm nội chiến ông là người tổ chức phòng thủ chống bọn can thiệp ở đó. Và tôi có nhu cầu phải vén bức rèm để biết, dù cuộc điều tra đang làm, tại sao xảy ra các vụ bắt bớ, tất cả bao nhiêu người bắt, tài liệu gốc về việc bắt giam và điều tra về các vụ bắt giam này như thế nào? Tôi đặt vấn đề này tại cuộc họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ và đề nghị được phân xử rõ ràng. Các vấn đề này đặc biệt làm tôi lo lắng vì rằng chúng tôi cũng bắt đầu nghĩ về tiến hành Đại hội 20.
Tất nhiên chúng tôi cùng Vorosilov, Molotov, Kaganovich không bỏ cuộc đấu tranh để mở toang những thôi thúc bí mật. Tôi còn nhớ chính xác quan điểm của Mikoian. Hình như, Mikoian không tích cực, nhưng không cản trở quá trình phanh phui sự bất công. Tóm lại, dần dần tất cả đều đồng ý rằng cần phải tiến hành phanh phui vụ việc. Một Uỷ ban điều tra được thành lập, đứng đầu là Pospelov.
Trước đó, tôi mời Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô Rudenko (là Viện trưởng Viện kiểm sát đã xem xét nhiều và kiểm tra các tài liệu này) và hỏi ông:
- Đồng chí Rudenko, theo những bản án công khai thập niên 30 những điều buộc tội là căn cứ, thì mang chúng trình cho Bukharinу, Rykov, Syrsov, Lominadze, Krestinski và những người khác, trong BCH TƯ, các uỷ viên Ban tổ chức và Bộ chính trị? Có bao nhiêu những tài liệu có căn cứ?
Rudenko nói rằng từ quan điểm chuẩn mực luật pháp thì chẳng có một số liệu nào cả để buộc tội những người này. Tất cả chỉ dựa trên những lời thú nhận có tính cá nhân, mà những lời thú nhận đó có được bằng cách đánh đập và hành hạ người ta về tinh thần và thể xác, cho nên không thể là cơ sở để kết án người ta.
Khi đó đặt trước tôi một vấn đề: điều này có thể xảy ra không? Mọi người biết về vai trò của Stalin, cá nhân ông, quá trình hoạt động cách mạng của ông, công lao của ông trước đất nước và những phẩm chất mà Đảng ghi nhận. Ông có đầy đủ cơ sở để có vai trò đặc biệt, vì rằng ông thực tế đã tách khỏi những người gần mình và biết tổ chức công việc, và thông minh. Ông quả là đứng cao hơn người khác. Và thậm chí bây giờ, dù tôi không khoan nhượng những phương pháp hành động của ông, sự lạm quyền của ông, tôi cũng phải thừa nhận điều này. Tuy nhiên, nếu như bây giờ, chẳng hạn, ông vẫn còn sống và tiến hành bỏ phiếu về vấn đề trách nhiệm của ông vì hành vi ấy, thì tôi vẫn có quân điểm là phải xử ông. Nhưng cần phải đánh giá ông. Con người này không đơn giản đến với chúng tôi bằng gươm và chiếm được trái tim khối óc chúng tôi. Không, ông trong cuộc sống ông thể hiện sự lấn át của mình, tài năng lãnh đạo đất nước, kỹ năng cai trị mọi người, cho họ những phẩn cách vững chắc, cần thiết cho người lãnh đạo ở quy mô lớn.
Tất cả những gì liên quan tới cá nhân của Stalin, có cái xấu, cái tốt, cái đúng, và dã man, không để hết vào đâu. Phải xem xét tất cả các mặt của con người phức tạp này. Tôi nói nhiều ở đây phía tối đơn giản vì rằng mặt tâng bốc ông là quá đủ rồi. Điều chủ yếu - có những kết luận cần thiết và để những sự việc tương tự không lặp lại trong tương lai. Ở đây bao gồm tất cả các thư của tôi. Bất cứ việc nghiên cứu nào về quá khứ cần phải phục vụ cho hiện tại và tương lai.
Mở rộng một hướng song song. Những người lứa tuổi tôi nhớ lại việc ca tụng Stalin dần dần tăng lên, và mọi người đều biết sự tụng ca này được rót hết cỡ. Stalin thông minh! Stalin thiên tài! Tôi cũng chưa nói về những từ văn vẻ khác: nào là bố để nhân dân, và vân vân. Tất cả điều này hiện nay vang lên tại Trung Quốc người ta nói và viết về Mao. Tôi xem phim Trung Quốc. Tôi thấy chúng không hiếm trên TV. Tất cả các buổi tiếp khách được Mao nhân bản từ Stalin. Hãy mở mắt và nghe những lời phát biểu của người Trung Quốc về Mao Trạch Đông. Nếu thay thế “Mao” bằng “Stalin”, thì nhận được quá khứ. Đúng là những “màn kịch” tương xứng đã từng được tổ chức ở chúng ta. Tôi xem đó là hiện diện tính nhu nhược của Stalin. Nhưng, hình như sự việc không những chỉ ở tính nhu nhược. Hình như những người này, Stalin và Mao Trạch Đông, trong vấn đề này về nguyên tắc rất giống nhau. Họ coi điều này là cần thiết để giữ uy tín của họ được trên cao và không những bắt mọi người chịu mình, mà còn bắt họ phải sợ hãi.
Và dù sao chăng nữa có vấn đề: Vì sao điều này lại xảy ra? Nhiều người mà tôi tiếp xúc, hỏi:
- Tai sao Stalin, một người thông minh, có thể làm thế?
Tôi không ít lần, khi quay lại vấn đề này, tìm câu trả lời cho mình. Và tôi có câu câu trả lời duy nhất, tôi nghĩ rằng ông đúng. Để hiểu căn nguyên sự lạm quyền, giết người sai trái, tính tàn bạo của Stalin, phải quay về chúc thư của Lenin. Lenin, khi ông viết chúc thư, rõ ràng đã thấy trước, Stalin có thể đưa Đảng đến điều đó, nếu Stalin còn nằm trong ban lãnh đạo sẽ chiếm chức vụ Tổng Bí thư BCHTƯ. Lenin viết rằng phải loại bỏ Stalin khỏi chức vụ này, mặc dù Stalin cũng có những phẩm chất để làm lãnh đạo. Nhưng ông thô lỗ và có khả năng lạm dụng quyền lực, vì thế ông không thể giữ được. Lenin đề nghị thay thế Stalin bằng một người chan hoà hơn, biết lắng nghe hơn, kiên nhẫn hơn đối với đồng chí trong Đảng và không lạm dụng chức vụ cao của mình. Tôi cho rằng đây là nhận xét chính xác. Cuộc sống đã hoàn toàn xác nhận tư tưởng của Lenin. BCHTƯ Đảng không đi theo lời Lenin, không rút ra những kết luận thích hợp và bị thất bại. Không những BCHTƯ, mà toàn Đảng đã vị Stalin lạm quyền trừng phạt, giết Đảng viên và cốt cán ngoài Đảng. Trong những hoạt động này của Stalin, thấy được một con người bệnh hoạn. Đã xảy ra thảm hoạ với Đảng và tất cả nhân dân chúng tôi.
Tài liệu của Uỷ ban Pospelov mà chúng tôi lập trước ngưỡng cửa Đại hội 20 ĐCSLX, đối với nhiều người trong chúng ta là hoàn toàn bất ngờ. Tôi nói về ban thân tôi, ở mức độ nào đấy và về Malenkov, Bulganin, Pervukhin, Saburov, và các đồng chí khác. Đồng thời tôi xem rằng Mikoian trong thâm tâm phải rất sẵn sàng có thể bóc trần các sự thật dạng này được soi sáng trong thư của Pospelov. Tôi không cả quyết Mikoian biết tất cả! Dù sao chăng nữa thời gian dài Mikoian gần Stalin hơn tất cả chúng ta, và nhiều người làm việc với ông, được ông tin và được ông kính trọng, cũng đã bị giết. Anastas Ivanovich là người thông minh sắc sảo, biết cách thông báo sự thật, tôi nghĩ rằng nếu ông không biết tất cả, thì tôi dự đoán cho rằng vẫn còn ít chứng cớ về các vụ bắt bớ giam cầm và đặc biệt là các vụ hành quyết, được tiến hành trong thời gian Stalin cầm quyền. Tôi có cơ sở nghĩ như vậy, nói riêng, cuộc mạn đàm của tôi với Anastas Ivanovich, khi ông kể cho tôi nghe về buổi nói chuyện của ông với Ordzonikidze ngay đêm hôm trước cái chết của ông ta.
Khi đó tôi là uỷ viên Ban lễ tang Sergo, Chủ tịch Ban lễ tang là Avel Safronovich Enukidze giải thích rằng Sergo chết đột ngột do vỡ tim. Tất nhiên ông giải thích rằng Stalin ra lệnh như thế. Sau này, có lần tôi ở văn phòng của Stalin và hoàn toàn ngẫu nhiên khen ngợi Sergo. Điều này gây ra một ấn tượng xấu, không ai phản đối tôi, nhưng tất cả lặng thinh, im lặng một lúc. Sau đó Malenkov giải thích cho tôi rằng Sergo bị bắn. Tất nhiên khi Sergo chết, Malenkov cũng không biết gì cả về điều này, bởi vì khi đó ông còn chưa gần Stalin bằng tôi. Nhưng trong thời gian chiến tranh vệ quốc ông biết về điều này trong một lần nói chuyện ngẫu nhiên ở Stalin. Sau khi Stalin chết, Mikoian cũng kể rằng Ordzonikidze bị bắn hôm chủ nhật, nhưng đêm thứ bẩy, họ còn đi bộ quanh Kreml và nói chuyện. Trong cuộc hội đàm ấy, Sergo nhận xét rằng không thể tiếp tục sống: chiến đấu với Stalin thì ông không thể, mà chịu đựng thì ông đã làm, không còn sức.
Vì sao chúng tôi xây dựng Uỷ ban của Pospelov? Tôi lập luận như thế này: chúng tôi đang chuẩn bị Đại hội Đảng, Đại hội Đảng đầu tiên sau khi Stalin chết. Tại Đại hội này chúng tôi cần phải nhận trách nhiệm về lãnh đạo Đảng và đất nước. Để làm việc này phải biết chính xác cái gì được làm trước đây và bằng cái gì mà Stalin đưa ra những quyết định về vấn đề này khác. Đặc biệt điều này can hệ tớ những người bị bắt. Vấn đề đặt ra là: họ bị tù vì cái gì? Và cái gì tiếp theo đến với họ? Khi đó trong các trại cải tạo có đến hàng triệu người. Đấy là con số 3 năm sau khi Stalin chết. Trong năm này chúng tôi không thể cắt đứt với quá khứ, không thể có đủ lòng dũng cảm, tìm thấy nhu cầu nội tại hé mở bức màn che và nhìn vào cái gì đằng sau bức bình phong? Cái gì ẩn sau bức màn này, cái gì xảy ra dưới thời Stalinе? Điều này nghĩa là các vụ bắt bớ vô tận, xét xử, độc đoán, bắn giết? Chúng tôi cảm thấy ngượng bởi hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Stalin và mà vẫn chưa thoát khỏi áp lực này sau khi ông chết, mặc dù cũng không thể hình dung rằng các xử bắn lại có thể tỏ ra là vô căn, nói theo ngôn ngữ luật, tội ác chồng chất. Nhưng chính là như thế!
Stalin đã thực hiện những tội ác hình sự, loại tội ác này bị trừng phạt tại bất cứ quốc gia, trừ những quốc gia chẳng có luật pháp nào cả. Tình hình có hai mặt: Stalin chết, chúng tôi chôn cất ông, còn những người vô tội vẫn đi đày trong các trại tập trung... Tiếp theo, mọi lại trở lại bình thường? Tiếp tục chính sách cũ và tất cả những gì được làm dưới thời Stalinе, lại được hoan nghênh? Thậm chí các vụ bắt bớ không đúng và hành quyết? Những người đã bị giết với cái mác “kẻ thù nhân dân”, không ai nghĩ đến minh oan.
Tôi cho rằng Molotov, Vorosilov và Kaganovich là nguồn thông tin lớn nhất về quy mô thực và nguyên nhân các vụ đàn áp dưới thời Stalin. Tôi cho rằng Stalin trao đổi ý kiến với họ về con số này. Mặc dù Kaganovich, có lẽ, chưa biết hết cặn kẽ tất cả. Chưa gì Stalin chia sẻ với ông một cách cởi mở. Nịnh bợ đến như thế, là Kaganovich, ông có thể phanh thây cha đẻ của mình nếu như Stalin chỉ trong nháy mắt nói là điều này là cần thiết cho lợi ích của sự nghiệp Stalin. Stalin cũng không cần lôi kéo Kaganovich: chính con người này hơn ai hết gào to lên rằng cần phải làm ở đâu, không cần phải làm ở đâu, bò rách đầu gối quỵ luỵ trước Stalin, bằng cách bắt người bên phải bên trái và vạch mặt “kẻ thù”.
Khi ông vào Dân uỷ, thì triển khai ngay ở đó một lực lượng đầy đủ.
Sau một cơn điên dài săn lùng “kẻ thù nhân dân” chúng tôi cũng không thể quẳng được gánh nặng tinh thần của những những việc làm từ trước đó cho đến 1956, tất cả đã vẫn còn tin vào cái giả thiết mà Stalin dựng lên, rằng trong nước chúng tôi bị bao vây bởi “kẻ thù nhân dân” và phải chiến đấu với họ, bảo vệ cách mạng. Chúng tôi vẫn như trước đây nằm ở quan điểm nặng nề đấu tranh giai cấp, như là được dựa trên học thuyết và được Stalin thực thi. Nhưng khi chúng tôi đi đến quyết định thành lập Uỷ ban kiểm tra và Uỷ ban này cung cấp những tài liệu của mình, những tài liệu này đã được làm một cách bí mật. Sau đó, tại Đại hội 20, báo cáo của tôi được lãnh đạo theo tài liệu của Uỷ ban này. Bản báo cáo được copy gửi cho toàn bộ các cơ sở Đảng và thi hành những biện pháp, để các tài liệu sau khi đọc xong được thu hồi về.
Chúng tôi phân phát chúng cho các ĐCS anh em để biết. Trong số này, có Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Ở Ba Lan đúng lúc đó người lãnh đạo đảng là Berut chết. Sau khi ông chết, ở Ba Lan nổi lên một làn sóng, và tài liệu nói trên rơi vào tay những người Ba Lan không ưa Liên Xô. Họ sử dụng tài liệu này vào mục đích của mình và nhân bản nó. Người ta thậm chí nói với tôi rằng những người Ba Lan đã bán rẻ những tài liệu này. Báo cáo của Khrusev, làm trong phiên họp kín Đại hội 20 ĐCSLX, được đánh giá là không đắt. Đơn giản người ta có thể mua nó ở chợ trời, kể cả những người từ khắp các nước trên thế giới. Như thế tài liệu này đã được lưu hành. Tôi nhớ, các nhà báo phỏng vấn tôi rằng tôi có thể nói theo lý do này được không? Tôi trả lời tôi không biết những tài liệu như thế và cứ để tình báo Mỹ trả lời vấn đề này. Nhưng tôi phải trả lời thế nào, nếu phải nói ra bí mật?
Như vậy, chúng tôi sát Đại hội thường kỳ của Đảng. Tôi từ chối báo cáo tổng kết và cho rằng lần này chúng tôi làm lãnh đạo tập thể, nên báo cáo tổng kết không nhất thiết là bí thư BCHTƯ phải làm. Vì thế tại phiên họp thường kỳ Đoàn chủ tịch BCHTƯ tôi đề nghị quyết định ai sẽ làm báo cáo tổng kết. Tất cả mọi người, trong số này có cả Molotov (ông là người nhiều tuổi nhất trong số chúng tôi và có nhiều cơ sở hợp với vai trò người báo cáo), đồng thanh cử tôi làm báo cáo. Hình như về theo suy nghĩ hình thức, thì thường Bí thứ thứ nhất BCHTƯ đóng vai trò báo cáo tổng kết. Nếu để người khác báo cáo, thì có thể gây ra phức tạp. Sau khi Stalin chết trong số chúng tôi không có ai được coi là người lãnh đạo sáng giá. Có nhiều người cũng muốn đứng lên phất cờ, nhưng chưa có một người nào vượt trội cả. Vì thế người ta trao việc làm báo cáo cho tôi. Nhưng khi ấy một số người, trong số này có Vorosilov và Kaganovich, phản đối việc nói ra trên Đại hội điều gì đấy về sự đàn áp phi pháp dưới thời Stalin.
Tôi chuẩn bị báo cáo. Bản báo cáo tổng kết được thảo luận tại Plenum BCHTƯ và được tán thành. Bản báo cáo là thành quả của sáng tạo tập thể, tập hợp các sức lực của BCHTƯ, của các viện nghiên cứu khoa học và một loạt các cơ quan khác, và cả những nhân vật cuốn hút vào việc hình thành báo cáo tổng kết. Đại hội khai mạc. Báo cáo đã sẵn sàng. Triển khai các tranh luận. Đại hội tiến hành tốt đẹp. đối với chúng tôi, tất nhiên, là một thử thách. Đại hội sẽ ra sao sau khi Stalin chết? Nhưng tất cả các phát biểu đều hoan nghênh đường lối BCHTƯ, không cảm thấy một sự đối lập nào cả, không thấy những dấu hiệu của cơn bão tố nào cả. Tôi cũng luôn lo lắng, dù rằng Đại hội tiến hành trôi chảy, báo cáo được hoan nghênh. Tuy nhiên tôi cũng chưa bằng lòng. Một ý nghĩ dày vò tôi:
- Rồi Đại hội bế mạc, sẽ phải ra, và đây là hình thức thôi. Nhưng cái gì tiếp? Trong lương tri chúng tôi vẫn đọng lại hàng trăm người bị giết oan, kể cả hai phần ba uỷ viên BCHTƯ được bầu tại Đại hội 17. Ít ai còn nguyên vẹn, hầu như tất cả các cốt cán chẳng đã bị bắn hoặc bị đàn áp. Hiếm có ai gặp may để còn sống. Làm gì bây giờ?
Tài liệu của Uỷ ban của Pospelov nhói óc tôi. Cuối cùng tôi thu hết sức lực và trong một lần nghỉ giải lao, trong gian phòng Đoàn chủ tịch BCHTƯ chỉ có một số uỷ viên, lại đặt vấn đề:
- Thưa đồng chí, tài liệu của Pospelov ra sao đây? Làm gì với những người bị bắt và bị giết từ quá khứ? Đại hội bế mạc, và chúng tôi ra về, mà không nói được lời của mình? Chính vì chúng tôi cũng biết rằng những người bị sự đàn áp là oan uổng, không phải là “kẻ thù nhân dân”.
Đây là những người lương thiện, trung thành với Đảng, cách mạng, sự nghiệp Lenin xây dựng CNXH ở Liên Xô. Họ sẽ từ nơi bị đầy ải trở về. Chúng tôi đâm ra không giữ họ ở chỗ đó nữa Phải nghĩ xem làm thế nào để họ quay về một cách danh dự.
Chúng tôi trước đó vẫn chưa thông qua quyết định xem xét việc này và việc thả những người bị kết tội oan về nhà.
Ngay khi tôi nói xong, mọi người lập tức quẳng vào mặt tôi. Đặc biệt Vorosilov:
- Anh làm gì thế? Chẳng lẽ thế này ư? Chẳng có lẽ có thể nói hết điều này tại Đại hội? Điều này làm hỏng uy tín của Đảng ta, đất nước ta như thế nào? Anh phải giữ bí mật về điều này chứ. Và khi đó người ta sẽ khiếu kiện chúng tôi. Chúng tôi sẽ nói gì về vai trò cá nhân của chúng tôi?
Cả Kaganovich rất bực tức, và cùng một quan điểm như thế. Đó là quan điểm không có tính Đảng sâu sắc mà là ích kỷ. Đây là sự phủi trách nhiệm và nếu tội các còn sờ sờ ra đó thì phải ỉm đi, che giấu đi.
Tôi nói với họ:
- Điều này là không thể, thậm chí nếu lập luận từ quan điểm của các ông. Không thể ỉm đi được. Người ta phải ra khỏi nhà tù, về nơi chôn rau cắt rốn, kể lại cho họ hàng, người thân và bạn bè, đồng chí, cho toàn quốc và toàn Đảng, biết rằng những người vẫn còn sống từng bị đàn áp oan uổng. Những người ngồi tù 15 năm, có ai đó còn bị hơn nhiều, hoàn toàn chưa là gì. Tất cả những điều buộc tội họ chỉ là chuyện bịa đặt. Không thể im được. Sau đó tôi đề nghị suy nghĩ: tiến hành Đại hội đầu tiên sau khi Stalin chết. Tôi cho rằng chính trên Đại hội chúng tôi cần thành tâm nói hết tất cả sự thật về đời sống và hoạt động của Đảng và của BCHTƯ trong thời gian tổng kết. Chúng tôi bây giờ tổng kết từ thời kỳ sau khi Stalin chết, nhưng các uỷ viên BCHTƯ phải nói như thế nào trong thời kỳ Stalin. Chúng tôi đã lãnh đạo đất nước cùng với Stalin. Khi Đảng biết sự thật từ những người bị kết tội oan trước đây, họ nói với chúng tôi: Hãy cho biết điều này là như thế nào? Đại hội 20 họp, và ở đó người ta chẳng kể cho chúng ta cả. Và chúng tôi không có khả năng trả lời. Chả lẽ nói rằng chúng tôi không biết gì hết, sé là lừa dối: chính là chúng bây giờ biết tất cả sự thật, về sự đàn áp vô căn cứ, sự chuyên quyền của Stalin.
Những phản ứng quật lại cũng rất mãnh liệt. Vorosilov và Kaganovich lặp lại bất tận:
- Người ta buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Đảng có quyền buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi ở trong ban lãnh đạo, và nếu chúng tôi không biết tất cả sự thật, đấy là tai hoạ của chúng tôi, nhưng chúng tôi chịu trách nhiệm tất cả.
Tôi nói với họ:
- Nếu xem xét Đảng ta những một Đảng dựa trên tập trung dân chủ, thì chúng ta, những người những người lãnh đạo Đảng, không có quyền không biết. Tôi, và nhiều người khác nằm trong tình thế là, tất nhiên, không biết nhiều, vì rằng được đặt trong một chế độ, lúc đó anh chỉ biết người ta giao cho anh cái gì, còn những cái khác anh không được nói, và đừng thọc mũi tiếp điều này. Chúng tôi không chọc mũi. Nhưng không phải tất cả ở trong tình thế như vậy. Một số trong chúng ta biết, một số thậm chí chấp nhận tham gia giải quyết vấn đề này. Vì thế ở đây mức độ trách nhiệm cũng khác nhau. Cá nhân tôi sẵn sàng là uỷ viên BCHTƯ Đảng từ Đại hội 17 và uỷ viên Bộ chính trị từ Đại hội 18 chịu phần trách nhiệm của mình, nếu Đảng thấy cần phải truy cứu trách nhiệm của ai lãnh đạo trong thời Stalin, khi sự chuyên quyền hoành hành.
Họ là không đồng ý với tôi. Họ phản đối:
- Anh biết cái gì sẽ xảy ra không?
Lời đối đáp Vorosilov và Molotov đặc biệt the thé. Vorosilov chứng minh rằng nói chung không cần làm điều này:
- Hừ, ai hỏi chúng ta cơ chứ? - ông lặp lại.
Tôi hỏi lại:
- Những tội ác có không? Chính chúng ta chứ không đợi ai khác, phải nói rằng có. Khi nào người ta hỏi chúng ta, thì mới bắt đầu phán xét. Tôi không muốn điều này và tôi không chịu trách nhiệm như thế.
Nhưng chẳng thể nào thống nhất ý kiến được, và tôi đã thấy rằng không đạt được đúng quyết định từ các uỷ viên. Trong Đoàn chủ tịch của Đại hội chúng tôi chưa đặt vấn đề này, chừng nào thoả thuận được nội bộ Đoàn chủ tịch BCHTƯ. Lúc đó tôi đưa một đề nghị như sau:
- Đại hội Đảng cứ họp. Kỷ luật nội bộ Đảng cần có sự nhất quán của lãnh đạo trong các uỷ viên BCHTƯ và uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ, sẽ không tác dụng trong thời gian Đại hội, bởi vì Đại hội có ý nghĩa cao nhất. Bây giờ mỗi uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ và uỷ viên BCHTƯ, trong số này và tôi phải làm báo cáo tổng kết, từng người có quyền phát biểu tại Đại hội và trình bày quan điểm của mình, thậm chí nếu quan điểm này không phù hợp với quan điểm báo cáo.
Tôi không nói rằng tôi sẽ thông báo về tài liệu của Uỷ ban điều tra. Nhưng, hình như có ai phản đối, cho rằng tôi có thể phát biểu và trình bày quan điểm của tôi động chạm đến việc bắt bớ, bắn giết. Bây giờ tôi không nhớ sau đó những ai ủng hộ ủng hộ tôi. Tôi nghĩ rằng đây là Bulganin, Pervukhin và Saburov. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ rằng, có thể, Malenkov cũng ủng hộ tôi. Ông là bí thư BCHTƯ phụ trách nhân sự, vai trò của ông trong việc này là khá tích cực. Ông, nói riêng, cũng giúp đỡ Stalin điều động cất nhắc cán bộ, rồi sau đó tiêu diệt họ. Tôi không dám chắc cá nhân ông khởi xướng đàn áp. Chưa chắc. Nhưng tại những vùng, khu vực, mà Stalin cử Malenkov đến đó để chỉnh đốn hàng ngũ, thì hàng nghìn người bị đàn áp và nhiều người trong số này bị xử tử. Tuy nhiên Malenkov có thể bây giờ ủng hộ tôi.
Có ai đấy nảy ra sáng kiến:
- Vấn đề đặt ra thế này, hình như tốt hơn là làm thêm một bản báo cáo.
Lúc ấy mọi người miễn cưỡng đồng ý. Tôi nói với họ:
- Thậm chí ở những ai thực hiện những tội ác, lần này đến lúc họ có thể thú nhận, và họ cũng được khoan hồng, không phải biện minh. Nếu thậm chí từ quan điểm xem xét vấn đề báo cáo sự lạm quyền mà Stalin thực hiện, thì có thể làm được ngay bây giờ, tại Đại hội 20. Để đến Đại hội 21 thì sẽ muộn, nếu chúng ta còn kịp sống đến lúc đó và đòi hỏi những vấn đề trước đây thì chẳng cần nữa. Vì thế tốt nhất làm bản báo cáo thứ hai từ bây giờ.
Khi đó nảy sinh vấn đề ai phải làm báo cáo. Tôi đề nghị Pospelov, và lập luận đề nghị của mình là ở chỗ Pospelov nghiên cứu vấn đề này với tư cách Chủ tịch Uỷ ban và viết tài liệu để chúng tôi sử dụng nó. Vì thế ông không phải mất thời gian chuẩn bị: ông có thể chuyển các tài liệu này vào báo cáo và đọc nó tại Đại hội. Những người khác (tôi không nhớ là ai) phản đối và đề nghị là tôi làm luôn báo cáo này. Đối với tôi là bất tiện: vì trong báo cáo tổng kết tôi không nói một lời nào về điều này, còn sau đó tôi lại làm thêm báo cáo thứ hai? Và tôi từ chối. Nhưng họ phản đối tôi:
- Nếu bây giờ không phải là anh phát biểu, mà là Pospelov, cũng là một trong những bí thư BCHTƯ, thì phát sinh vấn đề: Vì sao Khrusev trong báo cáo tổng kết không nói tý gì về điều này, mà Pospelov lại phát biểu một vấn đề quan trọng để tranh luận? Không thể Khrusev không biết tài liệu của Pospelov hoặc không coi trọng sự cần thiết của vấn đề. Nghĩa là, về vấn đề này có sự bất đồng trong lãnh đạo? Mà Pospelov phát biểu chỉ với ý kiến riêng?
Luận cứ này cứ lằng nhằng mãi, cuối cùng tôi phải đồng ý. Quyết định rằng tôi sẽ phát biểu tài liệu của Uỷ ban cùng với báo cáo. Chúng tôi tổ chức phiên họp kín trong thời gian tranh luận về tổng kết của BCHTƯ, ở đó tôi cũng làm bản báo cáo thứ hai.
Đại hội nghe tôi một cách im lặng. Như người ta nói có thể nghe được tiếng ruồi bay. Mọi người đều quá bất ngờ. Cần, tất nhiên, biết rằng các đại biểu đã sửng sốt về những câu chuyện về sự độc ác được thực hiện đối với những người từng có công lao, những bolsevich lão thành và những người trẻ. Bao nhiêu người lương thiện từng được điều động đến khác nhau của đất nước đã bị giết! Đây là một thảm khốc cho Đảng và cho các đại biểu tham dự Đại hội. Báo cáo tại Đại hội 20 ĐCSLX về sự lạm quyền của Stalin đã ra đời như thế.
Tôi xem rằng vấn đề được đưa ra hoàn toàn đúng lúc và kịp thời. Không những không hối hận, những một số người nghĩ, mà còn thoải mái trong lòng rằng đã chộp đứng thời điểm và đã cố làm để bản báo cáo này được làm. Tất cả việc này có thể đưa đến hướng khác, mọi người còn bị sốc là còn nhiều người cũng bị giam cầm nhe trước đây trong các nhà tù và trại cải tạo. Năm 1953 chúng tôi đã có giả thiết về vai trò Beria dường như, Beria hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự lạm quyền thực hiện thời Stalinе. Điều này cũng gây sốc. Chúng khi đó tôi không cách nào gột khỏi ý nghĩ Stalin - người bạn của mọi người, bố đẻ nhân dân, thiên tài và vân vân... Không thể ngay lập tức hình dung rằng Stalin - kẻ sát nhân và tên hung đồ. Vì thế sau bản án cho Beria chúng tôi lại luẩn quẩn trong giả thiết mà chúng tôi xây dựng nên có lợi minh oan cho Stalin: Ông Trời không có lỗi, mà lỗi ở kẻ nịnh bợ, kẻ báo cáo sai cho Trời, vì vậy Trời mới giáng mưa đá, sấm sét và các tai hoạ khác. Nhân dân bị khổ sở không phải vì Trời muốn thế, mà do tên nịnh nọt Nicolai, Ilia Prosok, Beria và vân vân... Và bây giờ có lần có người đặt câu hỏi:
- Liệu có cần phải kể về Stalin không?
Đây hoàn toàn không phải là những người đồng phạm của Stalin trong tội ác, mà thực chất họ là những người quen thói sợ Stalin, và bây giờ họ khó xử. Thông thường các vị lão thành đặt các vấn đề như thế. Họ đã sống với quá khứ, họ khó từ bỏ nổi những hiểu biết trước đây và luận cứ của thời Stalin. Đây cũng một trong những khuyết điểm giáo dục Đảng viên. Tất cả các phương pháp giáo dục trong Đảng, Stalin làm nó thích ứng với mình, với hoạt động của mình: sự tuân lệnh không bàn cãi, sự tín nhiệm tuyệt đối. Trong thời gian chiến tranh có chết chóc mà không nghi ngờ, tất nhiên, nhưng sau này luôn luôn quay ngoắt theo hướng ngược lại, vì rằng một người tin anh mà không bàn luận, khi biết, sự tín nhiệm của anh ta bị lừa, họ sẽ là kẻ thù của anh. Điều này rất nguy hiểm. Tôi luôn luôn đã đứng, hơn nữa bây giờ tôi đang đứng vì sự thật, vì sự đúng đắn tuyệt đối trước Đảng, Đoàn thanh niên và tất cả nhân dân. Có một kết luận là chỉ có nguồn gốc bất tận sức mạnh của Đảng mới có thể chiếm được sự tín nhiệm nhân dân. Người ta biết rằng Đảng đã lừa quần chúng đông đảo, Đảng đến đường cùng.
Bây giờ tôi thường nghe đài. Radio - đó là người bạn đồng hành của tôi trong thời gian dạo chơi. Từ radio tôi nhận cả thông tin, cả sự thoả mãn. Tôi yêu âm nhạc, yêu dân ca. Nhạc hiện đại cũng làm tôi thích. Nhưng, tôi cảm thấy, hình như con người độ tôi có xu hướng sống lại tời trai trẻ. Đặc biệt trong tâm trạng tốt, tôi vừa đi bộ, nghe giọng hát của Ludmina Zykina, ca sĩ mà tôi yêu thích, và nghe cả những buổi truyền khác. Các buổi truyền thanh rất nhiều, đa phần là tốt, nhưng cũng gặp cả những những chuyện nhảm nhí, chỉ có làm bẩn chương trình phát sóng thôi.
Một lần tôi nghe đọc một trong các chương cuối tiểu thuyết “Họ chiến đấu vì tổ quốc” của Solokhov. Mikhail Aleksandrоvich tin bởi sự sáng tác của mình: chuyện thời Stalin lạm quyền, ông trấn áp những cán bộ lương thiện, được Lenin giáo dục, Solokhov tả về cuộc nói chuyện của hai ông đánh cá. Họ ngồi và chuyện trò. Người này hỏi người kia:
- Nên hiểu đồng chí của Stalin như thế nào nhỉ? Người ta nói rằng ông bỏ sót. Nhưng bao nhiêu người bị tội, bao nhiêu người bị hành quyết! Có thể Stalin phạm vào điều này không?
- Đúng, khó hiểu - người kia trả lời.
Lúc đó người đầu tiên lại hỏi:
- Thế không phải Beria chính là người có lỗi à? Chính ông báo cáo tất cả cho Stalin?
Và câu trả lời:
- Đúng, tất cả là do Beria.
Mikhail Aleksandrоvich - một người thông minh và nhà văn giỏi. Sự thật việc ông lại bám vào cách hiểu biết tương tự theo truyền thống của chẳng và nhân dân, trong khi bao nhiêu người chết bởi tay Stalin, tất nhiên, không tô hồng cho ông. Lúc ấy cốt lõi là thế này: Beria không dựng Ezov, mà từ trước đây, dựng Yagoda. Tất cả bọn họ tiếp theo chân nhau vào màn kịch. Một “nhân vật”, được Stalin dựng lên, sẽ được thay thế bằng nhân vật khác, và đây cũng là logic đối với Stalin. Stalin dùng tay người khác để giết những người lương thiện và ông biết rằng họ là những người trong sạch trước nhân dân và trước Đảng. Những người chết chỉ vì rằng ông ông sợ họ và không tin họ. Sau đó, phải dần dần loại bỏ một đồ tể và thay bằng một đồ thứ hai. Cứ như thế ba thê đội tiễu phạt: trước tiên Yagoda, sau đó Ezov, sau đó Beria.
Đến Beria, thì điều này chấm dứt. Nói đúng ra, không phải chính Beria, mà do cái chết của Stalin. Beria đứng trước toà án nhân dân như một tội phạm. Nhưng khi đó chúng tôi vẫn còn lẩn quẩn về cái chết Stalin, thậm chí khi mọi người biết rõ nhiều sau phiên toà xử Beria, vẫn còn đưa cho Đảng và nhân dân những lời giải thích không đúng, tất cả đổ bớt sang đầu Beria. Đối với chúng tôi, Beria tỏ là tiện lợi cho hình ảnh này. Chúng ta đã làm tất cả để bào chữa cho Stalin, dù chúng ta che chở được tên tội phạm, tên giết người, vì chúng tôi vẫn chưa thoát khỏi sự ngưỡng mộ Stalin.
Lần đầu tiên tôi thực sự cảm thấy sự dối trá, khi tôi đến Nam Tư và hội đàm và Tito và đồng chí khác. Khi chúng tôi đụng chạm vấn đề này và đổ cho Beria, họ cười và đáp lại một cách nhạo báng. Điều này làm chúng tôi ức, và chúng tôi, để bảo vệ Stalin, đã cãi nhau rất to, thậm chí suýt đến đổ vỡ to. Sau đó tôi công khai phát biểu bảo vệ Stalin và chống Nam Tư. Bây giờ tất cả rõ ràng là không đúng, lúc ấy tôi ở quan điểm của một người chưa nhận thức được cần vạch mặt đến cùng những tội ác của Stalin, sao cho các phương pháp hành xử tương tự không bao giờ có thể quay về Đảng ta nữa. Người, quả là muốn thiết lập kỷ luật của Lenin trong Đảng ta, mình không phải kỷ luật của Stalin, phải làm hết sức lực để phanh phui Stalin và sự kết án các phương pháp Stalin. Cần phải minh oan những người lương thiện trong số những người chưa được minh oan, và phanh phui những sự phi pháp được tạo ra trước đây, để thậm chí bóng ma của những phương pháp như thế không thể đội mồ sống lại.
Tôi sửng sốt bởi một số tướng lĩnh lớn quân đội trong hồi lý của mình muốn minh oan cho Stalin và cho ông là người cha nhân dân, đã chứng minh rằng nếu không có ông thì chúng tôi không chiến thắng và rơi vào ách phát xít. Đây là lý luận ngu ngốc, mù quáng. Ngay bây giờ, khi không có Stalin, chúng tôi vẫn bị rơi vào ảnh hưởng của Đức, Anh, Mỹ hay sao? Không, không bao giờ. Nhân dân đưa ra những người lãnh đạo mới và có khả năng bảo vệ mình như từng có trong quá khứ. Sự phi lý của những bàn luận như thế không cần thiết trong những bằng chứng riêng.
Tôi nhớ, tại một hội nghị, một chỉ huy quân sự, nhân ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh cả Bliukher. Những người khác, tuy ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh Tukhachevski. Đồng chí, phải ăn nói có trước có sau! Không thể đặt kẻ giết người và nạn nhân lên một bệ. Bliukher là ai? Anh hùng nội chiến, có bẩm sinh quân sự, thợ nguội, nằm trong hàng ngũ tướng lĩnh lớn. Ông đã nhận huân chương Cờ Đỏ №1. Bliukher là số một. Sau đó, là một trong số những chỉ huy quân sự tốt nhất của Liên Xô được cử sang Trung Quốc làm cố vấn quân sự cho Tôn Trung Sơn. Và bỗng nhiên ông bị bắn! Không thể nói cùng một lúc về Stalin và Bliukher, mà lờ đi nguyên nhân cái chết Bliukher. Không thể nhắm mắt cho rằng chẳng ai nhìn thấy gì cả. Sự xấu xa tương tự có thể chỉ gây ra mất lòng tin.
Tôi có lần ở Bulgari, một trong những bài phát biểu tôi dẫn lời của Puskin, trong tác phẩm của ông có nói về cuộc nói chuyện giữa Mozart và Salere. Mozart không hề nghi ngờ rằng Salere chuẩn bị đầu độc mình, nói:
- Thiên tài và tội ác không thể là một.
Đúng vậy! Với Stalin cũng vậy. Không thể ghép thiên tài và sát nhân vào cùng một bộ mặt. Không thể gắn hàng nghìn nạn nhân với những kẻ sát nhân, mà không có sự giải thích về vụ việc Stalin. Không thể trên một bệ đặt hai bức tượng. Tội ác do Stalin gây ra!
Theo lối nghĩ như thế - có câu hỏi khác. Một số người tranh luận như thế này: điều này được làm không phải nhằm mục đích vụ lợi cá nhân, mà là lo cho dân. Thật mọi rợ! Lo cho dân, thế mà lại giết những đứa con tốt nhất của họ! Logic khá ngu đần. Sự thật, tìm những luận cứ để biện bạch cho kẻ giết người, luôn luôn là phức tạp.
Trong báo cáo của tôi tại Đại hội 20, không nói gì iên quan tới những vụ án công khai thập niên 30, trong đó có mặt đại diện Đảng cộng sản anh em. Lúc đó người ta kết án Rykov, Bukharin, những lãnh tụ khác của nhân dân. Họ xứng đáng để được gọi là lãnh tụ. Chẳng hạn, Rykov. Sau khi Lenin qua đời, ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Liên Xô, có công lao to trước Đảng, trước nhân dân và xứng đáng lãnh đạo Chính quyền xô viết. Nhưng người ta kết án và bắn ông. Còn Bukharin? Bukharin là trong những yêu quý Đảng. Thế hệ Đảng viên lão thành РĐCS(b) từng học theo cuốn sách của ông Khoa học Mác Lênnin. Bukharin nhiều năm là chủ bút báo Sự Thật. Lenin gọi ông thân mật là “Bukhric của chúng ta”. Hoặc Zinovev và Kamenov. Trong cách mạng tháng Mười 1917 họ có sai lầm. Điều này ai cũng biết, nhưng những cái khác cũng nên biết. Zinovev và Kamenov được Lenin đưa vào Bộ chính trị BCHTƯ Đảng và ngang hàng các vị lãnh đạo khác Khi Chính phủ xô viết chuyển về Moskva, Zinovev còn ở Petrograd. Ông được tin tưởng giao lãnh đạo cái nôi cách mạng và đã nâng ngọn cờ khởi nghĩa tháng Mười năm 1917. Kamenov được Moskva tin tưởng. Ông là, nói riêng, là Chủ tịch Mossoviet. Lenin vc quan hệ với ông sau những sai lầm người ta đã tha thứ cho ông.
Có lần tôi nghe đài nói là: Lenin trao một cái gì đó cho Lomov. Nhưng Lomov ở đâu nhỉ? Tôi biết rõ Lomov, không ít lần tiếp xúc với ông, khi làm việc tại Donbass, từ sau nội chiến. Lúc đó ông lãnh đạo khai thác than tại Donbass. Tôi thường có mặt tại các buổi họp của ông, hoặc ở Kharkov, nơi trụ sở chính của ông. Đó là một người rất được kính trọng trong Đảng с thâm niên bí mật trước cách mạng. Lomov đâu rồi? Ông bị bắn, không còn Lomov nữa. Tôi nói về Kedrovе, Tukhachevski, Egorov, Bliukher, và những người khác. Có thể lập một quyển sách dày thống kê chỉ những họ tên những tướng lĩnh, Các nhà lãnh đạo Đảng, Đoàn thanh niên, kinh tế, ngoại giao, khoa học. Tất cả đều là những người lương thiện. Họ là nạn nhân của Stalin, nạn nhân sự chuyên quyền.
Vấn đề những vụ án công khai thập niên 30 cũng cũng có hai mặt. Chúng tôi lại sợ nói đến tận cùng, mặc dù không gây ra nghi ngờ nào, rằng những người này không có tội, họ là nạn nhân sự chuyên quyền. Tại các vụ án xử công khai, có mặt những người lãnh đạo đảng anh em, mà chính họ sau này đã chứng minh tại nước họ đây là những bản án chính đáng. Chúng tôi không muốn làm mất uy tín về những tuyên bố của họ, và hoãn lại việc minh oan cho Bukharin, Zinovev, Rykov và những người khác đồng chí trong một thời hạn chưa định được. Tôi nghĩ rằng đúng là cần phải nói đến cùng. Cái kim trong bọc cũng phải lòi ra.! Thành công chủ yếu Đại hội 20 - là nó bắt đầu quá trình làm trong sạch Đảng và đưa Đảng trở lại chuẩn mực sinh hoạt, mà Lenin và những đứa con thân yêu nhất của đất nước đã làm vì nó.
Một phần những người bị kết án sai đã được tha, ngay khi Stalin chết. Beria khi đặt vấn đề này, điều chỉnh nó, đưa ra một đề nghị thích hợp, và chúng tôi đồng ý với ông. Nhưng té ra là những người được tha lại là tội phạm hình sự: giết người, trấn lột, bọn vô lại và đểu cáng. Khi bọn này quay về nơi ở cũ, thì tái diễn những cảnh trộm cắp, cướp giật và giết người. Nhân dân ca thán rằng người ta thả bọn trộm cắp và giết người và họ làm bẩn sự nghiệp của mình. Trước đó Beria bị vạch mặt và kết án. Vì thế chính chúng tôi phải đưa cho nhân dân những chỉ thị. Bản thân chúng tôi cũng thấy đây là việc làm không đúng, mặc dù thông qua đề nghị của Beria, nhưng quyết định lại do Chính phủ và BCHTƯ thông qua, như vậy tất cả chúng tôi chịu trách nhiệm về việc này. Bao nhiêu đối tượng này được thả, tôi khó nói được, tuy nhiên trong mọi trường hợp cũng là một đội quân lớn.
Những người bị kết án về chính trị và những người bị lưu đày vẫn còn nằm trong các nhà tù và các trại tập trung. Beria thậm chí đề nghị thông qua luật trao quyền cho Bộ nội vụ, nghĩa là Beria, có quyền xem xét là thả ai cho ai sau khi hết thời hạn trừng phạt. Như tôi đã kể, tôi đã thẳng cánh phản đối như thế nào, và mọi người ủng hộ tôi. Do đó, Beria rút đề nghị này. Số phận tất cả những người tù chính trị ra sao, khi Viện trưởng Viện Kiểm sát Rudenko trình tôi về sự vô tội của họ, tôi hỏi ông:
- Sao lại thế? Chính tôi đã nghe, họ thú nhận tội mình người ta buộc cho họ cơ mà.
Rudenko cười:
- Đó là nghệ thuật của người điều tra và người xử. Hình như những con người này bị dồn đến trạng thái, chỉ có một cách duy nhất để kết thúc sớm những đau khổ và nhục nhã - là tự thú nhận, bước sau đó là cái chết”.
Sau Đại hội 20 ĐCSLX
Ngay sau Đại hội 20, trong tất cả các ĐCS, đặc biệt Pháp và Ý bắt đầu xúc động. Cũng dễ hiểu rằng đó là những Đảng vô sản, đông quần chúng, mà tại những phiên toà xử “kẻ thù nhân dân” lại có mặt Torez và Toliatti, hai ông này về sau làm nhân chứng cho nước họ rằng những người bị khép tội là đúng luật. Thế mà bây giờ tất cả xoay ngược lại! Tình tiết này cũng ngăn họ không công bố tư liệu phiên toà công khai, mặc dù cũng chẳng có tội ác nào cả và các bản án chỉ có tính ý nguyện và không chứng minh được tội ác của những bị cáo “tự thú nhận”.
Bắt đầu mây đen ở Ba Lan. Sau Ba Lan, lan sang Hungary. Sau khi người lãnh đạo Ba Lan là Berut qua đời, tôi, đại diện toàn quyền BCHTƯ ĐCSLX, đến Warsawa, tham dự Plenum BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Tôi không có mặt tại các phiên họp này để người ta không buộc tội Liên Xô can thiệp vào nội bộ Đảng anh em. Các phiên họp tiến hành rất sóng gió, các uỷ viên BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan bày tỏ không hài lòng với Liên Xô. Những người trong BCHTƯ Đảng Ba Lan, thân với chúng tôi, đã kể như thế. Điều này làm chúng tôi không sung sướng gì, nhưng chúng tôi cho rằng đây là thể hiện dân chủ - một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, sau một thời gian, ở đấy xảy ra những sự kiện làm chúng tôi lo ngại.
Tại Plenum, Okhab được bầu làm Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Chúng tôi cũng có những quan hệ cá nhân tốt với Okhab. Tôi kính trọng ông, theo tư liệu, ông hoàn toàn xứng đáng điều này. Một người cộng sản lão thành, trải qua trường học cách mạng trong tù. Và thoạt đầu, chúng tôi cho rằng ông xứng đáng tin cậy. Sau khi ông được bầu làm Bí thư thứ nhất, chúng tôi hội đàm với ông, và tôi đặt vấn đề:
- Tại sao Gomumka lại ngồi ngồi tù ở Ba Lan?
Khi tôi nói điều này với Berut, thì ông ta trả lời tôi như thế này:
- Tôi và chính tôi cũng không biết, tại sao Gomumka ngồi tù và ông bị buộc tội gì.
- Ông nghĩ xem, có thể tha ông ấy được không?
Thế là Okhab bắt đầu chứng minh với tôi rằng không thể tha được. Ngồi tù không chỉ một mình Gomumka: mà còn cả Slykhanski, cả Loga-Sovinski, Klisko và nhiều người khác. Điều này làm tôi lo ngại, và tôi không thể nào hiểu, vì sao họ bị giữ trong tù. Tôi thảo luận hầu như với tất cả các vị lãnh đạo Đảng công nhân thống nhất Ba Lan, và họ đều chứng minh rằng không thể làm một cái gì cả, không thể tha những người này.
Sau một thời gian, Okhab dẫn đầu Đoàn đại biểu đến Trung Quốc. Khi họ quay về nước, ghé qua Moskva, tôi lại bàn bạc với Okhab. Trước đó Gomumka được tha, và tôi hỏi Okhab:
- Liệu chúng tôi chúng tôi có thể mời Gomumka đến Liên Xô, nghỉ ở Hắc hải, ở Krym hoặc Kavkaz, nơi có khí hậu tốt lành để nghỉ hơn là ở Ba Lan.
Ông trả lời không rõ ràng và quay về Warsawa. Điều này làm tôi lo ngại, thậm chí còn băn khoăn. Và đúng sau một vài ngày đại sứ của chúng tôi ở Ba Lan cho biết ở Ba Lan bùng ra sự kiện là nhiều người Ba Lan phỉ báng Liên Xô và suýt nữa thì đảo chính, do những người chống Liên Xô tiến hành. Phát sinh mối đe doạ tuyến giao thông, liên lạc của chúng tôi ở CHDC Đức, qua Ba Lan. Nhưng sự kiện ở Ba Lan chúng tôi rất lo ngại và có những nguyên nhân khác nhau, và chúng tôi quyết định áp dụng các biện pháp để đảm bảo cho chúng tôi tự do qua lại Ba Lan và đảm bảo liên lạc với quyết định Liên Xô ở CHDC Đức. Chúng tôi dự định cử một Đoàn đại biểu đến Ba Lan, nhưng trước khi đi, chúng tôi gọi điện cho phía Ba Lan. Tình hình ở đó tiếp tục nóng bỏng. Báo chí Ba Lan mạnh mẽ phê bình Liên Xô, dường như Liên Xô cướp bóc Ba Lan, mua than của họ theo giá rẻ và bán cho họ quặng sắt theo giá cao. Những việc này quả thật xảy ra thời Stalinе, khi chúng tôi mua bán với các nước dân chủ nhân dân không theo giá thế giới, mà là áp đặt. Lãnh đạo Ba Lan khuyên chúng tôi không đến vào lúc này. Nhưng điều này lại càng làm chúng tôi lo ngại hơn, vì lẽ những người Ba Lan rõ ràng chứng minh rằng họ không muốn gặp chúng tôi Và chúng tôi quyết định nhanh chóng cử một Đoàn đại biểu đến đó gồm: Khrusev, Mikoian, Bulganin và một số người khác.
Chúng tôi bay đến Warsawa. Ở đó chúng tôi gặp Okhab, Gomumka, những đồng chí khác. Cuộc gặp rất lạnh lùng. Khuôn mặt của Okhab lộ rõ vẻ lo âu. Tất cả kéo đến dinh thự, cung điện ở Larenka nơi bắt đầu đàm phán ở mức gay gắt. Chúng tôi cảnh cáo về việc làn sóng chống xô viết tăng lên ở Ba Lan và tuyên bố rằng chúng tôi kiên quyết đảm bảo giao thông, liên lạc của mình với quân đội xô viết ở CHDC Đức. Đó là áp lực thẳng thừng từ phía chúng tôi. Okhab nổi khùng:
- Ông đưa yêu sách cho tôi phải không? Bây giờ tôi không phải là bí thư BCHTƯ. Ông đi mà hỏi người khác.
Và ông ta chỉ sang Gomumka. Lời nói của Okhab lộ ra vẻ không hài lòng. Chúng tôi khi ấy có một ấn tượng nặng nề về tình hình trong ban lãnh đạo Ba Lan. Chúng tôi không biết thực chất tình hình và sợ rằng chính quyền rơi vào tay những người đang tiến hành chính sách chống Liên Xô. Nhưng chúng tôi không muốn trở lại những quan hệ của chúng tôi với Ba Lan như trước chiến tranh, mà chúng tôi vẫn chưa phai trong đầu.
Gomumka cố gắng xua tan nghi ngờ của chúng tôi. Ông đồng ý rằng tình thế ở Ba Lan là phức tạp và làn sóng chống xô viết tăng lên. Nhưng ông cam đoan tình hữu nghị với Liên Xô cần thiết sống còn đối với Ba Lan và mối quan hệ của chúng tôi không bị phá huỷ. Tôi tin rằng trong một thời gian ngắn, thì làn sóng không hài lòng sẽ bị bớt đi và tình hình trở lại bình thường. Tuy nhiên sau này bắt đầu thên sự kiện ở Hungary. Lúc đó, theo tôi, có hai ĐCS, mà lãnh đạo không yên ổn. Ở Hungary thời Stalin cũng nhiều người bị bắt bắt, tôi cho rằng không phải Stalin khởi xướng bao nhiêu thì Rakosi làm bấy nhiêu. Điều này được làm thông qua cố vấn của chúng tôi do Stalin cử đến ngồi ở Ba Lan, Hungary, và các nước anh em khác. Qua những người này, Stalin hành xử ở đó với cùng một phương pháp hành xử ở Liên Xô. Sau các cuộc thương thuyết ở Warsawa chúng tôi quay về Moskva dưới một ấn tượng lời tuyên bố căng thẳng nhưng chân thật của Gomumka rằng tình hữu nghị của Ba Lan với Liên Xô cần hơn tình hữu nghị của Liên Xô với Ba Lan. Ông nói:
- Chẳng có lẽ chúng tôi không hiểu tình thế mà chính chúng tôi không có Liên Xô không giữ được biên giới phía tây của mình. Chúng tôi tự xem lại các vấn đề nội bộ, những quan hệ với Liên Xô vẫn là, vẫn là tình hữu nghị không thay đổi và liên minh.
Mặc dù ông nói điều này hơi cao giọng, nhưng không đến nỗi khó để tin. Và tôi tin ông, nói với các đồng chí của mình:
- Tôi nghĩ rằng chúng tôi không có cơ sở để không tin Gomumka. Ông được bầu Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Phần đông các đồng chí Ba Lan tin ông. Tôi cảm thấy rằng lời tuyên bố của Gomumka được những người khác ủng hộ. Chính ông nói điều này không phải là bí mật, mà là công khai, tại cuộc họp lãnh đạo. Tất cả mọi người đã nghe thấy. Phải cho rằng lần này không ai, tất cả đều đồng ý.
Tuy nhiên một thời gian dài tình hình ở Ba Lan vẫn căng thẳng và làm chúng tôi rất lo ngại.
Trước mắt chúng tôi còn có cả những mối quan hệ với các nước làng giềng. Thời kỳ đó, vấn đề nghiêm trọng nhất - chất lượng sản phẩm của chúng tôi. Đáng tiếc, chúng tôi không cách nào đuổi kịp các nước tư bản. Nhưng để thi đua thành công với họ, để chủ nghĩa xã hội lôi cuốn mọi người, chúng tôi cần làm tốt nhất. Chúng tôi phải ngả mũ kính chào chủ nghĩa tư bản. Điều này thật xấu hổ. Đáng tiếc, anh hãy dùng radio, ô tô, máy ghi âm của chúng ta sản xuất. Chất lượng ra sao? Chúng tôi ghi nhận 50 năm cách mạng tháng Mười bằng việc mua ở “chủ nghĩa tư bản thối nát” nhà máy ô tô mác “Fiat”.
Chắc chắn những ô tô này ở đó là lỗi thời, mà những người tư bản không phải là ngu: họ bán cho chúng ta model thải ra khỏi sản xuất, chính họ lại lắp model mới. Đáng tiếc, chúng tôi vẫn còn không thể làm việc chúng tôi mong muốn. Tôi nói rằng chúng ta vẫn còn lạc hậu. Nhưng những người lạc hậu, từng có một lúc nào đó sống ở Nga, đã chết từ lâu rồi. Hãy lấy Nhật Bản làm thí dụ: Nhật Bản hoàn toàn tiêu điều sau chiến tranh, bây giờ chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới. Nhật Bản cũng đọ sức trong vấn đề tiến bộ kỹ thuật với Mỹ và Tây Đức cũng một phần nào nằm trong đống đổ nát.
Thật ra trong một số lĩnh vực khoa học và kỹ thuật chúng tôi đang ở phía trước. Chẳng hạn, chúng tôi phát minh ra phương pháp rót thép nóng chảy thép liên tục. Chúng thậm chí chúng tôi đã bán hát minh cho Mỹ. Nhưng những thí dụ như thế chỉ là nhỏ so sánh với cái chúng tôi mua từ họ. Khi chúng tôi cố sức mở rộng khai thác dầu mỏ, chúng tôi cần chất chỉ thị buryl. Chúng tôi làm được những chất chỉ thị tốt, tuy nhiên chất chỉ thị của Mỹ không thể so sánh được với chúng ta. Lúc ấy Mỹ vượt xa Liên Xô. Chất chỉ thị buryl tốt nhất này được sản xuất ở Rumani. Tôi hỏi Georgy-Degia về điều này. Ông mỉa mai: người ta nói chúng tôi là ở Mỹ có một nhà tư bản người Rumani trong ngành công nghiệp dầu mỏ. Ông ta giúp đỡ chúng tôi đánh cắp bản thiết kế của Mỹ. Các thiết bị của Rumani làm theo bản thiết kế của Mỹ. Chúng tôi muốn mua của Rumani bản thiết kế này. Tôi nói Georgy-Degia:
- Cho chúng tôi bản thiết kế nhé!
Ông nói:
- Cầm lấy đi.
Cầm lấy đi... với người Rumani giữa từ “cầm lấy đi” và “nhận đi” - một khoảng cách rất xa.
Nói chung lãnh đạo Rumani còn trẻ. Họ thúc đẩy nhanh nền công nghiệp của mình, xây dựng nông trang nhanh và tốt. Rumani về văn hoá trước đây đứng dưới các nước Đông Âu, bây giờ thì cao hơn, chẳng hạn, nông dân mù chữ. Nhưng, dù thế, Rumani chẳng bao lâu nữa sẽ đi lên. Tất nhiên Rumani có điều kiện thiên nhiên thuận lợi hơn các nước xã hội chủ nghĩa khác. Họ, nói riêng, có nhiều dầu mỏ, khí đốt, rừng, bánh mỳ. Các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng chưa phải có đủ lương thực, còn Rumani xuất khẩu bột mỳ. Chúng tôi thường giận Rumani rằng họ bán bột mỳ cho thế giới tư bản, mà không bán cho các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nếu lấy thí dụ Ba Lan có thừa ngũ cốc, họ có lẽ, khôn hơn Rumani. Họ có thể bán lúa mỳ cho CHDC Đức bằng hàng hoá giá trị. Nhưng chính là mỗi quốc gia đều muốn có ngoại tệ và chạy ra thị trường thế giới. Vì thế không thể giận Rumani.
Nhân đây, tôi nhớ lại có lần Gomumka đến Moskva và đề nghị bán cho Ba Lan lúa mạch ngoài kế hoạch, mà cái đó chính lại là bánh mỳ của chúng ta. Tôi thấy Gomumka khôn lỏi, không nói thật, và tôi nhận xét:
- Ông muốn mua luá mỳ, nhưng tôi biết rằng Ba Lan tự cung cấp được lúa mạch. Ông muốn mua ngũ cốc của chúng tôi để nuôi lợn và bán thịt thăn hun khói cho Mỹ.
Gomumka luống cuống, sau đó trả lời:
- Đúng.
- Và ông nghĩ rằng chỉ có người Ba Lan biết làm điều đó, còn người Nga - là những người ngu sao? Ông mua ngũ cốc ở Canada bao nhiêu cũng được, biến thành thịt và bán thịt đi.
- Nhưng ở đó phải trả ngoại tệ.
Vấn đề thế đấy. Mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa cũng có thể rất phức tạp, và có những lý do khác nhau. Sau cuộc đàm phán này với Gomumka tất cả chúng tôi cung cấp ngũ cốc cho Ba Lan. Nhưng chẳng có lẽ đây là một một trường hợp duy nhất, khi Liên Xô bớt miệng để giúp đỡ những người bạn?
Bao nhiêu lần, đôi khi, chúng tôi đồng ý kế hoạch, nhưng sau đó Gomumka hoặc lại có ai đấy gọi:
- Đồng chí Khrusev, tôi đề nghị tiếp tôi, chúng tôi có vấn đề hóc búa.
Người ta đến.
- Đồng chí Khrusev, ông cung cấp cho chúng tôi chừng này quặng với hàm lượng sắt chừng này, chúng tôi không hoàn thành kế hoạch. Hãy giúp chúng tôi, cho chúng tôi nhiều quặng hơn, hàm lượng sắt cao hơn.
Nhưng cái đó nghĩa là gì? Chúng tôi cho họ số quặng, mà để có được điều này chúng tôi phải chế biến từ quặng sắt hàm lượng thấp. Lại chuyện cà chua Bulgari. Chúng tôi nhận những thứ không ra gì. Người Bulgari quen nghic rằng người Nga ăn mọi thứ rác rưởi, xin lỗi vì cách nói này, thế là họ hái cà chua còn xanh, và làm chín đỏ chúng khi vân chuyển. Đó là những thứ kém phẩm chất! Họ cũng chở cà chua đến Tây Đức, nhưng không phải loại cà chua như thế, vì rằng sẽ không ai mua, ở đó là sự cạnh tranh. Nhưng họ bán để người tiêu dùng nước ta ăn. Đấy là cà chua kỳ diệu. Bulgari - nước trồng trọt tốt nhất thế giới. Nhưng cà chua ngon, chỉ khi hái chúng vào buổi chiều, còn buổi sáng thì mang lên bàn.
Nhiều vấn đề khác nhau nảy sinh quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Nếu không đề cập và giải quyết, thậm chí có thể gây ra xích mích. Chúng tôi giận là nhiều nước xã hội chủ nghĩa nhìn Liên Xô như con bò sữa. Nhưng chính chúng tôi còn sống khổ hơn nước nước mà chúng tôi giúp đỡ. Mức sống được xác định bằng sự tiêu thụ trên một đầu người dân. Thí dụ tiêu thụ thịt. Năm 1964 ở CHDC Đức 75 kg đầu người một năm, ở Tiệp Khắc là 65, Ba Lan - dưới 50, sau đó là Hungary, sau đó chỉ có - Liên Xô, và thấp hơn là Bulgari - 26 kilogam. Có lần nói với Ulbrich:
- Walter, tôi không cần bình quân đâu, nhưng phải hiểu tình thế chúng tôi. Chúng tôi chiến thắng, chúng tôi đánh tan Đức Hittler, và chúng tôi cho CHDC Đức ngũ cốc và hàng hoá giá trị ngoại tệ, để ông có thể bán cho nước ngoài, mua về thịt và đảm bảo tiêu thụ trên đầu người là 75 kg. Nhưng ông có lo cho chúng tôi không?
Những tư duy chính trị, đặc biệt trong quan hệ CHDC Đức cũng ảnh hưởng đến các vấn đề như thế. Người ta muốn mức sống Đông Đức phải hơn Tây Đức. Chỉ riêng điều đó có thể lôi kéo tất cả người Đức chạy về phía chúng ta. Nhưng hiện thời chưa có thế.
Vấn đề bồi thường chiến tranh cũng đáng quan tâm. Các nước phương tây bỏ khoản bồi thường chiến tranh, mà Tây Đức phải trả cho họ, còn CHDC Đức tiếp tục trả chúng ta những cái gì có thể. Khi Stalin qua đời, chúng tôi một lần nữa đặt vấn đề này: nếu chúng tôi muốn Đông Đức có thể chạy đua về mức sống với phương Tây, cần cho họ khả năng nâng cao kinh tế mạnh hơn. Nếu tiếp tục trả bồi thường chiến tranh và nuôi quân đội Liên Xô ở CHDC Đức bằng tiền của họ, thì không thể làm được điều này. Và chúng tôi bỏ khoản bồi thường chiến tranh, và chúng tôi nhận về mình khoản nuôi quân đội. Người Ba Lan cũng thích điều này, và họ cũng vặt lông và kiếm lợi ở chỗ bộ đội chúng tôi vì lợi ích của chính Ba Lan đóng trên lãnh thổ Ba Lan. Nhiều vấn đề phức tạp tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước dân chủ nhân dân, như người ta gọi sau chiến tranh. Ba Lan có than cốc. Một lần người Tiệp yêu cầu Ba Lan cung cáp than cho họ. Người Ba Lan đề nghị chúng tôi cung cấp dầu mỏ bổ xung cho họ, và chúng tôi vạch ra điều kiện: chúng tôi đưa cho các ông dầu mỏ theo tương đương với lượng than cốc các ông cho Tiệp Khắc. Những người Ba Lan khi đó đúng là nắm yết hầu người Tiệp. Nếu chúng tôi cũng làm như vậy, thì chúng tôi bóp cổ Ba Lan, nền công nghiệp của họ thấp kém, họ không thể bước ra thuộc trường thế giới và cạnh tranh với tư bản, lập tức mức sống của họ giảm đi, và điều này làm bùng nổ không hài lòng của dân chúng Ba Lan. Chính những người Ba Lan - mà không phải người Nga, không thích chịu đựng.
Nhớ về Tiệp khắc - nhớ ngay về nền công nghiệp phát triển cao của họ. Khi chúng tôi còn cởi truồng chui bàn, thì người Tiệp đã làm được những thứ làm sửng sốt thế giới. Chẳng hạn, những cỗ pháo phòng không của họ cùng chúng tôi trải qua chiến tranh. Trước chiến tranh, người Tiệp đã bán cho chúng tôi nhà máy Skoda nổi danh, chúng tôi sử dụng chúng trong sản xuất đến tận 1945. Có lần năm 1948 Gotwald nghỉ ở Krym với Stalin. Stalin gọi cho tôi:
- Gotwald ở đây, ông đến đi.
Hôm sau tôi bay đến. Mọi người tụ họp ăn cơm ở chỗ Stalin. Gotwald uống say (ông có nhược điểm này) và nói:
- Đồng chí Stalin, tại sao các ông lại cho người ăn cắp bản quyền sáng chế của chúng tôi? Ông cứ nói với chúng tôi, và chúng tôi tặng tất cả không lấy tiền đâu. Khi người của các ông ăn cắp, mà người dân chúng tôi nhìn thấy các ông ăn cắp như thế, họ phật ý đấy. Chúng tôi có thể cho các ông không những bản quyền phát minh. Hãy nhận chúng tôi gia nhập Liên Xô, chúng tôi hài lòng gia nhập Liên Xô, và tất cả những gì chúng tôi có, sẽ là của chung.
Stalin từ chối, nổi giận bởi chữ ăn cắp. Nhưng trên lời nói, bởi vì chúng tôi tiếp tục ăn cắp, thỉnh thoảng cũng theo thói quen cũ, như người Digan được được hỏi:
- Nếu anh là Sa hoàng, thì anh làm gì?
Người Digan trả lời:
- Tôi lập tức ăn cắp đàn ngựa và chạy biến đi.
Lại còn một vấn đề phức tạp - chi phí phòng thủ khối xã hội chủ nghĩa. Đúng ra thì phải chia đều, hết bao nhiêu, chia đều cho đầu người. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có lẽ bớt đi được một nửa chi phí quân sự của Liên Xô. Nhưng việc ra sao? Chúng tôi có lần trong khuôn khổ khối Warsawa thoả thuận rằng mỗi nước cần phải tăng cường khả năng phòng thủ của mình. Rumani nhận bao nhiêu xe tăng, và nó phải đóng bao nhiêu tàu ở Hắc hải. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng báo cáo tôi rằng người Rumani chẳng làm gì cả, không thực hiện giao ước. Lúc ấy người Tiệp hỏi tôi: Chúng tôi đã làm xe tăng cho Rumani, nhưng họ không mua chúng, nói rằng không có tiền. Tôi nói với người Tiệp:
- Thế ai còn dư tiền để tiêu chi phí phòng thủ cho họ? không có ai cả. Đây là sự cần thiết bắt buộc.
Suy nghĩ của người Rumani rất đơn giản: Liên Xô bảo vệ chúng tôi, chẳng ai tấn công chúng tôi, họ sợ Liên Xô, cứ để người Nga tốn tiền phòng thủ, còn chúng tôi sẽ nâng cao mức sống của mình. Nhưng đây là chủ nghĩa dân tộc thuần tuý. Đáng tiếc, nó lại xảy ra trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa.
Tôi nhớ một trường hợp tiêu biểu. Chúng tôi năm 1943 đứng trước bức tường Stalingrad. Chúng tôi đã bao vây quân Paulius, còn Ulbrich bằng loa điện yêu cầu quân Đức đầu hàng. Ông làm việc đó suốt đêm, khi chúng tôi ăn cơm với ông, tôi nói với ông bao nhiêu lính Đức ra hàng. Đôi lúc đùa:
- Hôm nay không có ăn đâu nhé.
- Vì sao?
- Chẳng có thằng lính Đức nào ra hàng cả.
Một lần ông đến và nói:
- Hôm nay tôi có bữa ăn rồi.
Nhưng tôi trả lời:
- Đúng đấy, có ăn. có một lính ra hàng, nhưng lại là lính Ba Lan.
Tôi đích thân thẩm vấn người lính Ba Lan. Anh ta nói rằng anh ta ra hàng vì không muốn đánh nhau. Và tôi đề nghị anh ta:
- Chúng tôi xây dựng quân đội Ba Lan, anh tham gia nhé?
- Không, tôi vào trại tù binh.
- Thế ai sẽ giải phóng Ba Lan?
- Người Nga.
Anh ta bình tĩnh trả lời như thế. Và tôi ra lệnh:
- Tống cổ mẹ nó đi!
Luôn luôn người Nga, lại người Nga... Nếu tâm trạng ỷ lại như vậy được thúc đẩy tiếp tục, nếu mọi người hy vọng rằng người Nga đem cho, người Nga bảo vệ, thì có thể kết thúc thảm hại phexã hội chủ nghĩa.
Lại còn một hòn đá cản đường - vấn đề biên giới. Bây giờ, chúng ta công khai xung độ với Trung Quốc, lại nổi lên vấn đề biên giới giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này luôn luôn có. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử xô viết phát sinh xung đột quốc tế với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Thông thường luôn luôn đạt được giải quyết vấn đề, bằng cách nhượng bộ lẫn nhau và làm rạch ròi biên giới. Lúc bắt đầu xung độ với Trung Quốc, chúng tôi tìm cách giải quyết vấn đề, cũng nghĩ nhượng bộ Trung Quốc chỗ đất nào đó đổi lấy chỗ đất ngang bằng Trung Quốc trong các vùng dàn quân cả hai phía. Trung Quốc đưa yêu sách cho chúng tôi, đông viên người Trung Quốc. Malinovski, Gromyko và tôi họp nhau. Chúng tôi nghĩ rằng lập tức chúng tôi giải quyết tất cả. Tôi lấy bút chì và vạch một đường, kéo dài dường như chia đôi theo đề nghị. Biên giới được thẳng hơn.
Chúng tôi không chờ đợi những phức tạp hơn nữa, vì rằng phần lớn vùng đất này là bỏ hoang: chẳng có người dân của chúng tôi, chẳng dân Trung Quốc sống ở đó. Đôi lúc, có thể là, những người thợ săn và người chăn thả súc vật đến đó. Tóm lại, là tranh cãi vô bổ. Nhưng người Trung Quốc chính muốn tạo ra xung đột, từ chối tham gia đàm phán và áp đặt Liên Xô những đòi hỏi phi lý, tư bản chủ quyền của họ ở Vladivostok, Pamir vân vân... Giờ đây, sau năm năm chúng tôi lại gặp nhau. Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ ngoại giao Vasili Kuznesov đến Bắc Kinh. Có thể lại sau năm năm gặp người Trung Quốc. Lúc ấy cuộc xung đột thực chất không phải là vấn đề biên giới, mà “chính sách lớn” quốc tế. Ai chị đựng được.
Nếu vụ việc chi là về biên giới, có thể dễ dàng thu xếp được. Với Iran chúng tôi vẫn chưa có một đường biên giới xác định rõ ràng từ thời Sa hoàng. Chúng tôi vạch ra ở đó đường biên giới năm 1955, có nhượng bộ một số vùng, gần như sa mạc. Nhưng thỉnh thoảng vẫn tranh cãi! Với Iran phát sinh chỉ có một vấn đề nguyên tắc: số phận làng Firiuza ở Turmenia. Khi Sa hoàng vạch biên giới với Iran, làng Firiuza cần phải đưa về Iranу. Tôi không biết, vì sao Sa hoàng không nhường ngôi làng Firiuza. Trong thời kỳ xô viết, người Turmenia xây một nhà nghỉ ở đó. Và khi Iran đặt vấn đề làng Firiuza, chúng tôi nói cho họ:
- Hãy giải quyết trên tinh thần anh em. Chúng tôi bây giờ khó trả lại làng Firiuzaу, ở đó có nhiều nhà nghỉ của chúng tôi, chúng tôi đã phát triển khác chỗ này so với lúc vấn đề phát sinh lần đầu tiên vấn đề. Chúng tôi sẵn sàng đổi làng Firiuza, nhường một làng khác cho các ông?
Họ đồng ý, ký một hiệp ước, và bây giờ không còn cãi nhau nữa. Với láng giềng không còn vấn đề gì tranh cãi về biên giới nữa, trừ Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đòi hỏi cái gì?
Bắc Kinh nói:
- Chúng tôi yêu cầu ký một hiệp định về biên giới, những đường biên giới trước đây được hình thành trước đây tại thời điểm có hiệp ước không bình đẳng ký với Sa hoàng.
Chẳng có một người thông minh nào ký cả. Hiệp ước không bình đẳng nghĩa là gì? Nếu tôi ký theo lời của họ, thì tiếp theo cũng phải từ bỏ những cái gì mà chúng tôi làm chủ trên cơ sở những hiệp ước tương tự. Nhưng tất cả các nước xã hội chủ nghĩa chấp nhận biên giới của mình từ thời Sa hoàng, đế quốc và Nữ hoàng xa xưa. Nếu từ quan điểm này chúng tôi có thể tạo ra mối quan hệ tương hỗ của mình và điều này sẽ đi xa hơn nữa! Nói chung trong vấn đề biên giới tồn tại nhiều khía cạnh có thể lý giải một cách khác nhau, đặc biệt ở châu Âu. Chúng tôi không có biên giới với Hungary, không có tranh cãi về biên giới nhưng ở vùng Zakarpat sống 120 nghìn người Hung. Janos Cadar không tham vọng vùng đất này. Vì sao? Người Hung có thời lợi dụng Zakarpat (Ukraina) gia nhập đế quốc Áo-Hung, và đẩy người Ukraina kên núi, chiếm vùng đất phì nhiêu Tise. Nếu bây giờ đòi Cadrar vùng đất này?
Tuy nhiên Hungary và Nam Tư có cãi nhau lớn về biên giới. Tại Nam Tư có hai triệu người Hung sinh sống. Hung và Rumani cãi nhau về vùng Transivania. Người Rumani sùi bọt mép chứng minh rằng đây là tỉnh xa xưa của Rumani, còn người Hung nói rằng Transivania luôn luôn là của Hung, ở đó có văn hoá Hungary và tiếng Hung. Người Rumani đảo ngược lại tất cả từ trên xuống dưới, làm cỏ sạch tất cả người Hung. Tranh cãi to về biên giới giữa Albani và Nam Tư. Tôi nghĩ rằng người Albani sống ở Nam Tư nhiều hơn tại chính Albani, nhưng Enver Hodga rất sợ Nam Tư. Nhưng những người Albani sinh sống ở Nam Tư, xem mình hoàn toàn không phải là người Albani và họ không về Albani. Ở Nam Tư о sống tốt hơn. Đúng là Tito làm chính trị thông minh hơn.
Hodga - đây là một tên kẻ cướp thực thụ. Chẳng có lẽ đây là chính khách? Ông ta có một phương pháp: tròng thòng lọng vào cổ và treo lên. Chính sách điển hình của Stalin. Hodga có những sát thủ bí mật, đâm những người đối lập: lùng họ trên đường và đâm. Hoặc đột nhập vào nhà và đâm. Còn Mehmet Sehu? Mehmet Sehu trước kia là Bí thư BCHTƯ Đảng, một công nhân, người rất thông minh. Ông là người sáng lập ĐCS Albani, còn Hodga đích thân bóp cổ Sehu. Vì sao? Sehu có quan điểm xây dựng liên minh Albani với Nam Tư. Đó là ý tưởng của Stalin. Trong thời kỳ nào đấy, có thể, đây là khôn ngoan, hợp lý, sau đó - thì không phải. Nhưng nếu điều này làm phật ý ai đó, sao lại bóp cổ người ta?
Ngoài biên giới, còn phát sinh nhiều vấn đề khác. Chủ nghĩa xã hội là gì, có phải giữ con người trong vòng không? Đội ngũ công minh là thế nào? Thiên đường là gì? Tất cả mọi người đều muốn rơi vào thiên đường. Đấy không phải là thiên đường, vì người ta muốn chạy khỏi thiên đường mà cửa thì sập lại. Nếu Thượng đế cho tôi tiếp tục hoạt động, có lẽ tôi mở cửa, mở toang cả cửa ra vào, cả cửa sổ. Và tất cả bỗng nhiên chạy đi Lenin từng mở biên giới Liên Xô sau nội chiến. Một số bỏ đi. Saliapin, Andreev, Kuprin, những người nổi tiếng khác. Nhưng sau này có người quay về, người khác lâu lâu xin quay lại. Chẳng có lẽ có thể tất cả nhân dân bỏ đi? Có bao nhiêu người nước ngoài chạy sang chúng ta và không quay về nước mình... Vì sao chúng tôi phải sợ điều này?
Ở Ba Lan ai thích đi, cứ đi. Và sao? Nhiều người sau đó quay về. Đại sứ chúng ta, gửi bức điện từ Israel nói rằng một số người bỏ Liên Xô đến Israel, đã yêu cầu dứt khoát quay về. Tôi có một phụ nữ quen (bà là người bất hạnh, bản thân bà hai lần ngồi tù thời Stalinе, chồng bị bắn, em bị bắn và em rể bị bắn, trong chiến tranh, quân Đức thiêu bố mẹ bà, còn cái gì có thể tệ hơn?), và bà kể cho tôi một người họ hàng ruột thịt của bà sang Israel, khách mời, nhìn thấy ở đó người ta sống như thế nào và nói rằng nói chung người Do Thái sống không tồi, nhưng những người già hình thành cá tính dưới chính quyền Xô viết, cũng buồn. Bà cũng muốn quay về, nhưng những vẫn còn sống chẳng để làm gì. Thanh niên, thật ra, không không muốn quay lại. Vì lẽ gì? Giải thích:
- Chúng tôi đã chán ngấy nghe người ta gọi tôi là bọn ăn bám.
Nói chung chúng tôi khó đặt quan hệ với Israel. Israelе tiến hành nhiều vách để cải thiện mối quan hệ này, nhưng chúng tôi không thể đi đến dùng vì tình hữu nghị với thế giới Ả-rập. Bao nhiêu lần, đại sứ Israel đề nghị tôi tiếp. Bản thân tôi cũng muốn tiếp ông, nhưng tôi không thể làm vì làm những người Ẩ rập nổi khùng. Khi Israel đóng vai trò gián điệp của đế quốc Mỹ ở Trung Đông, chúng tôi không muốn những người Ả rập xa rời chúng tôi, mà muốn lôi kéo họ, và thế là phải giữ một khoảng cách với Israel. Nếu xem xét bộ mặt chính trị của Israel, thì hộ không những không tồi, mà thậm chí còn tốt hơn những nước tư bản chủ nghĩa khác, và với Israel có thể dàn xếp những quan hệ bình thường. Ở Israel, nông nghiệp được tập thể hoá không kém gì Ba Lan. Ở Ba Lan cũng không có nông trang, chỉ xây dựng tổ đổi công như cấp đầu tiên của tập thể hoá nông nghiệp. Đất đai ở Ba Lan thuộc về tư nhân, còn thu nhập trong tổ đổi công phụ thuộc vào lượng đất đóng góp.
Tôi không bao giờ là người bài Do thái. Tôi từng sống ở Yuzovk, và làm việc cùng với những người Do Thái. Tôi cũng có nhiều bạn người Do Thái. Từ hồi còn trẻ con, tôi làm việc ở nhà máy với một người Do thái, Yakov Issakovich Kutikov - một người tốt. Ông là thợ nguội và nhận 2 rúp một ngàyь, nhưng tôi nhận cao hơn và giúp đỡ ông 25 cô pếch một ngày. Những kẻ đểu giả ở đâu đâu cũng có - cả người Nga, cả người Do Thái, và người nào cũng được. Thậm chí không có cái gì có thể so sánh Ả rập và Israel, ở Israel người ta sống giàu hơn. Trong nông nghiệp đã có hệ thống thuỷ nông tự hành - một phương pháp tiến bộ nhất đối với cây trồng. Mối quan hệ tương hỗ của Israel với thế giới Ả rập rất nặng nề. Nếu như cứ tiếp tục, thì kết thúc xấu cho Israel. Israel luôn lo ngại các nước Ả rập. Nhưng thực lực thì hai bên ngang nhau. Cuộc chiến tranh sáu ngày, năm 1967 cần phải dạy cho những người Ả rập một bài học. Tôi nhớ Petro I. Khi quân Thuỵ Điểm đánh tập hậu ông ở Narva, ông hiểu: cám ơn bài học, sau đó ông đánh tan quân Thuỵ Điển ở Poltava. Thời gian sẽ trôi đi, và nếu người Israel không chịu hiểu, thì người Ẩ rập sẽ đánh tan họ.
Vả lại, nếu anh ai tổ chức công việc tốt thì không sợ ai, mà người khác sợ anh. 2,5 triệu người Do Thái tổ chức như thế này để trong sáu ngày đánh tan hàng chục triệu người ở Ai Cập, Syri, và các nước đồng minh. Chỉ huy quân sự của Israel là Daian từng là sĩ quan quân đội Anh. Nhưng ở đó còn bao nhiêu người, từng phục vụ trong quân đội chúng tôi? Đó cũng là một lực lượng của họ. Người Ả rập đặc biệt không biết đánh nhau, chỉ cưỡi lạc đà, còn người Do Thái chiến đấu khắp các cuộc во всех chiến tranh. Israel xuất hiện như thế nào? Đây là ý tưởng của những người Sionit. Hai năm trước đó, có một người già, thành lập đảng Sionit. Nước Anh kiểm soát Trung Đông, đồng ý chia một vùng cho Israel, bằng cách cắt đất của những người Ả rập. Chúng tôi lúc đó thời gian không biểu quyết vấn đề này ở Liên Hiệp Quốc, còn sau đó cũng cho chỉ thị đồng ý thành lập Israel. Bây giờ thủ tướng Israel là Golda Mayer. Bà là đại sứ đầu tiên của Israel tại Liên Xô. Bà sinh ra ở Odessa, lúc bà sáu tuổi, bố mẹ đưa bà sang Mỹ. Bà biết tiếng Nga giỏi. Khi bà đến Nga, thì phát triển mạnh những hoạt động của những người Do Thái xô viết, và Stalin đuổi bà đi. Lúc đó những quan hệ của chúng tôi cũng xấu đi.
Về Albani
Tôi muốn bây giờ được dừng lại ở những quan hệ với Chính phủ Albani và với Đảng lao động Albani. Trong thời kỳ Stalin, chúng tôi không có sự va chạm nào trong những quan hệ giữa Liên Xô và Albani, giữa Đảng cộng sản chúng tôi và Đảng lao động Albani. Họ đáng ra phải là ở giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô làm tất cả để giúp đỡ Nhà nước Albani mạnh lên sau thất bại Hittler đạo quân lớn và đuổi quân đội Ý ra khỏi lãnh thổ của họ. Nhân dân Albani thống nhất thời ấy sức mạnh của mình với Nam Tư, và họ tiến hành cuộc đấu tranh cùng nhau chống kẻ thù chung - Đức Hittler và phát xít Italy. Như đồng chí Tito kể cho tôi, ĐCS Nam Tư có sự giúp đỡ lớn lao cho nhân dân Albaniу trong việc tổ chức đấu tranh chống phát xít. Điều này là đương nhiên, vì rằng ĐCS Nam Tư được tổ chức tốt hơn và giàu truyền thống cách mạng hơn. ĐCS Albani, như thời ấy gọi nó, là yếu và cần giúp đỡ, mà Các đồng chí Nam Tư có được cho họ. Tito kể, ông cử bạn chiến đấu của mình Vukvanovich đến Albani, để tổ chức Đảng lao động.
Khi những quan hệ giữa Liên Xô và Nam Tư tốt nhất, Tito được Stalin tin cậy tuyệt đối, tôi nhớ, có mặt tôi, Stalin đọc (chính tả) một bức điện cho Tito, nội dung, tới đây mối quan hệ tương hỗ với Albani cần xuất phát từ việc Albani sẽ tham gia Liên bang Balkan. Bức điện như thế được gửi đi. Tất nhiên Albani không biết điều này. Stalin ấp ủ ý tưởng xây dựng Liên bang Balkan và thường phát biểu chủ đề này ở một số hẹp người quanh ông. Đối với Chính phủ tương lai Liên bang Balkan thậm chí người ta bắt đầu xây dựng một cung điện gần Belgrad. Khi tôi ở Nam Tư, tôi đã thấy chỗ này. Người ta chở đến đó khá nhiều bê tông sắt, nhưng sau này lại bỏ đi tất cả. Ghép Albani vào nhà nước Nam Tư không đi ngược ý tưởng của Stalin về xây dựng Liên bang các nước Balkan. Khi cắt đứt mối quan hệ hữu nghị với Nam Tư thì Stalin căm ghét Tito, ý tưởng Liên bang Balkan bị chôn vùi.
Tôi không biết hết nguyên nhân làm xấu mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô, nhưng một cái gì đó tôi biết. Stalin gửi chúng tôi một số bức điện, do đại sứ xô viết ở Nam Tư gửi về. Trong những bức điện này, đại sứ chúng tôi vạch ra những hoạt động Tito dưới ánh sáng dân tộc chủ nghĩa và làm tất cả để cho thấy rằng đây không phải hữu nghị của nước, mà ĐCS Nam Tư dưới sự lãnh đạo Tito tiến hành công việc phá hoại chống ĐCS Liên Xô. Trong đó cụ thể đại sứ buộc tội Nam Tư, tôi bây giờ tôi không nhớ. Lúc đó tôi làm việc tại Ukraina và ít tham gia các quốc tế vấn đề, vì rằng tôi dường như bị cách ly trong những vấn đề này và không nhận được các tài liệu tương ứng. Mặc dù tôi là uỷ viên Bộ chính trị ĐCS toàn Nga (b), những tài liệu, lẽ ra phải gửi cho tôi, lại không đến. Lúc ấy Stalin thống trị. Ông nói gửi- tất cả được gửi, còn nếu không nói, thì không gửi một cái gì cho ai cả.
Sau khi Stalin chết, chúng tôi vẫn phải thừa kế những quan hệ xấu với Nam Tư. Chúng tôi nghĩ vấn đề này giải quyết như thế nào. Trong vấn đề này chính tôi nảy ra sáng kiến. Vì sao? Tôi luôn luôn phấn khích bởi những hoạt động của du kích Nam Tư. Du kích Nam Tư trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa phát xít tự thể hiện mình liệu có phải không, không tốt hơn những người khác. Điều này được nhiều người biết và được nhiều người công nhận. Họ xây dựng quân đội, có sự chỉ huy từ trung tâm của mình và tiến hành cuộc đấu tranh thành công với Đức, giải phóng khá nhiều lãnh thổ, trên đó khu du kích được thành lập. Ngoài ra, từ trước chiến tranh tôi đã nghe về hoạt động của Tito. Đó là một người cộng sản, rất nổi tiếng trong Quốc tế cộng sản. Khi là cựu binh của quân đội Áo-Hung ông làm tù binh của Nga và trải qua trường học đầu tiên của mình trong thời gian cách mạng tháng Mười. Khi theo dõi điều này tôi có sự thiện cảm với ông, mặc dù cá nhân tôi gặp ông rất ít.
Tôi gặp Tito cũng ở chỗ Stalin. Tôi có lần ở Moskva, Stalin nói rằng Đoàn đại biểu Nam Tư sẽ đến. Stalin nói điều này với thiện cảm và với sự vui mừng mong đợi: Họ sẽ đến đấy! Nhưng tôi không chờ Đoàn đại biểu này tới và quay về Kiev. Sau đó Stalin gọi tôi và nói rằng Tito sẽ quay về nước qua Kiev, và đề nghị:
- Anh ở đó tiếp Tito và các đồng chí khác. Họ là những người bạn tốt.
Tôi đã làm như thế. Tito, Kardele, Ginlas và những người khác đến Ukraina. Chúng tôi đã làm tất cả những gì cần thiết: giới thiệu cho họ thành phố, pháo đài, đến nông trang, xem hát, tiến hành những cuộc trao đổi. Chúng tôi nói chuyện, tất nhiên về cuộc sống Ukraina, về hoạt động BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, còn những vấn đề khác chúng tôi không đụng chạm.
Thời ấy, chúng tôi sống bởi lý tưởng khi hình thành một nước xã hội chủ nghĩa mới, thì đồng thời cần hình thành sự lãnh đạo nào đáy của họ không những về những vấn đề chính trị Đảng mà còn về những vấn đề kinh tế: một điều gì đó tựa như Uỷ ban quốc tế đại biểu công nhân toàn thế giới của những nước cộng hoà như thế. Với điều này, tất cả chúng tôi được nuôi dưỡng. Vì thế chúng tôi với tình yêu như thế và sự tin cậy với từng nhân dân tham gia trên con đường xây dựng CNXH, hơn thế nữa ĐCS của họ. Chúng tôi đã làm cho từng nhân dân và cho bản thân, khi cho là sự liên kết tất cả các cán bộ Đảng, khoa học, vật chất kỹ thuật của chúng tôi tập trung sức của mình trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản thế giới. Tôi cho rằng đây là là một bằng chứng trong lòng tốt mọi người, đứng trên vị trí cộng sản.
Khi xảy ra sự đổ vỡ, tất cả lập tức thay đổi hẳn. Stalin suýt nữa tấn công Nam Tư. Tôi nhớ, một lần người ta đặt tôi là tiến hành bí mật gửi nhiều người từ Odessa vào Balkan. Chúng tôi đã gửi bằng tầu thuỷ, có lẽ, đến Bulgari. Những người tổ chức việc gửi người đi báo cáo tôi, có một binh đoàn đấy được hình thành, và mặc dù những người này mặc áo dân sự, nhưng trong valy chẳng họ có quân phục và vũ khí. Người ta nói với tôi, rằng chuẩn bị giáng một đòn nào đó khắp Nam Tư. Vì sao Stalin không làm, tôi không thể nói được. Hơn nữa, từ chính Stalin nói chung tôi không nghe về điều này, nhưng người ta báo cáo tôi những người thực hiện chiến dịch này, họ là những người tổ chức gửi người đi và đưa họ lên tầu thuỷ. Tâm trạng của họ là tâm trạng của những người xâm lược:
- Đưa cho họ người của chúng ta! Thế là họ được gửi đi và chẳng bao lâu bắt đầu thấy hiệu ứng.
Trong các lời nói, họ không hề có sự hối tiếc về sự việc xảy ra.
Vì sao tôi bây giờ chú ý mạnh đến Nam Tư, mặc dù đang nói về Albani? Vì rằng những vấn đề này có liên quan qua lại với nhau. Vì sao chính tôi thể hiện sự quan tâm cải thiện mối quan hệ với Nam Tư, mà không phải ai khác? Việc này cần phải rõ ràng cho nhân loại, ít nhiều suy nghĩ về chính trị và biết thời gian ấy. Khi chúng tôi có quan hệ xấu với Nam Tư, tôi ở Ukraina và, mặc dù nằm trong chóp bu lãnh đạo ĐCS LX, nhưng không tham gia việc vị Nam Tư “xấu xa” này.
Khởi xướng cuộc này liệu có phải là Molotov, Suslov, Vorosilov và những người khác? Trong thời gian ấy, họ khá gần gũi với Stalin. Tôi đã nói ở đây không chỉ những người gần Stalin, mà còn cả bao nhiêu người xung quanh Stalin: mọi chính sách chống Nam Tư, do Stalin chỉ huy, đều qua tay họ, và họ là những người trực tiếp thi hành nó, đặc biệt Molotov. Molotov trong vấn đề này là cánh tay phải của Stalin.
Những người này học ở Stalin ý nghĩ từ vị thế chủ nghĩa sô vanh nước lớn và áp dụng chuẩn mực này cho tất cả các ĐCS, trong số này, tất nhiên, có cả Nam Tư. Vì thế họ không hiểu sự cần thiết phải cải thiện mối quan hệ của chúng tôi và loại bỏ xung đột với Nam Tư, nói chung họ không muốn hiểu vấn đề này. Khi tôi đặt vấn đề đó, có sự hiểu biết và ủng hộ hơn nữa từ phía Anastas Ivanovich Mikoian. Ông cho rằng phải thực hiện những bước như thế. Molotov, Vorosilov, Suslov không đồng ý với tôi. Mây mù che khuất mắt họ: Chúng ta là nước lớn như thế, thắng Đức Hittler, rồi đi đến Nam Tư?
Trước đó chính họ là những kẻ dối trá, nói dối một lần và nhiều lần, bằng cách sau đó lặp đi lặp lại sự dối trá của họ, bắt đầu tin vào chuyện bịa đặt rằng Nam Tư là nước tư bản chủ nghĩa, không còn tý gì xã hội chủ nghĩa; rằng Nam Tư trở thành phản bội CNXH và liên kết với chủ nghĩa đế quốc. Rất thú vị rằng bây giờ Trung Quốc cũng sử dụng luận điệu này phê bình nước chúng tôi. Ở Bắc Kinh người ta tuyên bố rằng Liên Xô ký một liên minh bí mật với đế quốc Mỹ, và đó là sự ngu ngốc. Đáng tiếc, điều tương tự này, hai mươi năm trước trước đây chúng tôi đã nói về Nam Tư. Tất cả điều này đều do Stalin nghĩ ra, còn các nhà báo chộp lấy. Nhiều giấy mực đổ xuống sông xuống biển. Gánh nặng quá khứ đổ vào tất cả chúng tôi, và không dễ dang như thế thời ấy lập tức có một bước đi mới.
Vì vậy tôi đề nghị:
- Các đồng chí, chúng ta hãy xây dựng một Uỷ ban gồm các nhà khoa học và trao cho họ nghiên cứu, bây giờ Nam Tư là quốc gia kiểu gì - tư bản chủ nghĩa hoặc xã hội chủ nghĩa? Nếu là nước tư bản chủ nghĩa, thì yếu tố nào chứng tỏ họ không phải nước xã hội chủ nghĩa?
Tôi không còn nhớ ai tham gia Uỷ ban này, nhưng tôi nhớ rõ trong đó có chủ bút báo “Sự Thật” Sepilov. Uỷ ban này lẽ ra phải công nhận rằng Nam Tư chẳng thể nào được coi là nước tư bản chủ nghĩa, rằng trong sự xây dựng nước này có mặt tất cả các yếu tố của nề nếp xã hội chủ nghĩa: không có sở hữu cá nhân về phương tiện sản xuất, không có sở hữu riêng về ngân hàng, tất cả những thứ này thuộc về nhân dân. Buôn bán chủ yếu cũng nằm trong tay nhà nước. Không xác định được chỉ có vấn đề nông nghiệp nông trang hầu như không có và phổ biến là kinh tế cá thể. Tuy nhiên hình thái như thế cũng có ở các nước khác, đang trên đường xây dựng CNXH, như thế Nam Tư về mặt này không hề tách rời trong số các nước như Rumani. Hungary, Bulgari, Tiệp Khắc, Ba Lan. Tôi quả là chưa nói về CHDC Đức.
Trong số tất cả các nước trên con đường xây dựng CNXH, thì Albani tiến hành chính sách chống Nam Tư mãnh liệt nhất. Trong thời kỳ đáng nhớ ấy, điều này được Liên Xô thích thú và cổ vũ. Nhưng khi chúng tôi quyết định phải thực hiện những bước bình thường hoá mối quan hệ Liên Xô-Nam Tư, để đặt con đường đầu tiên đi tới đoàn kết, tới sự vững mạnh của lực lượng cách mạng, thái độ của Albani đã làm hỏng việc của chúng tôi.
Trước khi thực hiện những bước đi cụ thể bình thường hoá mối quan hệ Liên Xô-Nam Tư, chúng tôi thảo luận các ĐCS anh em. Tôi không nhớ bây giờ, ai phản đối, nhưng đa số đồng ý với chúng tôi. Nhưng chúng tôi rất kiên trì cố đạt được điều này. Albani không đồng ý. Những người lãnh đạo Đảng và nhà nước rất khó đồng tình với những đề nghị của chúng tôi chứng minh rằng những người Nam Tư - là những người không tin cậy, rằng họ không phải là những người cộng sản. tất cả điều này được phát biểu với giọng độc ác. Đặc biệt Enver Hodga rất hay tức giận. Tính ông này rất ác, và, khi ông nói về cái gì mà ông không thích, thì mặt ông co giật và nghiến răng kèn kẹt.
Chúng tôi bình tĩnh chứng minh rằng phải có quan niệm và sự sáng suốt để phân tích lại những mối quan hệ quốc tế: sự bình thường hoá sẽ có lợi cho cả Albani, cho cả Nam Tư, và phong trào cộng sản thế giới. Chia rẽ vì cái gì? Phải thấy rằng ở có nhiều người Albani sống ở Nam Tư, và mặc dù các nước xã hội chủ nghĩa đã bóp méo số liệu thống kê, khi đó điều này là có lợi, nhưng Tito sau này nói với tôi, rằng ở Nam Tư người Albani nhiều hơn số người Albani ở tại nước họ. Tôi cho là điều này không có gì xấu cả, đặc biệt, cũng không thấy, tình anh em giữa các quốc gia. Albani buộc phải đồng ý với chúng tôi, nhưng không phải vì chúng tôi tin họ, vì rằng họ không có lối thoát khác.
Đoàn đại biểu Liên Xô đến Nam Tư (tôi sẽ nói riêng), và chúng tôi bình thường hoá quan hệ. Sự thật cả sau khi bình thường hoá những mối quan hệ cũng không phải bằng phẳng: có sự bá vai choàng cổ, và cũng có cả những lạnh nhạt. Nhưng trong mọi trường hợp cái gì xảy ra ở thời Stalin, sẽ không lặp lại nữa. Chúng tôi tiến tới thắt chặt mối quan hệ tốt đẹp và đã làm những bước đi tạo điều kiện thống nhất lực lượng chúng tôi cả trong chính sách cũng như trong kinh tế. Điều này gây ra sự bất lợi lớn ở Albani. Trong thời gian ấy, chúng tôi đi đến vấn đề dường như từ vị trí một đồng chí cũ: làm gì, nếu họ không hiểu? Họ đang trưởng thành, không có gì băn khoăn ở đây, nói riêng, không có. Và chúng tôi giải thích vị trí chúng tôi để những người Albani hiểu chúng tôi tốt hơn.
Từ phía Albani, chúng tôi đã xây dựng những mối quan hệ anh em không đơn giản. Chính những mối quan hệ anh em - đó là những quan hệ bình đẳng. Nhưng ở đây, với quan điểm sự giúp đỡ phát sinh những quan hệ cũ đối với mới. Chúng tôi tiêu rất nhiều phương tiện, tiền bạc để giúp đỡ Albani. Với các nước khác, chúng tôi có sự giúp đỡ bằng tín dụng ư đãi, còn Albani, chúng tôi trên cơ sở khác, chủ yếu là tặng không. Chúng tôi nói chung hoàn toàn nhận trách nhiệm trang bị cho quân đội Albani: cung cấp cho họ đồng phục, thực phẩm, đạn dược, vũ khí, và tất cả là không phải trả tiền.
Vì sao? Có lý do của nó, và bất kỳ ai đầu óc sáng suốt, sống trong bầu không khí mà chúng tôi thời ấy đã sống, hiểu và tìm thấy sự đúng đắn hành động như thế của chúng tôi. Phải thấy rằng trong thời gian ấy, NATO hình thành. Nhưng Albani có một vị trí chiến lược ở Địa Trung Hải, và chúng tôi xem nó như một căn cứ của các nước xã hội chủ nghĩa ở biển này. Vì thế tình thế nước đôi đặt ra: liệu chúng tôi có mặt ở đó, nói một cách thô thiển, quân đội của mình hoặc xây dựng cho Albani quân đội riêng của mình? Đương nhiên, Albani có thể duy trì một lượng quân không nhiều và họ không gây một ấn tượng nào cả đối với kẻ địch. Họ thực tế không sản xuất vũ khí, có lẽ chỉ có súng trường. Vì thế chúng tôi quyết định giúp đỡ về mặt vật chất để xây dựng theo khả năng quân đội Albani đông người, nhưng, tất nhiên, không đến nỗi điều này làm khổ nền kinh tế Albani. Điều này cần thiết là quân đội này phải gây một ấn tượng đe doạ, được trang bị phương tiện chiến đấu hiện đại. Vì thế quân đội Albani nhận tăng, pháo, súng mới. Đấy là chưa kể đồng phục và đồ ăn. Nếu Albani trích tiền từ ngân sách của mình để nuôi quân đội thì họ không còn đủ tiền làm những việc cần thiết khác: phát triển kinh tế, công nghiệp hoá đất nước, cải tổ xã hội chủ nghĩa. Và chúng tôi biết cần Albani.
Từ sau chiến tranh, mới đây mối quan hệ Liên Xô các nước tư bản chủ nghĩa bị nặng nề, chúng tôi không loại trừ khả năng xung đột quân sự. Với vị trí của mình, Albani đe doạ nghiêm túc những hoạt động của NATO ở Địa Trung Hải. Vì thế chúng tôi thoả thuận với Albani là chúng tôi kéo cả tàu ngầm đến. Chúng tôi đã làm thế vì lợi ích tất cả các nước xã hội chủ nghĩa.
Quyết định bố trí ở đó 12 tầu ngầm. Các bạn có biết một quả đấm tương đối mạnh - 12 tầu ngầm ở Địa Trung Hải. Với những quả đấm như thế, đối thủ của chúng tôi bắt buộc phải coi trọng. Những tàu ngầm này chúng tôi cũng muốn chuyển cho Albani. Thuỷ thủ chúng tôi đến Albani với đày đủ phương tiện trên biển và sửa chữa, để đào tạo, và, xây dựng đội ngũ sĩ quan chỉ huy Albani đối với tầu ngầm. Chuyển cho họ những tàu ngầm này. Bước đi này chứng minh chúng tôi tin họ như thế và, tôi đã nói, với tình yêu như thế chúng tôi đối với người bạn Albani. Đoàn đại biểu Albani đến gặp chúng tôi đôi lần đứng đầu là Enver Hodga và Mehmet Sehu. Giữa chúng tôi có những quan hệ tốt nhất, chưa kể tới nhân dân Albaniе.
Những người Albani nhiều lần đề nghị chúng tôi mời Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Chính phủ chúng tôi tới thăm họ. Người ta quyết định rằng tôi đứng đầu Đoàn đại biểu như thế. Và chúng tôi đến Albani. Trước khi đi, chúng tôi báo cho những người bạn Albani rằng chúng tôi không muốn khi chúng tôi có mặt, không tiến hành công khai chỉ trích Nam Tư và những người lãnh đạo của họ. Trong thời gian ấy, Albani giữ những quan hệ rất căng thẳngvới Nam Tư và tiến hành một cuộc đấu súng bằng lời trên báo chí. Tôi cho rằng điều này mang đến sự thiệt hại. Vì thế chúng tôi tư vấn với nhau và nói với Enver Hodga rằng chúng tôi không muốn trong thời gian có mặt Đoàn đại biểu ở Albani tiếp tục cuộc cãi nhau này trên báo chí giữa Albani và Nam Tư. Chúng tôi báo trước rằng họ đừng lôi kéo chúng tôi vào cuộc thảo luận như thế và ở mít tinh. Chúng tôi nói chung không muốn rằng trong các cuộc mit tinh các đồng chí Albani đưa vấn đề này và chính họ đã buộc chúng tôi có lần phản ứng. Đương nhiên, chúng tôi không thể ủng hộ cuộc đấu khẩu như vậy, vâng, lại còn ở cấp cao đại diện hai nước. Điều này chẳng thể nào phục vụ những bước cải thiện mối quan hệ của chúng tôi với Nam Tư và có thể lĩnh hội được thông báo một cuộc chiến tranh về mặt tư tưởng và chính trị giữa nhân dân chúng ta, giữa các quốc gia chúng ta. Chúng tôi không muốn điều này và đề nghị Albani tính đến nguyện vọng chúng tôi.
Trong thời gian chúng tôi ở thăm, trong các cuộc mit tinh và những cuộc họp khác, Albani ngừng phê bình Nam Tư. Nhưng dễ nhận thấy rằng đối với họ là khó đạt được. Trong các cuộc nói chuyện cởi mở, Albani thuyết phục chúng tôi rằng không thể hoà giải với Nam Tư, rằng những người Nam Tư không phải là những người cộng sản, v.v... Chúng tôi không thể đồng ý với họ, mặc dù cũng không phải ủng hộ tất cả những gì đang tiến hành ở Nam Tư. Chúng tôi thậm chí phát biểu ý kiến như thế công khai, nhưng chỉ trong nước, và không muốn làm điều này ở Albani. Chúng tôi hoàn toàn không thể, chúng tôi nói chung không thể, đồng ý rằng những người lãnh đạo Nam Tư không phải những người cộng sản, rằng Nam Tư không phải nước xã hội chủ nghĩa. Đó là một giai đoạn phải đi qua theo thế giới quan chúng tôi. Về những vấn đề cụ thể, chúng tôi còn trao đổi, đôi lúc chửi mắng nhau, nhưng chúng tôi cho rằng về cơ bản, họ - những người cộng sản, mặc dù và họ diễn giải tình hình thực tiễn và lý lý thuyết theo cách của mình.
Trong thời gian chúng tôi ở Albani những người Albani xem chúng tôi như những người bạn, và giữa chúng tôi không phát sinh mắc míu gì cả. Về Nam Tư, trong các cuộc mit tinh, họ không nói gì cả, như thế, không đặt chúng tôi vào tình thế của người hoặc là phải phớt lờ, hoặc là phải tham gia cùng với họ cãi nhau. Nhưng chúng tôi không muốn điều này điều khác. Chúng tôi ở đó một số ngày, thăm thủ đô Tirana và các thành phố khác, thăm làng mạc, cảng... Mọi nơi mọi chốn chúng tôi gặp quan hệ vui mừng không tưởng tượng đượcđối với Liên Xô, với nhân dân Liên Xô, với Đảng chúng tôi từ phía Đảng lao động Albani, cũng như từ phía Hodga và Sehu. Tôi không thấy một đám mây đen đe doạ hoặc, như người Ukraina thường nói, không có những bóng mây che phủ mặt trời tình hữu nghị, mà chúng tôi muốn được thưởng thức cuộc sống và xây dựng quan hệ anh em tiếp tục giữa Liên Xô và Albani. Giữa chúng tôi không phát sinh mâu thuẫn.
Chúng tôi không có tham vọng: Albani rất nghèo, và họ không có một thứ gì mà chúng tôi có thể quan tâm theo nghĩa tài nguyên. Những quan hệ kinh tế của chúng tôi chỉ vì lợi ích Albani. Thậm chí một lượng nhỏ nhoi dầu mỏ, mà Albani khai thác cũng nhờ chúng tôi, chúng tôi cũng không mua của họ. Dầu mỏ của họ chất lượng thấp đến nỗi không thể đem ra thị trường tư bản chủ nghĩa, và chúng tôi bắt buộc nhận số dầu mỏ này trừ vào khoản nợ và suy nghĩ rằng sẽ dùng nó như thế nào trong nền kinh tế chúng tôi. Chúng tôi đã làm điều này, vì lẽ nếu chúng tôi không nhận nó, thì không ai mua nó cả. Rồi cũng từ bỏ khai thác dầu mỏ ở Albani. Sau đó chúng tôi cho Albani máy kéo. Lãnh thổ của họ nhỏ, đất cày không nhiều. Nhưng chúng tôi muốn giúp đỡ xây dựng kinh tế Albani ở mức hiện đại, làm Albani như viên ngọc trai, để lôi kéo thế giới đạo Hồi về nó, đặc biệt Trung Đông và châu Phi, đi theo chủ nghĩa cộng sản. Thế là chúng tôi tiến hành ở đó những biện pháp như thế, chính sách như thế.
Chúng tôi đề nghị Albani xây dựng đài phát thanh mạnh để tuyên truyền. Chúng tôi muốn dùng đài phát thanh vào mục đích tuyên truyền lý tưởng chúng tôi, chính sách chúng tôi, chính sách của tất cả ĐCS, mục đích chung của chúng tôi trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi cũng xây dựng một cảng biển lớn ở Albani. Tóm lại, chúng tôi cung cấp cho họ tất cả những gì mà Albani cần, và người ta đã làm tất cả để Albani trở thành một đồng minh vững chắc tình hữu nghị xã hội chủ nghĩa, để Albani trở thành một tấm gương sáng cho các nước giải phóng khỏi ách thực dân, và biểu thị ưu thế của phe xã hội chủ nghĩa.
Những cuộc nói chuyện với lãnh đạo tiến hành trong bầu không khí hữu nghị. Tôi quả là chưa nói về những cuộc gặp với nhân dân. Nhân dân bày tỏ tình cảm to lớn tình hữu nghị và sự giúp đỡ lòng biết ơn Đoàn đại biểu chúng tôi và qua chúng tôi tới Liên Xô, tới chính sách chúng tôi. Nhân dân đánh giá đúng sự giúp đỡ của chúng tôi, còn sự giúp đỡ này nhận thấy ở mọi nơi và mọi chỗ. Tất cả những cái mới được làm, đều với sự giúp đỡ của chúng tôi, từ tín dụng của chúng tôi, bởi những nhà chuyên môn và công nhân. Điều này tất cả thấy rõ, và nhân dân đánh giá rất cao sự giúp đỡ này và mối quan hệ hữu nghị đối với sự cần thiết của họ. Albani - một đất nước nhỏ. Nhưng một dân tộc nhỏ sống ở địa hình khó khăn, nơi có nhiều mâu thuẫn khác nhau của châu Âu, và những người bất đồng của nó cũng nhiều.
Trong các cuộc hội đàm, Albani thường đặt vấn đề về Hy Lạp. Giữa họ có những cuộc cãi nhau nào đấy về lãnh thổ, bây giờ tôi không nhớ. Nguyện vọng, luôn luôn có thể tìm khả năng duy trì những quan hệ với láng giềng trong tình trạng tranh cãi, vì rằng không có một biên giới có thẻ thoả mãn cho tất cả, và ai đấy luôn luôn có khả năng tham vọng với sự đúng của nó. Lãnh đạo phải tỉnh táo, phải kiểm tra nguyện vọng này, nén kìm chúng, xử lý nghiên túc và với sự hiểu biết đối với láng giềng của mình, tạo ra điều kiện sống trong tình hữu nghị và hoà bình với chúng. Điều này có thể chỉ khi có khát vọng qua lại. Nếu không có khát vọng qua lại và một nước thì muốn, còn nước kia không muốn điều này và không công nhận biên giới thực tại, thì dường như không muốn sống trong hoà bình và hữu nghị, đáng tiếc, điều này không nhận được.
Albani biên giới vẫn yên ổn. Biên giới Albani biên giới không gây ra một lo ngại gì với chúng tôi. Chúng tôi đã tin những người Nam Tư không có mưu đồ chống Albani. Tôi không biết, người Albani chừng mực nào chân thật. Nhưng tôi cảm thấy họ với sự hiểu biết liên quan đến vấn đề biên giới, mặc dù biên giới với Nam Tư họ không dàn xếp chúng. Trong các cuộc hội đàm họ đã nói rằng rất nhiều người Albani sống trên đất Nam Tư. Nhưng điều này giống như các chuyện cổ tích, không có mọi yêu sách và điều ám chỉ, bóng gió rằng họ một điều gì đó mưu đồ và muốn chúng tôi ủng hộ họ. đàm phán những người Albani không đặt ra những cuộc nói chuyện như thế và họ không thoả mãn. Họ cho rằng những người Albani ở Nam Tư chịu khổ sở, rằng người ta áp bức họ. Những vấn đề nội bộ này liên quan chỉ có Albani và Nam Tư. Những người Nam Tư cho rằng những người Albani ở Nam Tư được sử dụng tất cả mọi quyền lợi của nhân dân Nam Tư. Tôi nghĩ rằng nó là như thế.
Những tình tiết khác, liên quan đến biên giới. Tôi không nhớ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao nào hoặc một nhà hoạt động xã hội Hy lạp đến Liên Xô. Tôi cũng tiếp ông. Những người Albani - rất đa nghi. Họ có ấn tượng, rằng chúng tôi với Hy lạp tiến hành các cuộc thương thuyết về sự thay đổi biên giới Hy Lạp-Albani có lợi cho Hy lạp. Tất nhiên Hy Lạp không đặt ra vấn đề như thế, và họ quả là khôn ngoan, hợp lý, vì rằng chúng tôi đứng ở phía bảo vệ quyền lợi Albani. Phải tự hình dung, dường như chúng tôi có thể tiến hành các cuộc thương thuyết nào đấy với Hy lạp, mà nó sẽ đem lại thiệt hại về lãnh thổ của Albani! Sự ngu ngốc, nông nổi thô thiển, kết quả của sự tưởng tượng bệnh hoạn! Nhưng, đáng tiếc, Albani phát biểu những ý nghĩ như thế cho một ai đấy trong số chúng tôi. Nhưng khi sau này giữa chúng tôi có căng thẳng về quan hệ, thì họ lại nói một cách chính thức và trực tiếp đã nói rằng chúng tôi thoả thuận với Hy lạp chiếm đoạt từ Albani một vùng đất nào đấy có lợi cho Hy lạp. Lời nói điên rồ! Chiếm đoạt như thế nào? Nếu thậm chí Hy Lạp phát biểu những yêu sách như thế và có sự đồng ý điên rồ nào đấy với họ, thì những vấn đề tương tự không được giải quyết mà không có chiến tranh. Nhưng ai sẽ chiến đấu? Chả lẽ chúng tôi vì Hy Lạp mà chiến đấu với Albani? Đơn giản chỉ là những lời mê sảng! Nhưng lời mê sảng này, đáng tiếc, người Albani phát biểu.
Tất nhiên trong thời gian chúng tôi ở thăm, những vấn đề này còn chưa phát sinh. Mọi thứ vẫn như trước. Tóm lại, cuộc đi thăm Đoàn đại biểu chúng tôi ở Albani là dễ chịu. Những cuộc nói chuyện, chúng tôi tiến hành, chỉ một việc hữu nghị, và chúng tôi về nước ở tâm trạng tốt và với suy nghĩ tốt về thành tựu của họ. Sự thành công của Albani còn thật sự lớn hơn. Chúng tôi vui mừng: một dân tộc nhỏ bé chấn chỉnh năng động nền kinh tế của mình, mặc dù liếc qua như nông dân Albani rất, rất nghèo. Sự nghèo khổ, hoang sơ bao trùm mọi nơi. Nhưng đó không phải là lỗi nhân dân Albani và Đảng lao động Albani. Như phức tạp lịch sử, và phải lao động nhiều loại bỏ nghèo khổ và nâng mức sống nhân dân nhân dân. Chúng tôi đứng ở vị trí này và có sự giúp đỡ mọi măth cho Albani.
Tại Đại hội 20 ĐCSLX, chúng tôi trình bày về sự quái gở, sự lạm quyền và những vụ hành quyết sai, do Stalin thực hiện Chúng tôi, đương nhiên, chân thật đứng về phía dân chủ hoá đời sống chúng tôi, mặc dù và không phải tất cả cùng như thế, như sau này sẽ giải thích. Một số người muốn quay ngược bánh xe lịch sử, cản trở việc phanh phui Stalin. Lúc ấy tôi nói với nhiều đồng chí, ở cùng trong một tập thể. Nhưng chúng tôi nắm con đường dân chủ hoá cuộc sống xã hội xã hội Liên Xô. Nhiều ĐCS khác bắt chước chúng tôi. Một ai đấy chân thành chia xẻ quan điểm chúng tôi, một cái gì đó không đồng ý dưới áp lực xã hội, như Đảng viên và những người ngoài Đảng. Quá trình dân chủ hoá cuộc sống xã hội đã đi.
Tất cả những vấn đề này được bàn cãi sôi nổi trong các hội nghị Đảng trong các nước Đông Âu. Ở Albani vấn đề đã chuyển hướng đặc biệt. Nhân viên Đại sứ quán chúng tôi ở Tirana kể cho tôi một hội nghị Đảng Tirana rất lạ lùng. Đây là một hội nghị kéo dài một số ngày, và Enver Hodga phải chịu đựng. Người ta phê bình ông và thậm chí nêu vấn đề thay Hodga, Sehu, Bekir Baluka, tất cả bộ ba này. Tôi không nhớ, ai bị phê bình trong số cán bộ Đảng ở Tirana. Nhưng tôi chú ý đến sự kiện này vì rằng Enver Hodga, hình như, có giá trị quyết định sự phát triển tiếp theo mối quan hệ giữa ĐCS Liên Xô và Đảng lao động Albani, giữa hai quốc gia.
Dù sao chăng nữa Hodga vẫn nhô lên. Ông, và Sehu, và Baluka còn nằm lại trong ban lãnh đạo. Nhưng biến cố này làm họ hoảng sợ khủng khiếp. Ngoài ra, họ nói chung, bị chấn động. Họ tự cho mình là lãnh tụ, tuyệt đối uy tín. Và như thế đây là những người cả gan cao giọng trong những người cốt cán và làm lung lay uy tín của họ? Và cũng không phải chỉ làm lung lay, mà đúng suýt nữa lật nhào vị trí lãnh đạo của họ. Khi Mao Trạch Đông tiến hành đường lối chính sách chống xô viết, nhằm cắt đứt với ĐCS Liên Xô, thì không phải, như người ta nói, là người thông minh mới hiểu rằng sự liên minh của Trung Quốc trong chính sách này là Albani. Mao mời Đoàn đại biểu Đảng lao động Albani sang Trung Quốc. Mehmet Sehu cầm đầu đoàn.
Trong thời gian ấy, chính chúng tôi phê bình Nam Tư, họ, dường như, người xét lại, xa dời học thuyết Mác-Lenin và v.v... Tôi bây giờ tôi không đi sâu xem xét vấn đề này, đối với tôi là giai đoạn đã qua. Sau đó giữa chúng tôi phát triển những những quan hệ khác nhau, xảy ra cả sự nhạy cảm. Trong toàn bộ quan hệ của chúng tôi với Nam Tư tình hữu nghị đã chiến thắng, và đến cuối đời mình tôi còn có những quan hệ tốt nhất với đồng chí Tito và các nhà hoạt động khác của ĐCS Nam Tư. Tôi kính trọng cao Tito. Nhưng người Trung Quốc quyết định sử dụng sự phê bình của chúng tôi đối với Nam Tư, còn sau đó sử dụng sự hoà giải, mà sự hoà giải này biến thành tình hữu nghị giữa các Đảng chúng ta và giữa lãnh đạo Liên Xô và Nam Tư. Người Trung Quốc khôn khéo ủng hộ Albani phê bình Nam Tư như là cuộc đấu tranh với những người xét lại, cuộc đấu tranh với Tito với tư cách người mang tất cả vi trùng chống chủ nghĩa cộng sản và chống xã hội chủ nghĩa, không thể là tình hữu nghị.
Những hạt giống này rơi xuống mảnh đất trồng đã chuẩn bị sẵn. Lúc ấy cũng không cần trợ sức đặc biệt từ Trung Quốc, vì rằng Albani tự mình tìm kiếm người ủng hộ họ. Trung Quốc - một đất nước rộng lớn, đông dân và nhiều người theo đạo Phật. người lãnh đạo Albani nhìn nhận Trung Quốc, như người ta nói, như những quân cờ trong tay, để phục thù. Tôi cho rằng họ là những người thiển cận và hạn chế. Vì thế họ xác định chính sách bằng số học. Không đòi hỏi kiến thức đặc biệt về toán, cũng đủ có đưa ra 4 phép tính số học, để xác định, bao nhiêu dân Trung Quốc và bao nhiêu dân các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa không có tổng cộng bao nhiêu dân, một Trung Quốc. Tiếp theo, Trung Quốc là cái rốn của quả đất. Như thế, hình như Hodga và Sehu xác định đường lối của mình. Họ hoàn toàn liên kết với Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô, chống ĐCS Liên Xô.
Vì vậy tôi cũng lưu ý rằng một Đảng viên cốt cán Tirana, nơi quyết định số phận Hodga, phát biểu thời ấy chống Hodga. Những người cầm đầu Albani lĩnh hội chính sách chống xô viết do Mao cầm đầu. Không phải Mao ràng buộc họ, mà họ bản thân sẵn sàng tiếp nhận chính sách này không tồi hơn Trung Quốc, xuất phát từ tình hình nguy hiểm, phức tạp đối với họ sau Đại hội 20 ĐCSLX. Họ hiểu, trong đó đã kết luận bản chất sự kết án sùng bái cá nhân, sự kết án độc quyền, sự kết án tiêu chuẩn chống dân chủ trong cuộc sống và trong Đảng. Điều này làm chóp bu Albani lo sợ và không chỉ có họ.
Một số người khác cũng lo lắng: dân chủ, tất nhiên, tốt, nhưng trong điều kiện dân chủ, mà chính quyền, không nhòm ngó đến nhân dân và không lắng nghe nhưng mà anh ta lãnh đạo, là bài toán khó. Lúc ấy đòi hỏi thông minh hơn, đòi hỏi kỹ năng hiểu nhiệm vụ, đất nước đặt ra, kỹ năng nghe những những người mà anh lãnh đạo. Phải luôn luôn cảm thấy sự phụ thuộc của mình vào quần chúng: anh ở trong ban lãnh đạo, nhưng không phải vì rằng anh muốn lãnh đạo. Cần phải, để anh hiểu rằng anh có thể lãnh đạo chỉ có ở điều kiện, mà những người muốn điều này lại là người do anh lãnh đạo. Nhưng điều này có thể chỉ ở một điều kiện: người lãnh đạo sẽ là máu là thịt của nhân dân của mình, Đảng của mình, xuất phát từ quyền lợi nhân dân, một không phải là xu hướng cá nhân, ích kỷ, háo danh, làm chủ các kiến thức cần thiết, nhũn nhặn, tềnh toàng và có kỹ năng sống trong tập thể, tiến hành công việc, ứng với trách nhiệm và vị trí chính trị của mình, thì hãy vào Đảng. Anh không được đứng trên Đảng! Không, anh là nô bộc của Đảng và anh có thể nằm lại ở chức vụ này chừng nào Đảng ủng hộ anh, hài lòng bởi anh và những hoạt động của anh.
Những điều này không tương ứng với những hoạt động thực tiễn Hodga, Sehu và Baluka. Khi giữa chúng ta có những quan hệ đã căng thẳng và vượt quá thành thù địch, một số đồng chí Albani đến chỗ chúng tôi và rơi nước mắt, kể, tình hình phát sinh ở nước họ và к чему bây giờ họ gạt bỏ. Tito kể cho tôi, trước đây ông bí thư thứ nhất ĐCS Albani là một đồng chí rất tốt. Những người Nam Tư biết ông ta và ủng hộ. Bản thân ông xuất thân từ công nhân. Nói riêng, ông là nhà tổ chức ĐCS Albani. Nhưng Hodga, Baluka và Sehu tổ chức chống âm mưu của ông. Người ta kể rằng Sehu tự tay bóp cổ người này. Chẳng bao lâu chúng tôi biết những trường hợp dã man: bóp cổ người ta, rằng thủ tiêu. Ở Albani tình hình phức tạp như thế này: nếu ai đó bị phạt, do Hodga quyết định. Hai người - Sehu và Baluka, thực hiện bản án. Nếu cả bộ ba nhất trí rằng người này có hại, thì họ tìm cách thủ tiêu bí mật anh ta. Người này nhanh chóng biến mất.
Tất cả điều này rất giống rất với hệ thống mà Stalin vận hành. Ông cũng đã làm như thế qua Beria và qua những nhân vật khác tương tự. Bằng cách như thế nhiều người đường hoàng đã bị giết bởi Stalin. Tình hình này cũng xảy ra ở Albani. Tình hình này được gây ra sự sợ hãi dân chủ hoá đất nước, sợ hãi của cuộc sống xã hội và Đảng. Nhưng con đường này tôi xem là không thể tránh khỏi. Chính do điều này chúng tôi đã đổ vỡ. Sự đổ vỡ này phát triển theo từng giai đoạn như thế nào? Trước hết, chúng tôi biết rằng Albani với Trung Quốc tiến hành các cuộc thương thuyết, nhằm chống ĐCSLX và những người khác các đảng anh em. Những yếu tố khác chúng tôi trước đây không có.
Trong thời gian Đoàn đại biểu Albani từ Trung Quốc qua Liên Xô. Có một phụ nữ Albani trung thực nhất đến gặp BCHTƯ chúng tôi. Tôi nghĩ rằng bây giờ họ bóp cổ bà ta, một người đáng thương. gestapo không bóp cổ bà ta, còn “người anh em” của mình bóp cổ bà vì bà là một người cộng sản chân thật tới BCHTƯ chúng tôi và kể lại Trung Quốc nói chuyện với Albani về cái gì và Albani đồng ý với Trung Quốc nhe thế nào. Chúng tôi quá ngây thơ, ngay khi biết về điều này, chúng tôi chạy đến gặp Sehu, ông còn nằm ở bệnh viện của chúng tôi, và kể cho ông ta nghe tất cả và hỏi, sao lại có thể tiến hành một cuộc một cuộc nói chuyện như thế ở Trung Quốc? Sehu bật dậy từ giường bệnh và lập tức bay về Albani.
Sự đổ vỡ quyết định được hình thành, khi ở Bucarest tiến hành Đại hội thường kỳ ĐCS Rumani. Chúng tôi quyết định họp ở đấy và trao đổi những suy nghĩ về vấn đề quốc tế, bao gồm những vấn đề mối quan hệ giữa những ĐCS và, cụ thể hơn, sự phân tích giữa các ĐCS khác và ĐCS Trung Quốc. Tôi nói ở đây không những về ĐCSLX và ĐCS Trung Quốc. Không. Vấn đề này động chạm đến các đảng anh em khác. Khi chúng tôi họp, thì hoàn toàn bất ngờ đối với tôi, phía Albani thẳng thắn phát biểu chống chúng tôi và ủng hộ Trung Quốc. Tôi không nhớ họ tên đại diện Đảng lao động tại Đại hội ở Bucarestе. Nhưng tôi hỏi ông:
- Việc gì thế này?
Ông trả lời:
- Đồng chí Khrusev, chính tôi cũng không hiểu cái gì cả. Nhưng tôi đã nhận chỉ thị ủng hộ Trung Quốc.
Chúng tôi nghĩ rằng chưa phải mất hoàn toàn, và muốn làm tất cả để phục hồi những quan hệ hữu nghị của chúng tôi với Albani. Tuy nhiên, dù chúng tôi đã cố hết sức, cũng không dẫn đến điều này.
Năm 1960 ở Kreml họp Hội nghị quốc tế tất cả các ĐCS và các Đảng anh em. Hodga đọc một bài phát biểu buộc tội và chống xô viết. Ông chỉ ra nanh độc hơn chính người Trung Quốc. Lúc đó bà Dolores Ibarruri phát biểu rất tốt, bà là một lão thành cách mạng, trung thành với phong trào cộng sản. Bà nói:
- Điều này là thế nào? Lời phát biểu của Hodga tương tự như một con chó, được người ta cho bánh mỳ, và cắn tay người cho ăn.
Điều này là rất rõ ràng. Xung đột với Albani xảy ra theo vấn đề hoàn toàn nguyên tắc.
Giới chóp bu Albani bằng phương pháp giết người công khai và bí mật, đã xây dựng Đảng, được duy trì đoàn kết bằng sự sợ hãi. Họ không thể chấp nhận cách giải quyết Đại hội 20 ĐCSLX. Vì thế trong cuộc đấu tranh chống ĐCS Liên Xô họ, cũng như Trung Quốc, đặt một lá chắn tên Stalin. Stalin - đấy là lý tưởng! Stalin - đây là một người mác xit, đây là một người Leninit, còn tất cả những người còn lại - đều là những người xét lại. Có những người xét lại phát biểu các vụ giết người công klhai và bí mật, có người phát biểu vì dân chủ hoá cuộc sống của Đảng và đất nước. Những người lãnh đạo Albani tỏ ra không theo con đường với những người như thế. Điều đó, tất nhiên, thảm hoạ thật sự cho nhân dân Albani. Không ai, không một người suy nghĩ bình thường có thể thể cho rằng sự lãnh đạo như thế lại có khả năng sử dụng lòng tin và kính trọng của nhân dân của mình, Đảng của mình. Họ bất đắc dĩ chịu đựng. Không chạy đâu được! Chính xác như thế, thời Stalin: Stalin tiến hành giết các cán bộ lãnh đạo Đảng, hàng nghìn cái đầu của những người chân thật, nhưng tất cả kêu to:
- Stalin muôn năm! Stalin - người bạn tốt nhất của nhân dân, Stalin - cha già dân tộc!
Hodga, hình như người ta không gọi như thế: ông còn trẻ theo tuổi tác, nhưng ông muốn điều này. Theo hiểu biết của ông, có thể đạt được điều này, chỉ bằng cách giữ Đảng và nhân dân trong sự sợ hãi, bắt nhân dân phụ thuộc vào mình bằng hăm doạ và bạo lực. Mao cũng tiến hành chính sách như vậy. Bây giờ anh hãy bật radio và nghe. Cái Trung Quốc nói, cái Tirana nói. Ngôn ngữ khác nhau, nhưng bản chất là một. những người lãnh đạo của chúng xuất phát từ một quan niệm rằng: nhân dân- cứt, còn lãnh tụ - thiên tài. Vì thế ở họ không phải lãnh tụ sợ nhân dân, mà ngược lại, nhân dân sợ lãnh tụ. Còn khi tôi gặp và bàn bạc với Mao trong thời kỳ mối quan hệ chúng tôi tốt nhất, thì trong nhiều câu tôi có cách nào hiểu Mao. Lúc đó tôi xếp vị trí ông ta thuộc vào đặc điểm nào đấy của ý nghĩ Trung Quốc, thuộc vào đặc điểm lịch sử của dân tộc Trung Quốc. Sơ đồ sự bàn luận của ông, đối với tôi, là khá sơ sài, lần khác ông bật ra trong sự phân tích rất phức tạp. Tôi cũng nhắc đến có lần về khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở”, có nghĩa là hãy thúc đẩy thúc đẩy tác cả các xu hướng văn hoá. Giờ đây ai cũng biết rõ ràng đây là sự khiêu khích. Khẩu hiệu này được tung ra để kêu gọi mọi người cởi mở, còn sau đó sự cởi mở này bị trấn áp với “hoa”, không có lợi theo mùi hoặc hoặc màu.
Hoặc một khẩu hiệu khác, được Mao đưa ra và Hodga đớp lấy: “Không sợ chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc - chỉ là hổ giấy”, nghĩa là có con hổ không nguy hiểm. chúng tôi thật không hiểu điều này. Người ta tung ra khẩu hiệu như thế từ thời ấy, khi chúng tôi còn giữ những quan hệ tốt. Chúng tôi không thể lúc ấy coi thường khẩu hiệu này, mà phải coi trọng nó, vì rằng đưa nó ra là Mao, người bạn chúng tôi, lãnh tụ nhân dân Trung Quốc. Khẩu hiệu “hổ giấy” tồn tại một thời gian dài, nhưng bây giờ họ một điều gì đó ỉm đi, và không nhắc lại nó. Tôi không biết, người ta vứt bỏ nó hoặc nó được sử dụng, để người ta đi đến những khẩu hiệu khác. Điều này không tưởng tượng được: đế quốc Mỹ - hổ giấy? Dù sao hổ - ác thú tương đối nguy hiểm, còn Mỹ - lại không phải là giấy.
Khi tôi bị từ chức, một lần tôi đã nghe trên đài phát thanh cuộc một nhà văn Mỹ nào đấy phỏng vấn Trần Nghị của. Nhà văn đặt câu hỏi thẳng: có lẽ, dựa trên lời phát biểu của Mao, Mỹ cho rằng các ông muốn gây chiến, điều đó liệu có đúng không? Trần Nghị trả lời:
- Không, chúng tôi không muốn chiến tranh và sẽ không đánh nhau chỉ trong trường hợp, nếu có cuộc cuộc tấn công trực tiếp vào lãnh thổ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Cho dù điều này lời kêu gọi không có ẩn ý với đế quốc Mỹ về cuộc tấn công vào Bắc Việt nam. Nhận được thế này: người Mỹ đúng hiểu Mao và gây chiến với Bắc Việt nam. Trung Quốc không can thiệp vào cuộc chiến tranh này, bộ đội của họ không bảo vệ Việt nam. Mặc dù là “hổ giấy”, nhưng họ biết rằng con hổ ấy có thể vồ lấy cổ họng. Sự tuyên bố khiêu khích tương tự khích lệ bọn xâm lược Mỹ và thúc giục họ tấn công thẳng Bắc Việt nam.
Hodga cũng giữ tình thế như thế. Đặc biệt còn có thể nói về Albani? Hôm nay nói Albani, không thể không nói về Trung Quốc. Chính sách của Albani, đó là sự phản ánh chính sách, mà Trung Quốc tiến hành với phương Tây. Hoặc chúng tôi lấy một khẩu hiệu của Mao: “Gió Đông thổi bạt gió Tây”. Dường như chỉ là những khái niệm hoàn toàn về khí hậu hoặc địa lý. Nhưng ông đe doạ mọi người Trung Quốc: chính là gió đông có thể thổi mạnh.
Tôi kể thêm một cảnh nữa trong cuộc xung đột của chúng tôi với Albani. Như tôi đã nói, chúng tôi cho họ 12 tầu ngầm. Khi quan hệ căng thẳng, chúng tôi quyết định lấy lại tất cả tàu ngầm và thiết bị đi kèm, mà chúng tôi cho họ. Albani phản đối điều này. Có ba chiếc tàu ngầm hoàn toàn do người Albani chỉ huy, một hoặc hai chiếc do người cả hai bên. Chúng tôi đưa về được tám, chín tầu, còn lại ba hoặc bốn ở lại Albani, chúng tôi không thể lấy đi được. Nhưng chúng tôi chờ đợi cả phản ứng mãnh liệt từ phía Albani khi chúng tôi lấy đi tàu ngầm, thì tầu chiến của chúng tôi, tôi không nhớ bao nhiêu, lởn vởn ở bờ biển Albani đề phòng bất trắc. Nếu chính quyền Albani dùng sức mạnh giữ tàu ngầm chúng tôi, thì tàu chiến chúng tôi buộc phải đe doạ họ.
Như thế đánh dấu sự đổ vỡ hoàn toàn với Albani. Tôi không biết, Albani có thắng từ điều này không. Tôi nghĩ rằng họ thua: chúng tôi ngừng giúp đỡ họ, tất cả chấm dứt. Мне không biết, sự khó khăn lúc ấy ở Albani, nhưng tin đồn là Trung Quốc quyết định giúp đỡ họ. Trung Quốc sau này có giúp đỡ, nhưng tôi không biết trong mức độ nào, như chúng tôi. Tôi nghĩ rằng chưa chắc, vì rằng bản thân Trung Quốc trong thời gian ấy cũng rất khó khăn. Sự thật sự cần thiết của Albani so với Trung Quốc là rất nhỏ, để Trung Quốc có thể làm một điều gì đó. Bây giờ tôi không có khả năng thậm chí xác định gần đúng về định lượng vì lẽ Đại sứ quán Liên Xô ở Albani bị cô lập và người Albani ngừng đến đó. Họ đã giết những người như thế. Nhưng chúng tôi bị tước mất khả năng nhận thông tin.
Tiếp tục ra sao đây! Tôi xem rằng phải làm hết sức để sự xung đột giữa ĐCSLX và các ĐCS khác với Trung Quốc, thu hẹp và tan đi. Đi tới đạt được tình thế mà phong trào cộng sản là một khối và duy nhất. Điều này cần đạ ra là mục đích chính. Phải làm tất cả để làm mềm đi mối quan hệ chúng tôi và sau đó biến chúng thành tình hữu nghị. Điều này sẽ vì lợi ích của nhân dân Liên Xô, vì lợi ích của tất cả nhân dân yêu chuộng hoà bình, vì lợi ích nhân dân Trung Quốc, vì lợi ích cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì sự cùng tồn tại hoà bình. Lãnh đạo Trung Quốc nhiều lần chửi rủa Liên Xô, ĐCSLX vì khẩu hiệu chung sống hoà bình. Tuy nhiên, khi những nhà báo tư sản hỏi dồn Mao, chính ông lặp lại rằng Trung Quốc cũng ở vị trí chung sống hoà bình. Nhưng Trung Quốc không phải luôn luôn làm thế. Họ phát biểu vì chung sống hoà bình, thì lại chống. Albani vẫn theo đuôi Trung Quốc.
Mao Trạch Đông
Bây giờ tại Trung Quốc, học thuyết Mao hoàn toàn chiến thắng. Nhưng vào giữa thập niên 40 người ta đã nói rằng, không thể nào, những người cộng sản Trung Quốc không chiến thắng. Việc này được xác nhận khi ở Trung Quốc triển khai “cách mạng văn hoá”.
Tôi đã nói:
- Chuyện vớ vẩn!
Tất nhiên chiến thắng. Quân đội của họ mạnh, tinh thần không tuân theo, luật pháp không được được thừa nhận. Nếu anh không nghe thì chém đầu. Nhưng họ làm điều này một cách kịch, tụ tập trên quảng trường hàng nghìn mọi người và mắng nhiếc những người bất đồng. Đây là chính sách? Thậm chí không thể nói rằng điều này là thế. Chính sách dã man. Có cái gì đấy không xác định, nhưng những sự kiện thực, và anh không làm được cái gì cả, điều kiện sống ở đó phức tạp thế đấy.
Lưu Thiếu Kỳ - một người thông minh nhất, ông không đầu hàng, ông không đồng ý với chính sách Mao Trạch Đông và có lần đấu tranh chống Mao. Điều này làm ông mất rất nhiều những người ủng hộ mình. Nhưng họ không có sức mạnh thực sự. Nhưng Lưu Thiếu Kỳ vẫn thực hiện không phải vì rằng vì ông có những người ủng hộ mình mình, những người không trao ông cho Mao Trạch Đông. Không, Mao có thể bóp cổ Lưu dễ dàng. Nhưng điều này gây ra cơn giận quần chúng, mà Lưu biết rõ. Mao biết điều này và đấu tranh không phải chống Lưu những một con người, mà như chống người mang một hệ thống nhất địng quan điểm chính trị, muốn cô lập Lưu về mạt chính trị.
Việc sùng bái cá nhân Mao - cũng là hiện tượng phức tạp. Sự sùng bái chúng ta đã và đang gặp không những ở Trung Quốc. Bao nhiêu thế kỷ rồi, người ta xác định:
- Xin Ngài, xá tội, xin Ngài, xá tội!
Giúp cái gì? Giúp ai? Thường không giúp, nhưng mục sư làm cho chúng ta và nhân dân tin vào Trời. Chính thế. Nhân thể nói thêm, Mao bắt đầu ca ngợi mình. Chẳng hạn, có một dẫn chứng thế này. Thời tôi còn làm việc trong lãnh đạo xô viết, tôi bằng quân đội chúng ta đã in những tác phẩm của Mao về vấn đề quân sự. Tôi gọi nguyên soái Malinovski và nói:
- Đồng chí Malinovski, cơ quan đồng chí đang in cho Mao. Quân đội xô viết đánh đánh tan quân Đức mạnh bậc nhất. Nhưng Mao chiến đấu tại Trung Quốc 20 thậm chí 25 năm, và suốt thời kỳ ấy, Mao và kẻ thù của ông chọc lưỡi lê và dao vào lưng nhau. Giờ đây đồng chí lại in “Tác phẩm về quân sự” của Mao. Để làm gì? chúng ta học những tác phẩm này để chiến đấu trong tương lai hay sao? Phần nào cơ thể chấp nhận quyết định như thế? Điều này xảy ra 5 năm trước đó. Những người thông minh nói chung là những người giải quyết một vấn đề, nhưng giải quyết sự ngu ngốc, vâng họ và bản thân họ đã đồng ý thực hiện sự ngu ngốc. Nhưng bây giờ, có lẽ, những cuốn sách này nằm trong kho, nếu có thể được, đơn giản là đốt đi.
Tôi muốn được dừng lại chút ít ở “cá nhân”.
Một năm hoặc một năm rưỡi trước đây, như tôi đã nghe, lan truyền tại Liên Xô ý kiến, rằng tôi làm Trung Quốc cãi nhau với Liên Xô. Tôi không tranh luận, vì lịch sử tự thân chỉ ra giá trị bằng tuyên bố tương tự. Nhưng tôi ngạc nhiên, buồn và bực vì Youdin lặp lại sự ngu ngốc như thế, một con người từng là đại sứ Liên xô tại Trung Quốc trong thời gian bắt đầu cuộc xung đột Xô-Trung. Vì vậy - có vài lời về Youdin. Ông nói ý rằng là tôi chọc tức Mao và ông bị biến thành một người chống xô viết. Nếu ông nói riêng với tôi điều này, tôi sẽ chứng minh bằng văn bản rằng sự bắt đầu cuộc xung đột của chúng ta với Mao do chính Youdin gây ra. Và nếu ngồi vào bàn thảo luận xoàng vấn đề đã nêu, thì tôi có đủ cơ sở nói, ở đâu xuất hiện Youdin, sẽ phát sinh xung đột của chúng ta với các nước ấy. Khi Youdin đến Nam Tư, thì chúng ta phê phán Tito. Cử Youdin đi Trung Quốc, thì chúng ta chửi nhau với Trung Quốc. Lúc ấy không phải đơn giản có sự trùng hợp như vậy.
Tôi kính trọng Youdin. Ông ta đến Trung Quốc như thế nào? Mao gửi một bức thư cho Stalin đề nghị Stalin giới thiệu cho Mao một nhà triết học mác xit: gửi ông ta đến Trung Quốc, vì rằng Mao muốn biên tập những lời phát biểu của mình để một người có học vấn giúp đưa những lời này ở dạng thích đáng, để cho không mắc lỗi về triết học mác xit. Người ta chọn Youdin. Và cử ông ta. Youdin làm việc ở đó, về mặt tinh thần được lòng Mao. Mao thậm chí đến chỗ ông ta ở Đại sứ quán thường xuyên hơn là Youdin đến chỗ Mao. Thậm chí Stalin đôi khi lo ngại rằng Youdin lúc nào đấy thoá mạ trong quan hệ với Mao.
Mọi việc đều tốt lành. Và bỗng nhiên chúng tôi nhận từ Youdin một bức điện mật mã dài, trong đó Youdin mô tả những điều không tưởng tượng được, mà Youdin nghe từ Mao, về Liên Xô, các ĐCS, và cá nhân Youdin. Nếu trước đây người ta có ấn tượng rằng Mao tựa như quỵ luỵ trước Youdin, thì sau bức điện này rõ ràng là Mao nói chung không trọng Youdin. Có ý kiến cho rằng gọi Youdin về. Youdin là một đại sứ kém. Nhưng khi ấy những quan hệ cá nhân Mao và Youdin đã thành tình hữu nghị anh em, thì Youdin lại có ích. Nhưng thuần tuý công việc của Đại sứ quán chẳng ma nào cần Youdin? Giả thiết rằng các nhà ngoại giao thay chỗ Youdin. Khi ông ta có xung khắc với Mao, thì ông ta là đại sứ - và cũng không phải đại sứ, mà chỉ trên cơ sở triết học, ông đã đổ vỡ hoàn toàn với Mao. Và chúng tôi rút ông về Liên Xô.
Chúng tôi đến Trung Quốc năm 1954 và tiến hành một số hội đàm với Mao, mà sau này tôi nói với các đồng chí:
- Sự xung đột của chúng ta với Trung Quốc khó tránh.
Tôi có kết luận như vậy từ phản ứng Mao và từ bối cảnh vây quanh chúng ta. Bối cảnh là những người châu Á: lễ độ đến quá thái, cảnh giác đến không thể, nhưng không chân thật. Chúng tôi ôm và hôn Mao một cách thân mật, bơi cùng với nhau trong bể bơi, tán chuyện các vấn đề khác nhau... Nhưng điều này trông có vẻ ngọt ngào. Những vấn đề riêng biệt phát sinh và đặt trước chúng ta làm cảnh giác chúng ta. Nhưng chính là, tôi cảm thấy và cho tất cả các đồng chí rằng Mao không thể cam chịu chấp nhận bất kỳ một ĐCS khác, mà không phải không Đảng cộng sản Trung Quốc, lại đứng đầu phong trào cộng sản thế giới. Ông không thất bại.
Nếu Stalin sống thêm chút nữa, ông cũng bùng nổ xung đột trước đây nhận đổ vỡ hoàn toàn giữa Liên Xô và Trung Quốc. Chính trị - nói chung đó là trò chơi. Và Mao tiến hành chính sách của mình, trò chơi của mình. Đặc điểm của nó được kết luận chỉ theo cách của người châu Á, nịnh bợ và nham hiểm. Sau Đại hội 20 ĐCSLX Mao nói:
- Đồng chí Khrusev đã mở mắt chúng tôi, đã nói sự thật, và chúng tôi sẽ chấn chỉnh.
Chính Mao công bố lời phát biểu này, rồi sau này nổ ra mọi xung đột. Khi Mao tiến hành đường lối chính trị sai lầm và đưa khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở”, khi gặp nhau, ông hỏi tôi:
- Đồng chí Khrusev, đồng chí chí nghĩ thế nào về “trăm hoa”?
Tôi trả lời:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi không hiểu đơn giản như thế.
Tất nhiên chúng tôi không công bố ý kiến của mình về vấn đề này. Tôi xung đột với Mao chỉ mang tính chất cá nhân, nhưng chúng tôi không phát biểu công khai, mặc dù đã ý kiến chung. Thậm chí không có một cái gì cả được công bố theo lý do đã nêu. Nhưng tôi nói với Mao:
- Chúng tôi không hiểu điều này, vì rằng hoa tồn tại khác nhau: có ích, và không có ích, và đơn thuần có hại.
Mao đồng ý, rằng chúng tôi hợp với điều đó. Ông là một người thông minh và tự ông hiểu rằng lần chúng tôi không công bố một cái gì cả trong mối liên hệ đã nêu, nghĩa là, chúng tôi không đồng ý.
Và bỗng nhiên Mao đưa một ý tưởng mới: trong 5 năm “đuổi kịp Mỹ”.
Bắt đầu ông ta tổ chức các công xã, tạo ra những nhà ăn tập thể. Tuyên bố, rằng ý tưởng chung sống hoà bình - quan điểm hoà bình tiểu tư sản.
Sau đó Trung Quốc nói, ở chủ nghĩa xã hội sự phân bố phúc lợi theo số lượng và chất lượng lao động là khẩu hiệu tư sản. Tôi đã nghe điều buộc tội rằng chúng tôi theo đuôi bọn tư sản. Lúc ấy quả là người ta đã đặt những vấn đề nguyên tắc quản lý phát triển kinh tế đất nước. Chúng tôi không thể đi sau Trung Quốc. Còn bây giờ nhà triết học Youdin trút tất cả cho cá nhân tôi. Ông làm tôi sửng sốt. Tôi coi ông như nhà thông thái.
Hoặc lấy vấn đề chiến tranh và hoà bình. Khi tôi và Mao cùng mặc quần đùi nằm ở một bể bơi ở Bắc Kinh tranh luận vấn đề thế giới. Mao nói với tôi:
- Đồng chí Khrusev, đồng chí tính sao: nếu so sánh sức mạnh quân sự của phe tư bản phe xã hội chủ nghĩa, thì Trung Quốc đưa ra chừng này tập đoàn quân, Liên Xô - chừng này... các nước xã hội chủ nghĩa còn lại - chừng này... còn kẻ thù đưa ra bao nhiêu? Rõ ràng chúng ta chiếm ưu thế.
Tôi nói:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, bây giờ mà tính toán như thế tỷ lệ sức mạnh e là không thích hợp. Khi vấn đề được giải quyết bằng nắm đấm hoặc lưỡi lê, có thể tính xem phía ai có bao nhiêu lưỡi lê và ai trội hơn. Khi xuất hiện súng trường, đông quân hơn nhưng ít súng hơn chưa chắc chiến thắng quân thù ít hơn theo số lượng. Nhưng bây giờ, khi có bom nguyên tử, ai có bao nhiêu bia đỡ đạn - không tỏ ra sức mạnh thực tế của mình.
Mao không đồng ý với tôi. Nhưng chẳng có lẽ tôi đồng ý với ông?
Hoặc chúng tôi lấy lời tuyên bố của ông, khi năm 1957 ông đến Moskva dự Hội nghị đại diện cộng sản và các Đảng công nhân. Đã có những cuộc nói chuyện nhã nhặn, lịch thiệp nhất được, đồng thời rất cởi mở. Mao nói với tôi:
- Thưa đồng chí Khrusev, nguyên soái Zukov, phát biểu trên báo rằng nếu một cường quốc đế quốc tấn công bất kỳ một nước xã hội chủ nghĩa nào, thì Liên Xô tức khắc có đòn giáng trả. Điều này không đúng!
- Thưa đồng chí Mao Trạch Đông, Zukov phát biểu không phải theo ý mình, BCHTƯ Đảng chúng tôi quyết định như thế, chúng tôi, Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô nhất thiết phải phát biểu. Tôi cũng nói rằng đây là quan điểm xô viết.
Lúc ấy chúng tôi nảy sinh không phải là cãi nhau, mà là tiến hành thảo luận hữu nghị, để làm sáng tỏ chân lý.
Mao tuyên bố với tôi:
- Tôi cho rằng nếu bọn đế quốc tấn công chúng ta, tấn công Trung Quốc, thì Liên Xô không phải bị lôi vào. Tự chúng tôi sẽ chiến đấu. Chỉ có Liên Xô được bảo vệ ư, khi tất cả dần trở thành chỗ của mình. Chẳng hạn, nếu họ tấn công các đồng chí, các đồng chí cũng không giáng trả à.
- Giáng thế nào?
- Hãy đi khỏi, đi khỏi một, hai, ba năm.
- Đi đâu?
- Nhưng các đồng chí đã đi. Có thời rút lui về Stalingrad, còn bây giờ các đồng chí có thể về Ural. Sau lưng các đồng chí là chúng tôi, Trung Quốc.
- Đồng chí Mao Trạch Đông, nếu xảy ra chiến tranh, thì nó kéo dài bao lâu? Cuộc chiến tranh này sẽ không giống trước đâu. Cuộc chiến tranh trước đây chiến tranh không quân và xe tăng, còn bây giờ là chiến tranh tên lửa và bom nguyên tử. Liệu chúng tôi có khoảng cách 3 năm để lui về Ural? Có thể chúng tôi sẽ chỉ có một số ngày, còn sau đó tách thành những mảnh vụn? Không ai không thể bây giờ có thể nói trước điều này. Vì thế chúng tôi phải ở lại để kìm đối thủ chiến tranh hạt nhân. Nếu chúng tôi nói sẽ không giáng trả, nghĩa là, tự chúng tôi bảo kẻ thù cứ tấn công. Nhưng chúng tôi tuyên bố rằng chúng tôi giáng trả đối thủ, chính như vậy chúng tôi kìm người ta khỏi tấn công”.
Đại để có những sự bất đồng như thế. Tuy nhiên nếu chúng tôi nói về Mao, thì đây là một việc hoàn toàn khác, nếu chúng tôi nói về Trung Quốc, thì nói có mục đích. Nếu chúng tôi bắt đầu mang nhân dân Trung Quốc, thì chúng tôi té ra ở vị thế dân tộc chủ nghĩa. Chủ nghĩa dân tộc - điều này chúng tôi xem là một dân tộc nào đấy có quyền đặc biệt và ưu thế. Đây là chủ nghĩa dân tộc. Vì thế chúng tôi và bây giờ chân thành tin rằng người Trung Quốc - anh em của chúng tôi, cũng là những người như chúng tôi. Và nếu một thanh niên Trung Quốc lừa dối tấn công Đại sứ quán chúng tôi, không có nghĩa là, nhân dân Trung Quốc ghét cay ghét đắng chúng tôi. một thanh niên - không phải là tất cả dân tộc. Chúng tôi là những người mác xit! Cần phải hiểu rằng có cả người thanh niên khác. Không phải tất cả Trung Quốc có mặt trên quảng trường này, và không phải tất cả những ai có mặt trên quảng trường này và kêu to, đều đồng ý với những người tương tự. Việc thế đấy! Bao nhiêu người Trung hoa từng khóc ở họ? Tại Trung Quốc triển khai cuộc đấu tranh mạnh mẽ, người Trung Quốc giết lẫn nhau. Như bên chúng ta Stalin bắn hàng trăm nghìn công dân. Chúng tôi, những đảng viên, chịu trách nhiệm về điều này, nhưng không thể bây giờ cho rằng toàn Đảng làm như thế. Có sự lạm quyền bởi Stalin, còn bây giờ chính điều này lặp lại ở Mao.
Tôi dẫn ra thêm một số sự kiện trong lịch sử quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc. Stalin rất phê phán Mao. Ông gọi Mao, theo quan điểm mác xit, là một nhà mác xit hang động. Quả là, thời gian mà Mao tiến hành cuộc trường chinh thắng lợi, thì những người cộng sản đã tiến sát Thượng Hải. Nhưng rồi họ dừng lại và không chiếm nó. Stalin hỏi Mao:
- Tại sao không chiếm Thượng Hải?
Mao trả lời:
- Ở đó sáu triệu dân. Nếu chúng tôi tới, phải nuôi họ. Nhưng nuôi bằng cách nào?
Đấy, một người mác xit? Mao dựa vào nông dân, mà không dựa vào giai cấp công nhân. Mao coi thường, không muốn chấp nhận giai cấp công nhân không muốn dựa vào nó. Stalin nhiều lần phê bình Mao từ quan Đảng mác xit và Stalin là đúng. Nhưng chứng cứ vẫn là chứng cứ. Mao, dựa vào nông dân, đạt được cho mình sự thắng lợi. Lúc ấy là lạ, giải thích thêm duy vật lịch sử: nắm chính quyền, dựa vào nông dân! Nghĩa là, sự thật lịch sử - đằng sau ông ta. Chỉ là sự thật không phải mác xit. Có lẽ những thắng lợi có được bở thời gian và nói chung với những kết quả khác nhau. Điều này trong lịch sử cũng thấy rõ.
Một trường hợp cụ thể khác. Thời Stalin, Liên Xô ký một hiệp định với Trung Quốc về cùng nhau khai thác dầu mỏ ở Tân Cương. Đây là một sai lầm, thậm chí là xúc phạm người Trung Hoa. Tại Trung Quốc, trước đây là Pháp, người Anh, người Mỹ, còn bây giờ người xô viết cũng chui vào đây. Điều này là một việc không tưởng tượng được! Stalin cũng đã làm những việc như thế ở Ba Lan, ở CHDC Đức, ở Bulgari, ở Tiệp Khắc, ở Rumani. Chúng tôi sau này huỷ bỏ tất cả hội hỗn hợp kiểu này. Trường hợp thứ ba. Stalin gọi tất cả chúng tôi và hỏi: ai biết, vùng nào của Trung Quốc người ta khan thác vàng và kim cương? Chúng tôi không phải là những người am hiểu, trả lời là không biết. Sau đó, có một chuyện đùa vui, khi chúng tôi tụ họp với nhau ở chỗ Stalin. Beria nói:
- Ông có biết ai biết điều này không? Nghệ sỹ Kozlov đấy. Beria hát: “không đếm được kim cương trong hang đá....”.
Nhân thể nói thêm, Beria kết thân với Stalin, bảo là, Trung Quốc tài nguyên giàu có và Mao giấu chúng; chúng ta cho Mao vay tiền, ép ông ta bán cho chúng ta kho báu từ dầu mỏ của mình. Thế là Stalin cũng thích.
Một lần chúng tôi ngồi ở chỗ Stalin và suy nghĩ về việc cao su. Hình như, chính tôi đưa ra ý nghĩ giải thích ở chỗ Mao, ở một nơi vùng nào đó Trung Quốc có thể trồng cao su. Triển khai vấn đề này, cho Trung Quốc tín dụng, máy móc và chúng tôi không còn lo về cao su mua từ các nước tư bản. Chúng tôi gửi một bức điện đến Bắc Kinh. Người Trung Quốc trả lời rằng trên đải Hải Nam có thể trồng được cao su huvea nếu được cung cấp tín dụng, thì họ đồng ý. Việc này có một tiến triển nào đấy, và chúng tôi ký một hợp đồng. Nhưng sau này té ra là vùng trồng cao su, lại nhỏ bé và không có khả năng đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Vụ việc tắt ngóm như thế.
Có lần Stalin thích dứa hộp. Ông đích thân đọc chính tả một bức điện cho Mao, Malenkov ngồi ghi:
- Viết đi, để họ cho chúng ta chỗ xây dựng xây dựng một xí nghiệp dứa hộp.
Tôi nói:
- Đồng chí Stalin, họ mới nắm chính quyền, và ở đó còn có xí nghiệp của các nước khác nữa. Bây giờ lại thêm xí nghiệp của chúng ta, từ một nước xã hội chủ nghĩa. Điều này làm mếch lòng Mao.
Stalin nhìn tôi một cách không thiện cảm, giận, nạt nộ... Rồi bức điện được gửi đi. Qua một hai ngày, chúng tôi nhận câu trả lời của Mao:
- Chúng tôi đồng ý. Nếu các ông quan tâm đến dứa hộp, cho chúng tôi tín dụng, chúng tôi sẽ xây dựng xí nghiệp và sẽ cung cấp cho các ông tất cả sản phẩm của nó và trừ khoản nợ tín dụng.
Lúc ấy mọi người nghe, trong khi Stalin hung dữ và chửi rủa. Tất nhiên ông rất giận. Những loại điện như thế không bao giờ tôi ký, các thành viên Chính phủ chúng tôi sau này không bao giờ ký. Chúng tôi đã không làm một điều gì xúc phạm người Trung Quốc cho đến khi chính người Trung Quốc đá chúng ta. Nhưng quả là nếu như thế thì tôi cũng không phải là chúa Jesu.
Người Trung Quốc làm gì khi chúng tôi còn giữ những quan hệ tốt với họ? Họ đang có chiến tranh những hòn đảo với Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi cung cấp cho Bắc Kinh vũ khí của mình, còn chúng tôi quan tâm đến vũ khí chiến lợi phẩm Mỹ. Người Trung Quốc có một số tên lửa, bị người Mỹ bỏ hoang và không bị hỏng. Chúng tôi quan tâm một mẫu mới tên lửa “không đối không”, và chúng tôi đề nghị Trung Quốc cho chúng tôi để nghiên cứu. Bắc Kinh không trả lời. Chúng tôi lặp lai yêu cầu. Bắc Kinh trả lời:
- Chúng tôi cũng chưa phân loại được.
Nhưng chúng tôi so sánh mức vũ khí của Mỹ với mức vũ khí của chúng tôi! Chúng tôi đang truy lùng tất cả vũ khí bí mật, tên lửa của Mỹ, để làm điều này chúng tôi đã ký một hợp đồng sản xuất bom nguyên tử, đã đưa cho họ mẫu, còn họ thì lại từ chối chúng tôi. Lúc đó chúng tôi làm chậm việc cung cấp. Bắc Kinh lo ngại. Và tôi nói cho các quân nhân chúng tôi: Hãy giải thích cho người Trung Quốc, dường như, các anh sử dụng vũ khí từ chúng tôi, thậm chí cả tên lửa chiến lợi phẩm của Mỹ mà các anh không muốn đem ra a? Họ hiểu và thế là họ gửi tên lửa này. Tôi đến xem nó. Tên lửa này tốt hơn của chúng tôi, nhưng người Trung Quốc cố ý không gửi cho chúng tôi đầu dò nhiệt. Chúng tôi sau này làm việc một số năm để giải quyết nhiệm vụ này. Đây là khoảng năm 1958.
Theo thoả thuận, máy bay của chúng tôi có thể sử dụng các sân bay Trung Quốc. Sau đó, khi chúng tôi có tàu ngầm tầm xa, thì để để liên lạc với nó, chúng tôi cần xây dựng một đài phát thanh trên đất Trung Quốc. Trung Quốc yêu cầu chúng tôi cho họ những bản thiết kế và dạy chế tạo tàu ngầm. Lúc ấy chúng tôi viết cho họ về việc đài phát thanh và lập tức nhận một bức điện trả lời: “Không!”.
Nhưng chẳng bao lâu có một bức điện mật nói về tâm trạng chống xô viết trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Và tôi nói với các đồng chí của mình rằng: “Mời đồng chí Mao Trạch Đông đến thăm Liên Xô theo đường ngoại giao. Nhưng lần này có thể chúng tôi nói chuyện tay đôi, đằng nào cũng thế, bí mật hoặc công khai? Cần gặp riêng để giải thích”.
Sau đó, chúng tôi đến Trung Quốc (lần cuối cùng) vào năm 1959. Cuộc gặp cũng không đem lại một cái gì cả. Những cuộc hội đàm được tiến hành hữu nghị, nhưng không kết quả. Chúng tôi đã nói với Mao cả về đài liên lạc. Tôi nói với Mao:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi cung cấp cho các ông tín dụng để xây dựng đài này. Lúc đầu chúng tôi đã viết cho đồng chí, rằng chúng tôi tự xây dựngcó thể là giải nghĩa chưa đạt? Chúng tôi không quan tâm đài sẽ là của ai; chúng tôi quan tâm là chúng tôi liên lạc được với tàu ngầm. Chúng tôi có thể chuyển giao hoàn toàn nó cho các ông, vấn đề là phải xây dựng nhanh đài này. Hạm đội của chúng tôi bây giờ đi vào Thái Bình Dương, căn cứ chính của chúng tôi nằm tại Vladivostok. Liệu có thể thoả thuận là tàu ngầm chúng tôi có thể đậu ở chỗ các ông, nạp nhiên liệu, nghỉ ngơi và v.v...?
- Không! Tôi không muốn thậm chí không muốn nghe!
- Đồng chí Mao Trạch Đông, các nước NATO giúp đỡ lẫn nhau, còn chúng ta sao lại không thể thoả thuận được?
- Không!
Vì sao Mao giận thế, tôi không biết. Tôi tiếp tục:
- Nếu cần, chúng tôi cho các ông vùng Murmansk, nơi các ông có thể có tàu ngầm của mình.
- Không! chúng tôi không muốn. Bao nhiêu năm người Anh và các nước khác ngồi ở nước chúng tôi rồi, chúng tôi không đồng ý.
Thế là ông ta cũng không đồng ý.
Sau này báo Trung Quốc đăng những bài báo nói rằng Vladivostok - đó là lãnh thổ Trung Quốc và người Nga đoạt nó từ Trung Quốc: về mặt lịch sử, có một thời nào đó người Trung Quốc đã thống trị, còn sau đó dường như Nga hoàng vươn đến đó. Sau đó tiến hành đàm phán về biên giới chung, và họ gửi chúng tôi một bản đồ của mình. Chúng tôi thậm chí không thể bình tĩnh xem bản đồ này, mà được họ vẽ như thế!
Bây giờ một số người có ý kiến rằng Mao - một người ngu ngốc, sinh lẫn cẫn. Lầm! Ông một người thông minh. Ông kẻ đối địch chúng tôi, nhưng một người thông minh. Đôi lúc ông còn lừa chúng tôi. Taleyran nói rằng ngôn ngữ ngoại giao dành cho ai có thể che, giấu ý nghĩ của mình. Ngoại giao - đó là chính trị. Chẳng hạn, De Gaul: một người thông minh hoặc người ngốc? Có một lúc nào đó, một số người cho ông là thằng ngốc. Nhưng đây là một người rất thông minh, chỉ là kẻ đối địch của chúng tôi theo cách nhìn và là người đại diện giai cấp của mình, nhưng ông không phải người ngốc, mà là người thông minh. Nhưng Mao - một người dân tộc chủ nghĩa, không phải người ngốc, ông có quan điểm của mình. Chúng tôi bất đồng với ông, và tôi quả là không chịu nổi với ông. Nếu đọc báo cáo của tôi tại Đại hội 21, thì nhiều sự bàn luận được thổ lộ trong vấn đề Trung Quốc, mặc dù tôi không nhắc đến về Trung Quốc. Chúng tôi phủ nhận vị thế của Mao.
Khi người Trung Quốc phát biểu với khẩu hiệu của mình, sự tuyên truyền của họ phát tán tự do ở Siberi của chúng tôi. Khi biết việc này, tôi nói:
- Ngừng ngay việc này! Anh nghĩ rằng vị trí của bản tính bình đẳng không có đất trồng ở chúng tôi sao? Anh sai rồi. Khẩu hiệu bình đẳng rất hấp dẫn, cám dỗ. Nhưng phải trả lời chúng tôi theo thực chất, không phải chỉ cấm.
Nhân thể nói thêm, tôi ủng hộ một trong những biện pháp. Mao bãi bỏ trong quân đội cấp hiệu. Tôi cho rằng đây là một bước đi khôn ngoan, hợp lý, còn bước đi của chúng tôi là không khôn ngoan, khi chúng tôi đeo, cấp hiệu, chúng tôi may đường nẹp mầu. Sao lại có trò quỷ này? Chúng tôi thắng nội chiến không cần cấp hiệu. Cấp bậc thời ấy của tôi chính uỷ, và tôi đi lại không mang cấp hiệu. Hồng quân phong chính uỷ của mình, và chỉ huy của mình, và chúng tôi đánh tan kẻ thù không cần cấp hiệu. Nhưng bây giờ mặc diện, như chim hoàng yến.
Trong thời kỳ quan hệ qua lại với Trung Quốc con tốt, họ lôi từ chúng tôi tất cả những gì có thể. Năm 1954 chúng tôi còn bần cùng, chẳng có gì mà hốc, nhiều chỗ đói. Nhưng khi chúng tôi đi đến Bắc Kinh, Chu Ân Lai đặt vấn đề thế này:
- Có thể, các ông tặng chúng tôi trường đại học tổng hợp?
Tôi trả lời:
- Chúng tôi nghèo. Chúng tôi, về nguyên tắc, có thể giàu hơn các ông, nhưng chiến tranh vừa mới kết thúc, và đáng tiếc, hiện không thể.
Nhưng vừa đúng lúc trước khi chúng tôi trao trả lại họ cảng Lữ Thuận, và tất cả là không mất tiền. Nhiều, rất nhiều tiền chúng tôi bỏ vào Trung Quốc. chúng tôi làm đường từ Ulan-Bator đến Bắc Kinh. Không phải người Mông cổ làm con đường ấy. Chúng tôi con đường ấy ở Mông Cổ, con Trung Quốc - trên lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, khi chúng tôi với Mao năm 1957, ông nói:
- Con đường này chúng tôi íy quan tâm. Con như thế đường các ông quan tâm.
Và ông chỉ trên bản đồ con đường từ Bắc kinh qua núi đến Kazakhtan. Tôi nói:
- Ông biết khá tốt vùng đất của chúng tôi. Chúng tôi cho rằng gần hơn cả là qua Ulan-Bator, nhưng chúng tôi đồng ý cùng với ông cũng qua hướng này. Các ông làm đường trên lãnh thổ của các ông, con chúng tôi làm trên đất mình, đến biên giới. Ở đó chúng ta nối với nhau.
Lại thêm một lần gặp, Chu Ân Lai đặt vấn đề:
- Liệu có thể, ông xây dựng nó trên lãnh thổ chúng tôi được không?
Chúng tôi ngó nhìn bản đồ: ở đó nào thung lũng, nào sông, núi... Ai sẽ xây dựng xây dựng? Rất khó. Chúng tôi trả lời:
- Không, tốt nhất là mỗi nước làm trên lãnh thổ của mình.
Đồng thời, điều này có làm Mao thích không nếu như tôi nói: “Vâng, chúng tôi làm bắt đầu tiền mình”. Cái gì khi đó? Họ bắt đầu xây dựng. Họ lại đặt vấn đề trước đây trong quá trình xây dựng. Tuy nhiên chúng tôi mới đây đã nói:
- Cứ theo thoả thuận: mỗi bên làm trên lãnh thổ của mình.
Và do đó chúng tôi làm đến biên giới, còn họ không làm đến nơi.
Mao thời ấy đúng là nóng vội ước mong thống trị thế giới. Ban đầu ở Trung Quốc, sau đó tất cả châu Á. Nhưng tiếp sau? Trung Quốc 700 triệu người dân, ở Malaysia một nửa dân chúng - người Trung Quốc, và ở các nước châu Á khác cũng không nhỏ. Nói chung những cuộc nói chuyện “đặc tính vô tư” ở bàn trà rất đáng thú vị với quan điểm hiểu biết chủ nghĩa dân tộc kiểu Trung Quốc.
Mao có lần hỏi:
- Bao nhiêu lần những kẻ xâm lược khác nhau đã xâm lược Trung Quốc?
Và Mao tự trả lời:
- Không phải một lần. Nhưng người Trung Quốc đồng hoá tất cả bọn chúng.
Đấy, cái tầm ngắm của Mao tới tương lai:
- Hãy nghĩ xem, anh có 250 triệu công dân, còn ở chúng tôi - 700.
Sau đó ông khơi chuyện về sự độc đáo của Trung Quốc. Có tình tiết khác, trong tiếng Trung Quốc không có từ nước ngoài. Mao khoác lác:
- Toàn thế giới dùng từ “điện”. Người ta lấy từ này ở người Anh và người ta lạp lại. Nhưng chúng tôi có từ này không?
Tôi thật sự run từ sự huyênh hoang này.
Với Trung Quốc có nảy sinh một vấn đề lạ lùng. Đầu thập niên 50, chúng tôi có gặp vấn đề sức lao động cho vùng Siberi và Viễn đông. Và chúng tôi quyết định đề nghị trợ sức của Trung Quốc. Chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc cho chúng tôi bao nhiêu điều lợi, và đặt vấn đề này với Mao:
- Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi muốn, các ông giúp chúng tôi sức lao động của người Trung Quốc anh em, chúng tôi có ít người quá.
Ông tỏ ra như người keo kiệt:
- Mọi người nhìn chúng tôi, như là nhìn nô lệ ấy. Mọi người muốn người Trung Quốc một điều gì đó cho họ. Nhưng người Trung Quốc - không phải nô lệ da đen. Điều đó, liệu ông có biết không, không dễ giải quyết giải quyết như thế đâu.
Và tôi nói cho các đồng chí của mình: có thể là, chúng tôi quả là không có chiến thuật khi yêu cầu Mao? Rồi Mao nói thêm nghiêm túc:
- Nếu các anh có khó khăn, chúng tôi không muốn nó tạo ra và chính chúng tôi nhận vấn đề này.
Tôi tin ông, còn ông chỉ đùa.
Qua hai, ba ngày, tôi không quan tâm đến vấn đề đã nêu: có lần ông nói rằng có khó khăn với ông, và chúng tôi không muốn. Lúc ấy Mao thấy rằng đã quá lời, và ông tái diễn đàm phán. Tôi nói với ông:
- Ông đã nói là phía Trung Quốc gặp khó khăn?
- Đúng, nhưng đối với nhân dân anh em chúng tôi có thể làm một điều gì đó.
Lúc ấy rõ ràng, ông tăng giá, cho là chúng tôi ở tình thế không lối thoát.
- Ừ, nếu ông có thể, thì xin cứ việc!
- Thế ông muốn bao nhiêu công nhân?
Tôi không còn nhớ chúng tôi đã viết bao nhiêu: một triệu hoặc ít hơn. Mao nói với chúng tôi:
- Anh! Chỉ riêng Thượng Hải cung cấp cho các ông hai triệu, nữ công nhân thất nghiệp có một số.
- Không, chúng tôi trả lời - chúng tôi không thể nhận số lượng người như thế. Vâng và chúng tôi không có đủ chỗ.
Ký hiệp định. Nhưng khi quay về Moskva, tôi suy nghĩ và tôi nói với các đồng chí của mình:
- Các ông nhận xét, Mao sẵn lòng đồng ý cung cấp người, mà lại đến Sibiri? Các ông nghĩ tại sao? Tôi nhớ, Mao nói về việc đồng hoá. Thế đấy, ông muốn di dân Tổ quốc đến Sibiri mà không cần phải chiến đấu. Đây là chính sách nhìn xa. Chúng ta cần phải thể hiện thận trọng: mời người Trung Quốc dễ dàng, còn đuổi họ sẽ rất khó. Có thể mời họ làm khách, sau này những người khách lại đuổi chủ. Chúng tôi có thể mất Sibiri, Vladivostok, và đây là tiếng Trung Quốc gọi là đồng hoá.
Chúng tôi suy nghĩ, suy nghĩ, phân tích nền kinh tế của mình, và hiện ra nguồn dự trữ như thế, té ra là chúng tôi không những không thiếu nhân lực, mà còn có thừa ở Belorussia, và các chỗ khác. Và chúng tôi thời ấy giảm bớt một chiến dịch trước đây. Nhưng những cũng có tới 300 nghìn người Trung Quốc tới. Nghe nói nói rằng do chính sách mới mà chúng tôi tiến hành sau khi Stalin chết, chúng tôi hiện ra một khả năng mới giải phóng sức lao động, và lậy chúa, mặc dù sự tác động đến, nhưng chúng tôi không phải mời. Quả là, ở Moskva người thất nghiệp hầng trăm nghìn. Họ luôn có việc, nhưng việc gì? Nếu không có người anh ta, không ai nhận xét rằng anh ta vắng mặt. Trong mọi cơ quan bấy giờ cắt 30 biên chế, mà cuộc không thiệt hại.
Trung Quốc, như người ta nói, xa chúng tôi. Nhưng Trung Quốc cũng gần chúng tôi. Trung Quốc giáp Liên Xô, trên một khoảng cách lớn, chúng tôi có đường biên giới chung. Trung Quốc - láng giềng gần nhất của chúng tôi. Tuy nhiên là giáng giềng xa, nếu nhớ có ít những cái chung của chúng tôi với Trung Quốc (tôi nói chỉ ở giữa, mà cá nhân tôi đứng). Những người lớp chúng tôi biết người Trung Quốc chỉ có trên tranh ảnh, và đọc rất ít về Trung Quốc. Chúng tôi gặp người Trung Quốc chủ yếu, khi họ mang mọi loại hàng hoá. Tại Donbass, chẳng hạn, họ bán vải tuyt-xo. Theo tiếp xúc như thế chúng tôi cũng tạo cho mình khái niệm về Trung Quốc. Sự thật chiến tranh Nga-Nhật chặn chúng tôi tiếp xúc gần thêm với họ. Vả lại, ý nghĩ của bộ đội Nga về Trung Quốc cũng khác nhau xa.
Sau Cách mạng tháng Mười Chính phủ xô viết xác lập tiếp xúc với Trung Quốc, với lãnh tụ cách mạng Trung Quốc Tôn Dật Tiên. Khi trong thập niên 1920 tại Trung Quốc được bắt đầu nội chiến. Tôn Dật Tiên tiến hành chính sách tiến bộ và đứng ở vị trí hữu nghị với Liên Xô. Sự thiện cảm của những người xô viết được dành cho phía ông. Báo chí của chúng tôi cho độc giả sự thiện cảm với nhân dân Trung Quốc, với cuộc đấu tranh ccc ông giải phóng khỏi sự phụ thuộc đế quốc. Sau đó Tưởng Giới Thạch nắm quyền lãnh đạo tại Trung Quốc. Ông cắt đứt liên hệ với ĐCS, bắt đầu cuộc chiến tranh Quốc Dân Đảng chống ĐCS. Sự thiện cảm nhân dân chúng tôi mới vừa ở phía khu vực xô viết của Trung Quốc. Bằng tất cả ý chí của mình chúng tôi sống cùng với nhân dân Trung Quốc tiến hành cuộc đấu tranh chống kẻ áp bức.
Tôi nhớ một cảnh thế này, có lẽ, vào năm 1926 hoặc 1927. Tôi lúc ấy lãnh đạo một tổ chức Đảng ở Quân khu tỉnh Yuzovk. Đến thăm tôi là một người quen của tôi Akhtyski, một người tỏ ra rất tốt trong thời gian nội chiến. Đó là một cái họ tương đối lớn thời đó, chủ nhân của họ này chỉ huy chiếc tàu bọc thép. Người ta gọi tàu bọc thép của ông là “Akhtyski”.
Một người rất can đảm, nhưng về mặt chính trị nửa cộng sản - nửa vô chính trị. Ông đến quân khu, như thường lệ, say khướt, và nói với tôi:
- Cho tôi chiếc vé, tôi đi Trung Quốc, tôi sẽ chiến đấu chống Tưởng Giới Thạch. Nhanh lên để tôi không bị chậm và tham gia tấn công vào Thượng Hải.
Tôi nói với ông rằng không có ông thì những người cộng sản Trung Quốc sẽ chiếm được Thượng Hải. Chuyện này chứng tỏ, có tâm trạng nào đó trong nhân dân chúng tôi.
Còn có một số sự quan sát thời gian nội chiến. Tôi không gặp trực tiếp những người tình nguyện Trung Quốc, chiến đấu vì chính quyền xô viết. Trong quân đội, nơi tôi phục vụ, không có người Trung Quốc. Nhưng nói chung tại mặt trận của chúng tôi, có người Trung Quốc. Hồng quân nói rằng người Trung Quốc đánh nhau rất giỏi, khi đùa rằng người lính Trung Quốc, dường như, hành động như thế này: Cho ăn - máy làm việc, không cho bánh mỳ - máy không làm việc. Tóm lại, nuôi tôi, thì tôi sẽ bắn. Họ quả là những người can đảm trong đánh nhau, và là những đồng chí tốt. Nhưng trong số những người lao động, lừng danh những tên tuổi các nhà tổ chức chiến đấu chống Tưởng Giới Thạch, đặc biệt Chu Đức, người chỉ huy quân đội những người cộng sản Trung Quốc. Cả Cao Cương nữa. Nhưng còn có cả Trần Độc Tú, người phản cách mạng, bị chúng tôi coi là tay chân đế quốc Nhật Bản và kẻ thù giai cấp công nhân. Thoáng qua những cái tên khác những người bất đồng của những người cộng sản khác. Nhiều người tôi bây giờ cũng quên.
Trong số những người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc tôi biết rõ một đại diện của ĐCS trong Quốc tế cộng sản, rất nổi tiếng trong số công nhân Moskva và thường phát biểu trong các buổi mit tinh. Khi chúng tôi đề nghị ông ta đi đến nhà máy nào đấy, ông không bao giờ từ chối. Bây giờ ông vẫn còn sống ở Moskva, luôn luôn là người bạn của chúng tôi. Không phụ thuộc vào việc những người lãnh đạo hiện nay CHND Trung Hoa giữ vị trí nào, ông tiếp tục giữ những quan hệ hữu nghị với ĐCS chúng tôi và nhân dân chúng tôi. Điều này đồng chí Vương Minh, một người cộng sản tuyệt vời. Sự thật trong thập niên 20 và thập niên 30, tôi không phụ trách về các vấn đề Trung Quốc, và tôi không biết tí nào về cấu trúc ĐCS Trung Quốc, về hàng ngũ lãnh đạo của nó. Tôi nhớ rằng họ thường xuyên được nhắc đến trong báo chí chúng tôi, nhưng tên tuổi của họ, tôi không thể nhớ. Tuy nhiên về Mao Trạch Đông, thời ấy tôi chưa lần nào nghe thấy.
Sau khi Nhật Bản tấn công Trung Quốc, chúng tôi thiết lập mối quan hệ khá chặt với Tưởng Giới Thạch, dù rằng ông thù địch với ĐCS Trung Quốc. Stalin ủng hộ Tưởng Giới Thạch, nhìn thấy ở ông là một lực lượng tiến bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc Nhật Bản và giải phóng Trung Quốc. Tôi cho rằng điều này là đúng. Cần ủng hộ Tưởng Giới Thạch, vì rằng sự thất bại của Tưởng Giới Thạch có nghĩa là làm Nhật Bản mạnh lên, kẻ thù của chúng tôi mạnh lên, tại Viễn Đông Nhật là kẻ thù số một của chúng tôi. Sau nay, khi tôi gặp Mao Trạch Đông, ông quở trách Stalin là Stalin có đường lối như thế trong quan hệ Tưởng Giới Thạch. Nhưng chính Stalin tác động chính sách đối nội của Tưởng Giới Thạch và giúp đỡ Tưởng Giới Thạch, vì Tưởng Giới Thạch tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật bản, cái đó có lợi cho chúng tôi.
Một chính sách tương tự cũng được tiến hành, chẳng hạn, Churchill, người ủng hộ Liên Xô trong thời gian chiến tranh thế giới 2, mặc dù ông là kẻ thù chính trị. Ông là như thế từ những ngày đầu tiên Nhà nước xô viết ra đời vẫn là con người như thế đến khi chết. Nhưng Churchill - một chính khách khôn ngoan, hợp lý, được coi là có ích, khi được bắt đầu cuộc đấu tranh với Hittler một mất một còn, thống nhất sức mạnh của Anh và Liên Xô. Điều này không có nghĩa là, Churchill ở mức độ nào đấy chấp nhận chính quyền xô viết và mong ước làm một điều gì đó tốt đẹp cho nhân dân xô viết. Hoàn toàn không! Tình hình phức tạp trên thế giới thúc giục Churchill liên minh với chúng tôi và tôi hiểu thấu những sự có lợi đối với đất nước. Xuất phát từ nguyên tắc này, Liên Xô ủng hộ Tưởng Giới Thạch.
Biên giới chúng tôi với Trung Quốc trong thời gian chiến tranh thế giới 2 là yên ổn. Tôi nói về khúc biên giới mà Tưởng Giới Thạch kiểm soát. Trên khúc ấy, nơi người Nhật Bản đến, sự căng thẳng luôn tăng lên, thường phát sinh những xung đột khác nhau. Người Nhật thường xuyên “thăm dò”chúng tôi. Sau những chiến thắng đầu tiên ở Thái Bình Dương họ trở nên kinh ngạc, tình hình trên lục địa bắt đầu dần dần ngả sang có lợi cho Trung Quốc. Quân đội Trung Quốc, đến lượt mình, trở nên giành được những thắng lợi riêng, vì Nhật Bản không còn gì để như trước đây, bảo vệ sáng kiến ở Trung Quốc. Sau thất bại Đức Hittler và chư hầu của nó, Liên Xô sau ba tháng tham gia vào cuộc chiến chống Nhật bản. Quân đội chúng tôi đã thành công vai trò của mình trong giai đoạn thất bại của Nhật Bản. Theo thoả thuận với các nước đồng minh chúng tôi thời ấy, chúng tôi đã giải phóng Mãn Châu và nửa phía bắc Triều Tiên và thời ấy tạo ra khả năng tác động nhiều hơn giúp đỡ Trung Quốc, bao gồm giúp đỡ vật chất và vũ khí.
Khi chiến tranh thế giới 2 xảy ra, Liên Xô quan tâm nhiều đến vấn đề Trung Quốc. Chúng tôi quyết định giúp đỡ trực tiếp Mao Trạch Đông và Giải phóng quân trong cuộc đấu tranh vì chính quyền quốc gia. Do thất bại của Nhật Bản, quân Quan Đông, bỏ vkhí, để lại cho chúng tôi số lượng lớn chiến lợi phẩm. Một phần đáng kể của nó, đặc biệt vũ khí, được trao cho những người cộng sản Trung Quốc. Về việc vũ khí, chúng tôi có một thoả thuận ngầm với các nước đồng minh rằng chúng tôi không có quyền chuyển giao nó cho bất cứ một bên tham chiến nào tại Trung Quốc. Vì thế phải chuyển giao nó cho Mao sao cho tạo ra ấn tượng là chúng tôi vi phạm giao ước. Và thế là chúng tôi chở vũ khí đến một đâu đó, quân của Mao dường như “đánh cắp” nó và trang bị quân đội của mình. Trước đó họ cũng xây dựng một lực lượng mạnh, đày ắp vũ khí chiến lợi phẩm Nhật Bản.
Làn đầu tiên tôi nghe về những hoạt động của Mao, trong thời gian chiến tranh A. I. Mikoian, đại diện toàn quyền chúng tôi đến Diên An gặp với Mao. Stalin muốn giải thích sự cần thiết của những người cộng sản Trung Quốc để tổ chức sự giúp đỡ trực tiếp. Sau khi Mikoian quay về, Stalin thảo luận vấn đề Trung Quốc trong nhóm người thân cận tại bữa ăn và có chút băn khoăn:
- Mao Trạch Đông là người thế nào nhỉ? Ông ta có quan điểm nông dân, có những nét riêng nào đấy, ông tựa như sợ công nhân và tách quân đội của mình khỏi dân thành phố.
Gây cho chúng tôi sự phân vân đặc biệt ấy là do tính cách Mao, khi quân đội của ông, tiến thành công về phía nam áp sát Thượng Hải và một số tuần lễ không tấn công nó. Tôi cũng nhắc đến Mao trả lời chúng tôi lý do này, liên quan đến tính cách ông là không thể nuôi 6 triệu triệu dân Thượng Hải. Stalin tức giận:
- Thế còn là một người mác xit không? Mao tự coi mình một người mác xit, nhưng không giúp đỡ công nhân Thượng Hải, không muốn nhận về mình trách nhiệm về số phận của họ”.
Lúc ấy tôi còn làm việc tại Ukraina và có thể biết rõ chi tiết, cái gì xảy ra tại Trung Quốc và cái gì chúng tôi làm đối với Trung Quốc, chỉ từ Stalin, khi tôi về Moskva. Khi những người cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi vào năm 1949, vừa đúng lúc tôi chuyển về Moskva, nơi tôi là bí thư thứ nhất Đảng bộ và đồng thời là bí thư BCHTƯ ĐCSLX. Giờ đây tôi luôn gặp Stalin và vì thế xử lý nhiều vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Ngoài Stalin không ai trong chúng tôi quyết định những vấn đề như thế, mà còn nói chung họ cũng chẳng được giao việc này. Tôi không nghĩ rằng tôi biết tất cả mọi vấn đề về Trung Quốc. Những vấn đề chủ yếu, thì Stalin và Molotov cùng quyết định Nhưng tôi biết rằng Liên Xô giúp đỡ mọi mặt cho Mao Trạch Đông để củng cố sự vững chắc của Mao. Những người cộng sản đạt được chiến thắng trong cuộc đấu tranh vũ trang công khai. Mỹ giúp đỡ tổ chức đối địch, nên nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc một thời gian dài sau thất bại người Nhật. Những người cộng sản Trung Quốc cần sự giúp đỡ của chúng tôi và tiếp nhận nó, trước tiên là vũ khí.
© 2009, Maylan.Net