Hồi ký Khrushchev

Nikita Sergeyevich Khrushchev, 1970
[Summary] [Phần 1] [Phần 2] [Phần 3
Lời nói đầu

Các đồng chí của tôi từ lâu đã yêu cầu tôi và hỏi (không những hỏi, mà còn khuyên) viết hồi ký của mình, vì rằng tôi và nói chung thế hệ của tôi đã sống trong thời kỳ đáng nhớ: cách mạng, nội chiến và tất cả những gì liên quan tới quá độ từ CNTB sang CNXH, sự phát triển và vững mạnh (của) CNXH. Đó là giai đoạn quý giá. Tôi cũng một phần nào mạnh mẽ tham gia đấu đá chính trị từ những ngày đầu tiên vào Đảng. Tôi luôn giữ chức vụ nào đấy do Đảng cử. Chiến tranh, nội chiến và bảo vệ tổ quốc, tình hình trong nước đã được nêu nhiều trên báo chí. Nhưng vẫn còn những “đốm trắng” chưa rõ ràng. Đúng vậy, những “đốm trắng” này từ lâu tôi không sao hiểu được. Sau khi Stalin chết, khi chúng ta đã có khả năng tiếp cận kho tư liệu mật. Trước đây chỉ có sự tín nhiệm mù quáng mà chúng ta dành cho Stalin, và vì thế tất cả những gì làm được dưới sự lãnh đạo của ông ta đều được coi là cần thiết và duy nhất đúng. Khi chúng tôi bắt đầu ý nghĩ chút ít phê phán, thì chừng mực nào điều này có thể, phải rà soát những chứng cứ theo tư liệu lưu trữ.



Tôi hiểu nỗi lo âu của các đồng chí của mình, đích thực khuyên tôi nhận trách nhiệm trước ngòi bút. Thời gian sẽ trôi đi, sự chính xác từng chữ của những người đang sống trở thành khối vàng. Hơn nữa, nhiều người đã ngã xuống, mà từng là gần gũi với người cầm lái con tàu lớn trong cải tổ đời sống xã hội-chính trị đất nước ta và chính người cầm lái có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thế giới. Tuy nhiên tôi phải làm, mà không sử dụng tư liệu lưu trữ thực tế. Điều đó khá phức tạp, vâng cả cả vị thế của tôi bây giờ, có lẽ, không thể.



Tôi muốn những chứng cứ sẽ được dẫn đúng sao cho thế hệ tương lai có thể kiểm tra. Tôi sẽ nêu nguồn tài liệu, họ cần thu thập để biết rõ thêm, để kiểm tra hiểu những chứng cứ. Ttôi đã xem xét từng vấn đề cấn lưu ý cho thế hệ tương lai, tất cả những chứng cứ đã được kiểm tra và được ghi dưới dạng văn bản, có thể sẽ được tiếp xúc với chúng. Bây giờ những tư liệu lưu trữ này không thể truy cập được, nhưng chúng sẽ trở thành tài sản của mọi người. Vâng, giờ đây tôi cho rằng đa phần tư liệu này không còn là bí mật nữa.



Tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình hàng loạt vấn đề, theo chiêm nghiệm, sao cho thế hệ tương lai của chúng ta tìm thấy từng lời về thời kỳ quan trọng và trách nhiệm nhất mà chúng ta đã sống, tạo ra một quốc gia hùng mạnh. Điều này đã làm được bởi sức mạnh chúng ta, sức mạnh nhân dân, đảng và những người lãnh đạo thời đó - những nhà tổ chức quần chúng. May mắn là tôi cũng trong số đó, ở những thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Từ những mầm nhỏ bé của Đảng cho đến tận cơ quan lãnh đạo cao nhất - BCHTƯ Đảng, Bộ chính trị và Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao, chức vụ Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng và Bí thư thứ nhất BCHTƯ. Tôi từng tham gia giải quyết nhiều vấn đề để biến nghị quyết được thông qua vào cuộc sống, tham gia chiến tranh vệ quốc. Vì thế tôi xem là trách nhiệm phát biểu suy nghĩ của mình.



Từ lâu tôi biết rằng chẳng có ý kiến nào làm vừa lòng mọi người nhưng, tôi cũng không đi theo mục tiêu đó. Mong muốn những ý kiến đó ở dạng này dạng khác được ghi lại và được trở thành thừa kế cho thế hệ sau. Những ý kiến như thế từng vấn đề, cả đúng lẫn sai. Điều này là tất nhiên. Không có gì mâu thuẫn ở đó cả. Chân lý được sinh ra trong tranh luận. Thậm chí trong một đảng Mác-Lenin, có cả những người có hiểu biết khác nhau, lương tâm khác nhau khi giải quyết từng vấn đề. Sống cùng năm tháng đòi hỏi sự tiếp cận mềm dẻo để giải quyết từng vấn đề, tôi biết rằng có thể nảy sinh những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng không làm tôi băn khoăn.



Tôi cho rằng sẽ có một phiên toà. Nhân dân sẽ phán xét, khi đã tiếp xúc với những tư liệu này và tự ra kết luận. Tôi không nghĩ rằng cái gì mà tôi nói là phải là chân lý. Không, chân lý thuộc về người trình bày những quan điểm khác nhau theo từng vấn đề khác nhau trong những thời kỳ khác nhau.



Vì vậy trước đây tôi đề nghị xin lỗi về việc đó là không đúng những gì độc giả có thể tìm thấy trong bản ghi của tôi. Đó là quan điểm của tôi, thế thì giờ đây tôi hiểu như thế, tôi cũng viết như thế. Tôi không muốn lợi dụng và vì thế tôi không muốn lờ đi, tôi không muốn che đậy, tôi không muốn chau chuốt, tôi không muốn tô vẽ hoạt động của chúng ta. Cái đó không cần lớp sơn này, vì rằng tự bản thân nó đã là to lớn.



Lý luận thiếu thực tiễn, là lý luận xuông. Chúng ta trên cơ sở tiến bộ nhất, lý thuyết Mác-Lenin khai phá con đường thực tiễn. Điều này rất phức tạp, vì thế thời kỳ đó không loại trừ sai lầm vô tình hay không vô tình. Như người ta nói, tha thứ hậu sinh chúng ta, tính rằng đây là thử nghiệm đầu tiên. Vì thế ông là người duy nhất, lại có người thứ hai lặp lại ông như thế. Hãy phán xét chúng tôi khi xem những điều kiện mà chúng ta đã sống và sáng tạo. Chúng tôi bắt đầu viết hồi ký để không bỏ lỡ những điều tốt đẹp trong lịch sử mà chúng ta, đảng, giai cấp công nhân và nông dân lao động không lặp lại những sai lầm mà tôi đã nêu, những tội ác được thực hiện nhân danh Đảng. Bây giờ rõ ràng đây là sự lạm quyền của nhà cầm quyền. Nguyên nhân xảy ra sự lạm quyền này được nêu rõ trong báo cáo tại Đại hội 20 và được lặp lại ở mức độ nào đấy tại Đại hội 22. Tôi cho rằng tất cả những gì được nêu theo lý do này đều đúng. Tôi sẽ kể về thời gian trước và trong thời gian chiến tranh vệ quốc và tiếp tục trình bày đường đi nước bước những biến cố, chừng nào tôi còn đủ sức.



Bắt đầu từ đâu nhỉ? Tôi nghĩ rằng phải bắt đầu từ Stalin. Vì sao? Sau đó, tiếp theo (nếu tôi còn được sống đến cuối) điều đó sẽ rõ. Còn nếu chỉ ở mức độ nào đấy đưa ra lời giải thích, thì có thể nói rằng lúc Stalin còn sống chúng ta người ta cho rằng tất cả những gì ông ta làm được là duy nhất đúng, khả năng duy nhất để cách mạng tồn tại, để cách mạng vững mạnh và phát triển. Sự thật về cuối đời, trước đại hội 19 và đặc biệt là ngay sau Đại hội, những người thân cận Stalin (có lẽ là tôi, Bulganin, Malenkov và ở mức độ nào đấy cả Beria), từng nảy sinh ngờ vực nào đó. Lúc đó chúng ta không có khả năng kiểm tra nó. Chỉ sau khi Stalin chết, ngay tức thì chúng tôi đủ lòng lòng dũng cảm mở bức rèm và nhìn vào bí mật lịch sử. Lúc đó tôi cũng biết một số sự kiện mà tôi muốn làm rõ.



Tại học viện công nghiệp


Nguyện vọng được học tại Học viện công nghiệp của tôi gặp phải sự chống đối. Trước đó Kaganovich đã chuyển về Moskva, làm việc ở BCHTƯ, người ta cử Kosior thế vào chỗ đó. Ở Kiev người ta cho rằng tôi là người thân cận với Kaganovich (điều này trên thực tế cũng đúng) và tôi cũng sẽ đi, vì lẽ tôi không muốn làm việc với Kosior và ủng hộ ông ta. Không phải như vậy. Tôi biết Kosior không nhiều, nhưng tôi kính trọng ông. Kosior là người tương đối nhũn nhặn, dễ chịu và hiểu biết. Tôi dám nói rằng trong quan hệ với mọi người, ông vượt trên Kaganovich, nhưng là một nhà tổ chức, tất nhiên, thua Kaganovich. Kaganovich, một người hoạt động hơn, trung thực hơn: thực chất là một con người mạnh mẽ. Thậm chí ông có thể bẻ gẫy cành cây khô, nhưng khi giải quyết công việc BCHTƯ đưa ra, ông là một người kiên quyết hơn Kosior.



Tôi cho rằng mình nên về Kharkov và giải thích với Kosior. Tôi nói với ông ta:



- Tôi đã 35 tuổi. Tôi muốn học. Hãy hiểu tôi. Tôi đề nghị BCHTƯ (ĐCS Ukraina) hiểu và ủng hộ tôi và đề nghị BCHTƯ giới thiệu tôi vào Học viện công nghiệp. Tôi muốn trở thành nhà luyện kim.



Kosior cũng nghĩ vậy và chấp thuận. Khi nêu vấn đề để tôi đi, Demchenko rất buồn và cố khuyên nhủ tôi ở lại, mặc dù ông cũng đồng ý rằng tôi muốn học. Lúc ấy tôi đã cảm thấy quan hệ chân thực của mọi người đối với mình.



Khi tôi đặt vấn đề xin đi học và đề nghị cho tôi đi, thì việc giải quyết không phải ngay lập tức được chấp nhận. Sau cuộc họp, một số đồng chí tìm đến tôi, nói:



- Quả thật anh muốn học, hay là anh muốn bỏ Demchenko ra đi? Anh hãy nói thẳng cho chúng tôi!



Họ đã nói ám chỉ rằng họ ủng hộ tôi, nếu tôi không bỏ Demchenko ra đi, và chồng chất những quan hệ xấu. Tôi trả lời:



- Không, tôi đề nghị hiểu đúng hộ tôi. Tôi và Demchenko có những quan hệ tốt nhất. Với một người như Demchenko, tôi sẵn sàng làm việc tiếp, nhưng tôi muốn học.



- Này, đấy là chuyện khác, chúng tôi sẽ ủng hộ anh.



Và tại cuộc họp sau, họ ra quyết định.



Tôi về Moskva. Ở đó cũng gặp khó khăn, vì rằng tôi không đủ thâm niên quản lý kinh tế. Tại Học viện công nghiệp đồng chí đã nói tôi sẽ không thích hợp với trường, và họ giới thiệu tôi đi học khoá Mác-Lenin thuộc BCHTƯ Đảng. “Còn ở đây, họ nói - học đường này dựng ra để dành cho những người quản lý, giám đốc”. Tôi lại làm phiền Lazari Moiseevich Kaganovich (ông là bí thư BCHTƯ) và đề nghị BCHTƯ ủng hộ tôi. Tôi đạt được nguyện vọng: được Kaganovich ủng hộ, và như thế tôi trở thành học viên Học viện công nghiệp.



Hồi đó, tôi dọn đến ký túc xá ở phố Pakrovk. Kaganovich cũng ở làm việc. Tôi cũng không biết văn phòng của ông nằm ở đó. Bấy giờ, đó là ký túc xá tốt: hành lang rộng, phòng riêng. Ngắn gọn, điều kiện lý tưởng. Học đường Học viện công nghiệp nằm ở phố Novo-Bauman, cũng không xa. Tôi không đi tàu điện, mà đi bộ qua Zemlanoi val đâm thẳng qua một cái ngõ, hình như ở đó có toà nhà của những người bolsevich lão thành, sau đó rẽ xuống trái ra phố Novo-Bauman. Đi bộ như thế chừng vài phút: cuộc đi dạo nhỏ hàng ngày như vậy đấy.



Tôi bắt đầu học. Tại học viện, học viên từ các đảng khác nhau, trình độ cũng khác nhau. Nhiều người mới học xong trường làng và chỉ biết 4 phép tính, trong khi số khác có trình độ trung học. Còn tôi, đã học xong khoa công tác: cái đó cũng được coi là mức. Nhóm chúng tôi tập hợp những người khá khoẻ mạnh. Nhưng nhóm chúng tôi còn một, hai đồng chí kém về toán, và họ kéo nhóm tôi lùi lại. Chúng tôi là người lớn, kiên trì, vì thế không phải giáo viên thúc chúng tôi học, mà tự từng người cần giáo viên dạy họ. Nhưng cần có thời gian. Người ta không gọi học viên lên bảng mà chính học viên tìm tới giáo viên, làm khổ giáo viên, vì rằng anh ta không hiểu những công thức toán nào đấy. Chúng tôi họp lại và tức giận vì lẽ họ phải dựa vào chúng tôi và đây mới là giai đoạn đầu.



Đấy là năm 1929. Nhưng khi tôi theo học tại học viện vào mùa thu năm 1930 cũng gặp phải những hiện tượng như thế. Có rất nhiều người theo học ở đó, đặc biệt là những người muốn học cái gì đấy, nhưng trong điều kiện chính trị phức tạp buộc họ phải ngừng hoạt động về Đảng, về chuyên môn. Thế là họ cũng bỏ bê học hành. Học viện công nghiệp trở thành đúng nghĩa là tổ ấm cho những người như thế có thể ẩn náu, vì lẽ học bổng cao, nhà ăn rẻ và ký túc xá tốt: mỗi người một buồng, còn một số ông chủ danh tiếng có khả năng nhận hai buồng và sống cả gia đình ở đó.



Thời đó lãnh đạo Học viện công nghiệp Kuibysev là Chủ tịch Uỷ ban kế hoạch. Chà, còn cái gì hơn được chứ? Một người đáng kính và thế lực quả thật giúp Học viện công nghiệp. Vừa đúng thời kỳ đấu tranh gay gắt với “phái hữu”. “Phái hữu” phân bổ hoạt động của mình: Rykov, Bukharin, Uglanov. Họ tiến hành đấu tranh cũng rất mạnh. Lãnh đạo chi bộ Đảng Học viện ở trong tay “phái hữu”. Bí thư chi bộ là Khakharev, một người tương đối có uy tín, có thâm niên trước cách mạng, hình như, từ năm 1906 hoặc 1907. Ông vốn là người vùng Nize Novgorod, một người nổi tiếng, hoạt động bí mật. Quanh ông ta là một nhóm người có thể gọi là những cận vệ lão thành. Nhưng nhóm này bị tổn thương: bản thân nhóm này xuất kích chống đường lối chung của đảng. Họ tập hợp quanh Bukharin, và ủng hộ ông ta, giúp ủng hộ Uglanov, ủng hộ Rykov chống Stalin và BCHTƯ Đảng.



Chúng tôi từ miền Nam tới. Chúng tôi có đồng hương tương đối lớn (người vùng Donbass, người vùng Dniev, người vùng Luganka, vùng Artemov, người Kharkov). Cuộc đấu tranh nổ ra, tôi cũng khá tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này. Chủ yếu, lúc đó tôi ủng hộ Tabakov. Sau này, ông cũng chết một cách oan ức, bị xử bắn. Tabakov là người Do Thái, một người cộng sản rất tốt. Tôi biết ông, khi ông là giám đốc một cung đường, còn sau đó - là giám đốc Liên hiệp sản xuất sứ cho luyện kim. Tại Donbass có nhà máy chế tạo gạch ốp chịu lửa dùng cho công nghiệp và dân dụng, chính Tabakov đảm nhận việc này. Tôi có quan hệ tốt với ông, ông dựa vào tổ chức vùng Yuzov, và chúng tôi cùng ông theo học tại Học viện. Chúng tôi một lòng theo Đảng, có những đồng chí khác ủng hộ chúng tôi, chẳng hạn Alliluev từ Viễn đông. Alliluev hình như bây giờ còn sống, nhưng hưu rồi. (Ông Alliluev này chẳng có mối quan hệ nào với ông Alliluev, bố vợ Stalin, đơn giản vì cùng họ). Chúng tôi còn có những đồng chí khác, cả một nhóm khá lớn, nhưng tất cả chúng tôi vẫn là thiểu số. Có thể tôi bị nhầm. Hình như, có một điều gì đó có liên quan đến chủ đề này? Chính tôi muốn nói về Stalin, về vai trò của ông. Nhưng điều này vừa hay lại có quan hệ trực tiếp với chủ đề trên.



Tại Học viện công nghiệp xảy ra cuộc đấu tranh bảo vệ đường lối chung của BCHTƯ chống “phái hữu” và phái của Zinovev, còn sau đó là khối tả-levak của Syrsov - Lominadze. Trong cuộc đấu tranh này vai trò của tôi ít khi tách rời trong tập thể, và BCHTƯ nhìn điều này. Vì thế tên tôi nổi bật là một đảng viên tích cực của Đảng, lãnh đạo nhóm những người cộng sản và tiến hành đấu tranh chống nhóm Uglanov, Rykov, Zinovev và Troskit tại Học viện công nghiệp. Cuộc đấu tranh chính trị xảy ra rất mạnh. Chính ở đó phần đông tập hợp những đảng viên có thâm niên cách mạng, và cần nói rằng nhóm này rất đoàn kết: trong đó có cả những người có thế lực. Chẳng hạn, tôi nhớ đồng chí Makarov - vùng Donbass. Ông là giám đốc nhà máy Youzov (vùng Youzov), chính ông cũng là người vùng Nizegorod, một đảng viên từ 1905, một người rất thông minh và đáng kính. Chính thức thì Makarov không nói đồng lòng với “phái hữu”, nhưng ủng hộ hay chống “phái hữu” không bao giờ ông hé răng nửa lời. Hình như ông thoả thuận với “phái hữu” giữ một số bí mật để không bị những kẻ đối địch lôi ra. Có thể coi ông dường như đứng ở phía đường lối chung của đảng, thực ra bằng hoạt động của mình ông có khả năng củng cố sức mạnh nhóm Uglanov, Bukharin, Rykov.



Có thể nêu ra một chuyện đùa ở thí dụ như thế này. Việc bầu Đoàn chủ tịch hội nghị toàn thể Đảng bộ có lần mất cả buổi và phải để sang ngày sau. Tôi nhớ, mọi người đề cử tôi vào Đoàn chủ tịch, nhưng tôi biết hai ba lần tôi bị trượt và không được bầu. Khi tham gia bầu cử, tất cả những người ứng cử Đoàn chủ tịch phải lên diễn đàn nói tiểu sử của mình. Các ứng cử viên có ít thâm niên đảng cũng phải làm thế. Cuộc đấu tranh xảy ra như thế này. Quả thật người ta chọn vào ban lãnh đạo đảng bộ nói chung là đặc biệt. Đôi lần người ta đưa tôi ra, dù xuất ứng cử viên của tôi chẳng thể nào qua được. Nói chung phải bầu đi bầu lại Đảng bộ, vì rằng đấu đá dữ dội quá đến nỗi bị thay đổi nhiều.



Báo Sự Thật thường tiến hành chống “phái hữu”, và như thường lệ sau mỗi bài của báo thì hội nghị toàn thể của Đảng được triệu tập, rồi lại bầu lại Đảng uỷ. Nhưng “phái hữu” chưng hửng đến nỗi khi Khakharev không thể còn là bí thư đảng bộ Học viện công nghiệp, buộc họ đưa ra Levochkin. Levochkin, người vùng Briansk, lại là một nhân vật mờ nhạt, thực chất, cũng “phái hữu”. Vì thế cánh Đảng uỷ vẫn ủng hộ “phái hữu” tiếp tục cả sau khi bầu lại. Lại thêm một bài của “Sự Thật”. Lại thêm một hội nghị sóng gió, mất nhiều thời gian bầu Đoàn chủ tịch, cuối cùng họ chọn tôi vào và tôi trúng. Đoàn chủ tịch hội nghị đảng bộ Học viện công nghiệp, thực tế cũng là hội nghị toàn thể Học viện công nghiệp, vì ở đây tất cả đều là các đảng viên ĐCS toàn Nga (b). Phiên họp rất sóng gió. Việc ầm ỹ đã trở thành sự kiện, tôi sẽ kể bối cảnh diễn ra phức tạp trong thời gian ấy.



Đó là năm 1930. Đảng chuẩn bị Đại hội 16. Tại đó có hội nghị trù bị. Lại có những cuộc thảo luận rộng và sâu. Lúc đó “phái hữu” muốn loại gạt bỏ tôi khỏi cuộc thảo luận nên trước khi bầu đại biểu dự hội nghị đảng bộ khu vực, người ta nghĩ ra một cách. Chúng tôi, khi lãnh đạo nông trang mang tên Stalin vùng Samara, trích quỹ để mua nông cụ cho nông trang này. Thế là Đảng uỷ quyết định cử đại biểu trao công cụ cho nông trang viên. Tất nhiên “việc trao nông cụ” chỉ là ước lệ, vì chúng tôi không chở máy theo đơn giản là chúng tôi biết giá máy, thay vì mua máy nông cụ (máy gieo hạt, gặt đập liên hợp...) thì chúng tôi đưa một khoản tiền và trao cho đảng bộ nông trang mang tên Stalin. Lập ra đoàn đại biểu Đoàn đại biểu, gồm 2 người: tôi và Xasa Zdobnov. Zdobnov cũng học viên Học viện công nghiệp, người vùng Ural, một đồng chí tốt. Ông hình như về sau cũng chết trong “cối xay thịt” năm 1937.



Trên đường, tôi đọc cuốn sách mỏng viết về chiếc máy gặt đập liên hợp như thế. Chúng tôi đến nơi, tiến hành hội nghị và sống ở đó vài ngày. Thế rồi tôi cũng biết tình hình thật ở làng. Trước đó bản thân tôi không biết ngôi làng này, vì chúng tôi sống tại Học viện công nghiệp bị cách biệt với không khí thôn quê. Tới đó, chúng tôi gặp một trận đói thực sự. Những con người đói khát lê bước, như những con ruồi. Tôi nhớ lại cuộc họp toàn thể nông trang viên, chúng tôi phát biểu suốt cuộc họp có phiên dịch, vì rằng nông trang gồm toàn người Chuvát, họ chỉ một lời đề nghị chúng tôi cho họ bánh mỳ, còn máy móc chở cho họ thì chẳng gây ấn tượng: Những người này đói thật rồi, còn tôi lần đầu tiên thấy cảnh tượng ấy. Họ đưa tôi vào nhà một quả phụ. Nhà nghèo đến nỗi không có một mẩu bánh mỳ. Chúng tôi chia sẻ những gì mang theo trên đường đi với người goá phụ này.



Chúng tôi kết thúc công việc của mình, quay về Moskva, còn trong thời gian này vẫn họp hội nghị đảng bộ địa phương tại thủ đô. Đảng bộ chúng tôi cũng chọn ra 10 người hoặc hơn, tôi không nhớ bao nhiêu nữa. Đội học viên Học viện công nghiệp đông, tiêu chuẩn người đại diện không lớn, vì Đảng bộ Moskva so với các đoàn khác cũng không phải lớn lắm. Từ Học viện công nghiệp đến hội nghị khu vực đã bầu Stalin, Rykov và Bukharin. Tôi không nhớ Uglanov có được bầu hay không. Hình như, không phải, vì rằng danh sách ứng cử của ông ta quá bẩn thỉu. Bukharin Rykov đã được bầu làm uỷ viên Bộ chính trị. Chúng tôi cho rằng “phái hữu” đã gian lận trong cuộc vận động hành lang để đưa Rykov và Bukharin đến hội nghị thay mặt đảng bộ chúng tôi: họ bước ra với bản dự thảo, không hề tuyên bố gì, tất nhiên, nói rằng họ rút khỏi “phái hữu”, chọn từ đảng bộ chúng tôi đi dự hội nghị khu vực những lãnh tụ của đảng và nêu tên những ứng cử viên: Stalin, Rykov, Bukharin. Trong thời gian ấy, Bukharin và Rykov còn nằm ở mức, mà người ta không đưa ra danh sách ứng cử viên chính có lẽ họ là các uỷ viên Bộ chính trị. Vì thế khi phát biểu, bằng cách ủng hộ Stalin và đưa Rykov Bukharin, hình như không thấy sự ủng hộ trong Bộ chính trị. Người ta cũng bầu một số học viên Học viện từng ủng hộ “phái hữu”.



Khi Tabakov kể tôi nghe chuyện này, chúng tôi thẳng thắn trao đổi quan điểm về tất cả các vấn đề chính trị. Nói chung Tabakov là người đi trước và được chuẩn bị theo nghiệp chính trị. Một tiếng chuông cắt ngang. Người ta gọi tôi đi nghe điện thoại. Điều này khá lạ, vì rằng ở Moskva tôi không quen ai cả. Tôi đi tới điện thoại:



- Mekhlic, chủ bút “Sự Thật” đây. Anh có thể đến chỗ toà soạn tôi không?



Tôi nói có thể.



- Chuẩn bị ngay đi, tôi đến chỗ anh bằng xe riêng. Đến tôi ngay, tôi có việc với anh đấy.



Tôi trả lời:



- Được.



Vài phút sau, xe đỗ ở trước cửa ký túc xá Học viện công nghiệp. Tôi ngồi vào xe và đi đến “Sự thật”.



Đây là cuộc làm quen đầu tiên của tôi với Mekhlic. Ông đọc cho tôi nghe bức thư gửi từ Học viện công nghiệp kể lại thủ đoạn chính trị đưa ra để bầu Đoàn đại biểu “phái hữu” nhân danh đảng bộ Học viện. Ai cũng biết rằng phần đông những theo học Học viện công nghiệp Moskva là các bolsevich lão thành, giám đốc các nhà máy, xí nghiệp, liên hiệp. Họ được bồi dưỡng và chuẩn bị trước nhằm nâng cao kiến thức kỹ thuật. Mekhlix đọc xong thư và hỏi:



- Ông có đồng ý với nội dung thư này không?



Tôi nói:



- Lúc đó tôi vắng mặt!



- Tôi biết rằng anh vắng mặt, nhưng nhận xét có đúng không?



- Hoàn toàn đồng ý, nó phản ánh thực tế.



- Ông có thể ký chứ?



- Ký là thế nào? Tôi không viết và cũng không biết ai là tác giả.



- Không, không, tên anh sẽ không có và thậm chí tên tác giả cũng không. Tôi tin anh, tôi đã nghe về anh và vị thế của anh. Nếu anh ký, thì có nghĩa là, bài này phản anh đúng bối cảnh phức tạp tại đảng bộ Học viện công nghiệp.



Tôi nói:



- Được, - và ký.



Mechlix dùng xe của mình chở tôi về ký túc xá Học viện công nghiệp.



Hôm sau báo Sự Thật đăng bức thư này. Đó là sét nổ giữa ban ngày. Học viện công nghiệp thức giấc, lớp được triệu tập, tất cả các nhóm đảng viên đòi họp. Bí thư đảng bộ Levochkin buộc phải nó. Tất cả các ông chủ ở học viện là những người vô chính trị, nhưng số khác - có vẻ mặt đáng nghi. Tôi biết một người trong số những người đến từ vùng Donesk. Họ đến gặp tôi và nói:



- Anh lại gây hiềm khích phải không? Anh muốn gì vậy?



Tôi trả lời:



- Hãy nghe đây, anh chẳng hiểu cái gì hết, đây là “phái hữu”, họ kéo anh đi đâu?



Nhưng họ cũng chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, ai là “hữu” ai là “tả”.



Cuộc họp này là bão táp nhất. Ở phiên trước đó họ bầu tôi vào Đoàn chủ tịch, và tôi trở thành Chủ tịch cuộc họp. Có một nhóm ủng hộ BCHTƯ rất tích cực đã đấu tranh với “phái hữu”, thao túng đảng bộ, bởi những người lãnh đạo chủ yếu là “phái hữu”. Tôi không nhớ phiên họp kéo dài bao lâu. Nó kết thúc bằng cách bãi miễn tất cả các đại biểu, trừ Stalin, Rykov, Bukharin, và bầu đoàn đại biểu mới, trong số này có tôi, đi dự Hội nghị đảng khu vực. Như thế, mưu đồ của “phái hữu” cử tôi làm đại diện đảng bộ Học viện đi về nông trang, để gạt bỏ khả năng tôi được bầu đi dự hội nghị đảng khu vực và loại trừ khả năng tôi xuất hiện ở hội nghị đã bị thất bại. Ngược lại, nhóm này rơi vào thảm hoạ, tất cả những đại diện của họ bị triệu hồi, đi dự hội nghị khu vực Bauman đã bầu ra những người ủng hộ đường lối chung BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b). Điều này xảy ra vội vàng đến mức thư uỷ nhiệm gửi hội nghị khu vực mà chúng tôi nhận được và phân phối cho các đại biểu mới được bầu lại mang tên những đại biểu cũ. Tôi đi dự hội nghị với thư uỷ nhiệm, thuộc về một người khác. Người ta đã rà soát tài liệu nói rằng chính thư uỷ nhiệm này cũng cho gửi cho người khác. Tôi trả lời:



- Đúng vậy, ghi tên anh ta, còn tôi chính là anh ta đấy.



Rồi cũng qua, vì Đảng bộ khu vực Bauman đã biết tất cả.



Đảng bộ Bauma cũng không phải tất cả đều có thái độ tương đối rõ ràng. Bí thư đảng bộ là Sirin. Tôi khó nói rằng ông có phải “phái hữu” hoặc đơn giản là người bị động, không đủ tầm nhìn chính trị và thiưếu năng lực. Tóm lại, đảng bộ Bauman không còn sức chiến đấu nhưng không được coi là đối địch, ủng hộ “phái hữu”. Còn một trục trặc với thư uỷ nhiệm với thư uỷ nhiệm tôi đến hội nghị, đã kết thúc chuyện như đùa. Chúng tôi thoả thuận với đại biểu đi dự là tôi sẽ phải phát biểu và trình bày thái độ của mình để không ai cho rằng chúng tôi bầu “phái hữu”. Khi tôi phát biểu, hội nghị nhìn tôi tương đối lạnh lùng. Khi ấy, tôi đã được bầu là bí thư đảng bộ Học viện. Vì thế chính tôi phát biểu để đảng bộ khu vực biết rằng đảng bộ Học viện công nghiệp có quan điểm theo đường lối chung của đảng và việc bầu “phái hữu” - mánh khoé, thủ đoạn của ban lãnh đạo cũ, thân “phái hữu”, còn bây giờ đã bị phế bỏ và được bầu lại.



Trong khi tôi phát biểu, vang lên một giọng không êm tai, chúng tôi biết, dường như nói về Học viện công nghiệp. Tai tiếng của Học viện gây tiếng xấu trong ý nghĩ đường lối của Đảng. Vì thế tôi chứng minh rằng những đại biểu lên tiếng tất nhiên là có cơ sở để không tin, nhưng việc Đoàn đại biểu giờ đây có mặt ở hội nghị đã phản ánh quan điểm khác, hơn là những đại biểu đã bầu trước đây, và chúng tôi tin tưởng vững chắc vào đường lối của đảng (ủng hộ đường lối chung của đảng, thường phát biểu). hội nghị tin chúng tôi.



Sau vụ này, tôi nổi tiếng đảng bộ Moskva và trong BCHTƯ. Điều đó, nói riêng, cũng định đoạt trước số phận sau này của tôi như một cán bộ đảng. Sau này tôi mới biết, số phận tôi được định đoạt vì tại Học viện công nghiệp, cùng học với tôi Nadia Allilueva, vợ Stalin. Tôi không hề biết việc này. Trước khi được bầu làm bí thư, thì Nadia Allilueva đã học cùng với chúng tôi. Nhưng Nadia Allilueva tận mắt thấy tất cả cuộc đấu tranh này, có lẽ, khi về nhà kể cho Stalin. Khi kể lại, tất nhiên, cả những người khác. Barobev, một thanh niên can đảm, đến mức anh ta gọi Stalin là “Nikolai Pankin”, nói chung là chửi rủa mọi điều. Vào thời ấy, theo tôi hiểu, là phạm tội. Chúng tôi cho rằng đó là ám hại Đảng. Và chỉ sau đó 10 năm, người ta hiểu rằng tính chất như thế chính là biệt danh rất đúng cho Stalin.



Hội nghị Bauman rất sóng gió. Những phiên họp đầu tiên tôi không có mặt vì khi đó tôi vẫn chưa có thư uỷ nhiệm, nhưng sau đó người ta đã kể lại cho tôi. Nadezda Konstantinova Krupskaiaphát biểu, còn hội nghị thì khó chấp nhận bài phát biểu đó. Lời của Nadezda Konstantinova Krupskaia lúc đó không theo nhịp đường lối chung của đảng, và người ta đã nói riêng ở hành lang rằng sẽ phân tích lời phát biểu của bà. Lúc đó, tất nhiên, cả tôi cũng có thái độ như thế. Cả tôi và cả những người khác cũng có cảm giác nước đôi: một mặt, kính trọng Nadezda Konstantinova Krupskaia như người cùng chiến hào và thân cận với Lenin; mặt khác, bà phát biểu, không ủng hộ Stalin. Sau đó tôi cũng theo cách khác đánh giá điều này, chủ yếu sau khi Stalin chết, khi tôi xem xét cả những hoạt động của Stalin, đánh giá ông như lãnh tụ và như một cá nhân. Hình như trong thời gian đó là đúng. Nhưng hội nghị không hiểu bà, không chấp nhận và phân tích lời phát biểu của bà.



Тhế là tôi bắt đầu hoạt động của một cán bộ đảng. Chẳng bao lâu tôi được bầu vào BCH đảng bộ vùng Bauma. Điều này xảy ra vào tháng giêng 1931, còn hội nghị họp, theo tôi, tháng bẩy 1930. Trong thời gian ấy tôi làm quen với Bulganin. Ông là giám đốc Nhà máy sản xuất đồ điện Bauman. Ở Moskva tiến hành hội nghị, tôi cũng tham gia vào Uỷ ban kiểm tra Đảng của Nhà máy sản xuất đồ điện. Lúc đó những người đi tiến hành kiểm tra phải có thâm niên đảng lớn, vì thế cả Moskva không đủ những người như thế. Chúng tôi miễn cưỡng phải làm việc này, họ dứt chúng tôi khỏi các buổi học. Bản thân Bulganin không đi kiểm tra, ông ở ngoài cuộc, và chỉ khi xong việc ông đến, chúng tôi và ông nói chuyện. Ông đem lại cho tôi nhiều ấn tượng tốt, sau đó vì công lao đã nhận phần thưởng cao quý - Huân chương Lenin.



Khi Sirin, bí thư đảng khu vực đến Học viện, thì không được kính trọng, thậm chí không cho ông phát biểu nữa. Tsikhon đến, một người uy tín, Dân uỷ viên, nhưng trước đó từng là bí thư đảng vùng Bauman (sau này ông cũng chết, người ta bắn ông), người ta cũng không cho ông phát biểu. Ông nói:



- Hãy nghe, tôi đã có việc với những người xây dựng, và thậm chí ở đó nề nếp cũng được giữ­ chặt hơn ở chỗ các đồng chí, vì chính các đồng chí là học viên Học viện.



Tôi quay về Alliluev, bà cũng là cơ sở đảng của nhóm Học viện. Có lần bà đến chỗ tôi nói:



- Tôi muốn cùng với ông thống nhất ý kiến đường lối của chúng ta, bây giờ nhóm đảng viên phán xét vấn đề gì đấy, như đã viết đúng đặc điểm chính trị hiện tại?



Sự thảo luận liên quan tới cuộc đấu tranh với “phái hữu”. Tôi trả lời bà ấy, nhưng ngay khi bà ấy đi khỏi, tôi nghĩ “Bà ấy về nhà kể hết cho Stalin, và ông ta sẽ nói gì?”. Hôm sau bà ta không nói gì cả, còn tôi cũng không hỏi bà. Hình như đánh giá của tôi là đúng. Khi tôi gặp Stalin, ban đầu tôi không hiểu tại sao ông nhắc đến sự kiện gì đó trong những hoạt động của tôi tại Học viện công nghiệp. Tôi im lặng và không trả lời: không biết vui hay lo vì điều này. Nhưng tôi tự nghĩ: “Tại sao ông ấy biết?”.



Sau đó, tôi nhìn, hình như ông mỉm cười. Lúc đó tôi nhanh trí: có lẽ Nadezda Sergeyeva kể chi tiết cho ông ta về sinh hoạt đảng bộ và vai trò của tôi là bí thư, đưa tôi vào vị thế tốt đẹp.



Có thể, Stalin sau đó cũng nói điều này cho Kaganovich:



- Đưa Khrusev về làm việc ở đảng bộ Moskva!



Tương lai được về làm việc với Kaganovich làm tôi hài lòng, vì tôi tin và kính phục Kaganovich. Chỉ sau này khi biết thái độ thô lỗ của ông khiến tôi không thiện cảm.



Thế là tôi được kéo về Đảng bộ Moskva, đây là một vinh dự lớn. Đảng bộ Moskva - thủ đô. Nhưng không bao giờ tôi quên, công việc ở đây không mấy dễ chịu. Có lần Kaganovich hỏi tôi:



- Anh cảm thấy thế nào?



Tôi nói:



- Rất chán!



- Vì sao? - ông ngạc nhiên.



- Tôi không biết kinh tế thành phố, tất cả những vấn đề phải được giải quyểt ở đây.



- Anh với Bulganin có mối quan hệ nào chứ?



- Về hình thức những quan hệ thậm chí rất tốt, nhưng tôi nghĩ, ông ta không thừa nhận tôi là người lãnh đạo kinh tế thành phố, còn đối với thành phố đây là.



- Ông đề cao ông ấy và tự hạ thấp mình đấy. Nhưng ông ấy vẫn đến thăm anh chứ?



- Thỉnh thoảng có đến, thống nhất ý kiến. Nhưng tôi cảm thấy ông ấy hiểu rõ công việc nếu có đến chỗ tôi, thì đơn giản là đến Bí thư đảng bộ Moskva. Còn nói chung chúng tôi có những quan hệ rất tốt, còn tôi kính trọng ông ta.



Sau này, khi chúng tôi làm việc cùng với nhau, tôi thấy Bulganin là người chỉ vẻ bề ngoài, hời hợt. Ông không đi sâu vào kinh tế, còn trong vấn đề chính trị thì có thể thậm chí coi là vô chính trị, không bao giờ ông sống trong bão táp chính trị. Tôi không biết tiểu sử ông ta, mặc dù tôi biết rằng ông làm trong Cheka đường sắt chống bọn trộm cắp, lừa đảo, rồi sau đó người ta điều ông về giám đốc nhà máy. Ông là một giám đốc hình như không tồi. Ông chỉ mới học hết trung học, lúc đó là một hiện tượng hiếm có. Thông thường người ta đề bạt giám đốc từ công nhân. Kaganovich gọi Bulganin là kế toán viên. Đúng thế, nhìn phong cách ông là viên kế toán viên.



Trong thời gian này tôi đơn giản ủng hộ Bulganin. Stalin, đôi khi, mời cả hai chúng tôi cùng với nhau đến ăn cơm gia đình và thường đùa:



- Hãy đến đây ăn đi, bố già thành phố!



Kaganovich không đến cùng với chúng tôi. Ông vẫn là bí thư Đảng uỷ Moskva, nhưng, hình như Stalin cũng không thừa nhận vai trò của nó, chỉ xem là bí thư BCHTƯ. Còn chúng tôi, “những người cha thành phố”, đại diện cho Moskva. Về thực chất Kaganovich không có khả năng giải quyết vấn đề của thủ đô, vì còn bận công việc BCHTƯ. Ông làm việc rất tận tâm: như người ta nói, tối mắt tối mũi.



Làm quen với Stalin


Cuộc viếng thăm ăn cơm gia đình Stalin đặc biệt dễ chịu, lúc mà Nadezda Sergeyevna còn sống. Bà là một người đảng viên nguyên tắc và cũng thời kỳ này còn là nội trợ. Tôi rất thương khi bà chết. Ngay trước đêm bà chết là lễ kỷ niệm cách mạng tháng Mười... Có tuần hành, và tôi đứng dọc lăng Lenin. Alliluev bên cạnh tôi, chúng tôi nói chuyện với nhau. Trời lạnh, còn Stalin đứng trên lăng trong bộ áo choàng dạ (ông ta như thường lệ vẫn đi lại trong bộ áo choàng dạ). Gió thổi, Allilueva ngó nhìn và nói:



- Tôi không mang theo mũ, bị cảm và lại ốm mất thôi.



Mọi chuyện đều có tính chất gia đình, tôi không có ý nghĩ gì về Stalin, về lãnh tụ.



Sau khi tuần hành kết thúc, mọi người giải tán.



Ngay hôm sau, Kaganovich triệu tập các bí thư đảng khu vực Moskva và nói rằng Nadezda Sergeyevna chết đột ngột. Lúc đó, tôi nghĩ “Chẳng lẽ thế ư? Tôi và bà ta hôm qua còn nói chuyện với nhau. Một người phụ nữ xinh đẹp, tươi như hoa”. Tôi tiếc thương:



- Thôi, mọi cái đều có thể xảy ra, người ta ai cũng chết...



Một hoặc hai ngày Kaganovich lại triệu tập thành phần như trên nói:



- Tôi truyền đạt ý kiến của Stalin. Stalin nói rằng Allilueva không chết, mà là bị bắn chết.



Vẻn vẹn chỉ có thế. Nguyên nhân, tất nhiên, người ta không giải thích cho chúng tôi. Bị bắn, chỉ có thế. Rồi chôn bà ấy. Stalin đưa chân bà đến nghĩa địa. Nhìn mặt, rõ ràng là ông rất đau khổ, khóc bà ấy.



Sau khi Stalin qua đời, tôi mới biết vì sao mà Nadezda Sergeyevna chết. Việc này cũng có tư liệu. Khi chúng tôi hỏi Vlasik, Đội trưởng cảnh vệ của Stalin:



- Lý do nào đưa Nadezda Sergeyevna phải tự sát?



Anh ta kể:



- Sau diễu hành, như thường lệ, mọi người kéo đến nhà Vorosilov để ăn trưa (ở Kreml ông có một căn hộ lớn). Tôi cũng ăn ở đó đôi lần. Tới đó chỉ hạn hẹp một số nhân vật: người chỉ huy diễu binh, lần đó, theo tôi, theo tôi, Kork, tham gia diễu binh - đó là Uỷ viên dân uỷ Vorosilov, và một số uỷ viên Bộ chính trị thân cận nhất với Stalin. Mọi người đi thẳng về từ Hồng trường. Lúc đó cuộc tuần hành kéo dài cũng khá lâu. Tại đó họ ăn, uống vui vẻ. Nadezda Sergeyevna không có mặt ở đó. Mọi người về hết rồi, cả Stalin cũng đi. Stalin đi nhưng không về nhà. Lúc đó đã muộn rồi. Nadezda Sergeyevna bắt đầu có triệu chứng bất ổn - Stalin đâu? Nadezda Sergeyevna gọi điện đi tìm. Trước tiên, bà gọi về nhà nghỉ.



Thời ấy họ sống ở Zabalova, nhưng không phải ở nơi mà Mikoian sống những ngày cuối cùng, mà sau cái khe hẻm. Người trực nhấc máy. Nadezda Sergeyevna hỏi:



- Đồng chí Stalin đâu?



- Đồng chí Stalin ở đây.



- Với ai?



- Với vợ Gusev.



Sáng sớm, khi Stalin về, vợ đã chết.



Gusev - là một quân nhân và anh ta cũng có mặt tại bữa ăn nhà Vorosilov. Khi ra về, Stalin kéo vợ Gusev theo mình. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy vợ Gusev, nhưng Mikoian nói rằng cô ta rất xinh. Khi kể lại câu chuyện này, Vlasik cũng bình luận:



- Có trời mới biết ông ta. Thằng trực nhật là một thằng ngu: bà ta hỏi, mà nó cứ trả lời thẳng như thế!



Lúc ấy đã có người đơm chuyện rằng chính Stalin giết vợ. Những tin đồn như thế, tôi cũng nghe được. Hình như Stalin cũng biết điều này. Mỗi lần có tin đồn thì tất nhiên nhân viên Cheka lại ghi chép và làm báo cáo. Sau đó người ta nói rằng lúc Stalin vào giường ngủ thì phát hiện ra Nadezda Sergeyevna đã chết rồi; ông đến không phải một mình mà đi cùng với Vorosilov. Thật hư, rất khó nói, khó nói. Vì sao lại phải bất thình lình đi với Vorosilov vào buồng ngủ? Còn nếu muốn kiếm lấy một chứng cớ thì nghĩa là Stalin biết nó cũng chẳng có? Ngắn gọn là cho đến nay vụ việc vẫn nằm trong bóng tối.



Nói chung tôi ít biết về cuộc sống gia đình Stalin. Tôi có thể đoán điều này chỉ qua các bữa ăn mà chúng tôi có dịp gặp nhau và theo từng mẩu đối thoại. Một lần, khi say, Stalin nhớ lại:



- Này, đôi khi, tôi vào giường, còn bà ấy thì đập gõ và thét: “Ông không là người nữa. Tôi không thể sống và ông được”.



Stalin cũng kể lại khi tức giận Svetlana bé nhỏ lặp lại lời của mẹ:



- Ông không phải là người nữa. - Và cô bé nói thêm - Con không trách bố đâu.



- Thế con trách ai?



- Người nấu ăn.



Người đầu bếp chỗ cô bé là người có uy tín nhất.



Sau khi Nadezda Sergeyevna mất, đôi lúc tôi thấy ở chỗ Stalin có một phụ nữ trẻ, dáng người vùng Kavkaz. Cô ta thường tránh mặt chúng tôi trên đường. Chỉ có mắt ngước lên nhưng lập tức lại cụp xuống. Sau này người ta nói cho tôi biết người phụ nữ này là bảo mẫu của Svetlana. Nhưng việc này diễn ra ngắn ngủi, rồi cô ta cũng biến mất. Theo nhận xét của Beria, tôi hiểu rằng đó là người được Beria che chở. Beria là người biết chọn những “bảo mẫu”.



Tôi thương tiếc Alliluev còn vì tình người nữa. Bà là người vui tính. Khi bà học tại Học viện công nghiệp, khoa dệt, đã hiểu biết về chuyên ngành hoá học làm sợi nhân tạo, nên bà được tổ Đảng chọn và đi đến thống nhất với tôi mọi vấn đề. Lúc đó tôi luôn nhìn quanh: bà ấy về nhà và kể cho Stalin những lời của tôi... Vinichenko có câu chuyện “Pinhia”. Pinhia được cử làm nhóm trưởng trong buồng tù, vì thế anh ta giải quyết thay cho mọi người. Tại Học viện công nghiệp, người ta bầu tôi làm bí thư đảng uỷ, còn tôi cảm thấy mình như Pinhia. Nhưng có lần tôi kể chuyện này cho Nadezda Sergeyevna nghe hoặc là những chuyện khác. Đúng vậy, trong cuộc sống bà là người khiêm tốn­. Bà đến Học viện chỉ bằng xe điện, ra về cùng với mọi người không bao giờ tỏ ra là “vợ ông to”. Có một chân lý cổ: số phận nhiều khi cướp đi những người tốt nhất trường chúng ta.



Tôi thích Stalin cả trong sinh hoạt, khi tôi gặp ông ta tại bữa ăn. Lần khác gặp trong khung cảnh gia đình tôi đã nghe ông đùa như thế nào. Ở Stalin, những chuyện đùa đối với tôi khá không bình thường. Tôi say đắm cá tính của ông vì thế tôi bất cứ câu đùa nào của ông tôi đều cho là không bình thường.



Tôi cũng kể là Stalin thường nhớ lại những công việc của tôi tại học viện, còn tôi thì nhìn và băn khoăn: Làm sao ông ấy biết? Sau đó tôi hiểu vì sao Stalin lại biết một số tiểu tiết trong cuộc sống của tôi. Hình như Nadezda Sergeyevna kể cho ông về sinh hoạt đảng bộ Học viện công nghiệp trong thời gian tôi học ở đó, còn sau đó cũng lãnh đạo đảng bộ. Có lẽ, bà đã giới thiệu tôi hết lời như một nhà hoạt động chính trị. Vì thế Stalin biết tôi qua bà. Ban đầu tôi ghi nhận sự thăng tiến của tôi trong công tác Đảng ở Moskva là công lao của Kaganovich, vì tôi biết rõ Kaganovich ở Ukraina, nơi tôi quen ông, chính xác là từ những ngày đầu tiên của cách mạng tháng Hai. Sau đó tôi rút ra kết luận là hình như sự thăng tiến đó không phải do Kaganovich, mà do Stalin. Điều đó, tất nhiên, làm hài lòng Kaganovich. Có lẽ, Nadezda Sergeyevna có lời khen tôi trước Stalin.



Tôi hài lòng với gia đình họ. Ở chỗ Stalin, tôi gặp ông của Allilueva và vợ ông, một phụ nữ lụ khụ. Có cả Redens cùng vợ, chị cả của Nadezda Sergeyevna là Anna Sergeyevna, và cả em trai bà. Ông em trai này tôi cũng mến, đó là một chàng trai trẻ đẹp mang phù hiệu chỉ huy nhưng không phải là pháo binh mà là binh chủng tăng... Đó là những bữa ăn gia đình thoải mái như thế, với những câu nói vui v.v... Trong những bữa ăn đó, Stalin rất con người, điều này làm tôi hài lòng. Tôi còn kính trọng Stalin hơn vì ông nhà hoạt động chính trị, mà sống chan hoà với mọi người xung quanh. Lúc đó tôi quả là tôi sai lầm. Bây giờ tôi thấy rằng tôi hiểu chưa thấu. Stalin quả thật vĩ đại, giờ đây tôi xác nhận điều đó, và cả trong những người quanh ông, ông cũng cao hơn nhiều cái đầu. Ông còn là một nghệ sĩ, người quỷ quyệt. Ông có khả năng tạo ra cuộc chơi để khẳng định tỏ mình.



Tôi muốn tả một cuộc gặp với Stalin gây một ấn tượng mạnh cho tôi. Điều này xảy ra, khi tôi học ở Học viện. Lớp học viên ra trường đầu tiên của Học viện khoảng năm 1930. Lúc đó giám đốc Học viện Kaminski, một người bolsevich, một đồng chí tốt. Tôi quý và kính trọng ông ta. Chúng tôi đề nghị ông nói với Stalin tiếp những đại diện đảng bộ Học viện công nghiệp khoá đầu tiên. Chúng tôi muốn nghe lời dặn dò của đồng chí của Stalin. Chúng tôi lên kế hoạch vào một buổi chiều tại nhà Liên bang, dành để cho học viên tốt nghiệp, và chúng tôi đề nghị Stalin phát biểu tại buổi lễ này. Người ta thông báo rằng chúng tôi cử đại diện 6 hoặc 7 người để Stalin tiếp. Trong đó có cả tôi, bí thư đảng bộ. Những người còn lại là những Học viên tốt nghiệp Học viện công nghiệp, còn tôi là người đứng đầu đảng bộ.



Chúng tôi tới, ông tiếp chúng tôi và bắt đầu nói chuyện. Stalin nói:



- Phải học, phải làm chủ kiến thức, nhưng không học lung tung, mà biết vấn đề cụ thể và chi tiết. Cần phải có những người lãnh đạo không phải những chuyên gia chung chung gì đó, về công việc lãnh đạo chung chung gì đó mà phải là những người có kiến thức sâu sắc trong chính công việc của mình. Lúc ấy ông đưa một ví dụ: Nếu lấy một nhà chuyên môn của chúng ta, một kỹ sư Nga, thì đây là một nhà chuyên môn có được học hành và phát triển nhiều mặt. Anh kỹ sư này có thể tiến hàng cuộc nói chuyện về những chủ đề bất kỳ, từ thế giới phụ nữ đến vấn đề văn học, nghệ thuật. v.v... Nhưng khi yêu cầu anh ta những kiến thức cụ thể, chẳng hạn ô tô bị dừng lại, thì anh ta bây giờ đi tìm người chữa xe cho mình. Còn người kỹ sư Đức thì buồn hơn. Nhưng nếu nói cho anh ta bằng xe hỏng, anh ta sẽ cởi áo, đi găng lấy cờ-lê, tìm chỗ hỏng và sửa. Đấy, chúng ta cần những người nhứ thế chứ không phải người có mớ kiến thức chung chung, điều đó cũng rất tốt, nhưng chủ yếu họ phải biết chuyên môn của mình và biết sâu về nó và dạy được mọi người.



Chúng tôi rất thích. Tôi đã nghe quan điểm này từ trước, ngay khi học ở trường nghề. Lúc đó, những ý tưởng như thế diễn ra trong cuộc sống, tất nhiên chúng tôi cần trường đại học, nhưng chủ yếu cần nhiều hơn nữa các trường trung cấp để không phải để có được những người được đào tạo sơ sài biết tý chút nghề nghiệp, có bao nhiêu nhà chuyên môn tốt nghiệp trung cấp, nếu nói đơn giản- là những người thợ, biết việc sâu hơn một kỹ sư cùng chuyên môn. Khi đó chúng tôi chẳng có tranh luận, chúng tôi đều chung quan điểm như thế. Đúng là lúc ấy tôi cho quan điểm này đúng. Vì thế những lời của Stalin tạo cho tôi ấn tượng tốt: Con người đó biết bản chất và đi đúng hướng thông minh, nhiệt huyết của chúng tôi để giải quyết nhiệm vụ cụ thể công nghiệp hoá điều này, đẩy mạnh công nghiệp. Trên cơ sở này nâng cao sự thịnh vượng của nhân dân.



Cuộc nói chuyện kết thúc. Stalin nói:



- Tôi không thể cùng các bạn nữa, Mikhail Ivanovich Kalinin sẽ tới chỗ các bạn. Ông đang chờ các bạn đấy.



Xong cuộc gặp Stalin, chúng tôi bắt đầu cuộc gặp tại trường và chúng tôi phải chạy về đó. Chúng tôi rời Kreml về trường, thì bản báo cáo đã xong. Theo tôi, đọc báo cáo là Kaminski. Sau đó các học viên đã kể lại là Mikhail Ivanovich phát biểu. Tất cả chúng tôi kính trọng ông và chăm chú. Nhưng ông nói những điều ngược lại với những gì mà Stalin vừa mới nói. Thật ra ông cũng xác nhận rằng phải học, làm chủ kiến thức và là những người lãnh đạo lành nghề công nghiệp chúng ta:



- Các bạn là những người chỉ huy cần biết không những chuyên môn của mình, mà cần phải đọc văn học, cần phải phát triển mọi mặt. Phải không là những người am hiểu chuyên môn của mình, máy móc và dụng cụ của mình, các bạn cần phải là những người am hiểu văn học, nghệ thuật, lịch sử của chúng ta và v.v...



Những người từng nghe Stalin đưa mắt nhìn nhau. Chính chúng tôi mới vừa ở chỗ Stalin về, còn Kalinin về vấn đề này nói ngược với những người đã nghe Stalin nói. Tôi đứng về phía Stalin, cho là ông đặt những nhiệm vụ cụ thể hơn, mà trước hết chúng tôi phải là những nhà chuyên môn, những thợ cả công việc của mình, không học lung tung, khác đi chúng tôi sẽ không còn giá trị nữa. Ai hiểu biết sâu hơn đối tượng của mình, sẽ có lợi hơn cho tổ quốc và cho công việc.



Thời kỳ bắt đầu công tác về Đảng của tôi ở Moskva, tháng giêng 1931, có hội nghị đảng khu vực. Lúc đó hội nghị tổ chức sau nửa hoặc một năm. Tại một hội nghị tôi được bầu làm bí thư đảng bộ vùng Bauman, còn Korochenko - Chủ tịch Uỷ ban vùng. Đảng bộ nhà máy trong Uỷ ban là đồng chí Treyvas, một đồng chí rất tốt. Theo dõi bộ phận dân vận, theo tôi, là đồng chí Pozov, một người hoạt động cũng rất tốt. Sau đó còn Surov. Đường công danh của ông cũng hết: tôi không nhớ, hình như bị bắt giam hoặc ông tự tử ở Siberi năm 1937.



Treyvas trong thập niên 1920 nổi tiếng là một nhà hoạt động thanh niên. Đó là người bạn nhỏ của Xasa Bezymenski. Họ cùng nhau là những người tích cực tổ chức thanh niên Moskva. Treyvas - một người rất thông minh, rất tốt. Nhưng Kaganovich cảnh báo tôi, bảo là, Treyvas hư hỏng chính trị: trong khi diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt với Troski, thì anh ta ký cái gọi là tuyên bố gồm 93 đoàn viên thanh niên ủng hộ Troskit. Bezymenski cũng ký nó.



- Vì thế - Kaganovich nói - cần thận trọng, dù bây giờ Treyvas hoàn toàn theo đảng, không bị nghi ngờ nữa, được BCHTƯ giới thiệu.



Bây giờ, sau nhiều năm trôi qua, tôi cần phải nói rằng Treyvas làm việc rất tốt, cởi mở và tích cực. Đó là một người thông minh, tôi được lòng anh ta. Nhưng tôi không làm việc với Treyvas được lâu, sau đó tôi được bầu làm bí thư Đảng vùng Kraskaia Presnia. Đây là một nấc thang cao chính trị, vì Kraskaia Presnia có một vị thế chính trị cao hơn Bauman, Do quá khứ yếu kém của nó - khởi nghĩa 11-1905, tổ chức Đảng Kraskaia Presnia lãnh đạo các cơ sở đảng ở Moskva. Treyvas vẫn ở lại vùng Bauman. Còn bí thư mới của đảng bộ Bauman đã được bầu, theo tôi, là Margolin.



Treyvas chết thảm khốc. Ông được bầu làm bí thư Đảng thành phố Kaluga và làm việc rất tốt ở đó. Nổi danh, nếu nếu có thể nói như thế, thì đó là đảng bộ thành phố Kaluga. Nhưng khi được bắt đầu “cối xay thịt” năm 1937, thì ông cũng không thoát khỏi. Tôi gặp lại Treyvas, khi ông ngồi tù trong tù.



Stalin lúc đó nẩy ý tưởng là các bí thư đảng bộ cần đi vào nhà tù và kiểm tra xem hoạt động của các Cheka có đúng không. Vì thế tôi cũng đi. Tôi nhớ, Redens lúc đó giám đốc công an Moskva. Điều này cũng khá thú vị. Redens, một người đáng thương, cũng chết thảm khốc. Ông là bị bắt và bị bắn, mặc dù đã cưới em gái Nadezda Sergeyevna Alliluev, nghĩa là anh em cọc chèo với Stalin. Tôi nhiều lần gặp Redens tại căn hộ chỗ Stalin, trong các bữa ăn, mà tôi cũng được mời đến vì là bí thư Đảng bộ Moskva, còn Bulganin - là Chủ tịch Uỷ ban Moskva.



Chúng tôi và Redens đi và kiểm tra nhà tù. Đó là một bức tranh khủng khiếp. Tôi nhớ, tôi tạt qua khu giam phụ nữ của một nhà tù. Nóng bức, phòng gian đầy người... Redens cảnh báo tôi rằng có thể gặp một cái gì như thế... như thế... và cả những người quen. Quả thật, ngồi ở đây là một phụ nữ rất thông minh, xinh đẹp, tích cực Betty Glan. Bà ta bây giờ hình như còn sống và khoẻ mạnh. Bà là người giám đốc thứ hai Công viên văn hoá và giải trí Gorky ở Moskva. Bà không những là giám đốc, mà thực tế là một trong những người sáng lập công viên này. Lúc đó tôi không tiếp khách ngoại giao, còn bà do sinh ra trong gia đình tư sản, thông thạo xã hội trên, nên Litvinov luôn mời bà đến đó để bà giới thiệu đất nước ta với khách. Giờ đây tôi gặp bà trong tù. Như những người khác, bà cởi trần, vì nóng bức. Bà nói:



- Đồng chí Khrusev, tôi mà là kẻ thù nhân dân ư? Tôi một người trung thực, một người trung thành của Đảng.



Chúng tôi bước ra, vòng vào nơi giam đàn ông. Lúc ấy tôi gặp Treyvas. Treyvas cũng nói với tôi:



- Đồng chí Khrusev, chẳng lẽ tôi đáng khinh thế này ư?



Tôi hỏi Redens, nhưng ông trả lời:



- Đồng chí Khrusev, tất cả họ đều thế. Tất cả họ đều phủ nhận. Họ đơn thuần là kẻ thù.



Lúc đó tôi hiểu rằng vị thế của bí thư Đảng khu vực rất khó: công cụ điều tra nằm trong tay Cheka, họ thẩm vấn, viết biên bản điều tra, còn chúng tôi, nói riêng, như là “nạn nhân” của Cheka này và chúng tôi chính mắt nhìn. Như thế, đây không thể gọi là kiểm tra, mà là hư cấu, là cái bình phong che đậy những hoạt động của họ. Sau này tôi nghĩ: Vì sao Stalin làm như vậy? Rõ ràng là Stalin chủ ý làm việc này, ông tưởng tượng ra một việc để khi cần đến, có thể nói: “Đảng bộ đấy à. Chính họ đang làm, họ nhất định sẽ làm”.



“Sẽ làm” nghĩa là gì? Làm như thế nào? Cheka không thuộc quyền đảng bộ chúng tôi. Do vậy, ai sẽ làm thay ai? Thực tế Đảng bộ không làm thay Cheka, mà Cheka làm thay đảng bộ, làm thay lãnh đạo đảng.



Trong thời gian ấy tôi thường gặp và nghe Stalin: tại các phiên họp, thông báo, hội nghị, nghe và thấy những hoạt động của ông khi gặp ông ở nhà riêng và trong bầu không khí làm việc một tập thể lãnh đạo - Bộ chính trị BCHTƯ. Trong khung cảnh này, Stalin hiếm khi bị tách rời, bởi ông giảng giải rất rõ ràng. Tôi rất vừa lòng. Tôi chỉ tâm tưởng là trung thành vào BCHTƯ Đảng đứng đầu là Stalin, trước tiên là Stalin.



Một lần tôi có mặt tại một cuộc họp hẹp những nhà kinh tế. Đây là năm 1932, khi Stalin giải nghĩa “sáu điều kiện” chức năng thành công của kinh tế. Lúc đó tôi là bí thư đảng vùng Bauman. Tôi được mời tới Bộ chính trị nghe Stalin phát biểu. Tôi đến BCHTƯ, thấy khá đông người. Phòng họp không lớn, chứa tới là 300 người, không còn một khe hở. Stalin nói, tôi cố gắng không bỏ qua một lời nào, ghi được một số lời của ông. Sau đó bài nói của ông được công bố được công bố. Tôi nhắc lại, việc diễn tả ngắn gọn, giải thích rành rọt nhiệm vụ đã nêu, làm tôi hài lòng chỉ còn biết kính trọng Stalin có phẩm chất đặc biệt của người lãnh đạo.



Tôi gặp và quan sát Stalin cả trong những cuộc hội thảo cởi mở. Có lần tại nhà hát. Stalin thỉnh thoảng mời tôi đến nhà hát. Tôi đến hoặc một mình hoặc cùng với Bulganin. Thường thì ông mời chúng tôi, khi ông chuyện gì đấy muốn vừa ngồi nghe, vừa có thể trao đổi ý kiến về những vấn đề liên quan đến thành phố Moskva. Chúng tôi luôn chú ý nghe ông, cố gắng làm đúng theo lời ông khuyên. Lúc ấy ông có những lời khuyên tốt nhất trên tinh thần đồng chí.



Một lần, có lẽ, trước Đại hội đảng 17, người ta đưa cho tôi số máy điện thoại nào đó. Tôi biết rằng đây là số máy điện thoại căn hộ của Stalin. Tôi gọi. Ông nói với tôi:



- Đồng chí Khrusev, tôi nghe tin đồn Moskva có vấn đề bất tiện về nhà vệ sinh. Thậm chí mọi người chạy loạn “đi tiểu” và cũng họ không biết chỗ nào để giải quyết “bầu tâm sự”. Khu vệ sinh bé và bất tiện. Anh bàn với Bulganin và những người khác xây dựng những nhà vệ sinh ở những nơi thích hợp.



Việc nhỏ nhặt như thế, nhưng lại làm tôi hài lòng hơn: đến việc như vậy mà Stalin lo lắng và khuyên chúng tôi. Chúng tôi, tất nhiên, Bulganin và những người khác, thanh tra tất cả nhà và cung điện mặc dù các cung điện chủ yếu là trụ sở công an. Sau đó Stalin đưa nhiệm vụ: phải xây dựng nhà vệ sinh trả tiền. Rồi cái đó cũng được làm. Những nhà vệ sinh riêng biệt đã được xây. Và tất cả những điều này cũng do Stalin nghĩ ra.



Tôi nhớ, hồi ấy có một cuộc hội nghị, không phải là hội nghị các đồng chí từ các tỉnh về. Eikhe (hình như, ông là bí thư Đảng ở Novosibirsk) giọng người Ladvia hỏi tôi:



- Đồng chí Khrusev, người ta đồn không rõ có đúng không, rằng việc anh dọn dẹp thành phố Moskva - là theo chỉ thị của đồng chí Stalin?



- Đúng thế - tôi trả lời - tôi làm nhà vệ sinh và để giải toả nỗi lo cho nhiều người, những nhà vệ sinh trong thành phố lớn như thế này - những công sở thiếu nó mọi người không thể đi lại được ngay cả những thành phố khác huống gì Moskva.



Chuyện vụn vặt thế, chứng tỏ rằng Stalin cũng chú ý những điều nhỏ nhặt. Lãnh tụ của giai cấp công nhân thế giới, như người ta đã nói, lãnh tụ đảng, nhưng lại không bỏ qua những chi tiết nhỏ quan trọng trong sinh hoạt con người, chẳng hạn nhà vệ sinh thành phố. điều này làm chúng tôi hài lòng.



Lại có những việc khác liên quan tới những hoạt động của Stalin. Tôi nhớ, có lần tại cuộc họp Bộ chính trị có một vấn đề về một cán bộ ngoại thương ta tại một nước châu Mỹ latinh. Người ta gọi nhân vật này vào. Anh ta đến rất bối rối, trạc 35 tuổi. Bắt đầu phán xét. Stalin hỏi anh ta:



- Hãy kể cho chúng tôi nghe tất cả cái gì đã xảy ra, đừng giấu diếm một cái gì cả.



Người này kể rằng anh ta đến nước đó để đặt hàng. Bây giờ tôi không nhớ chính xác nữa anh ta từ cơ quan nào. Nhưng điều này không quan trọng. Lúc ấy Stalin nghe rất thích thú, còn anh ta tiếp tục:



- Tôi vào một nhà hàng. Ngồi xuống và gọi món ăn. Có một thanh niên đến chỗ tôi ngồi và hỏi:



- Ông là người Nga?



- Vâng, tôi là người Nga.



- Anh có biết chơi nhạc không?



- Tôi thích nghe, nếu người ta chơi violon tốt.



- Anh đến đây mua gì đấy?



- Tôi đến mua thiết bị.



- Anh đã phục vụ trong quân đội Nga chứ?



- Vâng, tôi từng tại ngũ.



- Binh chủng nào?



- Kỵ binh, tôi là kỵ sỹ, tôi vẫn còn thích cưỡi ngựa đến bây giờ, dù không tại ngũ.



- Anh có biết bắn không? Anh từng là lính cơ mà?



- Tôi bắn tồi lắm.



Hôm sau họ chở tôi đi để báo chí viết về tôi. Đơn giản là tôi bị quẫn. Té ra anh ta là nhà báo, chủ bút của một tờ nào đó, nhưng anh ta không giới thiệu cho tôi mà tôi thiếu kinh nghiệm lại trò chuyện và trả lời anh ta những câu hỏi. Anh ta viết rằng có một người như thế đến đây, sẽ đặt hàng với số tiền như thế... (tất cả đều là bịa)... rằng thích đi lên trên, là một kỵ sỹ thực thụ, là người bắn cung giỏi và một vận động viên thể thao, bắn cái gì đó rơi xuống từ một khoảng cách xa thế này, anh ta thích violon và v.v... Tóm lại, có bao nhiêu nhưng điều vớ vẩn được viết ra làm tôi khiếp sợ, nhưng tôi không thể làm cái gì được. Sau đó, Đại sứ quán bảo tôi về nước. Thế là tôi đến đây và báo cáo với các đồng chí cái gì đã xảy ra. Tôi thiết tha đề nghị tha thứ vì tôi không làm điều gì ác ý cả.



Trong lúc anh ta kể, mọi người cười khúc khích trêu chọc anh ta, đặc biệt là những người ở xa được được mời đến. Nhưng các uỷ viên BCHTƯ và chính uỷ luôn có mặt tại phiên họp, tỏ ra thận trọng, chờ cái gì sẽ đến. Tôi nhìn anh ta, thương anh: anh như một nạn nhân của vụ thảo luận tại Bộ chính trị? Anh ta nói điều này rất chân thật, nhưng luống cuống. Stalin khích lệ:



- Kể đi, kể đi! - nhưng giọng bình tĩnh và thân ái. Bỗng nhiên, Stalin nói - Nào thôi, người này đáng tin và là nạn nhân chẳng bọn du đãng của ăn cướp... Chẳng có chuyện gì nữa đâu phải không?



- Không có gì cả.



- Hãy xem vấn đề là không có. Trong tương lai, cần thận trọng hơn.



Tôi rất thích lối phân tích như thế.



Sau đó tuyên bố nghỉ. Lúc đó Bộ chính trị bàn lâu, một hoặc hai giờ hoặc hơn, rồi nghỉ, mọi người kéo sang phòng khác có bàn ghế và uống trà, ăn bánh kẹp thịt. Hồi đó là thời kỳ đói kém ngay cả đối với những người như tôi, có vị trí tương đối cao, cũng sống tềnh toàng thậm chí không phải lúc nào cũng có thể ăn uống thoả thê ở nhà. Vì thế, có dịp vào Kreml, ăn cho no bánh mỳ kẹp xúc xích hoặc giăm bông, uống trà đường và tận dụng tất cả phúc lợi, được ưu đãi bằng những món ăn của nhà bếp cao lương mỹ vị. Thế là, khi tuyên bố nghỉ, mọi người chạy vào chỗ “phàm ăn” - như chúng tôi thường gọi đùa nó - còn anh ta, người đáng thương, tiếp tục ngồi hình như rất sợ hãi bởi tai bay vạ gió đối với anh ta, nếu ai đó không nói phiên họp đã kết thúc, có lẽ anh ta ngồi như chôn chặt ở đấy.



Tôi rất thích tình người và mộc mạc Stalin, quan điểm của ông về tình người. Có lẽ con người cũng tuyệt vọng, bị mang ra mổ xẻ vụ việc. Tôi nghĩ rằng, có thể tin tình báo nào đó đã đến tai Stalin, sau đó chính Stalin đặt vấn đề này ra Bộ chính trị để tỏ ra rằng ông cũng giải quyết vấn đề như thế.



Thêm một chuyện. Có lẽ, vào năm 1932 hoặc 1933. Lúc đó trong xã hội nảy ra một phong trào, như chúng tôi khi đó gọi, những người xuất sắc. Những người trượt tuyết, những công nhân Nhà máy sản xuất đồ điện Moskva, là nhà máy tiên tiến tại thủ đô lúc ấy, quyết định thực hiện cuộc trượt tuyết từ Moskva đến Sibiri hoặc Viễn đông. Họ đã thực hiện thành công, quay về và được đề nghị tặng thưởng. Họ được thưởng một cái huy hiệu gì đó thậm chí cả huân chương. Tất nhiên, quanh chuyện này cũng nhiều tiếng xì xào. Sau đó những người Turkmen quyết định cưỡi ngựa từ Askhabat đến Moskva và cũng hoàn thành chuyến đi của mình. Người ta cũng vinh danh họ, tặng quà và lại thưởng. Sau đó cả trong nhiều thành phố và các vùng khác cũng dấy lên “phong trào những người xuất sắc”.



Bỗng nhiên Stalin nói phải kết thúc việc này, hay nói khác đi là sẽ bất tận: nếu chúng ta cổ vũ, tất cả mọi người sẽ đi và nói là “tiên tiến” và sao nhãng sản xuất:



- Chúng ta - ông nói - đang biến thành lêu lổng, nếu chúng ta còn cổ vũ trò lêu lổng ấy và thậm chí tặng thưởng vì nó. Cần phải chấm dứt!



Thế là “phong trào những người tiên tiến” tiêu luôn.



Tôi cũng rất thích điều này: thứ nhất, có những lời đồn không cần thiết; thứ hai, quả thật hướng đi sai lầm của việc cổ vũ lêu têu, tạo ra những cuộc đi bất tận. Stalin theo cách nhìn của người quản lý đặt vấn đề: cần hướng sức lực mọi người vào hướng khác để nâng cao sản xuất tạo khả năng đoàn kết nhân dân nhằm thoả mãn đòi hỏi của nó và v.v... Chuyến đi thể thao trượt tuyến thực hiện tốt, nhưng điều này về nguyên tắc chẳng có một giá trị đặc biệt nào cả, vì rằng thể thao thật sự phải thúc đẩy mọi người trên cơ sở khác.



Một trường hợp khác làm tôi kinh ngạc. Hình như, xảy ra năm 1932. Moskva bị đói, còn tôi - bí thư thứ hai đảng bộ thành phố tốn nhiều sức để tìm khả năng nuôi giai cấp công nhân. Chúng tôi nuôi thỏ. Stalin tự nẩy ý tưởng này, còn tôi thì say mê với lòng nhiệt thành, thực hiện chỉ thị của Stalin thúc đẩy nuôi thỏ. Từng xí nghiệp và từng nhà máy (thậm chí cả những nơi không có khả năng) đều nuôi thỏ. Sau đó lại bận rộn với các kỷ lục: xây hầm, đào hào. Một số nhà máy cung cấp thực phẩm cho nhà ăn, nhưng mọi phong trào quần chúng, thậm chí tốt hơn thường dẫn đến những điều quái gở. Vì thế xảy ra nhiều tình huống chẳng hay ho gì. Nền kinh tế không phải luôn luôn được bù lỗ, các nhà máy thường là lỗ và không phải tất cả giám đốc đều ủng hộ. Khi phân phát tem phiếu mua thực phẩm và hàng hoá xảy ra nhiều trò gian lận. Luôn là thế này: tem phiếu nghĩa là thiếu, xô đẩy những người đặc biệt dao động, tránh né luật. Trong điều kiện như thế trộm cắp nảy sinh. Kaganovich nói với tôi:



- Anh chuẩn bị báo cáo lên Bộ chính trị bắt đầu cuộc đấu tranh Moskva để lập lại trật tự trong hệ thống tem phiếu. Phải truất tem phiếu của những người thu lợi chúng phi pháp bằng cách ăn cắp.



Tem phiếu cũng chia ra cho người làm việc và không làm việc. Với người làm việc - cũng nhiều loại khác nhau, điều này cũng một trong những kẽ hở đưa người ta đến những cái xấu thậm chí cả sự lạm quyền. Chúng tôi kiểm tra công việc này bằng tất cả các cơ quan, kể cả công đoàn, công an và Cheka. Hàng trăm nghìn tem phiếu đã tiết kiệm. Chính lúc ấy xảy ra cuộc đấu tranh vì bánh mỳ, thực phẩm, vì sự thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Phải trước tiên đảm bảo thực phẩm cho những những người có khả năng thành công kế hoạch 5 năm.



Đến hôm, phải báo cáo với Bộ chính trị. Kaganovich nói tôi sẽ đọc cáo. Điều này tôi rất không yên tâm, thậm chí hoảng: phát biểu tại một phiên họp uy tín như thế, nơi Stalin sẽ đánh giá báo cáo của tôi. Chủ toạ tại phiên họp là Molotov, thời kỳ ấy Stalin không bao giờ chủ toạ. Chỉ sau chiến tranh, Stalin mới chủ toạ các phiên họp. Vào thập niên 1940 tại phiên họp Bộ chính trị thường bao trùm sự thận trọng. Nhưng vào thập niên 1930 sự phân tích một số vấn đề thường là sôi nổi, đặc biệt nếu ai đó tự cho phép mình biểu thị xúc động. Có lần, chẳng hạn, Sergo nổi cáu, nói chung ông là người rất nóng tính, suýt đánh dân uỷ ngoại thương Rozengols...



Tôi báo cáo, kể rằng chúng tôi có thành công lớn. Còn Stalin phản ứng:



- Chưa đủ, chưa đủ đâu, đồng chí Khrusev ạ. Còn nhiều, còn rất nhiều kẻ cắp đấy, còn đồng chí nghĩ rằng đã thực hiện xong.



Điều này làm tôi chết điếng: quả thật, tôi cho rằng chúng tôi đúng, thanh trừ hết bọn ăn cắp, còn Stalin tuy không ra khỏi Kreml, nhưng nhìn thấy bọn lừa đảo còn rất nhiều. Thực chất thì đúng vậy. Nhưng khi chính ông đưa ra phản ứng làm tôi rất mừng. Điều này cũng nâng Stalin trong mắt tôi.



Còn bây giờ tôi lại một chuyện không dễ chịu của tôi. Một thời gian sau, tôi biết rằng thành phố Leningrad sẽ làm một báo cáo như thế. Tôi thích thú xem họ làm thế nào? Chúng tôi vẫn thường ganh đua với Leningrad mọi vấn đề cả công khai lẫn không công khai.



Đến ngày họp Bộ chính trị. Tôi đến dự (chỗ không đánh số, nhưng khách lạ bị cấm). Bí thư đảng bộ Leningrad đọc báo cáo. Bí thư thứ nhất là Sergei Mironovich Kirov, nhưng ông không đọc, mà bí thư thứ hai, mang cái họ người Litva. Tôi ít biết về ông ta. Nhưng ông là bí thư đảng bộ Leningrad vì thế tôi cũng kính trọng. Ông làm báo cáo rất tốt: Người Leningrad cũng làm việc nhiều, duy trì kinh tế và tiết kiệm nhiều tem phiếu.



Giờ nghỉ, mọi người kéo vào “phàm ăn”, còn tôi có lần bị giữ lại. Stalin, hình như đang chờ, trong khi những người ghế sau đi qua. Và thế là tôi trở thành một nhân chứng bất đắc dĩ, khi Stalin trao đổi vài câu với Kirov về ông bí thư nọ. Ông hỏi Kirov xem ông này là ai. Sergei Mironovich trả lời Stalin câu gì đó có thể là tích cực. Stalin nói lại, hạ nhục và xúc phạm ông bí thư này. Đối với tôi, đây là đòn tinh thần quá mạnh. Thậm chí ngay cả trong ý nghĩ tôi không cho rằng Stalin, lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ giai cấp công nhân, lại có cách cư xử khiếm nhã đối với đảng viên.



Trong những năm đầu tiên của cách mạng, trong nội chiến tất cả đều ngược lại. Tôi nhớ, chúng tôi tấn công và chiếm thành phố Maloarkhagensk của bạch vệ; một giáo viên đến chỗ tôi, người này ngu ngốc hỏi chúng tôi cho hắn chức vụ nào nếu hắn vào Đảng. Tôi giận quá nhưng kìm được và nói:



- Chức vụ cao nhất đây!



- Chức gì?



- Người ta đưa súng trường vào tay anh và bảo anh bắn bọn bạch vệ. Đó là “chức vụ cao nhất” đấy. Vấn đề là chính quyền Xô viết tồn tại hay không tồn tại. Có thể có nhiều cách trả lời?



- Chà, nếu như thế này, thì tôi không vào đảng.



Tôi nói:



- Tốt nhất là anh đừng vào!



Tôi đi lạc vấn đề. Stalin, lãnh tụ, người mà tôi cần phải học hỏi quan hệ tốt với mọi người và hiểu họ, thế mà họ phản ứng như vậy. Bao năm trôi qua, tất cả lời của ông vẫn đọng trong óc tôi như một kỷ niệm. Mọi người lưu lại những ý nghĩ không thiện cảm về Stalin. Lời ông tỏ ra khinh bỉ mọi người. Ông bí thư kia, người Litva, theo người ta nói, là người thẳng thắn, xuất thân từ công nhân. Lúc đó có nhiều người Litva hoạt động cách mạng. Chẳng hạn, tôi gặp một người Litva chỉ huy trung đoàn №72, sư đoàn №9. Còn trong Đảng, trong kinh tế và cả trong hồng quân có nhiều người Litva, và tôi luôn kính trọng họ. Nói chung, chúng ta đừng phân chia theo dân tộc. Nên phân chia theo sự trung thành sự nghiệp: theo hay chống cách mạng? Đó là chính. Sau đó lại còn phân chia theo quan hệ tiểu tư sản: còn dân tộc? Trước đây chỗ đứng trí trong xã hội mới là có ý nghĩa: anh là công nhân, nông dân hay trí thức? Trí thức, như người ta nói, khi đó là đáng nghi ngờ. Có lẽ trong những năm đầu cách mạng tương đối ít những người lao động trí thức trong hàng ngũ ĐCS.



Một lần nữa về Ukraina


Năm 1938. Stalin gọi và nói:



- Chúng tôi muốn cử anh về Ukraina đứng đầu Đảng bộ ở đó. Còn Kosior sẽ chuyển về Moskva, chỗ Molotov, làm phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Dân uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kiểm tra xô viết.



Tôi từ chối, vì tôi biết rõ Ukraina và cho rằng điều này chưa đúng: công việc lớn quá sức tôi. Tôi đề nghị đừng cử tôi, vì rằng tôi chưa được chuẩn bị cho công việc mà tôi phải ngồi vào vị trí như thế. Stalin động viên tôi. Lúc đó tôi trả lời:



- Ngoài ra, còn có cả vấn đề dân tộc nữa. Tôi là người Nga; mặc dù tôi hiểu tiếng Ukraina, nhưng không phải cái đó cần cho người lãnh đạo. Tôi hoàn toàn không thể nói tiếng Ukraina được tôi, đó cũng là một điểm yếu. Người Ukraina, đặc biệt trí thức, có thể tiếp nhận tôi rất lạnh lùng, và tôi không muốn mình ở hoàn cảnh.



Stalin:



- Không, anh làm sao thế! Kosior - nói chung là người Ba Lan. Đối với người Ukraina vì sao người Ba Lan lại tốt hơn người Nga?



Tôi trả lời:



- Kosior - người Ba Lan, nhưng ông ấy biết tiếng Ukraina và có thể phát biểu bằng tiếng Ukraina, còn tôi lại không thể. Ngoài ra, Kosior có nhiều kinh nghiệm.



Tuy nhiên Stalin cũng đã quyết định và khẳng định rằng tôi phải làm việc tại Ukraina.



- Vâng - tôi trả lời - tôi sẽ cố gắng làm tất cả để xứng đáng sự tín nhiệm.



Trong thời gian chờ bổ nhiệm, tôi đề nghị Malenkov kiếm cho tôi một số người gốc Ukraina từ Đảng bộ Moskva (ở đó có nhiều) hoặc từ bộ máy BCHTƯ Đảng. Người ta nói cho tôi biết tại Ukraina do bị bắt bớ bây giờ chẳng còn một ông tỉnh uỷ viên thậm chí Chủ tịch Hội đồng dân uỷ (là phó của ông ta) cũng chẳng có nữa, không có tỉnh uỷ viên và thành uỷ viên thường vụ nữa, còn BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina - không còn một trưởng ban nào cả. Người ta phải chọn Bí thư thứ hai. Malenkov bổ nhiệm đồng chí Burmistenko làm Bí thư thứ hai. Burmistenko là phó Malenkov - lúc ấy lãnh đạo Ban tổ chức BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b). Tuy có biết nhau, tôi biết rất ít về Burmistenko,. Ông để lại cho ấn tượng rất tốt, tôi và ông ta tính tình khá hợp,



Tôi trao cho Burmistenko quyền thu nhận những người, mà có thể kéo theo khoảng 15-20 người nữa. Ông gom được, hình như, 10 người từ các ban của BCHTƯ và cơ sở Đảng Moskva. Từ cơ sở Đảng Moskva có Serdiuk và một người nữa. Serdiuk lúc ấy là Bí thư thứ nhất hoặc thứ hai một Quận uỷ thủ đô. Ông là người gốc Ukraina, nói tiếng Ukraina rất tốt.



Mọi người đến Ukraina, gặp Kosior. Ông thông báo cho chúng tôi về tình hình phức tạp và làm quen với các cán bộ còn lại. Chúng tôi tiến hành Hội nghị toàn thể đảng Ukraina. Kosior giới thiệu tôi và Burmistenko cho Hội nghị toàn thể BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Người ta bổ xung chúng tôi vào Plenum, bầu các uỷ viên Bộ chính trị và các Bí thư BCHTƯ. Kosior - không trúng. Grigori Ivanovich Petrovski trải qua tất cả các biến cố tại Ukraina, nhưng lại bảo thủ, mặc dù ông ta quả thật chưa gì đến thế.



Chúng tôi bắt đầu làm quen với công việc. Ở Ukraina dường như có cơn bão qua. Như tôi đã nói, chẳng còn lấy một bí thư tỉnh uỷ, một tỉnh uỷ viên. Thậm chí Thường vụ Thành uỷ Kiev cũng không có. Bí thư Đảng ĐCS(b) Ukraina là Evtusenko. Stalin có quan hệ tốt với ông. Tôi biết Evtusenko rất ít, chỉ gặp nhau ở Kreml, nhưng cho rằng Evtusenko xứng đáng ở vị trí này. Tôi thích ông. Bỗng nhiên có điện từ Moskva: “Evtusenko bị bắt”.



Tôi không biết tại sao ông bị bắt. Lúc đó chỉ có các lời giải thích “chuẩn” - kẻ thù nhân dân; một thời gian sau, người này “thú tội”, và lại sau một thời gian tự tay mình đưa ra bằng cớ với người nào đó tiếp theo, tạo ra ấn tượng xác đáng của vụ bắt giam.



Stalin gọi tôi về Moskva và đề nghị tôi thế chức của Evtusenko, ngoài Ban thư ký BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, còn có Ban thư ký Uỷ ban Đảng vùng và thành phố. Điều này không thể hình dung được. Nhưng Stalin nói:



- Anh hãy tự chọn những người giúp việc.



Tôi chấp thuận, nhưng sự chấp thuận của tôi cũng không cần thiết. Đã có sẵn người của BCHTƯ giới thiệu, và tôi phải đồng ý. Bí thư thứ hai thành uỷ được bầu Serdiuk, còn bí thư Đảng khu vực - Sevchenko. Chúng tôi bắt đầu làm việc. Dân uỷ viên nội vụ Ukraina là Uspenski. Tôi biết Uspenski, khi còn là bí thư Thành uỷ Moskva. Ông là toàn quyền Dân uỷ viên nội vụ ngoại ô Moskva, còn tôi thường hội đàm với ông. Báo cáo của ông cho tôi về tình hình công việc gây cho tôi lúc đó một ấn tượng tốt. Sau đó ông là được bổ nhiệm Tư lệnh Kreml, từ đây người ta cử ông làm Dân uỷ viên nội vụ Ukraina. Tôi cho rằng ông ta sẽ thông tin đúng cho tôi và giúp tôi.



Uspenski đẩy mạnh những hoạt động sôi sục. Như được giải thích sau khi Stalin chết, chính ông đã đánh gục BCHTƯ bằng các báo cáo về “kẻ thù nhân dân”. Các vụ bắt bớ được tiếp tục. Tôi nhớ, Uspenski đặt vấn đề bắt Rylski. Tôi phản đối:



- Sao thế anh? Rylski - nhà thơ nỏi danh. Người ta buộc tội ông ta theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng ông ta là dân tộc nào? Ông là người Ukraina chính hiệu, phản ánh cảm xúc dân tộc Ukraina. Không thể người Ukraina, nói tiếng Ukraina, lại được coi là người dân tộc. Anh cũng là người Ukraina!



Nhưng Uspenski không thay đổi. Tôi thuyết phục ông ta:



- Hãy nhớ, Rylski đã làm thơ về Stalin, mà bài thơ đã thành lời một bài hát. Bài hát này tất cả Ukraina đều hát. Anh muốn bắt ông ta phải không? Chẳng được đâu!



Cá nhân tôi cũng không biết Rylski. Tôi biết bài thơ tiếng Ukraina của ông (không thể không biết bài này), đúng và chỉ thế thôi. Đó là một người có cá tính, biết bảo vệ lợi ích dân tộc Ukraina, bảo vệ ngôn ngữ của nhân dân Ukraina, phát biểu mạnh, dũng cảm bày tỏ về các vấn đề khác nhau. Điều này cũng là cái cớ để buộc tội ông theo chủ nghĩa dân tộc xếp vào hàng ngũ “kẻ thù nhân dân”.



Sau một thời gian Patozinski và Litvinchenko-Volgemut đến chỗ tôi. Tôi biết Patozinski, đúng hơn là biết ông ở chỗ Stalin, ông là ca sỹ, một con người. Họ kể rằng, trong tù người nhạc sỹ sáng tác nhạc trên theo lời thơ của Rylski về Stalin. Tất cả Ukraina hát bài này, còn ông ngồi trong tù - người theo chủ nghĩa dân tộc. Tôi ra lệnh Uspenski trình tôi lý do gì bắt nhạc sỹ. Uspenski mang tài liệu đến. Xem qua, tôi phát hiện rằng chẳng có cơ sở nào gian ông ta cả. Tôi nói Uspenski rằng ông ta đã hấp tấp khi bắt bớ. Tôi cho phải thả Patozinski ra. Tôi không nhớ, người ta thả Patozinski theo chỉ thị của tôi hoặc tôi đã báo cáo cho Stalin. Tóm lại, người ta đã thả Patozinski, và ông tiếp tục những hoạt động của mình. Sau này ông là Chủ tịch Hội nhạc sỹ Ukraina (ông mất sau chiến tranh). Cứ đến 1-5 hay lễ kỷ niệm cách mạng tháng 10 tôi nhận tôi nhận được những lời chúc mừng từ vợ và con gái. Tôi hiểu đó là sự cám ơn cứu ông khỏi tù và cái thòng lọng. Tình hình lúc đó là như thế đấy.



Người ta đã “đẩy” nhiều người tại Ukraina thành “kẻ thù”. Tchianibeda, Phó chủ tịch Hội đồng Dân uỷ tại Ukraina là con người tuyệt vời. Tôi biết ông từ khi ông là cai thợ tại Donbass và học khoá kỹ thuật ở trường trung cấp mỏ Yuzovkе. Sau đó, khi tôi là bí thư Quận uỷ Petrovsko-Marinski, thì ông làm việc cùng với tôi quản lý công nhân mỏ quặng Karpopsk (bây giờ là mỏ Petrovsk tại Voznesensk-Donesk. Tóm lại, đây là con người tốt, thẳng thắn, thậm chí từng chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân. Hiếm khi cai thợ đồng lòng với người bolsevich và tham gia trong nội chiến ở phía Hồng quân. Bỗng nhiên người ta đề nghị bắt ông và người ta đã trình này “chứng cớ”.



Khi người ta bắt phó chủ tịch thứ nhất, thì Hội đồng Dân uỷ Ukraina trở thành “trắng”: không có Chủ tịch Hội đồng dân uỷ, mà cũng chẳng còn phó chủ tịch nữa. Tôi đặt vấn đề với Stalin là phải tìm một người vào chức Chủ tịch Hội đồng dân uỷ. Từ trước, chính Stalin nói với tôi là ở Dnepropetrovsk cũng không có Ban thư ký tỉnh uỷ. Tỉnh Dnepropetrovsk lúc đó rất rộng. Chiếm gần 1/3 Ukraina. Nó gồm Dnepropetrovsk ngày nay, Zaporosk thậm chí một phần tỉnh Nikolaievsk. Stalin, hình như lo ngại về lộn xộn ở Dnepropetrovsk, sợ ngành luyện kim sa sút. Trước đây Bí thư tỉnh uỷ ở đây là Khataevich, nhưng ông bị bắt từ trước khi tôi đến. Stalin đề nghị:



- Có thể cử Korochenko xuống đó được không?



Korochenko lúc ấy là bí thư tỉnh uỷ Smolensk. Tất nhiên tôi đồng ý ngay lập tức:



- Cho tôi Korochenko!



Chúng tôi thành lập tỉnh uỷ và thành uỷ. Tôi đi khắp ngả đến từng nhà máy, thảo luận sôi nổi, làm quen với mọi người, nghiên cứu tình hình. Đi đến Zaporoz, Dneprodzerzinsk. Tại Dneprodzerzinsk tôi làm quen với tổ đảng của công nhân và kỹ sư, trong số này có Breznev. Chúng tôi đã thúc đẩy công tác đảng, lập ra sự lãnh đạo của đảng. Lúc đó xuất hiện Kornies. Ông là bí thư Quận uỷ Dnievpetrovsin. Ngoài Breznev ở Dneprodzerzinsk còn đưa thêm người nữa, Bí thư Tỉnh uỷ tuyên huấn.



Tại Donbass Bí thư tỉnh uỷ là Pramek, người Litva. Ông đến Donbass làm, hình như, ở tỉnh Gorky và được coi là bí thư tốt. Đột nhiên Stalin gọi tôi và nói tôi cần phải về gặp Stalin, vì rằng Pramek bị bắt. Tôi cũng không gặp ông ta nữa. Người ta đưa Serbakov đến đó, Serbakov trong thời gian đó là bí thư Thành uỷ Moskva. Tôi được đề nghị tiếp một người không nổi tiếng. Chàng thanh niên đẹp trai và khoẻ mạnh biết bao. Anh tự giới thiệu, nói rằng anh giáo viên, bị bắt, ngồi trong tù, vừa mới được thả, đến thẳng chỗ tôi muốn thông báo rằng người ta đánh và hành hạ anh, tìm bằng chứng Korochenko là gián điệp hoàng gia Rumani vì nơi này đang là trung tâm gián điệp chống chính quyền Xô viết, lợi cho Rumani. Tôi cám ơn anh ta về thông báo nói rằng đó là điều vu cáo, công việc của kẻ thù. Chúng tôi nhận việc này, thấy yên tâm. Về cuộc viếng thăm này, tôi thông báo bằng văn bản cho Stalin, ông nổi giận. Nhưng khi người ta gọi tôi về Moskva về vấn đề gì đó, thì tôi cũng trao đổi ý kiến. Lập tức một điều tra viên về vụ việc nghiêm trọng được cử đến (theo tôi, đồng chí Seipin, bây giờ đã khuất) để làm rõ bản chất sự kiện. Té ra là trong vụ này có 3 hoặc 5 người nào đấy can dự. Họ đã xào xáo những lời buộc tội như thế chống Korochenko. Kết thúc như vậy và người ta bắt và bắn họ.



Stalin tàn nhẫn, giết cán bộ, nhưng mặt khác - ông cũng lo sợ trong lòng! Ông thể hiện nỗi lo sợ, thật ra, bằng phương pháp hà khắc, nhưng dù sao chăng nữa đây là nỗi lo sợ để bảo vệ cán bộ. Ông không rộng lượng những nhân viên an ninh này. Điều này cũng tạo điều kiện làm tăng mối thiện cảm của tôi với Stalin. Sự tàn nhẫn và sự bất công của ông, mà chúng ta bây giờ nhìn thấy, thời đó chúng tôi không thấy được. Ngược lại, những sự xấu xa của ông lại được coi là tính cương quyền và kiên định trong cuộc đấu tranh vì tổ quốc Xô viết, vì sự vững mạnh của nó chống lại kẻ thù. Về sau này Stalin rất hay trở lại trường hợp Korochenko. Lúc vui vẻ, ngồi ở bàn vài giờ liền ông thường nhớ lại:



- Chà, samurai thế nào?



Ông không gọi là Korochenko mà là samurai. Tại Đại hội 18 những đại biểu phát biểu thỉnh thoảng kết thúc bài nói của mình bằng một lời doạ chống Nhật bản: Đấy, samurai thế đấy! Korochenko rất cẩu thả trong những lời. Ông quên họ tên cả người thân, lẩn thẩn. Chữ Samurai với ông là không gẫy gọn, và vì thế ông kết thúc bài nói của mình như thế này:



- Chúng tôi sẽ cho những Samurai này chiếc ngòi bút!



“Samura” vẫn như thế. Stalin, nói một cách khác đi, cũng không gọi nữa cho đến lúc chết.



Tôi được Stalin gọi đến:



- Này, chỗ ấy samura thế nào?



Tôi trả lời:



- Vâng, Samura bị liên quan với hoàng gia Rumani.



Stalin đùa:



- Hay là với hoàng hậu? Hoàng hậu bao tuổi nhỉ?



Tôi trả lời:



- Vua hãy vị thành niên, nhưng còn thái hậu. Ông ta liên quan tới thái hậu.



Điều này làm cho chuyện buồn cười hơn. Tất nhiên đó là chuyện đùa rơi nước mắt, nếu nhớ lại tình hình lúc ấy. Chính người buộc tội Korochenko, xét ra, là những người ít học, nhưng họ được đào tạo để tìm kiếm kẻ thù nhân dân. Thế là họ tưởng tượng, thanh lọc, tìm kiếm, bắt bớ. Việc cộng tác với Rumani vì sao được nhắc đến? Khu vực này nằm ở Vinius giáp giới Bassarabia. Cheka phải làm việc chống tình báo Rumani. Có ai đó trong số Cheka nảy sinh ý nghĩ buộc cho một người nào đấy làm trùm gián điệp - ai thế? Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina Korochenko. Tôi giả thiết rằng chỉ riêng tình tiết này, Stalin biết Korochenko và cũng biết rằng Korochenko không có khả năng phản bội, đã cứu. Nếu như không có điều ấy, thì kết quả đối với Korochenko không biết ra sao?



Tại Ukraina, tất cả hàng ngũ cao cấp, trong một số bậc, lãnh đạo công nhân đã bị giết. Đôi lần người thay cán bộ và mới đây lại bắt và giết. Trí thức Ukraina, đặc biệt là nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sỹ và bác sỹ, cũng bị theo dõi, bị bắt và trấn áp. Thậm chí cả nhà thơ nổi tiếng nhà hoạt động chính trị, như Mikola Platonovich Bazan, người mà sau này trở thành đảng viên, một người trung thực, dễ mến, trung thành với tổ quốc Xô viết và ĐCS, cũng bị công kích, đòi hỏi những luận chứng đặc biệt để không bắt giam ông. Còn Petro Panch? Cũng là một nhà văn lớn của Ukraina. Tôi không biết ông bảo vệ mình như thế nào. Người ta đã theo dõi ông và hơn nữa tố giác nhà văn, cùng với những người mà ông làm việc. Đáng tiếc, ông ta có phần nghiện rượu. Những bộ mặt này khiêu khích ông tại một cuộc hội nói chuyện nào đó, còn sau đó mọi việc được chuyển đi, được xào xáo, và thế là những giấy tờ bắt giam đã sẵn sàng.



Một số bộ mặt đơn thuần là những tên bịp bợm, được tuyển chọn bởi chuyên môn phanh phui kẻ thù nhân dân. Họ khủng bố tất cả mọi người, láo xược tuyên bố công khai: “Người này - kẻ thù nhân dân”. Buộc tội này cho một người, lôi cuốn sự chú ý, các cơ quan NKVD bắt đầu vào việc. Điều tra, tất nhiên, được làm bí mật, gán cho người này cái mác tình báo, sau đó chứng minh rằng quả thật đây là “kẻ thù nhân dân”. Tôi nhớ, có một tên vô lại như thế (quên họ tên của nó), thủ trưởng cơ quan “Năng lượng Kiev” (Uỷ ban năng lượng Kiev), hắn đi khắp nơi buộc tội mọi người theo lần lượt; ai cũng run sợ trước hắn. Tại cuộc họp Đảng uỷ thành uỷ, hắn buộc tội Serdiuk, bí thư thứ hai thành uỷ. Tại phiên họp sau tôi buộc phải chủ toạ phân tích điều buộc tội này. Những số liệu, để buộc tội những người trung thực, không tồn tại. Nhưng hắn khẳng định rằng kẻ thù nhân dân cũng ngồi ở đây. Bấy giờ thì chẳng cần chứng cớ, bằng chứng nào hết. Khá đủ cho bọn lưu manh hư hỏng.



Người ta kể cho tôi nghe một trường hợp khác. Bác sỹ Medved là một chính khách Ukraina. Sau chiến tranh ông làm việc tại Bộ ngoại giao, là thành viên Đoàn đại biểu Ukraina do Dmitro Zakharovich Manuilsski dẫn đầu tới Liên hợp quốc. Tại đó ông giới thiệu tốt về Ukraina. Ông nói:



- Gầm lên, gầm lên con gấu Ukraina.



Quả thật ông ta cũng có giọng “gấu”, và tính khá lỳ. Nghe kể (trước đây, hình như, ông là phó lãnh đạo một cơ quan y tế ở Kiev, hay là Kharkov) trong một hội nghị đảng, một phụ nữ nào đấy bước lên và nói, chỉ vào ông:



- Tôi không biết con người này, nhưng theo mắt tôi nhìn, thì ông là “kẻ thù nhân dân”.



Các bạn có thể hình dung được không? Nhưng Medved (như người ta nói, ông cũng là một con gấu) không lúng túng và nói:



- Tôi không biết bà này, người vừa phát biểu chống tôi mà lần đầu nhìn thấy, tôi không biết bà, nhưng theo mắt tôi thấy thì bà là một con đĩ.



Chỉ ông mới có từ ngữ truyền cảm hơn. Sau đó chuyện này trở thành tiếu lâm truyền miệng khắp Ukraina. Điều này cũng cứu Medved. Giả như Medved chứng minh rằng ông không phải lạc đà, không phải kẻ thù nhân dân, mà là một người trung thực, thì có thể làm cho người ta nghi ngờ mình. Coi đây là lời tuyên bố điên rồ, thú tội, tuy nhiên, cô ta không phản công câu nói của ông, ngược lại, còn cổ vũ. Lúc ấy tình hình khủng khiếp như vậy.



Quay lại việc tôi trở về Ukraina. Kosior ra đi. Người ta đưa ông đi cũng tương đối êm. Không phải thế, tất nhiên, phải đi kèm Kosior từ Ukraina, ông từng bao năm trong đảng bộ bao năm xây dựng đảng bộ Ukraina. Kaganovich kể cho tôi từ trước khi tôi về Ukraina rằng có một lần Kosior cho ông tiếp xúc với công tác đảng, bằng cách đọc bài giảng về chính trị kinh tế học trên đồi Vladimir ở Kiev:



- Chúng tôi đi dạo hiện lên cảnh đẹp bờ trái sông Dnepr, và tôi nghe ông ta. Thực tế đây là một bài học. Trong lúc đi dạo, Kosior đọc bài về chính trị kinh tế học.



Grigori Ivanovich Petrovski về tinh thần cảm thấy ở Ukraina rất chán. Tôi đã nghe nhiều về Petrovsk từ trước cách mạng. Chính Petrovski được bầu vào nghị viện từ tỉnh Ekaterinoslav. Bầu cho ông là công nhân Donbass Ekaterinoslav. Có lần trước cách mạng tôi được mời đến cuộc mit tinh chủ nhật tại một cái thung lũng thảo nguyên, ở đó Petrovski phát biểu. Tôi đến, mit tinh bắt đầu. Cảnh sát đánh hơi thấy ông ta, thế là không xong. Tại Donbass rất nhiều việc gắn tới tên Petrovski. Những mỏ, nơi tôi từng bí thư Quận uỷ năm 1925-1926, giờ gọi là mỏ Petrovski. Các mỏ bây giờ được gọi như thế. Chính trong vùng các mỏ này có những cuộc mit tinh... Grigori Ivanovich gần 60 tuổi. Có nhiều ý kiến phức tạp cho là ông không theo đường lối chung của đảng, vì thế có thái độ thận trọng đối với ông, tôi cũng thận trọng như thế. Sự thận trọng này tôi học từ Stalin. Tôi nói với Stalin rằng Grigori Ivanovich gần 60 tuổi, có phải khen thưởng, vì thế tôi muốn hỏi làm thế nào? Stalin nhìn tôi:



- 60 tuổi? Tốt. Làm bữa ăn mừng ông ấy tại gia đình. Mời ông cùng vợ con và người thân của ông ấy, chỉ thế thôi, không thêm ai.



Tôi cũng làm như thế. Trước đó Grigori Ivanovich gặp cảnh đau lòng trong gia đình: con trai ông bị bắt. Tôi biết con trai. Anh ta là tư lệnh sư đoàn vô sản Moskva. Khi công tác ở Moskva, tôi đã đến dự ngày lễ sư đoàn này trong trại hè. Lonid Petrovski khi đó được coi là một tư lệnh tốt. Anh con rể của Grigori Ivanovich (con trai Kosiubinski) cũng bị bắt và bị bắn. Con gái ông (vợ Kosiubinski) sống với Grigori Ivanovich. Bạn có thể tự hình dung tình hình trong gia đình phức tạp thế nào, Grigori Ivanovich mặc cảm thế nào và cư xử thế nào với ông: con trai ngồi tù, con rể bị bắn.



Bữa ăn được làm ở nhà nghỉ cuối tuần. Grigori Ivanovich được mời. Tham dự có gia đình tôi, gia đình ông, ăn uống, nhạc... chúc sức khoẻ ông. Grigori Ivanovich, tất nhiên, trông rất chua xót, cả tôi cũng không vui gì. Mọi việc xảy ra tương đối hình thức, căng thẳng, Grigori Ivanovich cáo từ rất nhanh và đi khỏi. Nhà nghỉ của chúng tôi ở bên cạnh, chỉ dăm bước chân từ nhà này sang nhà kia.



Sau này Stalin kể là Grigori Ivanovich được mời về Moskva. Sau đó, một nhân viên Cheka thuật lại cho tôi rằng suốt trên đường đi ông khá lo lắng, đặc biệt khi về Moskva, hình như chờ đợi bị bắt. Điều này có thể dám lắm. Stalin có thể làm mọi chuyện



Chúng tôi bây giờ đưa ra những người khác. Nhưng những người mà chúng tôi đưa ra lại không có thâm niên trước cách mạng, không có nguồn gốc, tông tích nếu nói về hoạt động cách mạng. Các đồng chí này phần đông là quân nhân. Vả lại, lúc đó đưa ra tất cả như thế.



Lại kể về đảng bộ Kiev. Bí thư thứ hai tỉnh uỷ Kiev lúc đó là Kostenko. Ông công tác ở chỗ tôi thời gian rất ngắn, ngắn chẳng bao lâu bị bắt. Tôi ngạc nhiên: người thẳng thắn, xuất thân nông dân, nông trang viên, sao lại liệt ông ta vào hàng ngũ với kẻ thù Liên Xô? Tôi không thể hiểu điều này và quyết định nói chuyện với ông ta. Tôi đến NKVD. Ông được dẫn từ phòng giam. Tôi hỏi ông, còn ông thì luôn xác nhận:



- Những người như thế... như thế... đã cộng tác với tôi trong việc này.



Tôi hỏi ông:



- Còn ai nữa?



- Chẳng còn ai nữa!



Vậy, cũng tốt, tôi cũng vui lòng là ở đâu đó đã nhìn thấy điểm cuối. Ông quả thật kẻ thù nhân dân, tôi không còn nghi ngờ, vì rằng ông bình tĩnh xác nhận điều này. Dân uỷ nội vụ nói rằng ông ta sẽ bị kết án tử hình.



Trong thời gian ấy xảy ra một trường hợp, trước khi bị bắn người ta bất thình lình chỉ ra những nhân vật khác và như thế tạo ra một chuỗi bất tận kẻ thù. Tôi nói:



- Nếu Kostenko còn chỉ ra một người nào đó, thì tôi đề nghị không bắn, để việc này lại xem xét.



Thời gian trôi qua, Uspenski trình tôi là Kostenko đã bị bắn, nhưng trước khi chết, ông còn nhớ ra Cherepin, từng là Bí thư thứ hai đảng bộ vùng Kiev. Một con người tốt như thế, hiểu rõ công việc của mình, lại là nông nghiệp, gần gũi nông dân. Vả lại, không cần phải làm cho Cherepin thích ứng, vì rằng bản thân ông đã là nông dân.



- Tại sao - tôi hỏi - Các đồng chí đã làm như thế phải không? Tôi từng yêu cầu các đã bảo lưu ông ta để có thể đối chứng với ông ta. Tôi ngờ rằng Cherepin có thể can dự âm mưu nào đó. Còn bây giờ tôi không thể biết một điều gì nữa, vì rằng người khai ra ông ta đã chết. Làm sao có thể kiểm tra?



Tôi gọi Malenkov:



- Đồng chí Malenkov, người ta đưa bằng chứng về Cherepin, nhưng tôi không tin, không thể có điều này được.



- Ừ, anh không tin, cứ để cho người ta làm việc.



Thời ấy, đó là sự ủng hộ to lớn từ phía BCHTƯ đứng đầu là Malenkov: ông giữ ghế “Ban tổ chức”. Hai ba ngày sau, ông gọi cho tôi:



- Anh biết, có thể là thế, tốt nhất đưa Cherepin này đến chỗ khác? Ai biết ông ta? Có thể là tất cả... Có khả năng là ông ta quả thật bị lôi kéo?



Làm gì được gì nữa? Người ta chuyển ông. Tôi đưa ra phó Dân uỷ ông phụ trách nông nghiệp, chăn nuôi ra thay. Một bí thư tỉnh uỷ mới được đưa đến. Tôi đề nghị chia Ukraina thành từng vùng lớn hơn giảm bớt bao trùm công việc lãnh đạo. Chúng tôi chia vùng Sumskaia. Tôi gọi cho Malenkov:



- Dù sao chăng nữa tôi cho rằng chúng tôi hiểu đúng Cherepin, ông là một người trung thực. Tôi đề nghị đưa Cherepin làm Bí thư tỉnh uỷ Sumskaia.



Malenkov đồng ý, và Cherepin làm việc ở đó đến khi chiến tranh. Khi bắt đầu chiến tranh, chúng tôi điều động cán bộ vào các hội đồng quân sự liên quân. Tôi bổ nhiệm Cherepin làm uỷ viên một hội đồng quân sự, hoạt động ở Odessa.



Chiến tranh mở đầu với Hồng quân rất dở. Tôi biết Cherepin chết khi rút lui. Người chỉ huy bị giết hoặc bị bắn, còn Cherepin mất tích. Tôi cho rằng ông cũng bị giết. Ông là tướng, trong quân phục, và quân Đức biết rằng ông là người chỉ huy. Để nâng cao tinh thần quân đội của mình họ đã chôn theo nghi lễ kẻ thù của mình - các vị tướng của chúng ta. Vị tướng cũng được chôn danh dự, Cherepin mất tích. Ông kết thúc cuộc sống của mình như một người con trung thành của ĐCS, của nhân dân, của tổ quốc. Còn bao nhiêu người như thế nữa? Hàng nghìn, hàng nghìn!



Đúng, chính hàng nghìn những người vô tội đã bị bắt trong những năm đó, cả những đảng viên, những đảng viên dự bị, cả đoàn viên thanh niên. Nói riêng, tất cả giới lãnh đạo cao cấp đất nước. Tôi nghĩ rằng giới lãnh đạo này cũng bị bắt và chết chừng ba thế hệ lãnh đạo nếu không phải là hơn! Sự lãnh đạo bị tê liệt, không thể điều động được ai cả nếu thiếu sự chuẩn y từ phía NKVD. Nếu NKVD đánh giá người này người nọ là tốt, thì người đó được điều động, và chỉ có người này được điều động. Nhưng ngay cả sự chuẩn y của NKVD cũng không đem lại một đảm bảo nào cả. Xảy ra trường hợp, khi bổ nhiệm một người, chính xác sau một vài ngày người ấy lại bị bắt giam. Ở đây cũng có những lời giải thích: xuất hiện những cuộc hỏi cung thêm kẻ thù nhân dân, người này cho thêm nhiều bằng chứng vạch ra người khác, người đã giấu mặt khá kỹ và không bị vạch mặt kịp thời, được điều động vào lãnh đạo. Sau đó té ra là người ấy cũng nằm trong âm mưu và cũng là kẻ thù nhân dân. Tất nhiên đây là lời giải thích khuôn mẫu, nhưng nó có logic của nó, vì rằng quả là một người bị bắt nào đó đã khai ra những bằng chứng. Còn những bằng chứng tiếp theo cũng một người nào đó trước đây đã khai ra bằng chứng. Và như thế hình thành một chuỗi khép kín vô đạo đức của lãnh đạo, dựa trên sự tự tiêu diệt mình. Nó là như thế. Hôm nay người đại diện một đảng bộ nào đấy vạch mặt những người bị bắt sớm hơn, thì ngày mai cả bản thân nó cũng không còn, điều này cũng có lời giải thích, dường như, anh ta hăng hái vạch mặt, vì rằng chính anh ta cũng can dự và che dấu sự thật. Lời giải thích với các bạn như vậy!



Một thí dụ rõ ràng hơn là vụ Furze. Furze làm việc ở Ukraina năm 1920. Lúc đó tôi còn chưa biết ông, vì rằng ông là người thủ đô, thành phố, làm việc lúc thì Kiev, lúc thì Odessa, Kharkov, bây giờ thậm chí tôi không biết chính xác. Nhưng là một họ lớn. Một họ lừng danh, khi tôi làm việc ở Moskva thập niên 1930. Ông là nhà tổ chức rất tốt, nhà tuyên truyền giỏi và nhà quảng cáo cừ biết đưa số liệu, biết làm tốt quảng cáo. Thế, ông “phù phép” và chuẩn bị cất nhắc Nikita Izotov. Tôi nói rằng Furze “sinh ra” Izotov, Stakhanov. Ông tổ chức và tự tay mình “phù phép” chiến sĩ thi đua Izotov của mỏ, tổ chức in ấn và chiếu phim. Tóm lại, làm một quảng cáo lớn, và Izotov quả là trở thành anh hùng. Từ đó, đi đến một sự tuyên truyền đặc biệt của những thành tín như vậy. Thế là xuất hiện một người kế tục Izotov.



Có lần, tôi nhớ, Kaganovich hỏi tôi:



- Anh biết Furze chứ?



- Tôi biết trên mặt báo thôi, còn trong cuộc sống tôi chưa gặp ông ta.



- Tôi biết rằng đó là một người rất có khả năng. Giá như nhận anh ta về chỗ chúng ta ở Moskva.



- Tôi không biết nhận ông ta như thế nào, nhưng nếu có thể, thì cũng được. Đó là một người hữu ích cho công tác Đảng bộ Moskva.



Kaganovich khi ấy là bí thư BCHTƯ Đảng, thành ra đối với ông không khó khai thác những điều mong muốn. Tôi không biết, vì sao ông lại hỏi ý kiến tôi. Hình như muốn chuẩn bị tôi hiểu đúng sự bổ nhiệm. Và Fuzer chuyển về làm việc về Moskva, đảm nhận bộ phận dân vận, triển khai tốt và tôi hài lòng. Uy tín của ông trong thành uỷ và BCHTƯ là cao. Tôi nhớ, Molotov gọi tôi và hỏi:



- Anh thấy thế nào, nếu chúng tôi lấy Furze của các anh? Chúng tôi muốn bổ nhiệm ông ta lãnh đạo đài phát thanh.



Tôi trả lời:



- Tất nhiên Furze, hình như sẽ làm tốt việc đó, tôi chỉ tha thiết yêu cầu đừng lấy ông ta đi, vì rằng ở chỗ tôi ta làm việc vui vẻ và sống động. Đối với Thành uỷ Moskva đây là một mất mát lớn.



Molotov ngừng câu chuyện, nhưng tôi nghĩ, ông không đồng ý với tôi. Quả thực ông nghĩ nếu xuất hiện một cán bộ tốt, thì phải phải điều lên một chỗ cao hơn chỗ trước. Chúng tôi chuẩn bị họp. Furze đề nghị cho ông ta hai ba ngày chuẩn bị. Ông muốn ra ngoại thành, về nhà nghỉ ở gần hồ Khimki. Stalin và Molotov trong thời gian ấy không có mặt ở Moskva, họ nghỉ ở Sochi. Ở Moskva còn Kaganovich và Sergo Ordzonikidze. Tôi biết chính xác điều này, vì khi tôi rẽ đến Kaganovich, thường gặp Sergo ở đó. Họ thay thảo luận về các vấn đề khác nhau, chuẩn bị báo cáo cho Stalin. Trong thời gian ấy có vụ án không phải với Zinovev, cũng không phải Rykov, không phải một nhóm nào khác, mà tôi đến chỗ Kaganovich. Có Sergo ở đó, và tôi phải chờ ở phòng đợi cùng với Demian Bednyi. Kaganovich biết tôi đến, lập tức ra đón và dẫn vào buồng trong. Tôi đi theo. Demian Bednyi cũng đi cùng tôi. Ông được trao nhiệm vụ phát biểu chống lại một nhóm chống đảng, ông phải làm thơ và ngụ ngôn chế giễu và lên án họ. Buổi họp cũng như mọi lần. Ông đưa phương án một, sau đó phương án thứ hai, nhưng tất cả mọi người không chấp nhận. Còn phương án, mà ông mang đến khi đi cùng tôi, cũng không được chấp nhận, theo cách nghĩ của Kaganovich và Sergo. Người ta nhẹ nhàng phê bình ông ta. Demian, một người to lớn, béo ục ịch, bắt đầu giải thích vì sao không làm được:



- Không thể, tôi không thể. Tôi cố gắng hết sức, nhưng không thể, tôi tựa như cái giẻ rách, khi tôi bắt đầu nghĩ về chúng. Tôi không có năng lực sáng tạo.



Tôi kinh ngạc bởi quá cởi mở của ông. Demian Bednyi ra về. Tôi không nhớ Sergo Kaganovich phản ứng ra sao, hình như, ông chán ngán vì sự thú nhận thẳng thắn như thế. Điều này nghĩa là ông ta có sự thông cảm nào đấy với những nhân viên của mình. Đương nhiên, tôi không ở vị trí Demian Bednyi, vì tôi tin BCHTƯ Đảng và của Stalin không có lỗi.



Trở lại với Furze. Bất ngờ tôi nhận tin ông tự sát bằng súng. Tôi ngạc nhiên. Làm sao con người yêu đời, sôi nổi, trẻ khoẻ, lại bỗng tự sát? Lập tức người ta nhặt xác và giấy tờ mà ông phải chuẩn bị. Phát hiện những bức thư dài dòng văn tự, gửi cho cho Stalin và các uỷ viên Bộ chính trị. Việc bắt Livsis xảy ra trước vụ ông tự sát. Livsis là phó Dân uỷ giao thông liên lạc. Đó là người hết sức sôi nổi, một nhân viên Cheka trong thời gian nội chiến. Tôi không biết ông ta thời kỳ ấy, nhưng theo người ta nói, ông ta nổi tiếng là một cán bộ rất năng nổ. Từng có lúc ông đã ủng hộ Troski, nhưng những năm là phó Dân uỷ, thì ông đứng về phía đảng. Vấn đề chủ nghĩa Troski đi kèm với những khung cảnh và không là đối tượng tranh cãi, cái này, nói chung, là một thời kỳ của cuộc đời Livsis, bị phán xét và ghi vào sổ đen. Nhưng chứng tích này treo trên đầu Livsis, Ông là người bạn lớn của Furze. Sau đó người ta lại bắt một người nào đấy, cũng là người trong nhóm, gần gũi với Furze và Livsis.



Thư của Furze chủ yếu minh oan cho Livsis. Hình như tài liệu này được giữ ở lưu trữ. Tác giả rất đề cao Livsis, rằng đây là một người trung thực, vững tin vào đảng, không phải Troskit. Tóm lại, hình thức lịch thiệp, không thoá mạ (vì viết cho Stalin) ông muốn tác động đến Stalin để Stalin thay đổi quan điểm của mình ngừng các vụ bắt bớ hàng loạt. Furze cho rằng những người Cheka đang bắt bớ. Tác giả kết thúc bằng cách tự sát, vì không thể cam chịu với bắt bớ và tử hình những người vô tội. Ông nói nồng nàn về Stalin. Nói chung trong thư, ông gọi tất cả uỷ viên Bộ chính trị là những người ít nhiều có tính nịnh bợ.



Tôi mang thư này cho Kaganovich. Kaganovich đọc to thư cho tôi nghe. Ông khóc nức nở khi đọc. Phải một lúc lâu tôi mới bình tâm lại. Cái gì thế, Furze tự sát? Hình như Kaganovich quả là rất trọng Furze. Lúc ấy Kaganovich nói với tôi:



- Anh hãy viết một bức thư ngắn cho Stalin phân phát nó cho tất cả uỷ viên Bộ chính trị.



Tôi làm đúng như vậy. Dù trong vụ tự sát, Đảng né tránh chôn cất. Chôn cất Furze chính chúng tôi, Đảng bộ, và cả Uỷ ban Moskva.



Sau một thời gian, gần mùa thu. Stalin, sau khi nghỉ, quay về Moskva. Ông gọi tôi đến. Tôi đến, hoàn toàn không có gì ngờ vực cả. Stalin nói:



- Furze tự sát, một người hư hỏng!



Tôi kinh ngạc vì rằng cho rằng Kaganovich ở mức độ nào đấy phản ánh sự đánh giá của Stalin. Kaganovich khóc nức nở khi đọc thư, thì bỗng nhiên quay ngoắt lại:



- Anh ta vơ vào mình sự dũng cảm, gán cho uỷ viên Bộ chính trị những tính cách, đã viết tất cả những lời thoá mạ nhằm vào uỷ viên Bộ chính trị. Điều này anh ta là một thằng giả dối. Anh ta là Troskit cả người đồng chí hướng với anh ta Livsis. Tôi kêu gọi đồng chí hãy nói về điều này. Anh ta không phải là một người trung thực, không cần thương tiếc anh ta.



Tôi rất đau khổ sau đó, tôi tin Fuzer và cho rằng đây là bức thư chân thật, một người được giải tội trước khi chết. Ông không nói gì xấu về Đảng, về lãnh đạo, chỉ viết cái gì Livsis và những người khác, người mà ông ta biết - những người tự trọng. Bằng cái chết của mình ông muốn thu hút sự chú ý của Đảng đối với sự thật là đang bị giết chết những người tự trọng và trung thành. Đối với tôi, đây là đòn mạnh. Kaganovich sau này không quay lại chuyện Furze. Trí nhớ ông bị kém. Kaganovich, hình như sợ rằng tôi có thể lúc nào đấy nói cho Stalin biết ông đã khóc như thế nào. Nói riêng, ông cũng gợi ý phát tán tài liệu này cho các uỷ viên Bộ chính trị và cho Stalin.



Bây giờ tôi nói vài lời về bản án công khai với Rykov, Bukharin, Yagoda, Zinovev, Kamenov. Tôi chỉ nhớ lờ mờ. Tôi có mặt tại những phiên toà này tất cả một hoặc hai lần. Một trong những các buổi xử ở phòng nhỏ nhà Liên bang. Người buộc tội là công tố viên Vysinski. Tôi không biết, cụ thể ai là người bào chữa, nhưng họ có mặt. Ở đó có cả đại diện các đảng anh em và thậm chí, hình như, cả đại diện báo chí các nước tư sản, nhưng tôi không dám chắc. Đúng, theo trí nhớ của tôi, và cũng chẳng đến nỗi quan trọng, vì nó được viết và in cả ở nước ngoài. Tôi nghe những cuộc hỏi cung những bị cáo, đã kinh ngạc và căm phẫn, những người cấp cao như thế, những lãnh tụ, uỷ viên Bộ chính trị, những người bolsevich có thâm niên cách mạng, lại liên quan với tình báo nước ngoài và tự cho phép tác động làm hại đất nước. Tôi muốn kể bản thân tôi đã hấp thụ những lời thú nhận của các bị cáo trong thời gian ấy. Người ta buộc tội Yagoda tiến hành từng bước để Macxim Gorky nhanh chết, những chứng cớ là: Gorky thích ngồi sưởi, họ thường qua lại thămn nhau. Yagoda chở đến nhiều củi nhằm làm cho Gorky bị cảm lạnh, chính điều này gây ra bệnh và giảm thọ Gorky. Tôi cũng khó hiểu điều này. Tôi cũng thích sưởi bằng củi và nói chung cũng thích. Một người khoẻ mạnh tự điều chỉnh củi. Không thể đưa Gorky vào đống củi hoặc nướng ông. Người ta đồn rằng, người ta làm cho Macxim Peskov, con trai Gorky, chết và sau đó cả Gorky cũng chết, còn Yagoda có vai trò nào đó trong vụ này.



Theo bản chất của vụ việc, tôi khó nói điều gì. Tôi chỉ thương tiếc cái chết Gorky, tôi đã nghe chứng cớ dẫn ra với chút phê phán. Yagoda không công nhận đốt những đống củi to nhằm mục đích này. Tôi nhớ công tố viên hỏi Yagoda:



- Ông và con dâu Gorky có những quan hệ nào không?



Yagoda bình tĩnh trả lời:



- Tôi đề nghị không đặt ra những câu hỏi như thế tôi không muốn làm đau lòng tên người phụ nữ này.



Công tố viên không đòi trả lời, sau đó vấn đề này đã kết thúc.



Rõ rằng, các bản án được thực hoàn thành - những bản án cũng lạ lùng. Tất cả những người này đều bị tử hình, bị giết như là kẻ thù nhân dân. Như thế cho đến bây giờ họ vẫn còn kẻ thù nhân dân. Nói thế, vì rằng sau Đại hội 20 chúng tôi minh oan hầu hết những người vô tội, nhưng còn những người bị xử công khai, chúng tôi không minh oan, nhưng không phải vì rằng có chứng cớ đúng. Thời ấy tình hình đã thay đổi. Tôi hỏi công tố viên:



- Đúng là có chứng cớ thật của những bị cáo không?



Chẳng có bằng chứng nào cả! Theo tài liệu, đã được thổi phồng trong vụ này, nói riêng, họ không đáng bị buộc tội, ngay cả việc bắt giam nữa. Công tố viên Rudenko báo cáo như thế cho uỷ viên Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng thập niên 1950.



Vì sao không minh oan cho họ? Chỉ vì sau Đại hội 20, khi chúng tôi minh oan nhiều người bị bắt oan, nhiều người trong và ngoài nước phản ứng dữ dội. Những người lãnh đạo đảng anh em cũng lo ngại, vì sự kiện này làm lung lay đảng của họ. Phản ứng dữ dội bản án này là Đảng cộng sản Ý và Pháp. Trong bản án này, theo tôi, có mặt Moris Torez, Palmiro Toliatti và những người lãnh đạo ĐCS khác. Chính họ đã mắt thấy tai nghe, tay “sờ thấy” và đã hoàn toàn tin vào cơ sở buộc tội. Bị cáo tự thú nhận tội, vụ án đã rõ, và họ đã tin như thế khi về nước, mặc dù thời đó ở phương Tây, và cả ở Liên Xô những bản án này được bàn cãi rất mạnh. Kẻ thù của chúng ta sử dụng chúng tuyên truyền chống ĐCS, chống hệ tư tưởng, chống hệ thống xô viết. Các ĐCS bảo vệ, chứng minh tính hợp pháp, cơ sở của bản án, tất cả đều có cơ sở, tất cả được chứng minh bằng những chứng cớ và những lời thú nhận của chính những người bị kết án.



Toliatti (ĐCS Ý) và Torez (ĐCS Pháp) đã hỏi chúng tôi, và tuyên bố rằng nếu minh oan cho những bị cáo trong những bản án này, những bản án tiến hành công khai, thì sẽ tạo gây ra sự mất lòng tin đối với các đảng anh em, đặc biệt đối với những đại diện của các các Đảng mặt trong phiên toà. Là những người chứng kiến, họ đã báo cáo cho đảng mình và chứng minh rằng những bản án dựa trên cơ sở những chứng cớ vững chắc và theo đúng luật pháp. Chúng tôi thoả thuận sẽ không minh oan cho họ, nhưng sẽ chuẩn bị mọi việc cần thiết để làm điều này.



Cứ để công tố viên luận tội, chúng tôi xử kín, vì những người này cũng là nạn nhân sự chuyên quyền. Chúng tôi không công bố quyết định của mình, như người ta nói, để vì lợi ích của đảng, của hệ tư tưởng, sự nghiệp chung. Chúng tôi không muốn họ công nhận những chứng cớ vô căn cứ của bản án này để kẻ thù sử dụng chống đảng anh em, chống những người lãnh đạo của họ là Moris Torez, Palmiro Toliatti những người khác, những người những người Macxit-Leninit thực sự, đã cống hiến sức lực của mình cho sự nghiệp công nhân.



Chúng tôi không đề cập cái chết của Troski. Chúng tôi không vén bức màn này và thậm chí không muốn điều này. Chúng tôi đấu tranh với Troski về hệ tư tưởng, đã kết án ông ta, nhưng vẫn còn những kẻ đối địch hệ tư tưởng và quan điểm của ông. Troski gây thiệt hại không nhỏ cho phong trào cách mạng, hơn nữa ông ta lại chết không phải trên đất Liên Xô, chết không để lại vết tích gì.



Tôi nói ở đây chỉ vấn đề của những người kiểu Zinovev, Bukharin, Rykov, Lominadze và những người khác. Lominadze tự sát. Nhiều người có thâm niên trước cách mạng khi đó cũng chết, gần như tất cả lãnh đạo Đảng. Người ta có thể nói với tôi:



- Anh, bảo là, anh nói rằng người ta không công bố những cùng cớ, những vụ án công khai cũng vô căn cứ, vì rằng không có bằng chứng bằng tư liệu? Nói chung vụ việc với Troski thì sao?



Tôi xem rằng đấu tranh với Troski là đúng, vì rằng có sự bất đồng hệ tư tưởng, có những quan điểm khác nhau trong việc xây dựng CNXH, sự bất đồng với cánh Zinovev và với phái hữu. Tôi giả thiết rằng chúng tôi, là BCHTƯ Đảng và Stalin, lãnh tụ của chúng tôi, đấu tranh đúng đắn theo cách thức của Đảng bằng thảo luận, bằng tranh cãi vấn đề, bỏ phiếu trong các tổ chức Đảng. Lúc ấy chúng tôi sử dụng chính phương pháp Đảng, phương pháp Lenin. Có thể mặt này mặt kia có những chỗ chưa đúng thái quá, ấy là tôi giả định thế. Nhưng chủ yếu, cuộc đấu tranh tiến hành đúng trên cơ sở dân chủ. Không cần phải phân tích nữa. Lúc ấy có chuyên quyền, lạm dụng quyền lực. Điều này được xác nhận trong đề nghị của Lenin rằng Stalin có khả năng lạm dụng quyền và vì thế không thể để Stalin ở vị trí Tổng bí thư. Điều này đã chứng minh sự đúng đắn của Lenin.



Mặt khác, nếu như chúng tôi công bố những tư liệu đúng về vụ án công khai, té ra đó là bản chất trừu tượng: tất nhiên phải nói sự thật không úp mở điều này, sẽ mang lại thiệt hại thế nào cho phong trào cộng sản. Chính là không quay về những việc đã làm. Nếu nói, ai có lợi, thì chỉ có kẻ thù chúng ta, kẻ thù của CNXH, kẻ thù giai cấp công nhân. Còn chúng tôi không muốn điều này, vì rằng không xử sự như thế. Những vấn đề chính chúng tôi không ngại đưa ra tại Đại hội 20, công bố quyết định chính và nói cho nhân dân, Đảng những người cộng sản anh em tất cả những gì cần nói, để phục hồi danh dự và minh oan những người vô tội giết hại do lỗi của Stalin.



Đúng, chẳng tính đến hậu quả, chúng tôi không muốn làm điều này, khi những tư liệu đó quay ra chống lại phong trào cách mạng, chống hệ thống xô viết, chống Đảng ta, chống phong trào công nhân. Tôi cho rằng chúng tôi đúng lập luận. Chúng tôi nghĩ rằng thời gian nào dó qua đi, tất cả những người đang sống sẽ sang thế giới khác, vậy những tư liệu này phải được được công bố, phải là minh oan cho tất cả những người này, vì đây là những người trung thành và rất quý giá đối với Liên Xô, đơn thuần là cái nhìn như vậy. Lenin nhận xét rất hài lòng nhiều người trong số họ, mặc dù thỉnh thoảng cũng phê bình họ. Để chứng tỏ việc trấn áp họ là đúng, một ai đấy bấy giờ theo giọng phê bình từ phía Lenin nhằm vào một nhà hoạt động nào đấy và hoàn toàn lờ đi những việc làm tốt của họ và những những nhận xét hài lòng của Lenin về họ. Chẳng hạn, Bukharin - đây quả là một người yêu Đảng. Thế hệ tôi được nuôi dưỡng theo “ABC chủ nghĩa cộng sản”, do Bukharin viết theo chỉ thị BCHTƯ Đảng. Đó là gần như là một tài liệu chính thức, mà qua nó công nhân nghiên cứu những điều cơ bản của chủ nghĩa cộng sản. Cuốn sách cũng có tên như thế. Tôi còn chưa nói là trong suốt bao nhiêu năm, Bukharin là chủ bút “Sự Thật”. Đó là chủ bút đích thực, một một nhà tư tưởng. Lời phát biểu của ông: báo cáo miệng, và bài giảng, lời phát biểu và sách báo chống bọn Troskit và những kẻ thù khác của Đảng đã đem lại đóng góp rất lớn cho chiến thắng trong nội bộ Đảng. Nhưng sau đó những kẻ thù của ông đã tạo ra một tên gián điệp nào đấy, chứng minh rằng ông là kẻ bán nước. Bây giờ đó là chuyện cho trẻ con, nhưng về nguyên tắc - đó là điều vu cáo, có căn cứ.



Xuất phát từ những điều này, Chúng tôi thoả thuận trong Đoàn chủ tịch BCHTƯ Đảng khả năng xem xét những việc đã nhắc. Tôi, tất nhiên, tôi tiếc rằng, không làm được đến cùng xem xét các việc này và thu thập tất cả các tư liệu cần thiết. Người ta báo cáo cho tôi, nhưng trong những năm cầm quyền, tôi chưa thực hiện được điều này. Vâng, cái mà một người không làm được, thì sau đó những người khác sẽ làm. Nếu người khác không làm, người thứ ba sẽ làm, vì rằng lẽ phải không bao giờ bị chìm xuồng. Tôi cho rằng các Đảng viên thực hiện nghĩa vụ của mình trong vấn đề này, chừng mực nào có thể, làm hết sức để minh oan cho những người bị đau khổ, nhưng trong sự nghiệp là những Đảng viên chính trực và chính họ đã làm cho đất nước rất nhiều trong thời gian hoạt động bí mật, trong thời gian nội chiến, trong thời kỳ khó khăn sau Cách mạng tháng 10, khi xây dựng CNXH, phục hồi kinh tế quốc dân, xây dựng nhà nước vô sản.



Tôi muốn tiếp tục kể về bằng chứng khác, để chỉ ra cơ chế tiếp cận và suy nghĩ của Stalin thời kỳ lộng hành, sùng bái cá nhân. Tôi nhớ vụ đồng chí Zadionchenko (bây giờ ông đang bị bệnh). Tôi biết ông ở quận Bauman, Moskva. Năm 1931, tôi được bầu bí thư đảng uỷ quận, ông lãnh đạo, theo tôi, phòng văn hoá trường Uỷ ban quận. Hình có một tổ chức như thế, bây giờ tôi nhớ không chắc lắm. Tóm lại, tôi biết ông ta, từ khía cạnh tốt. Khi chúng tôi chia nhỏ quận thì biên chế phình to ra và ông là bí thư đảng của một trong những quận uỷ của Moskva, sau đó là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Liên bang Nga, và làm tốt ở đó. Người ta điều động ông đến đó tôi không còn công tác Moskva.



Việc đưa Korochenko từ Dnepropetrovsk về giữ chức Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Ukraina, lại thành vấn đề, là đưa ai về Dnepropetrovsk? Stalin cho rằng chỗ đó cần một người trung thực, một cán bộ tầm cỡ, vì rằng Dnepropetrovsk luôn là nơi căng thẳng về chính trị kinh tế. Ngoài ra, Bí thư tỉnh uỷ ở đó một thời gian dài là Khataevich, một nhà tổ chức tốt và một người thông minh. Chúng tôi đề nghị:



- Hay là lấy đồng chí Zadionchenko, Chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên bang Nga.



Stalin biết Zadionchenko và đồng ý:



- Ông ta là Bí thư tỉnh uỷ không tồi, lấy ông ta đi.



Người ta điều ông về Dnepropetrovsk. Tôi cho rằng ông ở đúng chỗ, nghĩ ông hài lòng với sự điều động như thế theo đường lối tổ chức đảng. Nhưng tôi sai: ông đau khổ bởi vì sự kiện này, hình như, ông quen với cuộc sống yên tĩnh. Tôi không biết bằng cách nào ông vào Hội đồng dân uỷ Liên bang Nga. Thực tế tất cả mọi việc Liên bang Nga đều do Hội đồng dân uỷ Liên Xô làm, còn Zadionchenko chỉ lặp lại quyết định của nó.



Zadionchenko công tác tốt ở Dnepropetrovsk. Ông là một người thông minh, một nhà tổ chức tốt, người không ngồi yên một chỗ, không phải là người quan liêu.



Xảy ra một trường hợp bất ngờ. Ở Odessa có hội nghị BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Korochenko đến Odessa. Hội nghị kết thúc, Korochenko quay về kể rằng trong thời gian nghỉ có một đại biểu hội nghị, hỏi:



- Bác tôi có khoẻ không?



- Bác nào? - Tôi hỏi ông.



- Zadionchenko - ông ta nói.



Tôi nhìn ông ta, vẻ ngoài giống người Do thái, còn Zadionchenko - người Ukraina. Chả lẽ họ có cùng huyết thống?



- Zadionchenko - là bác tôi, nhờ chuyển ông ấy lời chào.



Họ tên người này là Zaionchik, hình như thế. Korochenko, về Kiev, kể cho tôi như thế. Trong thời gian ấy, người ta lùng tất cả những người gốc slavơ, để không bị mắc lừa, không để kẻ thù lọt vào hàng ngũ chúng ta. Tôi nói:



- Tốt nhất hỏi thẳng Zadionchenko!



Tôi yêu cầu Burmistenko (người quen cũ của Zadionchenko). Tôi thuật câu chuyện với Burmistenko đề nghị ông giúp.



Burmistenko gặp Zadionchenko và nói chuyện. Burmistenko là một đồng chí rất tốt, biết xử lý tế nhị trong những trường hợp thế này. Sau đó ông đến chỗ tôi nói:



- Ông ấy chính là Zadionchenko.



Lúc đó chúng tôi xem nghĩa vụ của mình đã được sáng tỏ để không phải là những thằng ngốc. Chúng tôi hoàn toàn không tính rằng đây là điều vu cáo vu vơ. Chính Zaionchik tự hào bởi ông bác của mình và chuyển lời chào cho ông bác. Không còn nghi ngờ rằng có một lý do gì đối với đối với Zadionchenko, một con người, dường như, che dấu gốc gác dân tộc của mình và chắc chắn có một lúc nào đó ông lấy một họ khác để che giấu mình. Dân uỷ nội vụ thò tay vào vấn đề này. Vả lại, tôi nghĩ rằng người này trước đây có chân trong chúng ta, vì rằng cán bộ Đảng phụ thuộc nhiều vào cơ quan NKVD, hơn là họ phụ thuộc vào chúng tôi. Nói riêng, chúng tôi không lãnh đạo họ, còn họ cứ buộc chúng tôi theo ý họ, mặc dù vẻ bề ngoài có trật tự trên dưới. Bằng tư liệu, giấy tờ và hoạt động của mình, họ lái chúng tôi đi đến nơi họ muốn. Chúng tôi, trong hoàn cảnh ấy, nhất thiết phải tin những giấy tờ của họ, được trình cho đảng bộ.



Đối với NKVD, việc mới đòi hỏi nhiều sức lực. Sau này chúng tôi biết rằng Zadionchenko sinh ở một làng nhỏ Rzinsev, tỉnh Kiev, gần Kaneva. Bố ông - một thợ gò thủ công, mẹ làm thuốc lá ở Kremenchug, thu nhập không nhiều và là một phụ nữ nhân hậu. Bố chết, sau đó mẹ bị lao và cũng chết. Zadionchenko (lúc đó hãy còn là Zaionchik) là trẻ mồ côi, một người thợ nào đấy đã che chở ông. Ông sống ở đường, kiếm ăn ở những người tốt bụng. Ông lớn lên như thế. Lúc ấy cách mạng nổ ra, nội chiến. Chính Zadionchenko kể tiếp rằng có một đoàn kỵ binh đi ngang qua, và ông lần theo dấu vết. Hồng quân cho ông quần áo, giày, đồ ăn và cho ông một cái họ, không phải Zaionchik, một là Zadionchenko. Có thật thế không thì tôi không biết. Tóm lại, chúng tôi biết tất cả và việc này.



Tôi đôi lần gặp ông và nói:



- Đồng chí Zadionchenko! Đồng chí Burmistenko nói chuyện với ông, ông phủ nhận tất cả, còn bây giờ chúng tôi biết tất cả. Vì sao ông lại tự làm hại mình? Chúng tôi biết ông sinh ở thành phố Rzisev (bây giờ là thành phố), chúng tôi biết bố mẹ ông, cũng đã chết. Chẳng có gì phải giấu cả: ông - Zaionchik, bố ông - thợ thủ công, còn mẹ- công nhân.



Ông khóc nức nở:



- Vâng, tôi không có lòng dũng cảm nói ra lập tức. Tất cả là sự thật. Còn bây giờ tôi không biết cái gì sẽ đến với tôi. Tôi hối hận đã giấu việc này nhưng không có chút ám muội nào cả. Tôi giấu vì rằng nhiều năm tôi sống dưới cái họ Zadionchenko và quen với họ này, cắt đứt khỏi họ Zaionchik. Giờ đây tôi là Zadionchenko, thậm chí vợ tôi cũng không biết tôi người Do Thái. Điều này là một đòn giáng xuống gia đình tôi và tôi không biết ra sao và cái gì sẽ đến.



Tôi an ủi ông:



- Từ lâu người ta có nói rằng không có cái gì là không thể xảy ra, còn bây giờ, tất nhiên, việc phức tạp hơn, vì rằng NKVD thò tay vào và chúng tôi đã nhận được giấy tờ của họ. Đi đi, quay về Dnepropetrovsk, hãy làm việc, không nói cho ai biết việc này, thậm chí cả cho vợ nữa, giữ lấy thân, như trước đây, còn tôi sẽ trình BCHTƯ Đảng.



Ông là con người từng trải, hình như, lúc đó là uỷ viên BCHTƯ Đảng, hiểu ngay tình hình. Tôi lập tức gọi cho Malenkov: đây là vấn đề cán bộ trước tiên liên quan đến Malenkov. Tôi kể hết với ông ta. Malenkov biết rõ Zadionchenko và kính trọng ông.



- Sẽ phải nói điều này cho Stalin. Khi nào anh về Moskva, chính anh phải làm.



Tôi trả lời:



- Vâng.



Tôi về Moskva. Malenkov không kể cho Stalin gì cả, nhưng ông không giữ nổi và nói cho Ezov biết (có thể Ezov biết qua Uspenski, Dân uỷ nội vụ Ukraina). Tóm lại, khi tôi đi đến, Malenkov tôi cảnh báo:



- Zadionchenko, theo anh, người Do Thái, nhưng Ezov nói rằng Zadionchenko là người Ba Lan.



Đúng lúc ấy xảy ra vụ “săn” người Ba Lan, người ta coi tất cả người gốc Ba Lan là gián điệp của Pilssuski hoặc là nội gián. Tôi trả lời:



- Thế tôi có thể nói thế nào đây? Tôi biết chính xác rằng ông ta là người Do Thái. Chúng tôi biết cả nhà thờ Do thái, nơi nghi thức Do Thái được tiến hành khi đẻ con trai.



Tôi đến gặp Stalin, kể hết với ông. Ông nghe khá bình tĩnh.



- Đồ ngu - ông nói theo tiếng mẹ đẻ - không có gì là không xảy ra cả. Anh không nghi ngờ về sự chân thật của ông ta chứ?



Tôi trả lời:



- Tất nhiên tôi không nghi ngờ, đây là một người tuyệt đối trung thực, trung thành với Đảng. Giờ đây người ta bảo ông ấy là người Ba Lan!



- Vứt mẹ chuyện ấy đi! Phải giơ tay đỡ lấy hắn, hãy bao vệ nó.



Tôi trả lời:



- Tôi sẽ bảo vệ với sự giúp đỡ của đồng chí...



Chỉ vì một sự đổi tên thôi mà suýt nữa xảy ra thảm hoạ với một Đảng viên trung thành. Tôi không biết sau này ông có đổi họ không? Có thể là Hồng quân trêu chọc ông, vì ông là cậu bé Do Thái, còn ông muốn được cứu thoát khỏi cái trò đùa chẳng dễ chịu này.



Lần khác quả là lại một trò đùa không hay trong quan hệ người Do Thái ở người Nga cũng như ở người Ukraina. Ở người Ukraina thường xảy ra hơn, không phải vì người Ukraina - là những người bài Do thái hơn, mà vì rằng cạnh người Ukraina, người Do Thái đông hơn. Người Do Thái thường làm nghề tiểu thương hoặc thợ thủ công. So với người khác, họ va chạm thường xuyên hơn với người lao động Ukraina, gặp những nơi kiếm ăn được, ít làm việc. Trong làng chỉ nhìn thấy người Do Thái khi họ đi mua tơ và ngòi bút, đổi bằng kẹo, hoặc biết hoa tai lóng lánh. Tóm lại, Zadionchenko đổi họ không có ý nghĩ từ trước, nhưng người ta đã làm nó thành một người Ba Lan. Phải “làm” nó không phải Do Thái, mà là người Ba Lan, người Ba Lan - đây là gián điệp nước ngoài, do Pilssuski gửi sang. Những cánh tay chìa ra giúp đỡ tinh thần Zadionchenko. Tôi kể lan man chuyện này để mọi người hiểu thời kỳ chúng tôi đã sống, để hiểu vị trí chúng tôi sông trong thời kỳ ấy, tình hình rất phức tạp. Trong tình hình như thế chúng tôi đã sống và lao động. Chúng tôi không những đấu tranh với “kẻ thù nhân dân”, mà đấu tranh thực hiện kế hoạch, các kế hoạch được thực hiện tất cả (trừ một năm trước chiến tranh). Đó là năm khó khăn nhất, đen tối nhất đối với Đảng ta, cán bộ chúng ta, và chính trong ấy kế hoạch không hoàn thành: năm 1937.



Khi tôi được cử về Ukraina, Stalin cảnh báo:



- Tôi biết anh kém về kinh tế thành phố và công nghiệp. Tôi muốn cảnh báo anh, đặc biệt đừng lao vào vùng Donbass, vì anh cũng từ Donbass, chú ý nhiều vào nông nghiệp, vì đối với Liên Xô nông nghiệp Ukraina có ý nghĩa rất lớn. Làng mạc tổ chức dở lắm, con trong công nghiệp, cán bộ được tổ chức tốt hơn, và ở đó, hình như anh không thấy phát sinh khó khăn đặc biệt.



Đường lối như thế tôi đồng ý, mặc dù điều này với tôi cũng không nhẹ chút nào, vì tôi cảm thấy sức kéo đối với công nghiệp, đặc biệt than, chế tạo máy và luyện kim. Nhưng Stalin nói về nông nghiệp, nên tôi chú trọng nông nghiệp, nông thôn, đi khắp Ukraina, tìm kiếm những người giỏi, nghe họ và học họ.



Người ta điều những cán bộ mới cho chúng tôi, tỉnh uỷ, tỉnh uỷ viên và các cơ quan nước cộng hoà. Ở nông trang những vấn đề này được quyết định dễ hơn, mặc dù cán bộ nông trang cán bộ giảm mạnh.



Chúng tôi và Burmistenko về Ukraina tháng giêng hoặc tháng hai, thời gian chuẩn bị gieo hạt. ở miền nam mùa xuân đến sớm hơn, khi công việc trồng trọt bắt đầu vào tháng hai. Chúng tôi chuẩn bị chiến dịch trồng trọt thì bỗng nhiên có những những hiện tượng như sau: vùng phía tây (Kamenes-Podolski, Vinisa, Proskurov, Sepetovka), giáp với Ba Lan, ngựa chết hàng loạt. Tôi nghe, người ta nói ở Dân uỷ ruộng đất, đi đến tận nơi, nghe dân bản địa, được phân tích lâu, nhưng không thể hiểu nổi cái gì. Ngựa bị bệnh nhanh và chết. Vì nguyên nhân nào, không thể xác định, vì khi Ban thú y có các nhà khoa học có thể làm một cái gì đó, xáo tung công việc, lập tức người ta bắt giết họ coi như người làm hại, như người có lỗi làm ngựa chết.



Tôi nhớ trường hợp như thế ở tỉnh Vinius. Tôi đi đến một nông trang, bị chết rất rất nhiều ngựa, và hỏi người chăn ngựa, như người ta nói cho tôi, chính anh ta thấy, “kẻ thù” đầu độc ngựa. Anh ta nói với tôi:



- Tôi thấy, cái ống dài như thế này, dây dài thế này chất độc như thé này. Chúng tôi hiểu nó. Người ấy là ai? Bác sỹ thú y.



Người ta giải thích tất cả như vây. Những tỉnh này giáp với Ba Lan, và quân Đức qua Ba Lan, và chính những người Ba Lan làm tất cả để phá hoại kinh tế nông trang tước đoạt gia súc làm việc của chúng ta.



Quả là, quân Đức chuẩn bị chiến tranh. Ở mức độ nào đấy tước đoạt ngựa của chúng tôi là có logic - giáng về kinh tế, về nông nghiệp về khả năng quân sự, vì rằng ngựa trong thời kỳ ấy giống như tăng và hàng không bây giờ. Đó là đội quân cơ động. Chúng tôi từng sống trong nội chiến và ngựa có vai trò lớn trong chiến tranh. Lúc ấy có kỵ binh, thiếu nó quân đội không thể chiến đấu. Vì thế lời giải thích ngựa chết do hành động làm hại từ phía kẻ thù bên ngoài, phối hợp với kẻ thù bên trong, là quan niệm trong ở người dân. Nhưng tôi không thể đồng ý với sự giải thích như thế. Vì sao bò và cừu không chết, chỉ chết ngựa? Tôi muốn nghe các nhà khoa học, bác sỹ thú y, chuyên gia về thú, nhưng đội ngũ của họ, đặc biệt là những người chữa ngựa ngựa, giảm đi nhiều.



Tôi hỏi Dân uỷ nội vụ Uspenski:



- Chỗ ông có những người bị kết tội đầu độc ngựa không?



- Vâng, có.



- Họ là ai?



Uspenski nói tên giáo sư viện thú y Kharkov và giám đốc vườn thú Kharkov. Người thứ hai - Ukraina, người đầu tiên là Do Thái. Tôi cảnh báo:



- Tôi sẽ đến chỗ anh. Anh đưa họ đến buồng tôi. Tôi không muốn vào tù gặp họ, nói chuyện với họ ở chỗ anh.



- Họ hiểu rõ, họ có thể nói hết tất cả cho ông.



Trước đó, tôi nói với Dân uỷ:



- Nếu giáo sư đầu độc ngựa, thì cho phép ông ta nói với chúng tôi, đầu độc bằng chất độc nào đầu độc, và viết công thức hoá học chất độc.



Tôi muốn sau đó bằng công thức này thử nghiệm. Giáo sư đã cho công thức, tôi ra lệnh chế tạo chất đó. Chế tạo, đổ vào thức ăn cho ngựa, ngựa ăn, nhưng không sao cả không ốm. Thế là tôi nảy sinh ý muốn nói chuyện riêng với giáo sư.



Người ta gọi người bị bắt (từng người một, tất nhiên), người đầu tiên - giáo sư, 50 tuổi. Tôi hỏi:



- Ông có thể nói lý do được không?



- Tôi đã đưa chứng cớ và tôi chỉ có thể xác nhận, chúng tôi quả là gián điệp Đức, có nhiệm vụ đầu độc ngựa và tôi đã làm điều này.



- Thế ư? Ông nói đầu độc ngựa, tôi đề nghị ông đưa công thức hoá học chất độc. Chúng tôi làm chất độc theo công thức đó và cho súc vật ăn nhưng chúng không chết thậm chí không bị bệnh.



- Vâng, điều này có thể, vì rằng chúng tôi tự chế tạo, chúng tôi nhận thêm chất bổ xung. Từ những thành phần này chúng tôi trộn với nhau, những chất bổ xung chúng tôi nhận trực tiếp từ Đức.



Chính người này tự nói ra! Ông biết tôi bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, ông thấy, tôi quan tâm thậm chí khi tôi gọi ý, những lời thú nhận của ông, theo tôi, là vô căn cứ, súc vật không ai giết cả, ông không những không sử dụng những chất này, nhưng người ta đã làm thế để xác nhận chứng cớ và chứng minh sự đúng đắn nhân viên Cheka, những người đã buộc ông phải đưa ra những chứng cớ dối trá.



Tôi kinh ngạc thực sự: bao nhiêu kẻ thù! Nhưng vụ việc không tưởng tượng được: những người Đức - những người bài Do thái, và bỗng nhiên người Do Thái lại làm việc để bài Do thái. Tất cả được giải thích bằng đấu tranh giai cấp. Tôi kết thúc cuộc thẩm vấn.



Người tiếp theo - ông giám đốc. Ông cũng xác nhận, mặc dù không chắc chắn như thế, nhưng xác nhận. Tôi hiểu rằng thú tội như thế - không phải chuyện đùa, và tự giải thích rằng họ cố gắng tìm khả năng làm nhẹ số phận của mình bằng sự hối lỗi, bằng sự thú nhận chân thành... Tôi đến BCHTƯ, nhưng tôi còn ý nghĩ là có cái gì đó không ổn. Tôi quyết định đến Bogomols.



Tôi kính trọng chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina, giờ đã khuất, Bogomolsу. Một nhà khoa học lớn, rất thú vị. Có lần ông kể cho tôi một trường hợp lạ lùng. Khi điền bản khai, trả lời những câu hỏi “Sinh ở đâu?”. Ông viết: “Trong nhà tù Lubianka”. Sau đó ông kể:



- Mẹ và bố tôi - những người dân tuý, bị bắt và tù ở Lubianka. Mẹ tôi có mang, tôi sinh ra ở đó.



Ông là người thông minh và rất tốt, không đảng phái, nhưng đó chỉ là hình thức, còn nói chung ông là người xô viết, có quan điển tiến bộ. Tôi đề nghị ông:



- Đồng chí Bogomoles, ông biết kẻ giết ngựa chứ? Tôi cho rằng cần thành lập một hội đồng gồm các nhà khoa học nhận trách nhiệm và xác định nguyên nhân. Không thể khoa học lại bất lực và không thể xác định nguyên nhân ngựa chết. Điều này phi lý ở thời đại chúng ta. Tôi muốn ông đứng đầu hội đồng này, vì rằng người đứng đầu hội đồng phải là những người được Ukraina, và cả Moskva tin. Ông đúng là người như thế. Ông hãy lấy những nhà chuyên môn - những người nuôi thú, thú y đi xuống tỉnh, nông trang, tới hiện trường, còn ông phải chỉ đạo.



Tôi biết rằng một vài hội đồng đã được dựng nên, nhưng thành viên hội đồng này kẻ bị bắt, người thì bị giết. Giờ đây mọi người sợ tham gia hội đồng, vì rằng điều này quyết định số phận mọi người. Bogomoles đồng ý, nhưng thiếu lạc quan. Tôi nói với ông ta:



- Bởi vì hội đồng bị bắt, nên mọi người sợ, nhưng nếu ông, chủ tịch Viện hàn lâm, làm Chủ tịch, những nhà chuyên môn sẽ đến. Tôi hứa với ông rằng tại tất cả mọi phiên họp toàn thể tôi sẽ đến và nghe báo cáo các nhà khoa học. Dân uỷ nội vụ Uspenski cũng sẽ đến để loại bỏ khả năng buộc tội một uỷ viên nào đấy hội đồng.



Ông đồng ý. Tôi đề nghị:



- Hãy thành lập hai hội đồng, làm việc song song. Nếu hội đồng này không đạt được kết quả, còn hội đồng kia.



Tôi theo đuổi mục đích làm sáng tỏ có thật có người làm hại? Vì thế nếu người làm hại rơi vào một hội đồng, thì hội đồng kia sẽ là những người tốt. Ngoài ra, hai hội đồng, hai kết luận, hai ý kiến. chúng tôi, những người lãnh đạo, sẽ dễ xử lý hơn trong những vấn đề chuyên môn phức tạp. Đứng đầu một hội đồng, hình như, giáo sư Dobrotko. Ai đứng đầu hội đồng thứ hai, bây giờ tôi không nhớ. Bogomoles liên kết cả hai công việc. Người ta đồng ý thành phần hội đồng với Dân uỷ ruộng đất Liên Xô. Lúc đó, theo tôi, ông này Benediktov. Tôi biết rõ ông. Khi tôi làm việc ở Moskva, Benediktov là giám đốc Liên hợp hoa quả Moskva, nhưng trước đó là giám đốc nông trường Serpukhov, ở vị trí cao như nhà tổ chức cũng như những nhà nông học. Tôi là một trong những người có khả năng cất nhắc ông ta làm Dân uỷ ruộng đất. Dân uỷ đề nghị xây dựng thêm một hội đồng thứ ba gồm các nhà khoa học. Tôi trả lời:



- Xin mời, tôi rất vui lòng.



Hội đồng thứ ba do giáo sư Vertinski đứng đầu.



Tất cả các hội đồng về các tỉnh miền tây Ukraina và triển khai công việc. sau một thời gian, Dobrotko đề nghị Bogomolsу gọi họ về Kiev để báo cáo. Hội đồng này nhanh chóng kết thúc những hoạt động của mình, vì rằng Dobrotko tiếp cận con đường đúng và xác định nguyên nhân ngựa chết. Ông cho rằng vấn đề bây giờ hoàn toàn sáng tỏ: không có ai đầu độc ngựa, còn ngựa chết là do vô trách nhiệm. Nông trang không kịp thời dọn dẹp rơm rạ từ máy gặt đập, rơm rạ nằm lại trên dồng, mưa xuân rơi xuống, ẩm mục. Sau đó người ta dọn dẹp để rơm rạ khỏi bị mốc. Nấm mốc này rơi vào dạ dày động vật, nhưng con vật không ốm. Gặp điều kiện thuận lợi - nóng ẩm ướt - nó phân chia thành một lượng lớn và tách rời những chất độc làm chết con vật. Ngựa, ăn rơm rạ nói trên, nhận một lượng lớn nấm mốc và chết. Nấm này không tác động đến bò và trâu. Dobrotko kết luận thế này:



- Khi tôi đi đến kết luận như thế, thì tôi tự gây bệnh cho mình bằng nấm mốc này. Tôi bắt đầu ốm, giống như ngựa. Đối với tôi vấn đề bây giờ hoàn toàn sáng tỏ.



Giáo sư Vertinski không xác nhận điều này và cho rằng việc nghiên cứu chưa kết thúc phải tiếp tục công việc. Vertinski - một giáo sư thủ đô, Dobrotko - người Ukraina. Điều này có một ý nghĩa nào đấy. Để không va chạm họ, tôi đề nghị tiếp tục công việc:



- Hãy làm nữa đi để vấn đề gần sáng tỏ. Chúng tôi lại mời các anh và nghe.



Họ lại đi. Sau đó, cả Vertinski cũng đồng ý với kết luận của giáo sư Dobrotko, và điều này có thể kết thúc công việc tại chỗ và tổ chức một phiên họp toàn thể. Họp tại Kiev, người ta đệ trình ra. Vertinski hoàn toàn đồng ý với kết luận Dobrotko. Dobrotko toàn thắng. Ông giải mã nguyên nhân ngựa chết. Cách phòng chống rất đơn giản - phải kịp thời dọn dẹp rơm rạ, để nó không bị tự ủ nóng ở dạng nguyên liệu, triệt tiêu điều kiện để phát triển nấm. Chúng tôi đã kiểm tra, tất cả được xác nhận. Sau đó đề ra một quy chế nghiêm ngặt dọn dẹp rơm rạ, giữ nó và cho gia súc. Việc súc vật chết bị chấm dứt.



Stalin biết rằng tại Ukraina xảy ra chuyện đầu độc ngựa và Ukraina có thể bị đình trệ nếu thiếu sức kéo. Vì thế, khi tôi đi đến về Moskva đệ trình kết quả làm việc của Hội đồng, ông rất hài lòng. Tôi đề nghị tặng thưởng mọi người. Giáo sư Dobrotko được tặng thưởng huân chương Cờ đỏ. Ông cũng xứng đáng nhận cả huân chương Lenin, nhưng lúc ấy Huân chương Lenin được tặng rất hà tiện. Những người khác nhận huân chương “Vinh quang”. Tôi đề nghị Vertinski (mặc dù ông chỉ có vai trò xúc tác: không làm một cái gì cả, mà chỉ xác nhận kết luận của Dobrotko) cũng tặng thưởng huân chương “Vinh quang”. Chính lúc đó còn thêm ý nghĩa, vì còn phân biệt: Moskva hoặc Kiev, người Ukraina hoặc người Nga. Và tôi cho rằng người Moskva không cần phật ý.



Đây không những là thắng lợi kinh tế - bảo toàn được gia súc, mà còn là thắng lợi tinh thần và chính trị. Bao nhiêu Chủ tịch nông trang, người chăn nuôi, nhà nông học, nhà nuôi thú, các nhà khoa học đau đầu “gián điệp Ba Lan-Đức”, đã chết! Tôi nhớ lại một giáo sư Kharkov, một giám đốc viện nghiên cứu, những người này cũng bị bắn, và nghĩ:



- Có thể như thế ư? Làm thế nào có thể như thế được? Những con người, bây giờ tất cả đã rõ, không có tội” Hình như tôi đã tìm thấy lời giải thích nào đó, tôi không nhớ cái nào. Tôi không thể и đệ trình, đây là hành động thù địch từ phía các cơ quan NKVD, tôi không thể có được ý nghĩ như thế. Sự cẩu thả? Vâng, có thể là sự cẩu thả. Các cơ quan này được coi là hoàn hảo, được gọi thanh gươm cách mạng, nhằm chống lại kẻ thù.



Thật ra khi Uspenski bị bắt, một cái gì đó được hé mở, nhưng tất cả mọi việc chúng tôi lại chỉ gắn với từng cá nhân và sự lạm quyền của họ. Vụ Uspenski bắt đầu như thế. Một lần Stalin gọi điện thoại cho tôi và nói rằng có những tài liệu, theo đấy phải bắt Uspenski. Tôi nghe không rõ, nhưng tôi nghe không phải Uspenski, mà là Usenko. Usenko là bí thư thứ nhất BCHTƯ Đoàn thanh niên cộng sản, có chứng cớ về người này, trên đầu hắn treo thanh gươm Demokla bị bắt.



- Ông có thể, bắt hắn không?



Tôi trả lời:



- Có thể.



- Việc này anh phải tự làm - và Stalin nhắc lại cho tôi họ tên.



Lúc ấy tôi hiểu rằng không phải bắt Usenko, mà là Dân uỷ Uspenski. Sau đó, Stalin lại gọi:



- Chúng tôi quyết định anh không phải bắt Uspenski nữa. Chúng tôi sẽ chở hắn về Moskva và chúng tôi sẽ bắt giam đây. Anh không phải nhúng tay vào việc này!



Bắt đầu chuẩn bị trồng trọt, nhưng tôi trước đó đi đến Dnepropetrovsk. Tôi đến Zadionchenko, trước chuyến đi tôi chỉ nói cho một mình Korochenko rằng Uspenski là kẻ thù nhân dân và người ta muốn bắt nó.



- Tôi đi, còn anh ở lại Kiev. Có vấn đề đấy, nhưng hoàn toàn đừng để người ta không nghi ngờ, cứ gọi cho Uspenski.



Sáng hôm đến tỉnh uỷ Dnepropetrovsk, bỗng nhiên có điện thoại từ Moskva, Beria bên máy. Beria trong thời gian ấy là phó Dân uỷ của Ezov.



- Này anh ở Dnepropetrovsk - ông nói giọng quở trách - Uspenski bỏ chạy!



- Bỏ chạy?



- Hãy làm tất cả để hắn không chạy ra ra nước ngoài!



- Vâng. Tất cả những gì có thể làm được, bây giờ chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi sẽ đóng biên giới, tôi sẽ báo biên phòng để họ tăng cường canh biên giới trên bộ và trên biển.



Đêm ấy ở chỗ chúng tôi sương mù dày đặc. Tôi nói:



- Đêm nay ở chỗ chúng tôi sương mù dày đặc, vì thế hoàn toàn không thể đi bằng xe hơi từ Kiev đến biên giới được. Hắn không thể đi được đâu.



- Anh phải quay về Kiev - Beria khuyên.



Tôi ba chân bốn cẳng quay về Kiev. Nhiều thợ lặn thay chăng lưới ở hai bờ sông Dnepr, vì Uspenski để lại vài dòng với ám chỉ, bóng gió, sẽ tự sát, nhảy xuống sông Dnepr. Chỉ tìm thấy một con lợn chết, mà không thấy Uspenski. Hắn ta còn vợ và một con trai nhỏ, nhưng vợ con không thể nói cho chúng tôi một cái gì cả. Hình như chính họ cũng không biết chồng và bố đi đâu. Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm cựu Dân uỷ. Tôi không nhớ bao lâu sau - hai, ba tháng người ta nói cho tôi biết đã tìm thấy Uspenski ở Voronez. Té ra, hắn đi bằng tàu hoả từ Kiev đến Ural, rồi từ Ural đến Voronez Ở đó hắn âm mưu tổ chức ở đâu đó (hoặc thậm chí đã tổ chức được rồi), nhưng bị bắt.



Sau vụ bỏ chạy của Uspenski, tôi về Moskva, Stalin giải thích cho tôi, vì sao hắn bỏ chạy:



- Tôi nói chuyện với anh qua điện thoại, nhưng hắn nghe trộm. Mặc dù chúng tôi đã nói qua đường tần số cao và thậm chí được giải thích rằng nghe trộm đường tần số cao là không thể, hình như mọi nhân viên Cheka có thể nghe trộm, và hắn nghe trộm. Vì thế hắn bỏ chạy.



Đây là một giả thiết. Giả thiết thứ hai như thế này. Stalin và Beria đưa ra giả thiết này. Ezov qua điện thoại gọi Uspenski về Moskva, hình như nói bóng gió cho hắn rằng sẽ bị bắt. Lúc đó người ta theo dõi cả Ezov cho ông là kẻ thù nhân dân. Khó tin: kẻ thù nhân dân - Ezov! “Bè cánh Ezov”! “Bọn Ezov”, Stalin gọi ông ta như vậy. Ezov đã từng là anh hùng nhân dân, thanh gươm sắc của cách mạng... Rồi bỗng nhiên Ezov - cũng kẻ thù nhân dân? Nhưng trong thời gian ấy, ông vẫn còn làm việc.



Bắt đầu các vụ bắt bớ các Chekist. Tại Ukraina người ta bắt hầu hết các Chekist, từng làm việc với Ezov. Tôi cũng hiểu có một cái gì đó trong vụ ngựa. Về vấn đề này điều tra viên về chuyên về các vụ án đặc biệt đã từ Moskva đến Kiev tiến hành điều tra. Tôi đã nhìn thấy nhìn người này, khi tôi bàn bạc với các giáo sư: một người trẻ tuổi, chừng 35, khoẻ mạnh và cao lớn. Ông ta có mặt, như là ông chủ, ngồi ngay ở cửa, giáo sư ngồi đối diện tôi, còn người điều tra viên - đằng sau tôi. Tôi sau đó rút ra kết luận rằng, khi tôi bàn bạc, người này, có lẽ, giơ nắm đấm khủng bố giáo sư và “động viên” ông xác nhận chứng cớ của họ. Ông ta đã làm như thế.



Sau đó người này cũng bị bắt bị bắn. Bằng cách như thế tra khảo, hành hạ, buộc một người trung thực thú nhận trong nhóm tội phạm mà anh ta chưa bao giờ ở trong đó. Tôi cũng nói rằng chính cái tội phạm ấy cũng không có, vì rằng nó không phải là hành động từ phía kẻ thù của chúng ta. Kẻ thù, tất nhiên, làm tất cả những gì có thể, chống chúng ta, nhưng té ra lại không có liên quan nào cả. Đó là kết quả của sự vô kỷ luật của chúng ta ở nông trang, thuần tuý dốt nát. Tình hình là như thế. Bao nhiêu người đã chết! Uspenski rót cho tôi hàng đống giấy, nhưng không phải giấy, mà là kẻ thù, kẻ thù, kẻ thù. Hắn gửi cho tôi bản sao, còn bản chính báo cáo lập tức viết cho Ezov ở Moskva. Ezov báo cáo cho Stalin, còn tôi tồn tại tựa như kiểm tra Đảng. Kiểm tra cái gì, khi các tổ chức Đảng nằm dưới kiểm tra của những người, mà người ta cần phải kiểm tra? Danh hiệu thiêng liêng của những người cộng sản, vai trò của nó, vị trí xã hội của nó bị giày xéo. Cheka đứng trên Đảng.



Ukraina-Moskva


Ngã ba đường thập niên 1930



Bây giờ tôi muốn nói việc Beria được điều về Dân uỷ nội vụ Liên Xô là phó thứ nhất của Ezov. Beria trong thời gian ấy là Bí BCHTƯ ĐCS Gruzia. Khi tôi làm việc ở Moskva, tôi với Beria những quan hệ tốt, hữu nghị. Đó là một người thông minh, rất nhanh trí. Ông xử lý các vấn đề rất nhanh, điều mà tôi không thích. Tại những Plenum BCHTƯ Đảng chúng tôi ngồi luôn luôn bên cạnh nhau trao đổi theo cách phân tích vấn đề hoặc về những diễn giả này kia, luôn luôn có giữa các đồng chí gần gũi.



Năm 1934 tôi nghỉ ở Sochi. Khi hết hạn nghỉ, Beria, mời tôi quay về Moskva qua Tiflis. Lúc đó Tbilisi vẫn mang tên Tiflis. Tôi đi tàu thuỷ Batumi, rồi từ Batumi đi tàu hoả đến Tiflis và ở trọn đó một ngày. Sau đó tôi mua vé ở Tiflis về Moskva. Tàu hoả thời ấy đi từ Gruzia vào Nga chỉ qua Baku. Tôi nói trưởng toa tôi sẽ rẽ vào Bắc Kavkaz, Beslan (hình như, là tên ga). Đi theo đường quân sự Gruzia và ở Beslan gặp tàu hoả.



Ở Tiflis tôi quen một số đồng chí người Gruzia. Gruzia để lại cho tôi ấn tượng tốt. Tôi nhớ lại quá khứ, năm 1921, trong thời gian nội chiến, tôi ở Gruzia cùng với một bộ phận quân đội. Đội quân này đóng ở ga Azmatet dưới Kutais, ở Kutais có ban tham mưu. Một lần khác theo nghĩa vụ phục vụ tôi đi đến đó ở phía trên, thường xuyên từ Azmatet đến Kutais lội qua Rioni. Tôi giữ lại ấn tượng tốt từ thời kỳ này, và tôi rất thích mới đây nhìn thấy Gruzia, hồi tưởng lại thời gian trước đây, năm 1921. Stalin gọi đùa tôi “quân chiếm đóng”, khi tôi kể lại cho ông về những ấn tượng của mình ở Gruzia, đặc biệt trí thức Gruzia, quan hệ xấu với Hồng quân. Lần khác tôi đến cục chính trị Tập đoàn quân №11, ban tham mưu của nó đóng ở Tiflis. Ngồi trong toa cùng với những Gruzin trạc tuổi tôi, còn trẻ, tôi nói với họ bằng tiếng Nga, còn họ không bao giờ trả lời tôi, làm ra vẻ không hiểu tiếng Nga, mặc dù tôi thấy đây là những cựu sĩ quan quân đội Nga hoàng rành tiếng Nga. Nhân dân Gruzia thì khác. Nông dân gặp chúng tôi luôn luôn rất hiếu khách, nhất định thết đãi. Nếu dịp lễ tết gia đình, làm tiệc, người Gruzia đã làm điều này sang trọng. Còn Hồng quân, những người đã ngã xuống cho họ từng giờ, được lôi vào nhà, giữ lại và sao đó tiễn chân về đơn vị. Không bao giờ có một trường hợp tấn công Hồng quân, mặc dù họ có khả năng để làm: xung quanh là những bụi cây ngô, rừng.



Khi tôi kể lại điều này cho Stalin, ông bực tức:



- Anh bực người Gruzin à? Nhớ rằng, anh là quân chiếm đóng, các anh lật đổ Chính phủ mensevich Gruzia.



- Đúng thế, tôi hiểu và không phật ý, đơn giản tôi nói là thời ấy tình hình như thế.



Bây giờ, lần thứ hai, tôi làm quen với Beria và những người lãnh đạo khác Gruzia. Tôi thích những người cán bộ này, nói chung mọi người cũng rất thích. Duy nhất có lần quá lên, tôi kể cho Stalin sự quá quắt tiếp khách. Rất khó đứng vững, không bị ngã, điều này không hay.



- Đúng, họ có việc này - Stalin trả lời - điều này họ biết, tôi cũng biết họ.



Những năm ấy Stalin uống rượu còn rất hạn chế, thì tửu lượng của ông cũng đáng nể.



Một lần, khi tôi từ Kiev về Moskva, Beria từ Tbilisi về. Mọi người quây quần ở Stalin, Ezov cũng ở đó. Stalin đề nghị:



- Phải củng cố NKVD, phải giúp đỡ đồng chí Ezov, cho ông một người phó.



Stalin trước đây đã đặt vấn đề này, khi có mặt tôi, đã hỏi Ezov:



- Anh muốn ai làm phó cho anh?



Ezov trả lời:



- Nếu cần, cho tôi Malenkov.



Stalin ngừng một lát, tựa như nghĩ câu trả lời, mặc dù ông đã suy nghĩ mọi vấn đề rất lâu. Thực ra ông chờ đợi câu trả lời Ezov.



- Ừ, tất nhiên Malenkov là người tốt, nhưng đưa Malenkov cho anh thì chúng tôi không thể. Malenkov nắm Ban tổ chức BCHTƯ, và bây giờ lại phát sinh câu hỏi mới: bổ nhiệm ai vào đấy? Không dễ kiếm được người, nắm Ban tổ chức phải là người trong BCHTƯ. Nhiều năm rồi Malenkov nghiên cứu và biết cán bộ.



Tóm lại, Stalin từ chối Malenkov. Sau một thời gian lại đặt vấn đề trước đây:



- Ai là phó?



Lần này, Ezov không nói ai cả. Stalin nói:



- Anh nghĩ sao, nếu đưa Beria làm phó cho anh?



Ezov đột ngột giật mình, nhưng kìm được, trả lời:



- Đó là một ứng cử viên tốt. Tất nhiên đồng chí Beria có thể làm việc, không những phó. Ông có thể còn là Dân uỷ viên.



Cần phải nhận xét rằng thời ấy Beria và Ezov có những những quan hệ bạn bè. Có lần chủ nhật Ezov mời tôi và Malenkov đến nhà nghỉ của ông, ở đó có Beria. Điều này xảy ra không phải một lần. Khi Beria về Moskva. luôn luôn làm khách ở Ezov... Stalin trả lời:



- Không, ở Dân uỷ Beria ta không thích hợp, làm phó cho anh, Beria sẽ tốt đấy.



Ông đọc cho Molotov dự án bổ quyết định. Molotov luôn luôn viết dự án do Stalin đọc chính tả. Như thường lệ, các phiên họp như thế sau đó được kết thúc bằng bữa ăn trưa ở Stalin. Tôi đến gặp Beria, theo lối bạn bè chìa tay cho ông và chúc mừng ông. Beria nói với tôi một cách không độc ác, nhưng để tỏ thái độ, mặc dù kín đáo:



- Anh chúc mừng tôi cái gì? Chính anh không muốn về làm việc ở Moskva.



Điều này ông ta nói bóng gió Molotov đã đề nghị để người ta chuẩn y tôi làm phó chủ tịch Hội đồng dân uỷ Liên Xô. Stalin đồng ý điều này và cũng nói với tôi. Nhưng tôi rất không muốn sự bổ nhiệm như thế và đề nghị của Stalin không làm điều này. Stalin dường như đã theo lời tôi. Tôi nói:



- Đồng chí Stalin, sắp chiến tranh. Bây giờ tôi ít nhiều đã biết Ukraina, tôi hiểu nước cộng hoà này, biết cán bộ của nó. Người mới đến sẽ phức tạp hơn. Tôi có ích hơn nếu bây giờ ở Ukraina, hơn là về chỗ đồng chí Molotov, mặc dù đồng chí Molotov nhiều lần tôi khuyên tôi về chỗ ông ta.



Molotov có quan hệ tốt với tôi, ông đánh giá cao những hoạt động của tôi cả ở Moskva, cả ở Ukraina. Ông thường gọi điện về Kiev và khuyên vài vấn đề nào đấy. Chẳng hạn, khi bổ nhiệm Dân uỷ viên ruộng đất Benediktov, ông gọi tôi và hỏi:



- Anh nghĩ thế nào điều này, anh có biết Benediktov?



Tôi trả lời:



- Tôi biết. Dân uỷ viên là người tốt. Tất nhiên, Benediktov được trên điều lập tức từ giám đốc liên hợp về Dân uỷ, nhưng điều này sẽ là Dân uỷ tốt, hiểu biết, biết làm việc và tổ chức công việc.



Còn việc Malysev. Lúc ấy ông là kỹ sư trưởng nhà máy nồi hơi Kolomen. Tôi đi đến Kolomen và sau khi quay về Moskva nhiều lần kể cho Stalin về Malysev, vì ông ta gây cho tôi ấn tượng rất tốt. Sau đó Molotov gọi tôi và quan tâm:



- Anh nghĩ sao, nếu chúng tôi điều động Malysev làm Dân uỷ viên chế tạo máy?



Tôi trả lời:



- Một kỹ sư rất tốt. Tôi cho rằng ông ta cũng sẽ là Dân uỷ rất tốt.



Cũng như thế với những vấn đề khác, liên quan với mọi người mà tôi biết. Điều này chứng minh sự tin cậy và quan hệ tốt Molotov với tôi. Tôi đánh giá điều này như thế. Đúng, Molotov thời ấy làm tôi thích, nhưng tôi không muốn về Hội đồng dân uỷ Liên Xô.



Stalin đồng ý với luận cứ của tôi về việc chiến tranh sắp xảy ra và nói:



- Thôi được, cứ để Khrusev ở lại tại Ukraina.



Khi tôi chúc mừng Beria, chính điều này ông ta làm tôi nhớ lại:



- Anh cũng bị đẩy đi như thế phải không? Anh không muốn? Thế mà bây giờ lại chúc mừng tôi? Tôi cũng không muốn về Moskva, tôi ở Gruzia tốt hơn.



- Quyết định bổ nhiệm có rồi, và việc đã được được quyết định. Anh bây giờ là người Moskva, hãy tạm biệt Gruzia của mình thôi!



Beria được bổ nhiệm như thế. Stalin khi ấy suy nghĩ một điều gì đó nghĩ. Đơn thuần ông không làm một cái gì như thế. Hình như ông không tin Ezov hoặc là không phải là không tin, mà chỉ đơn thuần cho rằng Ezov làm công việc của mình và đến lúc ông ấy phải nghỉ ngơi, bây giờ cần dùng người khác. Lúc đó tôi nghĩ Stalin muốn có người Gruzin trong NKVD. Ông tin Beria, nhưng qua Beria muốn kiểm tra tất cả các việc Ezov. Sau khi bổ nhiệm Beria vào Dân uỷ nội vụ, tôi gặp ông ta khi tôi về Moskva. Tôi và ông lại có những quan hệ tốt. Ông kể cho tôi rằng người ta bắt giam nhiều người, và than phiền: đâu sẽ là giới hạn? Phải được dừng lại bằng cách gì đó, phải thực hiện một điều gì đó, người ta đang bắt giam những người vô tội. Tôi không đồng ý với ông. Tôi không có những số liệu như thế, nhưng Beria - phó Dân uỷ nội vụ, tôi tin ông và kính trọng ông: đây nhé một người cộng sản chân chính, ông nhìn thấy rằng các vụ bắt bớ sai được tiến hành, làm ông tức giận. Ông cũng nói với Stalin về điều này. Tôi biết chính xác, mặc dù ông tin tôi, về điều này không có những cuộc nói chuyện ở họ. Sau đó tôi hiểu rằng đây là một cách làm ranh mãnh: ông kể về điều này cho Stalin, để kề dao vào cổ Ezov và chính ông chiếm lấy chỗ Dân uỷ.



Stalin không hài lòng Ezov. Ezov đóng vai trò của mình, và Stalin muốn thay ngựa giữa đường, nhưng tiếp tục đi theo cùng một con đường và thực hiện cùng một việc. Để làm việc này, ông cần đến những những người khác. Trước đây Ezov, thay Yagoda, đã giết nhiều cán bộ, trong số này có cả những Chekist, từng làm việc với Yagoda. Giờ đây cho Stalin (như tôi hiểu điều này sau khi ông chết) cần kết liễu các cán bộ từng được đưa về chỗ Ezov. Beria cũng được dành cho việc này. Nhưng chúng tôi thời ấy cho là: mọi việc ở chỗ ông là người Kavkaz, một người Gruzin, gần Stalin không chỉ là một đảng viên, mà còn là một người cùng dân tộc với ông. Nhưng Stalin, như tôi sau này đã kết luận ngay sau khi ông chết, có những những mục đích khác nữa. Nhưng Ezov, trước đó đúng là đã mất tính người, nói toạc ra là ông say rượu đến nỗi, không nhận ra ông nữa. Tôi quen ông năm 1929, trong thời gian học tại Học viện công nghiệp, và thường gặp ông phụ trách Học viện. Học viện thuộc BCHTƯ Đảng, còn Ezov phụ trách Ban tổ chức BCHTƯ. Học viện - cái lò rèn cán bộ, thời ấy người ta nói, vì thế tôi thường được gọi lên BCHTƯ gặp Ezov, và tôi luôn luôn thấy ở ông sự hiểu biết. Ông là người thẳng thắn, công nhân Piter, nhưng thời ấy điều này có giá trị lơn, là công nhân, vâng, lại là Piter. Nhưng cuối đời, ông hoàn toàn là một Ezov khác. Tôi nghĩ, ông biết rằng cái gì sẽ xảy ra, điều này ảnh hưởng đến ông đến thế. Ông ta hiểu rằng, ông dùng Stalin như chiếc rìu để triệt hạ cán bộ, trước tiên cán bộ bolsevich cũ, và rót lương tâm của mình bằng rượu.



Sau này người ta đã kể cho tôi những chuyện sau. Cuối thời hoạt động của ông, vợ ông bị bệnh. Bà chữa ở bệnh viện trong Kreml, nhưng đã có quyết định, là ngay khi bà khoẻ, người ta sẽ bắt giam sẽ bắt giam. Stalin chấp nhận cách bắt như thế. Qua những bà vợ của những nhân vật cao cấp Stalin cố gắng khám phá “những âm mưu”, khám phá “những sự phản bội” của chồng họ - những nhân vật cao cấp. Những bà vợ phải biết những bí mật của chồng họ và có thể giúp đỡ nhà nước vạch mặt kẻ thù nhân dân. Như thế, các bà vợ của Mikhain Ivanovich Kalinin, Kulik, Budenyi, sau này cả Zemchuzina, vợ Molotov. Tôi thậm chí không biết, bao nhiêu người như thế, có lẽ, số lượng lớn những phụ nữ vô tội, những người bị thiệt hại do sự vô tội của chồng mình. Tất cả đã bị bắn hoặc lưu đày.



Vợ Ezov bắt đầu lành bệnh và chẳng bao lâu phải xuất viện, nhưng bỗng nhiên chết. Sau đó người ta đã nói rằng bà bị đầu độc. Hình như thế Stalin và Beria đã nói rằng trước lúc bà bị đầu độc, Ezov có rẽ vào bệnh viện, mang cho bà một bó hoa. Đó là dấu hiệu quy ước - một tín hiệu rằng bà sẽ bị bắt. Có lẽ, Ezov đoán được và muốn gạt bỏ những dấu vết hoạt động của ông có thể bị phanh phui. Khổ đến thế là cùng! Dân uỷ - kẻ thù nhân dân! Chúng tôi cho là: một khi bà ta bị đầu độc, thì bà được cắt đuôi và cắt đứt khả năng vạch mặt chồng mình. Vả lại, còn phụ thuộc vào việc bà ta có bị đầu độc hay không, Stalin từ lâu quyết định, chừng nào mà Beria là phó Ezov và Ezov - người kết thúc. Ông không Ezov nữa. Việc Ezov tiếp tục hoạt động không có lợi cho Stalin, và ông muốn thanh toán Ezov.



Người ta bắt Ezov. Tôi ngẫu nhiên lúc ấy ở Moskva. Stalin mời tôi ăn tối ở Kreml, tại nhà riêng của ông. Tôi đến. Ở đó có Molotov và thêm một ai đấy. Chúng tôi đến và ngồi vào bàn. Stalin nói rằng quyết định bắt Ezov, một con người nguy hiểm, và điều này cần phải làm chính xác ngay bây giờ. Ông luống cuống thấy rõ, điều hiếm xảy ra với Stalin, nhưng ông không thận trọng, khi thể hiện ở mình. Sau một lúc, có chuông điện thoại, Stalin cầm máy, nói và bảo rằng Beria gọi điện nói ổn rồi. Người ta bắt Ezov, bây giờ bắt đầu hỏi cung. Lúc đó mới tôi biết, người ta bắt không những Ezov, mà còn phó của ông. Trong số này có Flinovski. Flinovski, tôi ít biết về ông này. Người ta nói rằng ông là một người nổi tiếng trong nội chiến trong quân đội, khoẻ mạnh, có một sẹo lớn ở mặt, thân hình cường tráng. Nghe kể:



- Khi đè Flinovski, thì Kobulov, một người to béo, tóm ông ở phía sau và vật ngã, sau đó trói ông.



Về điều này người ta kể như kỳ công nào đấy của Kobulov. Và thời ấy được chúng tôi chấp nhận là sự cần thiết.



Cho rằng chúng ta có kẻ thù bên trong, nên việc bắt đầu phanh phui chúng được quy định khi bắt quân nhân tên tuổi vào năm 1937. Họ giác ngộ. Họ đã nói rằng Yakir, tư lệnh Quân khu Moskva khi bị đem đi bắn và hỏi xem ông ta phục vụ ai, thì ông ta nói rằng ông ta phục vụ quân Đức và nhà nước Đức, ông tỏ thái độ bằng tuyên bố như thế trước khi chết. Sự thật, Yakir trong những giây cuối cùng của cuộc sống hô to:



- Stalin muôn năm!



Sau đó bị bắn. Khi người ta nói lại điều này cho Stalin, ông chửi rủa Yakir:



- Thằng đểu giả, thằng Juda. Khi giết, dù sao chăng nữa theo hướng điều tra của chúng ta, thể hiện rằng, hắn đã phản bội Stalin, phản bội đất nước.



Bắt đầu những hoạt động của Beria. Cối xay thịt làm việc như thế, mặc dù những cuộc hội thoại xuất phát từ bản chất tăng lên, chính từ phía Beria. Beria không nói cho Stalin một cái gì cả về sự kết án, sự đàn áp. Ông nói tiếng Nga rất kém. Thường là thế này:



- Rất... tôi nghe... rất nhiều đã giết cán bộ... cái gì sẽ... cái gì sẽ... Mọi người sợ làm việc.



Điều này ông nói đúng. Stalin hoàn toàn cách ly mình khỏi nhân dân và không giao thiệp với ai cả, trừ tay chân thân cận của mình. Nhưng Beria biết tâm trạng của mọi người, điệp viên ở chỗ ông rất nhiều đến nỗi thậm chí khó nói, có bao nhiêu. Cuối cùng chính Stalin cũng nói là có sự thái quá.



Một lần, tôi không nhớ theo lý do nào, Stalin bàn mưu với tôi về một việc. Hình như vì rằng có những chứng cớ về tôi. Khi tôi đi đến về Ukraina, ở đó chưa có Dân uỷ thương nghiệp. Tôi rất kính trọng Lusakov. Lusakov là thủ trưởng thương nghiệp ở Moskva. Khi Badaev tiếp thêm sự hợp tác, Lusakov lãnh đạo bộ phận hoa quả. Đây là một người tốt và rất hoạt động. Việc buôn bán thời ấy rất tồi, thực phẩm không đủ, đòi hỏi rất tháo vát. Tôi hỏi Stalin:



- Đồng chí Stalin, liệu tôi có thể mời Lusakov từ Moskva làm Dân uỷ thương nghiệp của CHXHCN Ukraina?



Stalin không biết Lusakov, nhưng đã nghe về ông ta từ tôi.



- Được, cứ mời đi.



Tôi đề nghị vì rằng khi ông chuyển về Ukraina, ông sẽ đặt trước tôi một câu hỏi: không lấy một ai từ Moskva, trừ những người BCHTƯ Đảng chọn cho tôi.



Làm việc ở chỗ chúng tôi không lâu, Lusakov bị bắt. Tôi rất buồn, vì rằng tôi đề nghị ông làm ứng cử viên ở Stalin. Trước đây tôi quen ông ở Moskva và rất kính trọng ông. Và bỗng nhiên, Lusakov - kẻ thù nhân dân! Điều này đối với tôi là một cú đánh vào tinh thần. Thế ư? Tôi nhìn thấy con người này, tin ông, kính trọng... Sao, làm gì? Tôi không nhớ, Lusakov ngồi tù bao lâu, còn sau đó người ta bỗng nhiên nói với tôi là Lusakov được thả. Ông về Kiev, tôi tiếp ông, nói chuyện với ông:



- Vâng, người ta tha tôi, tôi không có tội, tôi là người trung thực. Tôi đề nghị tin tôi như đã tin trước khi tôi bị bắt. Tôi muốn nói hết cho ông rằng khi tôi bị bắt, thì người ta đánh và hành hạ tôi. Người đặt một cái ghế băng, trên đó, doãng chân tôi, tôi phải đứng đến chân doãng chân hết. Nhúc nhích một chút là họ đánh tôi đến ngất đi và ngã xuống. Và hành hạ bằng làm cho mất ngủ, và áp dụng những phương pháp nhục hình. Nhưng anh có biết người ta đòi tôi cái gì không? Họ đòi tôi khai ra ông, dường như ông là người mưu phản, còn tôi theo lệnh ông đi ra nước ngoài để cài đặt mối liên lạc.



Quả là, có trường hợp như vậy, từ khi tôi còn làm ở Moskva. Chúng tôi không đủ hành và những hoa quả khác, trong nước không có hạt giống, đặc biệt là hành. Tôi không nhớ, ai nói rằng hạt giống có thể mua ở Ba Lan và ở các nước phương Tây khác, nhưng cần ngoại tệ. Tôi đề nghị Stalin cho ngoại tệ và quyết định cử Lusakov. Lusakov mua hạt giống, vận chuyển về, và chúng tôi đem về nước cộng hoà để trồng rau quả cho Moskva theo hợp đồng. Lúc ấy phương pháp như thế cũng được làm, như bắt vợ: bắt những người thân với những nhân vật cao cấp, thế là họ quyết định bắt Lusakov, để ông nói một điều gì đó về tôi. Lusakov tỏ ra là một con người vững chắc, cớ gì khi ấy vẫn còn sống được. Tất nhiên ông gặp may. Ông bây giờ vẫn còn sống, nhưng là người tàn tật, về hưu. Trong tù người ta đã làm ông thành người tàn tật.



Hai trợ lý của tôi ở Moskva cũng bị bắt. Điều này tôi xem như để kiểm tra cá nhân tôi. Một trong hai người - Rabinovich, một người trẻ, tốt, khiêm tốn. Người kia - Finkel, cũng là người rất tốt, rất trung thực và nhũn nhặn, tềnh toàng. Ông làm chủ yếu về xây dựng, còn chính bản thân lại là nhà kinh tế. Giới thiệu anh ta cho tôi là Vasinkovski, chủ bút báo “Vì công nghiệp hoá”. Đó là tờ báo của Sergo Ordzonikidze, Dân uỷ công nghiệp nặng. Về sau Stalin hỏi tôi:



- Người ta bắt trợ lý của anh đấy à?



Tôi trả lời:



- Vâng, đó là những chàng trai tốt và trung thực.



- Hừm? Nhưng người ta đã đưa những chứng cớ, họ thú nhận rằng họ là kẻ thù nhân dân. Họ cũng khai ra anh, rằng anh mang họ không phải của mình. Anh hoàn toàn không phải là Khrusev, mà một ai đấy.



Các nhân viên Cheka đã làm điều này để kẻ thù nhân dân không lọt vào và lén vứt tài liệu cho chúng tôi, tựa như có ai đấy cho họ chứng cớ. Và có chứng cớ về tôi, là tôi có vết đen nào đấy trong tiểu sử cách mạng của mình.



Tôi hiểu lời ấy nói cái gì. Lúc đó dù điếc, cũng nghe những tin đồn rằng Stalin trước đây đã từng cộng tác với mật vụ Nga hoàng và cuộc vượt ngục của ông khỏi nhà tù (ông phải thực hiện một số cuộc vượt ngục) đã được tổ chức bởi cấp trên, vì rằng không thể làm bao nhiêu cuộc vượt ngục thành công. Stalin không xác nhận, việc người ta nói bóng gió, khi chuyện trò với tôi, nhưng tôi giả thiết rằng tin đồn này có lần đến ta. Ông không nói cho tôi về chúng, mà chỉ đơn giản nói là chính các nhân viên Cheka lén vứt tài liệu giả.



Trong Trung ương cho là thế này: Beria đã đến và sẽ làm sạch tình hình. Quả là, xảy ra các vụ bắt bớ mới các Chekist. Tôi biết nhiều người và những người đáng kính trọng. Bắt cả Redens, người thân cận Stalin. Redens lấy người chị cả, Anna, còn Stalin lấy cô em Nadezda. Redens thường có mặt ở nhà Stalin, và tôi không chỉ một lần thấy ông ngồi ở bàn ăn gia đình của Stalin, mà tôi cũng được mời không phải một lần. Và bỗng nhiên ông được chuyển từ chức toàn quyền NKVD tỉnh Moskva và được gửi về Trung Á, Taskent. Sau đó ông bị bắt và bị tử hình. Những người khác. Cũng bị bắt. Yakov, Arganov - một người đáng mến, một Chekist cứng. Trước đây ông làm việc ở Ban thư ký của Lenin. Một người thông minh, trung thực, điềm đạm. Tôi rất thích ông. Sau đó ông là Toàn quyền đặc biệt về điều tra, phụ trách vấn đề Đảng uỷ công nghiệp. Đây đúng là một điều tra viên! Ông không cao giọng khi nói chuyện và cũng không chấp nhận nhục hình. Ông bị bắt và cũng bị tử hình.



Beria thanh toán những vây cánh của Ezov (theo nghĩa là giết) cán bộ Chekist người Do Thái. Những cán bộ tốt. Stalin bắt đầu, hình như mất tín nhiệm NKVD và quyết định nắm công việc của mọi người trực tiếp từ sản xuất, từ máy tiện. Đó là những người không từng trải, hoàn toàn không phát triển về mặt chính trị. Stalin đưa ra những chỉ dẫn chỉ dẫn làm việc và nói:



- Chủ yếu, bắt giam và đòi những lời thú nhận.



Và tất cả họ lập tức đã làm theo. Như người ta kể cho tôi nói về cuộc hỏi cung Chubaria, điều tra viên giải thích:



- Người ta nói cho tôi, đánh nó đến khi nó thú nhận rằng nó là “kẻ thù nhân dân”, thế là tôi đánh nó và nó nhận tội.



Ở NKVD có những cán bộ như thế. Sau đó lấy vào đó những người có chức vụ Đảng. Guồng máy đã khởi động và trong số cán bộ Đảng thực tế ít người không có tì vết.



Tôi nhớ, chẳng hạn, một trong như thế. Vysinski gọi cho tôi:



- Đồng chí Khrusev, chúng tôi cần cán bộ, và tôi muốn điều phó của mình là Rudenko, công tố viên Lugansk.



Rudenko ở Ukraina là người khá, và tôi đã nghe về ông ta. Vì thế tôi đề nghị không chọn ông về Moskva. Bản thân chúng tôi có ý để ông tại Ukraina. Sau này tôi thông báo:



- Các đồng chí, có lẽ, biết rằng về Rudenko có tương đối nhiều tư liệu? Những người bị bắt và bị tử hình khai ông ta là kẻ thù nhân dân. Các đồng chí biết không?



Vysinski trả lời:



- Tôi biết, nhưng tôi nghĩ rằng đây là điều vu cáo.



- Tôi cũng tôi nghĩ rằng đây là điều vu cáo. Nhưng việc điều về Moskva thì sao? Các đồng chí xem đánh giá sự việc sẽ như thế nào?



Đúng là Vysinski nhát gan, và Rudenko ở lại Ukraina. Chúng tôi điều vào Viện kiểm sát CHXHCN Ukraina với lý do là có những chứng cớ về ông và theo dõi ông. Sau đó ông trở thành Viện trường Viện kiểm sát Liên Xô và làm việc cho đến bây giờ ở chức vụ này. Nhiều người trung thực bị bôi nhọ và vu cáo như thế. Tôi nói khi đó những người mà người ta điều vu cáo họ, từng là những người trung thực, nhưng người ta đã làm tàn phế họ về thể xác và tinh thần, nhằm phục vụ cho công việc bẩn thỉu và vu cáo những người bạn riêng.



Ngắn gọn, công việc giết cán bộ tiếp tục. Và tiếp tục gần như đến trước khi Stalin chế, chỉ có ở những thời kỳ khác nhau bình diện khác nhau. Sự lãnh đạo Ukraina, về Đảng cũng như xô viết, đã bị giết hoàn toàn: các cán bộ BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, các bí thư, Các trưởng ban. Chủ tịch Hội đồng dân uỷ CHXHCN Ukraina Liubchenko bị bắn. Khi người ta rút Kosior về Moskva, thì bỗng nhiên một thời gian sau đài phát thanh trước đây mang tên Kosior, chuyển sang được gọi cái tên trước đây và đơn giản mang tên Đài phát thanh Kiev. Đó là tín hiệu, là Kosior không còn nữa. Bản thân tôi cũng biết chỉ theo tín hiệu là Kosior bị bắt. Nhưng chính ông là phó chủ tịch Hội đồng Dân uỷ, là phó Molotov. Postysev được triệu hồi từ Ukraina và được gửi về Kuibysev. Ở đó ông bị bắt cũng bị giết. Khataevich, bí thư tỉnh Dnepro-Petrovski, cán bộ cao cấp, cũng bị bắt. Nhưng chính Stalin kính trọng ông ta. Tôi nhớ, tại một Plenum của Đảng, Stalin gọi ông là “dũng sĩ” vì khả năng tích trữ đường mà Khataevich làm được ở Kuibysev. Ở Kuibysev không có đường. Khi có một đoàn tầu chở đường về Sibiri và Viễn đông. Khataevich cắt lại cho Kuibysev một số lượng toa như vậy đã giải quyết được vấn đề. Đây là quả là sự vi phạm kỷ kỷ cương nhà nước. Stalin phát biểu:



- Chúng ta có những dũng sĩ như thế, những người không xem ích lợi chung, mà làm vì lợi ích của tỉnh mình, Khataevich thế đấy!



Ở Dnepropetrovsk Khataevich có uy tín lớn. Đó là nhà hùng biện và nhà tổ chức giỏi. Sau đó - Pramek, từ Donbass, một cán bộ lớn. Trước ông, theo tôi, tại Donbass có Sarkisian, cũng cán bộ lớn, một người rất hoạt động, làm việc tốt cho Donbass. Cherniavski, bí thư Odessa, sau đó tỉnh uỷ Vinius, cũng bị giết. Liubchenko trước khi tự sát, đã viết mấy chữ cho Cheniavski đề nghị, nếu có gì xảy ra, đừng quên con trai ông. Ông có cậu con trai 15 tuổi. Khi bắt Cheniavski, người ta tìm thấy mẩu giấy và tóm luôn cậu bé này.



Ở Moskva và ngoại ô Moskva đã giết tất cả bí thư quận uỷ. Tôi bây giờ tôi không thể đếm được cụ thể, nhưng thực tế tất cả đã bị giết. Tôi đặc biệt chấn động, khi người ta bắt bà Kogan. Kogan vào Đảng từ năm 1907, một con người cực kỳ trung thực và nhân hậu. Bà làm vấn đề văn hoá. Trong thời gian bí mật trước cách mạng, ở Kiev, Kaganovich đã thu nhận bài giảng về chính trị-kinh tế học từ Kosior và Kogan. Có lúc Kogan là vợ Kuibysev. Người ta nói rằng bà thú nhận đã làm hại. Nhưng sau khi Stalin chết, người ta lôi lưu trữ ra, và biết rằng bà chẳng thú nhận một cái gì cả, mà còn vứt bỏ những điều buộc tội phản cách mạng và gọi những người bắt giam bà là phát xít. Bà cũng bị tử hình. Soifer, bí thư Quận uỷ Lenin, thành phố Moskva, một lão thành, một đảng viên từ 1905 hoặc 1903. Khi Sidelnikov Bí thư tỉnh uỷ Tula bị bắt, người ta lấy Soifer về làm việc ở Tula. Cúng tôi gửi Soifer đến đó. Và bỗng nhiên tôi biết Soifer cũng bị bắt. Nhưng chính Soifer - theo đúng nghĩa, là một đối với có lương tâm, một người trung thực. Và bỗng nhiên ông là kẻ thù nhân dân? Nicolai Aleksseevich Filatov, Chủ tịch tỉnh uỷ Moskva, sau đó ông là Hội đồng toàn quyền kiểm tra cùng Rostov. Ông cũng bị bắt và cũng bị giết.



Kulkov - một người hoạt động cũ ở Moskva có thâm niên bí mật, được điều động sang thành uỷ, cũng bị bắt. Tôi bây giờ cũng không thể nhớ tất cả, có nhiều người Moskva. Trước tiên đưa họ ra thay thế những người bị bắt “kẻ thù nhân dân”làm chỗ dựa để củng cố các tổ chức Đảng, còn sau đó, khi họ đến, bỗng nhiên chúng tôi biết, họ cũng bị bắt. Simochkin chết như thế. Người ta đưa ông từ Moskva về tỉnh Ivanovo-Voznesensk, và bắt ông ta ở đó bắt. Nhưng Margolin, bạn thân của Kaganovich thì sao? Tôi biết ông ta ở Kiev, sau đó chúng tôi cùng học tại Học viện công nghiệp. Ông được điều về làm Bí thư thứ hai Thành uỷ Moskva trong thời gian khi tôi bí thư thứ nhất. Sau đó ông được đưa về Dnepropetrovsk để củng cố đảng bộ địa phương sau khi Khataevich bị bắt và bị giết. Có thể làm một cuốn sách lớn, nếu chỉ liệt kê tất cả cán bộ Đảng, bị xử tử trong năm những ấy.



Tôi hầu như không đề cập ở đây những cán bộ quân sự, vì rằng tôi ít biết họ. Trong số đó, tôi biết rõ chỉ có Yakir và tư lệnh quân khu Belov. Quân nhân thời ấy từ chúng ta, các cán bộ Đảng, đóng ở xa, chúng tôi ít giao thiệp với họ, thậm chí với tư lệnh quân khu Moskva. Chi khi nào phát sinh những vấn đề gì đấy ở quân đội, thì tìm đến tôi. Tôi và họ chưa bao giờ nảy sinh vấn đề. Sự thật tôi biết Velichev, một quân nhân. Ông là bạn thân của Yakir, còn khi ông xuất hiện ở Moskva, ông rẽ thăm tôi, vì tôi quen ông từ hồi ở Kiev. Ông làm việc ở Phòng chính trị Quân khu Kiev nhiều tháng, khi tôi là Đảng uỷ khu vực Kiev. Velichev xuất thân thợ mỏ Donbass, tham gia nội chiến. Ông cũng bị bắt và bị giết.



Sau đó xuất hiện những tài liệu, theo tôi có một bức thư gửi BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) Liên Xô. Trong thư này mô tả cuộc đấu tranh với kẻ thù nhân dân, là sự kiện quái gở, cuộc đấu tranh này, như người nói, kẻ thù nhân dân leo cao vào cơ quan Cheka và đã giết nhiều cán bộ trung thành. Giờ đây tất cả đều rối beng, và khó được biết đâu là đúng sai. Điều chủ yếu đối với tôi là ở chỗ chính Stalin đã làm cho tất cả rối rắm. Trong một số trường hợp, chẳng hạn trong vụ cán bộ quân sự cao cấp, ông quả là “tin” rằng những quân nhân - kẻ thù nhân dân, bị Đức lôi kéo, những người này được Hittler chuẩn bị để phản bội tổ quốc, khi quân đội Hittler tấn công Liên Xô. Ca ngợi và gán cho công lao của Stalin rằng ông có khả năng vạch ra điều này. Sau đó quả là người ta tưởng tượng một cách hết sức đơn giản. Phương pháp này từng được biết trong lịch sử: người ta lén vứt tài liệu cho tài liệu kẻ thù của mình, kể tên những nhân vật dường như liên quan với tình báo nước ngoài, dùng bàn tay kẻ thù trấn áp những lãnh đạo tài năng nhất của quân đội. Bằng phương pháp thanh trừng tương tự nói chung tình báo được sử dụng rộng rãi. Tình báo chúng ta cũng dùng phương pháp này chống lại kẻ thù. Phương pháp như thế rất có tác dụng. Giống hệt tình báo Hittler quẳng tài liệu cho Stalin (theo tôi, qua Benes. Tổng thống Tiệp khắc). Thế là đủ để những người vô tội bị xử tử.



Thế là họp Plenum BCHTƯ Đảng. Ở đó tranh luận những phương pháp thành trừng của NKVD và thông qua một cách giải quyết thích ứng: ngừng! Plenum kết thúc, người ta nghiên cứu cách giải quyết tại chỗ, còn những phương pháp vẫn như cũ, các điều kiện vẫn như cũ “bộ ba” khét tiếng. Không có toà án và điều tra, người ta cứ bắt giam mọi người, rồi hỏi cung, rồi kết án một trong những người này. Công tố viên cũng làm những việc hèn mạt. Ông ta không có một chút ảnh hưởng và không thể theo dõi tính hợp pháp thủ tục tố tụng, việc bắt giam v.v... Tình hình là như thế, cái đó cho phép Beria kế tục cái điều mà trước nó Ezov đã làm.



Chính Beria sau này Plenum thường nói rằng với sự cầm quyền của ông ta, những việc đàn áp vô căn cứ được tạm ngừng:



- Tôi thông báo với đồng chí Stalin và nói: Ở đây chúng ta dừng được không? Bao nhiêu cán bộ đảng, cán bộ kinh tế, cán bộ quân sự đã bị giết.



Nhưng sau đó Beria tiếp tục như trước không phải trong diện nhỏ như trước đây. Đúng là không có sự bức thiết nào cả, vì rằng trước đó Stalin tràn đầy, bão hoà bằng sự chuyên quyền của mình và bản thân ông, hình như có chút khiếp sợ hậu quả. Ông bây giờ muốn kìm lại sự đàn áp và tiến hành một số biện pháp. Nhưng ông không thể dừng lại được, vì rằng ông sợ kẻ thù, do chính ông tự nghĩ ra. Tôi nói “tự nghĩ ra”, nhưng họ có thể tìm những người ti toe và nói:



- Gì thế, không có kẻ thù sao?



Không, kẻ thù có chứ. Chúng tôi chiến đấu với chúng và tiêu diệt kẻ thù. Nhưng điều này phải làm bằng điều tra, bằng phương pháp nhà nước, bằng toà án, và bằng xét hỏi trung thực, không phải đơn thuần xông vào nhà, tóm cổ người ta và đẩy người ta vào nhà giam, rồi ở đó đánh đập, đánh cho kỳ ra chứng cớ và, dựa vào những chứng cớ như thế, chẳng có được xác nhận tí nào nào cả, kết án người ta. Đấy là sự chuyên quyền. Tôi kiên quyết chống điều này.



Tôi nhớ những ngày đầu tiên của cách mạng. Sự thật tôi đã sống ở những nơi không hề xuất hiện phản cách mạng, nếu không tính đến lời phát biểu của thủ lĩnh người Kazak sông Don Kalednin Ở đó rất đơn giản được phân loại, ai là bạn, ai là kẻ thù. Sự làm hại, có thể có, và tồn tại, nhưng không đáng kể. Vâng không có nó thì cũng như vậy thôi, trong tư tưởng đã nứt vỡ. Sau đó - nội chiến. Nó cũng phân hoá mọi người và đơn giản hoá cuộc đấu tranh. Ai đấu tranh với ai, ai là bạch vệ, ai là Hồng quân, lập tức rõ ngay. Chính cuộc sống tiến hành phân chia giai cấp. Có kẻ thù vào phía sau và đấu tranh với chúng. Đấu tranh, cần thiết để bảo vệ thành quả cách mạng bảo vệ nhà nước vô sản cách mạng.



Và bỗng nhiên trong thời kỳ, khi Đảng uỷ công nghiệp kết thúc, và tiến hành tập thể hoá, thì thậm chí biến mất sự đối lập trong Đảng và đánh dấu­ sự duy nhất độc quyền hoàn toàn của hàng ngũ Đảng và nhân dân lao động Liên Xô, khi đó bắt đầu chính xác sự thảm sát. Điều này không phải sự tiếp cận giai cấp. Nhan danh giai cấp, nhân danh thắng lợi và sự củng cố thắng lợi vô sản người ta chặt đầu, cả ai nữa? công nhân, nông dân và trí thức lao động.



Từ khi Beria nắm quyền Dân uỷ nội vụ và loại bỏ Ezov, đầu tiên trút tội bắt bớ hàng loạt và tử hình lên đầu Ezov. Nhưng cái gì trước đây được làm được làm ở Gruzia? Khi tôi đi đến Gruzia sau khi Stalin chết, thì những cán bộ Gruzia mà tôi quen năm 1934 ở Tbilisi, không còn ai cả, theo tôi, thậm chí không còn sống nữa. Sau khi bắt Beria năm 1953, một người Gruzin nào đấy gửi một bức thư tới BCHTƯ Đảng, đề tên tôi. Ông mô tả rằng Beria đã giết cán bộ ở Gruzi và hắn bước qua xác đồng đội để vào chính quyền. Beria - đây là kẻ thù nguy hiểm, tạo ta sự tín nhiệm tuyệt đối với Stalin. Tôi không biết bằng cách nào hắn quyến rũ Stalin. Có thể là cùng dân tộc?



Tôi khó giải thích mọi hoàn động của Stalin, động cơ của ông. Thỉnh thoảng ông cũng nói những phân tích tỉnh táo về những vụ bắt bớ và đôi lần phân tích chúng trong những cuộc nói chuyện với tôi. Nhưng ông không hiểu một cái gì cả. Và ông giết chết những người bị bắt này để làm gì? Ông đã giết các cán bộ trung thành với ông, và đưa những kẻ hám quyền, hám lợi kiểu Beria vào chỗ của họ. Chẳng có lẽ họ là những người tin cậy hơn? Ông giết Sergo Ordzonikidze, bạn thân của ông để làm gì? Dù Stalin đã giết nhiều cán bộ Dân uỷ công nghiệp nặng dưới quyền Sergo Ordzonikidze, một cán bộ mà Sergo rất tin. Tử hình anh ruột Sergo, sau đó nghi ngờ cả Sergo và đẩy ông ta tự sát.



Hơn nữa, theo mắt tôi thấy, Alesa Svanidze, người thân cận của Stalin là một người kín đáo và điềm đạm, một trí thức Gruzia, em trai người vợ đầu của Stalin, đã chết từ lâu. Tôi không biết bà, tất nhiên. Alesa thường có mặt ở chỗ Stalin, tôi thấy ông ở đó không phải một lần. Có thể nhận thấy là Stalin rất thích chuyện trò với Alesa. Họ thường nói về Gruzia, về lịch sử, văn hoá của nó. Tôi không nhớ, Svanidze học hành thế nào nhưng ông là một người có văn hoá, uyên thâm, và là một người bạn của các con của Stalin. Chú Alesa, như bọn trẻ thường gọi, ông thường qua đêm ở chỗ Stalin. Và bỗng nhiên Alesa trở thành kẻ thù nhân dân, nghĩa là, thành kẻ thù của Stalin. Chính là Stalin và nhân dân - không tách rời nhau. Khi tôi biết về việc bắt Svanidze, thì trong nháy mắt. Sao thế? Một người không gây ra ngờ vực nào, thế mà ông cũng có thể là kẻ thù nhân dân? Nhưng Svanidze đã trở thành kẻ thù nhân dân trong mắt Stalin và bị bắt. Điều tra kết thúc, ông bị kết án và bị bắn. Stalin dù sao chăng nữa cũng dao động. Stalin khó nhận ra vì sao Alesa Svanidze kết bạn với ông từng ấy năm và bỗng nhiên thành kẻ thù của Stalin, kẻ thù của Đảng, kẻ thù nhân dân? Stalin sau này thường quay lại chủ đề này: sao lại thế, Alesa bỗng nhiên - gián điệp? (người ta gán cho ông, hình như, gián điệp Anh). Beria tuỳ ý muốn làm gì thì làm, giả thiết như thế cũng lởn vởn. Ở Stalin xuất hiện ngờ vực vô căn cứ. Ông hỏi Beria:



- Trong các tài liệu trình tôi người ta viết là chính Alesa thú nhận rằng hắn là gián điệp phải đầu độc tôi. Nhưng hắn có thể làm điều này hoàn toàn không vội vàng. Nhiều lần hắn có cơ hội này, hắn ngủ ở chỗ tôi không ít lần. Thế sao hắn không làm điều này? Liệu có thể, hắn không phải gián điệp?



Beria giải thích:



- Đồng chí Stalin, gián điệp có nhiều dạng, có nhiệm vụ khác nhau. Có những gián điệp, nhiều năm nằm im, tạo ra sự tín nhiệm và sống quanh mọi người, mà hắn ta phải giết ở một thời Đảng nhất định. Alesa Svanidze - chính xác là điệp viên như thế, người cần không thể hiện bản thân, mà, ngược lại, giữ yên lặng. Khi hắn nhận tín hiệu, lúc ấy mới thực hiện nhiệm vụ được giao.



Tất nhiên, về nguyên tắc, có những điệp viên như thế, vì rằng chiến thuật tình báo muôn hình muôn vẻ. Tình báo sử dụng tất cả các phương pháp có được để làm hại kẻ đối địch của mình. Nhưng khuôn mẫu này, rõ ràng không khớp nhau với vụ Svanidze. Stalin cuối cùng đồng ý xử tử Alasa. Và dù sao chăng nữa Stalin, hình như vẫn còn ngờ vực nào đấy. Ông nói Beria:



- Anh thay mặt tôi nói nếu hắn sám hối và kể hết thì hắn sẽ được hắn.



Sau một thời gian Beria báo cáo là Svanidze bị bắn; người ta nói lại cho Svanidze lời Stalin, ông nghe và trả lời:



- Tôi không ân hận về điều này. Tôi có thể ân hận ở chỗ, nếu tôi một người trung thực, không làm gì chống Đảng, chống nhân dân, chống Stalin? Đơn giản là tôi không thấy, tôi phải ân hận.



Họ bắn ông. Stalin sau này nói:



- Alesa thế đấy, hãy nhìn đi! Một trí thức, nhu nhược, lại thể hiện sự cứng rắn như thế. Thậm chí không muốn tận dụng khả năng còn lại giữ mạng với điều kiện ­ân hận. Hắn không ân hận, ân hận. Một con người như thế.



Stalin có thật chân thành hay không, tôi không biết. Svanidze là một người thông minh và hiểu rõ rằng nếu ông sám hối, thì cũng chờ chết, nhưng sau một thời gian, và ông đơn giản không muốn bôi nhọ thanh danh của một người cộng sản.



Lakoba, một người rất gần Stalin, kính trọng Stalin là lãnh tụ Đảng của nhân dân Abkhaziс. Stalin hoàn toàn tin ông. Lakoba, khi về Moskva, luôn luôn ở chỗ Stalin, hoặc tại căn hộ, hoặc ở nhà nghỉ cuối tuần. Khi Stalin đi Sochi, thì Lakoba, sống không phải ở Sukhumi, Gagr mà ở Sochi, cạnh của Stalin. Lakoba một tay bi-a khá. Ông đi mang theo gậy bi-a, được xếp ở chỗ Stalin, như nhà mình, và chơi không thua. Đó là một người ốm yếu, điếc. Tôi không đứng về phía Lakoba, nhưng chúng tôi cũng có những quan hệ tốt với ông. Tôi thậm chí tôi nhớ, có lần nghỉ lúc ở Gagr, lúc ở Sochi, ông mời tôi, và tôi đến nhà nghỉ của ông, còn ông đáp lễ đến tôi mang theo vợ và con trai. Sau đó ông chết. Chết và chết. Tất cả mọi người có thể chết, không loại trừ. Nhưng đây mới là đáng quan tâm: sau này tôi biết khi người ta trình Stalin rằng Lakoba chết, thì ông cũng thương tiếc, nhưng không đặc biệt. Cái chết của ông không làm đau lòng những người thân nhất.



Sau một thời gian bỗng nhiên Beria tạo ra vụ về Lakoba: dường như người này là người mưu phản. Tôi bây giờ không nhớ cụ thể những sự kiện nào dẫn đến bằng chứng ông là người mưu phản mặc dù ông đã chết, nhưng thương ông ta làm gì. Thế là Beria làm điều này? Ông ta ra lệnh đào xác Lakoba, thiêu xác ông và vứt tro đi: đối với kẻ thù nhân dân không có chỗ thậm chí ở đất Abkhazi! Sau chiến tranh tôi biết rõ thêm Beria, tôi nghĩ rằng Beria đào xác Lakoba, không phải vì sự căm thù với ông. Ông cất giấu bí mật, có lẽ sợ rằng Stalin có thể nảy ra ý định ra lệnh đào xác và làm phân tích để biết vì cớ gì Lakoba chết? Có thể ông bị đầu độc? Tôi nghĩ rằng Beria sợ điều này, mặc dù Beria, và Ezov rất giỏi lái các vụ việc như thế. Họ có các bác sỹ, những người theo yêu cầu thay thế các cơ quan cơ thể con người và tạo những cơ quan này bị đầu độc, hoặc nếu cần - không bị đầu độc, để chứng minh một điều mong muốn: với người này quả là bị người ta đầu độc, trình việc như người ấy chết tự nhiên. Lúc ấy họ thừa khae năng không kinh nghiệm để làm. Và thế là Beria gây tội ác và làm những điều đê tiện: con trai Lakoba, cũng bị bắn theo lệnh Beria. Cái gì thúc đẩy Beria thanh toán Lakoba? Lakoba là người rất gần với Stalin, gần hơn Beria, và có thể nói về các vụ việc ở Gruzia, có thể nói hết về hoạt động Beria ở Gruzia. Nhưng Beria không muốn điều ấy. Beria muốn chính ông là kênh duy nhất thông tin về tình hình ở Gruzia. Thế là Lakoba là nạn nhân. Đây là sự kết án riêng của tôi. Tôi có thể chỉ xây dựng giả thuyết trên cơ sở linh cảm, chứ tôi không có bằng chứng tang vật bằng chứng nào cả.



Với vụ Zemchuzina. Zemchuzina - vợ Molotov, nhưng được biết không phải vì là vợ Molotov, mà là một người dễ nhận ra. Bây giờ bà còn sống, nhưng về hưu. Bà là một phụ nữ trẻ, và chăm chỉ, là một đảng viên tích cực, lãnh đạo công nghiệp mỹ phẩm. Sau đó bà trở thành Dân uỷ viên công nghiệp cá. Một phụ nữ khí phách. Tôi tiếp xúc với bà nhiều lần, khi còn làm bí thư thành phố Moskva. Bà gây cho tôi ấn tượng một công nhân tốt và đồng chí tốt. Một điều dễ chịu là - không bao giờ cho người ta cảm thấy bà chỉ là một đảng viên thuần tuý, mà còn là vợ Molotov. Bà chiếm được vị trí nổi bật trong tổ chức Đảng Moskva bằng những hoạt động đặc biệt về Đảng và nhà nước. Stalin kính trọng bà rất cao. Tôi thấy điều này khi chúng tôi gặp nhau. Đôi lần Stalin, Molotov, Zemchuzina và tôi cùng nhau ở Nhà hát lớn, ở lô giành cho Chính phủ. Đối với Zemchuzina có một kết luận: vợ một uỷ viên Bộ chính trị khác hiếm khi có mặt ở lô Chính phủ, cạnh với Stalin. Thật ra đôi khi cũng ở đó vợ Vorosilov Ekaerina Dadyvovna, nhưng hiếm hơn Zemchuzina. Trên ngực Zemchuzina đầy huân chương, nhưng tất cả đều chính đáng và không gây ra một sự đàm tiếu.



Bỗng nhiên, tôi và bây giờ không thể nào giải thích tại sao Stalin lại thịnh nộ với Zemchuzina. Tôi không nhớ, người ta buộc bà tội gì. Tôi chỉ nhớ tại Plenum BCHTƯ Đảng (tôi thời ấy còn làm việc tại Ukraina) đã nêu vấn đề Zemchuzina. Người phát biểu buộc tội cụ thể bà là Skiriatov - Chủ tịch Hội đồng kiểm tra Đảng thuộc BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b). Skiriatov - lão thành bolsevich, nhưng Stalin đã biến ông thành chiếc dùi cui của mình. Ông chột, chính vì chột, ông làm mọi cái theo Stalin nói, và ông như điều tra viên, điều tra vụ Chubaria, bằng sự quỷ quyệt của mình đã lôi ra những lời thú nhận về những tội không tồn tại. Đôi lúc Stalin cần Ban kiểm tra Đảng và quả là sau này đã loại ra khỏi Đảng những người buộc tội, khi xác nhận là có sự nghi ngờ. Sau này không đủ tóc trên đầu để đếm hết việc Skiriatov đã làm. Nhưng ở đó việc khủng bố đã được giải quyết. Và bao nhiêu trường hợp như thế! Chết hàng nghìn người!



Zemchuzina phát biểu tại Plenum tự bảo vệ mình. Tôi khâm phục bà trong thâm tâm, mặc dù thời ấy tôi tin Stalin đúng, và đứng ở phía của Stalin. Nhưng bà bảo vệ một cách dũng cảm phẩm chất Đảng và thể hiện cá tính rất mạnh... Người ta bỏ phiếu loại bà ra khỏi Hội đồng trung ương khu ĐCS toàn Nga (b), và uỷ viên dự khuyết BCHTƯ. Và mọi người, tất nhiên, thông qua quyết định, mà những người báo cáo đã làm. Chỉ có một mình Molotov bỏ phiếu trắng. Sau này tôi thường đã nghe người ta quở trách Molotov và trực tiếp trước mặt, và sau lưng: là uỷ viên Bộ chính trị và BCHTƯ, mà không thoát khỏi quan hệ gia đình, giữ chức vụ cao chẳng Đảng mà không thể phán xét sai lầm của người thân của mình.



Vụ này vẫn chưa kết thúc kết thúc. Stalin dùng cách hèn hạ, nhằm xúc phạm lòng tự ái của Molotov. Nhân viên Cheka, bịa ra mối quan hệ của Zemchuzina với tay giám đốc thân với Molotov. Ông này có mặt tại căn hộ Molotov. Lôi ra ánh sáng những quan hệ trên gường, và Stalin gửi những tư liệu này cho các uỷ viên Bộ chính trị, ông muốn làm nhục Zemchuzina và châm chọc, đụng vào lòng tự ái của Molotov. Molotov thể hiện sự vững vàng, không bị nghiêng ngã với sự khiêu khích và nói:



- Tôi không tôi tin điều này, đây là điều vu cáo.



“Tác phẩm” này được viết bởi cơ quan NKVD, Molotov biết rõ hơn người khác, hình như ông được thông tin, vì thế hoàn toàn tin rằng đó tài liệu được sản xuất. Tôi nói ở đây về điều này để chỉ ra rằng thậm chí những biện pháp như thế được sử dụng. Tóm lại, có tất cả các phương tiện để đạt được mục đích, trong trường hợp đã nêu - để loại bỏ Zemchuzina. Sau chiến tranh người ta lại đàn áp bà, về điều này tôi sẽ kể sau. Nhưng đây là vấn đề khác, mà tôi cũng có nhiều thông tin.



Để chân dung của của Stalin được rõ thêm, tôi muốn kể thêm và Nicolai Aleksseevich Filatov, Đảng viên từ 1912 hoặc 1914. Chúng tôi quen nhau, khi tôi làm việc ở Moskva là bí thư Quận uỷ Bauman ĐCS toàn Nga (b), còn ông là bí thư, theo tôi, Quận uỷ Lenin. Khi tôi lên làm bí thư đảng bộ thành phố, Filatov về làm Bí thư Đảng tỉnh. Tôi biết ông khá rõ. Đó là một người đàn ông cao, đẹp trai, có bộ râu Pháp. Chúng tôi gặp nhau không những về công việc, mà còn từng sống ở nhà nghỉ cuối tuần, cùng trong một ngôi nhà Ogarev: tôi - tầng trên. Kolkov (bí thư đảng bộ thành phố) - ở chỗ cầu thang, Bulganin - nhìn xuống, đối diện Bulganin - Filatov.



Stalin có quan hệ tốt với Filatov. Filatov có tính ẻo lả, như chúng tôi thời ấy cho là thế, luôn luôn mang theo máy ảnh. Trong thời gian diễu hành ở Quảng trường Đỏ ông nhất thiết xuất hiện cùng máy ảnh và chụp cuộc diễu hành uỷ viên Bộ chính trị, thành viên Chính phủ và, tất nhiên, cả Stalin. Stalin, đôi khi, đùa:



- Filatov đến đấy, bây giờ bắt đầu chụp.



Filatov cười và bây giờ bắt đầu chụp. Mọi người đã quen với điều này. Sau đó ông được cử về Rostov làm toàn quyền Hội đồng kiểm tra vùng Bắc Kavkaz. Đó là một rất chức vụ lớn thời ấy, nhưng bỗng nhiên Filatov bị bắt và mất tích... Tất cả những người, mà Stalin biết là có quan hệ với Filatov, là những người tốt và tin Filatov - bỗng nhiên bị bị giết! Nguyên nhân gì đây? Chẳng có lẽ Filatov trở thành kẻ thù nhân dân? Động cơ nào? Đây là một người vô sản Moskva tham gia hoạt động bí mật trước cách mạng, sau đó tham gia nội chiến, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, được đưa lên chức vụ khá cao của Đảng. Có thể nói tính nhu nhược riêng của ông, hoặc cẩn thận? Vị tất. Sự thôi thúc nào khiến ông nảy sinh sự thay đổi? Không có sự thôi thúc nào cả, cớ gì Filatov chết, như hàng trăm, hàng nghìn người khác? Nguyên nhân chỉ có một. Suy nghĩ của mình về điều này tôi nói sau.



Có thể, thời ấy năm 1939 hoặc cuối 1938. Tôi về Donbass. Tôi về vùng đất quê hương, nơi tôi sống thời thơ ấu và thanh niên. Muốn gặp cũng bạn của mình, với những người cùng tôi làm việc ở nhà máy Bossе, ở các mỏ đá: Uspenski, Podsolkovе, Gorskovsk, Pastykhov, mỏ số 11, số 31, Voznesenk. Thời thơ ấu của tôi trả qua ở đó. Năm tôi 16 tuổi, bố tôi đưa tôi rời làng vào Donbass. Tuổi thơ ấu và, và thanh niên của tôi ở Donbass. Tôi vào hầm lò, nhớ lại quá khứ, gặp thợ chế biến, nói chuyện với thợ gương lò, nghe cạcc họp của họ, sau đó ra khỏi hầm lò, và nhân viên Cheka cùng với tôi, kết thúc. Một người trong họ (quên họ tên của ông), làm ở vùng Stalin, để lại ấn tượng một người thông minh, có học thức. Ông và báo cáo cho tôi về mọi vấn đề.



Cùng với tôi ở đó có Serbakov, sau đó được điều về Donbass, rồi sau nữa về Moskva, sau khi người ta bắt Bí thư đảng tỉnh Moskva và đảng uỷ thành phố - Ugarov về Moskva thay thế tôi, khi tôi về Ukraina. Trước đây, Ugarov là người Leningrad, là bí thư đảng uỷ ở Leningad, từng làm việc với Kirov, còn sau đó với Zdanov. Ugarov gây cho tôi ấn tượng rất tốt. Khi tôi làm việc ở Moskva, chúng tôi thi đấu với nhau. Thi đấu thuần thuý hữu nghị. Tôi thích ông, Ugarov cũng quý tôi. Mọi việc tốt đẹp, người ta chọn Ugarov về thủ đô, bỗng nhiên Stalin gọi tôi:



- Về ngay Moskva, chúng ta không yên ổn với Moskva.



Tôi về. Ông nói với tôi rằng Ugarov là kẻ thù nhân dân, kinh tế ở Moskva bị bỏ hoang, Moskva (đã là mùa thu) không có khoai tây khoai tây, không có hoa quả. Khi tôi là người lãnh đạo Moskva, chúng tôi giải quyết thành công vấn đề này và Moskva đảm bảo đủ khoai tây, bắp cải, và các hoa quả khác. Sự thật không phải nhiều mặt hàng, nhưng theo mức thời đấy những thực phẩm thiết yếu chúng tôi đảm bảo.



Chủ tịch Mossoviet thời ấy, theo tôi, Sidorov. Khi tôi là người lãnh đạo các cơ quan Moskva, ông làm việc giám đốc một liên hợp sữa và sản phẩm động vật. Sidorov là người không xấu, nhưng đây là nhận xét ba phải, cần cho tôi hồi tưởng. Stalin nói với tôi:



- Bỏ tất cả lại Ukraina, không xảy ra gì ở đấy đâu, chỗ chúng ta tại Moskva trong tình thế tuyệt vọng. Anh sẽ được bổ nhiệm toàn quyền BCHTƯ Đảng về vấn đề Moskva, đừng đi khỏi đó chừng nào chưa có đủ dự trữ khoai tây và hoa quả cho mùa đông thủ đô.



Lạ lùng thật, một cuộc nói chuyện. Nhưng lạ lùng khi tôi gọi cho Molotov, ông hỏi tôi:



- Khi anh đi khỏi Moskva, anh có duy trì mối liên lạc với hắn không?



Tôi trả lời:



- Không, chẳng có liên lạc gì cả.



- Nhưng vì sao?



- Chúng tôi có một quy tắc thế này: nếu đi khỏi chỗ cũ, thì mọi liên lạc với nó bị ngừng hẳn để không quấy nhiễu sự lãnh đạo mới. Sự liên lạc cần được duy trì không phải với từng cá nhân, mà với BCHTƯ.



- Ugarov là kẻ thù nhân dân. Nếu anh có liên quan với Moskva, thì, có thể, chúng tôi nhanh chóng biết vạch mặt hắn.



- Tôi, từ Kiev vạch mặt khó hơn ở Moskva, gần các đồng chí.



Nếu quả là nói điều này, người cần phải chịu trách nhiệm là trong các uỷ viên Bộ chính trị, thì chính thức ghi nhận rằng người chịụ trách nhiệm là Zdanov. Ông là bí thư tỉnh uỷ, Leningrad, bí thư BCHTƯ. Ông còn là bí thư thành uỷ Leningrad. Tôi cho rằng những than phiền về tôi là không có cơ sở.



Ừ cũng là sự tiếp cận hay ho, cần tìm người có tội, người này giả thiết rằng Ugarov trở thành kẻ thù nhân dân, mặc dù ông không phải là kẻ thù nhân dân như thế, đúng, không thể như thế.



Sau cuộc gọi của Stalin, tôi về công tác ở chỗ trước đây thành uỷ và bắt đầu làm tất cả để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ. Tôi có nhiều kinh nghiệm: tôi biết rõ Ukraina, Ukraina nơi cung cấp lớn nhất hoa quả. Ngoài ra, tôi biết các cán bộ Moskva. Chúng tôi đảm bảo chở đến hoa quả, tôi ngồi ở Moskva thời ấy khoảng nửa tháng. Chúng tôi tổ chức Plenum tỉnh uỷ. Stalin nói:



- Anh tiến hành Plenum và loại Ugarov khỏi chức vụ của hắn (Ugarov vẫn còn chưa bị bắt).



Tôi đặt vấn đề:



- Chọn ai?



Stalin suy nghĩ lâu, đi đi lại lại, lập luận đọc to thành tiếng, kêu:



- Serbakov.



Trước đây Serbakov lãnh đạo ở Siberi, trong tỉnh uỷ. Khi tôi về Ukraina, ông về Donbass, để tăng cường.



- Làm đi - Stalin nói - chọn Serbakov ở chỗ anh.



- Nếu cần, đồng chí cứ lấy. Cũng có những chứng cớ về Serbakov đấy. Người ta chỉ Serbakov là kẻ thù nhân dân: chứng cớ như thế, liệu có đáng tin tưởng. Ông nghĩ thế nào với ông ấy.



Stalin lại đi đi lại lại, suy nghĩ, sau đó nói:



- Thôi thế này. Dù sao chăng nữa, cứ lấy Serbakov, nhưng phải cử một bí thư thứ hai người Moskva kèm Serbakov, người đó chúng ta phải biết rõ, và phải nói với ông ta rằng rằng có những tư liệu nói là Serbakov liên quan với kẻ thù nhân dân, cảnh báo để ông ta theo dõi Serbakov. Nếu có cái gì tỏ ra nghi ngờ, hãy nói cho BCHTƯ.



Nhưng ai là người thứ hai? Người ta hỏi Malenkov. Malenkov trả lời:



- Popop.



Khi Popop làm việc ở chỗ Malenkov, Ban tổ chức, hình như là phó của Malenkov. Tôi quen Popop, nói với ông một cách tin tưởng bảo là, ông về tỉnh uỷ Moskva. BCHTƯ tin tưởng ông, còn ông, mặt khác, phải là con mắt của BCHTƯ, quan sát Serbakov. Serbakov từng làm việc ở Moskva trước đây: từng là bí thư thứ nhất Hội nhà văn Liên Xô trong thời Macxim Gorky. Có va chạm gì đó giữa ông với Gorky. Gorky chống Serbakov, vì rằng Serbakov can thiệp vào công việc cụ thể các nhà văn, và ông phải về Lenigrad, sau đó về Sibiri và Donesk. Plenum diễn ra tốt. Người ta chọn Serbakov. Nhưng tại Donbass, theo tôi, chúng tôi đưa một người địa phương từng làm việc ở chỗ Serbakov, làm Bí thư thứ hai tỉnh uỷ.



Trở lại Donbass. Tôi làm quen những hoạt động của hầm mỏ và các nhà máy, với các cán bộ, đi khắp các vùng cũ, nhớ lại quá khứ, khi tôi ở đó là công nhân và sau này là cán bộ Đảng. Tôi quyết định đi về Gorlovk. Người ta nói cho tôi, Gorlovk không yên ổn với bí thư Quận uỷ. Tôi nói với thủ trưởng NKVD địa phương: tôi đến đó và tôi xem xét, thảo luận với người ấy. Tôi đến. Tôi không quen Bí thư Quận uỷ. “Tài liệu” về ông ta, có. Người ta cũng cho tôi xem, và thủ trưởng NKVD không nghi ngờ, đó kẻ thù chưa chết, vẫn còn những tổ chức mưu phản. Người ta bắt ông ta khi tôi đến Gorlovk (quy mô chiến dịch rất lớn). Sau một vài giờ, có biên bản hỏi cung đầu tiên, và người này thú nhận: chỉ cái này... cái kia, người này lôi kéo ông... người kia cùng với ông... v.v... Lúc đó trong ban lãnh đạo có 3 Bí thư Quận uỷ: bí thư thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Bí thư thứ nhất khai là bí thư thứ hai và ba cũng bị lôi kéo về phía sông ta.



- Việc như thế ư? - tôi hỏi thủ trưởng NKVD.



- Vâng, biết, như thế... như thế...



Bắt cả Bí thư thứ hai. Sau một thời gian người ta đọc cho tôi nghe biên bản hỏi cung. Tôi chú ý đến việc giải nghĩa sự thừa nhận của Bí thư thứ nhất và thứ hai trong việc phạm tội, nó giống nhau đến từng chữ, và được ghi bởi cùng một điều tra viên. Tôi nói:



- Sao có thể giống nhau đến từng chữ như thế? Liệu điều tra viên thẩm vấn họ riêng rẽ?



- Ông cũng biết, việc này chỉ có một người và một điều tra viên, viết theo mẫu.



Đối với tôi, điều này tỏ ra có những chỗ khuất tắt gây ngờ vực. Vả lại, có vấn đề giấy tờ, lập biên bản, theo thực chất, tôi tin rằng người ta thú nhận ra. Cả hai người đều chỉ ông Bí thư thứ ba - Gaevoi. Tôi xem tiểu sử ông: công nhân địa phương, mọi người biết ông. Tôi nói:



- Triệu tập đảng uỷ.



Phiên họp khu uỷ tiến hành. Thành phần khu uỷ có những người tuổi tương đối đáng kính trọng. Tôi nói:



- Thưa các đồng chí, bí thư thứ nhất và bí thư thứ hai (thủ trưởng NKVD có thể trình bày tỷ mỷ hơn) tỏ ra có liên quan với kẻ thù nhân dân.



Bí thư thứ nhất là như thế này... Một tổ chức thù địch với đất nước dường như do ông hình thành ra. Trước đó ông bị bắt. Và khi đó những uỷ viên khu uỷ, những người cao tuổi, phát biểu như thế này:



- Đồng chí Khrusev, chúng tôi không biết họ, họ là những người từ đâu đến, được cử đến chỗ chúng tôi, nhưng Gaevoi lớn lên ở làng này. Chúng tôi biết ông ta từ khi đó, khi ông mặc quần thủng đít, và chúng tôi biết thân sinh ông. Đây là người của chúng tôi, và chúng tôi bảo đảm cho ông ấy.



Tôi nói:



- Được. Lần này các ông bảo đảm, thì thủ trưởng NKVD, có mặt ở đây, còn kiểm tra một lần nữa, và đừng ai làm hỏng Gaevoi, dưới sự đảm bảo của các ông.



Gaevoi được thả tự do. Sau một thời gian ông được điều làm Bí thư thứ hai tỉnh uỷ Stalin, còn sau đó, hình như, thậm chí bí thư thứ nhất. Có thể bây giờ tôi không tiếp tục trình bày tất cả và trường hợp Gaevoi xảy ra từ trước khi Serbakov đến, vì rằng, theo tôi, chính Serbakov đưa Gaevoi làm Bí thư tỉnh uỷ. Nhưng việc không phải ở chỗ là đồng nghiệp của ông. Bằng phương pháp như thế, “kẻ thù nhân dân” được tạo ra. Và những tổ chức Đảng cao cấp, và những người lãnh đạo cao cấp thậm chí như tôi, có địa vị tương đối cao (tôi trong thời gian ấy là uỷ viên Bộ chính trị) tỏ ra có quyền lực hoàn toàn, cũng có những tài liệu, được các nhân viên NKVD đưa ra, mà những nhân viên NKVD quyết định số phận và của người này người khác Đảng viên hoặc không Đảng viên.



Khi đó tại Donbass tôi đụng phải việc một số giáo viên Viện mỏ mang tên Artem (tôi tốt nghiệp khoa lao động của trường này năm 1925), những người, mà tôi rất kính trọng, cũng là “kẻ thù nhân dân”.



Trong số kỹ sư mỏ, có Gerchikov, người Do Thái, nhà toán học rất giỏi và rất khoẻ mạnh, nhân thể nói thêm, nhà điền kinh. Sau đó ông làm việc ở công nghiệp than và là một kỹ sư mỏ. Bỗng dưng ông cũng rơi vào nhóm những người làm hại, nhưng không phải trong thời kỳ chiến dịch khám phá người làm hại, mà là trong thời kỳ vạch mặt “kẻ thù nhân dân”.



Dân uỷ viên công nghiệp nặng là Kaganovich đến Donbass, làm một bài phát biểu lớn, kể ra hàng chục kẻ thù nhân dân bị vạch mặt và đọc tên những người này, trong số đó có cả Gerchikov. Tôi đau lòng nhận ra rằng Gerchikov, người mà tôi biết rõ và kính trọng, cũng là kẻ thù nhân dân. Tôi về Donbass cuối năm 1938 và ngẫu nhiên gặp Gerchikov. Tuy nhiên đây không còn là Gerchikov như trước nữa, chỉ còn bóng dáng ông. Tôi hỏi:



- Ông khoẻ không?



Ông trông có vẻ buồn bã, kín đáo. Ông lầm rầm rằng ốm yếu, rằng bị bắt. Sau đó người ta kể rằng ông bị đánh đập tàn tệ, cướp đi sức khoẻ của ông, chẳng bao lâu thì ông chết.



Nói chung chuyến đi về Donbass được giải thích rằng ở đó không còn những người lãnh đạo công nghiệp than và chỉ còn những người phó. Phải đưa ra người mới. Kaganovich đưa ra những người tốt và lương thiện, nhưng ít được đào tạo, chưa được học hành tử tế. Người ta đưa cả Nikita Izotov, một công nhân rất tốt, một người lao động tiên tiến. Nhưng để là người lãnh đạo công nghiệp than, tất nhiên, ông không thích hợp. Và Diuakov cũng được đưa ra, nhưng cũng hoàn toàn không thích hợp. Người ta phàn nàn với tôi về Diuakov:



- Đồng chí Khrusev, Diuakov gọi một kỹ sư. Người kỹ sư báo cáo với ông. Và nếu một điều gì đó ông không vừa ý hoặc ông không hiểu, ông ta chỉ có một luận cứ như thế này: “Anh nhìn đi, tôi... phát vào mông anh đấy”. Và mỗi người chúng tôi, kỹ sư, hai lần trong một ngày đêm đến chỗ ông, để ông phát nó.



Tôi nói cho Stalin rằng không thể cất nhắc như thế. Chúng tôi có các kỹ sư, họ hoàn toàn có thể lãnh đạo. Stalin đồng ý với tôi. Người ta đưa Zasiadko vào loên hợp than Stalin. Sau chiến tranh ông trở thành phó chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, bây giờ đã chết. Một người có nhược điểm lớn: ông uống rượu suốt ngày, một người đáng thương. Nhưng là một người quản lý hành chính và người tổ chức rất tốt, biết nghề mỏ một cách tuyệt vời. Lúc ấy, theo tôi, tại Donbass có một liên hợp trong ngành than và luyện kim, đứng đầu là các các kỹ sư mới. Tôi không tính đến và không nhớ tên tuổi của mọi người, lãnh đạo liên hợp hoặc đã chết trong thời gian ấy.



Dần dần tình thế trong nông nghiệp và trong công nghiệp bắt đầu đầu ổn định. Công nghiệp bắt đầu thực hiện những kế hoạch, cả than, cả luyện kim, và chế tạo máy. Nông nghiệp cũng bắt đầu lấy lại sức lực. Những cán bộ mới được bênh vực, sự đàn áp có yếu đi. Các vụ bắt bớ cũng không tràn lan, dường như chỉ lựa chọn những ai bị nhắc đến trong các biên bản đấu tranh khi bắt và hành quyết “kẻ thù nhân dân”.



Nông nghiệp tăng dần. Một hôm, Dân uỷ tài chính Zverev gọi tôi:



- Ông bán ít bánh mỳ trắng, đặc biệt bánh mỳ gối và bánh sừng bò.



Vấn đề là ở chỗ những thực phẩm này được bán theo giá cao như hàng hoá của bộ tài chính, doanh thu từ việc bán này đưa vào tích luỹ để công nghiệp hoá. Tôi cũng nhớ lại củ cải đường khi đó cũng chỉnh đốn tình hình. Và ngũ cốc cũng thế: luá mỳ thu mua­ hơn 400 triệu pud (đơn vị đo lường cũ của Nga, chừng 16 kg). Trong thời gian đó là một con số lớn đối với Ukraina. Sau chiến tranh vệ quốc, khi tôi trở lại công tác tại Ukraina, người ta cung cấp khoảng 700 triệu pud bánh mỳ. Nhưng đấy là thời gian khác. Nhưng vào thập niên 1930 Ukraina quả là người nuôi sống Liên Xô theo cách nghĩ ngũ cốc, đường và nói thậm chí không cần nói thêm nữa. Ngoài ra, còn trồng nhiều hoa quả, thuốc lá, hướng dương.



Khi tôi về Ukraina và khởi đầu cương vị của mình Bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, có lần viện sỹ Ukraina Paton gọi tôi. Trước đây tôi đã nghe về ông, nhưng chưa bao giờ gặp ông. Người ta thông báo cho tôi rằng đây là một người rất hay, nhà chế tạo máy giỏi, say mê vấn đề cấu trúc hàn cầu. Ông đề nghị tôi tiếp ông, và tôi tiếp ông. Một người rắn chắc, đã có tuổi, trọng lượng trung bình, tráng kiện, mặt như sư tử, mắt sắc. Chào hỏi xong, ông lôi từ trong túi một mẩu kim loại và đặt lên bàn:



- Đây, hãy xem, đồng chí Khrusev, viện chúng tôi có thể làm được cái gì. Đây là sắt viên (có lẽ độ dầy chừng 10 mm), và tôi hàn nó như thế này.



Tôi nhìn mối hàn. Bởi vì chính tôi là thợ luyện kim, tôi thường gặp các mối hàn. Đây là một mối hàn lý tưởng, vẻ bề ngoài nhẵn như tờ giấy. Ông nói:



- Đây là hàn trong chất lỏng phù trợ.



Từ “chất lỏng phù trợ” khi đó tôi nghe lần đầu tiên. Và Paton còn có những phát minh khác. Ông kể, những khả năng mối hàn làm tan dưới chất lỏng phù trợ, đem lại lợi ích như thế nào, giảm nhẹ sức lao động ra sao, nâng cao hiệu suất làm việc và chất lượng hàn và nói chung, đặc biệt là độ tin cậy của chúng. Ông say mêе ý tưởng hàn tất cả các cấu trúc sắt từ kim loại đen - cầu, vì kèo để làm mái nhà và v.v..., và chứng minh, chúng làm thuận lợi việc hàn không cần keo, vẽ ra trước mắt tôi một bức tranh, что chẳng bao lâu ông chế tạo máy hàn tự động dùng để hàn tàu thuỷ. Mắt của ông sáng lên, lời nói của ông đầy vẻ tự tin, ông buộc những người khác tin vào ý tưởng của ông. Ông biết cách để đạt được kết quả của mình cho những người không phải là người chuyên mô tin chúng theo đúng chứng cứ của mình.



Tôi bị quyến rũ bởi cuộc gặp và nói chuyện với Paton, những tiến bộ của ông, ý tưởng cách mạng kỹ thuật. Bây giờ могу nói rằng Evgeni Oskarovich - cha đẻ của hàn công nghiệp của Liên Xô. Con trai ông - bây giờ là Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina, hoàn toàn xứng đáng với người cha của mình. Sau cái chết của Paton (bố) tôi nhiều lần gặp gỡ với Boris Evgenievich nhiều lần nghe ông, ông cho tôi xem những mẫu mới đạt được trong lĩnh vực hàn. Một loạt công trình này vượt xa giới hạn của viện, chúng được đưa vào rộng rãi trong sản xuất. Tại cuộc gặp mặt đầu tiên Paton (bố) nói:



- Tôi có điều phàn nàn. Giám đốc nhà máy kiến trúc kim loại Dneprо-Petrovsk tại Kiev. Tôi mời ông ta tới viện xem công việc của chúng tôi. Tôi muốn biểu diễn việc hàn kết cấu lim loại để đưa vào nhà máy của ông ta, trước hết là hàn tự động dưới chất lỏng trợ lực. Ông ta không dành thời gian đến với tôi và lại chạy về Dnepropetrovsk. Thế đấy, những người xô viết thuộc về những người mới. Sự áp dụng hàn tự động đem lại sự tiết kiệm kim loại, đẩy nhanh xây dựng và nâng cao năng suất lao động.



Tôi trả lời:



- Cám ơn anh đã nói cho tôi. Ông giám đốc nhà máy sáng mai sẽ có mặt ở chỗ ông.



Ngay lúc có mặt ông tôi gọi Zadionchenko bí thư tỉnh uỷ Dneprо-Petrovsk. Ông là người rất hành động, hiểu ngay bản chất công việc và trả lời:



- Bây giờ tôi sẽ gọi ông ta, sáng mai ông ấy sẽ có mặt ở Paton.



Hôm sau giám đốc lại bay đến Kiev. Paton hài lòng gọi cho tôi và nói rằng ông giám đốc này đang ở chỗ ông, và họ tìm thấy tiếng nói chung.



Cuộc nói chuyện với Paton gây cho tôi những ấn tượng mạnh. Tôi viết thư cho Stalin, trong đó nói hết tất cả cái gì mà viện sỹ kể cho tôi và cái gì mà chính mắt tôi nhìn thấy, khi tới thăm viện của ông ta, tiếp xúc vớicông nhân của ông. Trong thư, tôi rất khen ngợi Paton, phấn khởi về công việc của ông và viết triển vọng lớn trong tương lai sử dụng phương pháp hàn này, nhấn mạnh, nhấn mạnh rằng phải đẩy mạnh рcông việc của Paton để nhanh chóng đưa chúng vào thực tế ở nhà máy chúng tôi.



Một thời gian ngắn sau, Stalin gọi tôi và đề nghị tôi về Moskva. Bây giờ tôi còn đi tàu hoả. Lúc đó uỷ viên Bộ chính trị và BCHTƯ Đảng không đi máy bay, có lệnh cấm. Lệnh cấm ấy xuất hiện một cách thú vị. Mikoian đã kể cho tôi có lần ông đi đến Belorussia, phi công đề nghị ông đi máy bay. Ông đồng ý bay. Điều này sau đó được viết trên báo. Stalin đọc, biết Mikoian bay bằng máy bay và phi công khi ấy thực hiện những cú nhào lộn dành cho phi công hạng cao, đề nghị tuyên án khiển trách Mikoian vì những liều lĩnh không cần thiết. Rồi ra một biên bản cấm các uỷ viên BCHTƯ ĐCS toàn Nga (b) và Bí thư nước cộng hoà BCHTƯ bay, điều này được coi là khá nguy hiểm. Chúng tôi chỉ bay trong thời gian chiến tranh.



Tôi rất thích máy bay và thường bay, khi có điều kiện mà không làm Stalin lo ngại. Tôi thường bay, khi làm việc tại Kiev những năm 1928-1929. Ở đó phi công Deych phục vụ. Tôi đi đến Rzinsev, và phi công Deych “đãi” lần đầu tiên trong đời bằng chuyếnmáy bay. Điều này gây cho tôi ấn tượng mạnh. Sau đó tôi thường bay trên “Younker.



Trên “Younker” khi đó thường chở tư lệnh không quân Liên Xô Baranov. Về sau này ông chết thảm khốc. Đó là một người tuyệt vời, bạn thân của Yakir. Trong thời gian chúng tôi, khi ông bay đến Kiev, cho phép tôi bay trên máy bay của ông. Như thế, trong thời gian ấy, tôi cũng đã là “con sói trên không.



Nhưng khi tôi công tác bí thư Thành uỷ Moskva, tôi đã bay thậm chí trên máy bay thí nghiệm “Stal-2”.



Trên đó tôi bay cùng với Dân uỷ viên hàng không dân sự. Bay tôi cả trên khinh khí cầu cũng với Dân uỷ viên hàng không dân sự. Nhưng, mặc dù tôi cũng đã bay nhiều, bây giờ lại bị cấm, vì thế tôi từ Kiev về Moskva chỉ bằng tầu hoả tàu hoả.



Về đến Moskva, tôi gặp Stalin, một lần nữa kể về Paton. Ông cướp lời tôi:



- Tôi gọi anh đến về vấn đề này. Tôi đọc thư và tôi rất thích nó. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông đánh giá công trình này và muốn nói chuyện với ông, còn sau đó đưa vấn đề này cho BCHTƯ và viết quyết định đưa vào sản xuất. Nhưng Paton là người thế nào? Ý nguyện của ông ta thế nào? Ông ta còn khoẻ không, nếu chúng tôi cho ông làm Hội đồng Dân uỷ toàn quyền và cho ông thư uỷ nhiệm không hạn chế về việc áp dụng phương pháp hàn trong sản xuất. Ông ấy có thể ép những người quan liêu phải đưa việc hàn vào sản xuất?



Tôi trả lời:



- Chừng mực nào tôi biết Paton, nếu trao cho ông thư uỷ nhiệm như thế, những người quan liêu sẽ không còn gì bấu víu. Ông ấy sẽ dừng họ lẩn tránh. Ông ấy là người ý chí kiên trì lắm.



Lúc ấy Stalin bảo tôi không quay về Kiev, để gọi Paton lên nhận quyết định, cho phép ông toàn quyền tổ chức áp dụng trong sản xuất phương pháp hàn mới. Khi Paton đến, Stalin trao cho ông một số vấn đề và làm quen với ông. Ông cũng gây một ấn tượng lớn, rất tốt đối với Stalin: Paton là người có ý chí, có tổ chức, biểu thị rõ ràng và khúc chiết ý nghĩ của mình, mặt mũi có khí phách và sắc bén, con mắt nhìn thấu suốt. Ông buộc người ta phải coi trọng ông và ông có ảnh hưởng đến những người gặp ông. Điều này làm cho Stalin thích thú. Paton nhận thư uỷ nhiệm, và bây giờ tôi quiay về Kiev.



Tôi hỏi tỷ mỷ Paton về khả năng hàn, tôi nảy ra ý nghĩ dùng phương pháp này để hàn thân xe tăng hàng loạt. Tôi hỏi ông:



- Liệu có thể hàn thép xe tăng?



Ông suy nghĩ:



- Phải nghiên cứu. Tôi không thể bây giờ trả lời ông được. Nhưng thép bọc có độ dày bao nhiêu?



- Hình như gần 100 mm.



- Khó đấy, nhưng chúng tôi sẽ thử. Tôi nghĩ, làm được.



Tôi lại một lần nữa gặp Paton để biếttốt hơn, thép nào, chi tiết nào, kim loại nào và độ dầy nào ông có thể hàn bằng phương pháp của mình. Tôi hy vọng, phương pháp của ông có thể có ích để hàn thân xe tăng. Chiến tranh đang đến gần.



Khi tôi lại đặt vấn đề này, Paton nói cần biết thành phần. Tôi đề nghị ông đến nhà máy xe tăng Kharkov. Ban đầu đây là nhà máy, hình như, Gartman, còn sau đó được gọi là KhPZ (nhà máy sản xuất đầu tầu hoả Kharkov mang tên Quốc tế cộng sản), nhưng ở đó sản xuất cả những sản phẩm mới - xe tăng thành phẩm và động cơ diesel. Tôi nói:



- Tôi đề nghị giám đốc nhà máy và bí thư Đảng uỷ (giám đốc là Maksaev, còn Đảng uỷ - Episev (bây giờ Tổng cục trưởng Tổng cục chính trịquân đội và hải quân Liên Xô), họ để ông tiếp xúc với sản xuất và các nhà thiết kế. Ông tự nghiên cứu sản xuất và sau đó nói cho tôi suy nghĩ của mình.



Paton đến Kharkov, làm quen với sản xuất xe tăng, sau đó nói cần một thời gian suy nghĩ, nhưng tin rằng có thể tổ chức hàn tự động vỏ xe tăng dưới dung dịch trợ lực. Tôi nói ему:



- Đây là một thắng lợi to lớn đối với đất nước và đối với quân đội. Một công việc lớn.



Paton làm việc cùng với các nhà thiết kế xe tăng và các đốc công của nhà máy, những người chium trách nhiệm những chi tiết xe tăng mà họ hàn. Tôi muốn kết thúc kể về Paton và sự tham gia của ông trong sản xuất xe tăng, về đóng góp lớn của ông trong chiến thắng của Hồng quân, vì rằng xe tăng quả là bắt đầu được hàn, như miếng bánh tráng của lò do sự giúp đỡ của Paton. Khi chiến tranh lan rộng và những sự kiện dồn ép bất lợi cho chúng tôi, Hồng quân phải rút lui, nói riêng, Kharkov, chúng tôi bắt buộc phải sơ tán công nghiệp Kharkov về phía đông. Sản xuất xe tăng từ Kharkov chuyển đến Ural. Đảng uỷ thiết kế cũng đến đó. Cả Paton cũng đến đó. Ở đó nhanh chóng thu xếp sản xuất xe tăng ở chỗ mới. Paton đóng góp lớn vào tổ chức sản xuất xe quân sự. Đó là một người rất hay, lúc ấy không còn trẻ nữa và như đã nói, là sản phẩm của chế độ cũ về ý thức, được giáo dục trong thời Nga hoàng.



Năm 1943 tôi bay đến về Moskva theo lời gọi của Stalin. Stalin thường gọi tôi từ mặt trận về để nói chuyện. Thời kỳ này Paton ở Moskva. Ông đề nghị gặp tôi. Tôi tiếp ông, nghe, và ông trao cho tôi một bức thư cho BCHTƯ Đảng. Ông viết rằng cha ông phục vụ cho Nga hoàng, làm lãnh sự ở Italy, có lẽ ở Genue.



“Khi cách mạng thành công - ông viết - tôi cũng đã trưởng thành và, đương nhiên, thuộc về cách mạng một cách không nghiêm túc. Tôi cho rằng điều này không lợi đất nước ta, vì đã chống lại cách mạng tháng Mười. Nhưng tôi không có một hành động chống đối và không tham gia vào bất kỳ các tổ chức nào chống xô viết. Nếu có thể được biểu thị như thế, tôi chờ đợi rằng chính quyền này không tồn tại lâu lâu, nó sẽ bị tan rã, vì rằng nó không có tương lai và không vững chắc. Thời gian trôi đi. Tôi thấy thời gian đã thử thách chính quyền và chính quyền vẫn tồn tại. Sau đó chính quyền trở nên vững chắc, tỏ rõ khả năng tổ chức của mình, tỏ rõ hướng hoạt động, cái đó làm tôi làm hài lòng. Tôi hài lòng về những gì mà chính quyền xô viết đã làm. Với hàng năm sự hoạt động hấp dẫn chính quyền Xô viết lớn dần và tràn ngập lòng tôi. Tôi bắt đầu làm việc tốt hơn và trở thành hoà nhập với thực chất, được chính quyền xô viết xây dựng. Nhưng dù sao chăng nữa tôi không quên, tôi và chính quyền xô viết trong những ngày đầu tiên cách mạng, và vì thế tôi cho rằng tôi không có quyền có sự ủng hộ nào từ phía chính quyền Xô viết hoặc sự tín nhiệm đặc biệt với tôi. Tôi tiếp tục làm việc trung thực ở mảnh đất nơi tôi làm việc. Lúc ấy chiến tranh bắt đầu, và tôi được đưa đến chế tạo xe tăng. Tôi cho rằng tôi có đóng góp lớn vào sự phòng thủ đất nước ta, tổ chức sản xuất hàng loạt vỏ xe tăng, đưa máy hàn tự động dưới dung dịch trợ giúp theo khả năng của mình. Từ lâu, tôi đứng về chính quyền xô viết. Giờ đây tôi cảm thấy rằng tôi có quyền về mặt tinh thần gửi tới Đảng đề nghị nhận tôi vào hàng ngũ của mình. Vì thế tôi viết bức thư này và chuyển nó đến BCHTƯ tuyên bố về chấp nhận tôi vào Đảng. Tôi đề nghị ủng hộ tôi, tôi ước gì ngay bây giờ là một Đảng viên”.



Bức thư này làm tôi sung sướng, vì rằng Paton là người kiệm lời. Tôi cảm thấy lòng chân thật sâu sắc của ông thừa nhận chính quyền Xô viết là chính quyền nhân dân, thừa nhận ĐCS là nhà tổ chức chiến thắng kẻ thù. Tôi rất sung sướng về mong muốn của Paton- đăng ký chính trị để tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, trở thành Đảng viên. Tôi nhận thư của ông và nói rằng tin tưởng ông sẽ được chấp nhận vào hàng ngũ ĐCS toàn Nga (b).



- Tôi trình đồng chí Stalin, và ông sẽ biết quyết định của BCHTƯ.



Tôi không nhớ, bao lâu sau, tôi gặp Stalin, kể hết tất cả với ông ta và trao cho ông bức thư này. Stalin cũng xúc động - ông hiếm khi thể hiện ý nguyện của mình - và nói:



- Ừ được, cứ giải quyết cho Paton, ông xứng đáng được kính trọng.



Và bây giờ tôi trình để ra quyết định:



- Chấp nhận đồng chí Paton vào đảng không tính đến thời gian thử thách.



Trong thời gian, chờ chấp nhận Paton vào Đảng, phải qua thủ tục, theo đó những người thành phần tư sản hoặc trí thức, nhất thiết phải qua thời gian thử thách kéo dài hai hoặc ba năm. Nhưng với Paton, thủ tục đó không cần, không được áp dụng. Có lẽ do công lao đặc biệt của ông trước tổ quốc và Đảng, ông được chấp nhận vào Đảng ngay lập tức. Tôi rất hài lòng. Thứ nhất, tôi vui mừng vì Paton và vì đất nước, vì công việc mà Paton đã cống hiến cho đất nước và quân đội. Thứ hai, tôi hài lòng rằng bằng trách nhiêkm của mình, tôi làm quen với ông, hiểu vai trò của ông và tuyển mộ một công việc lớn như thế: sản xuất xe tăng. Sau chiến tranh Paton quay về chúng tôi tại Viện hàn lâm Ukraina, trở thành phó chủ tịch Viện hàn lâm và tiếp tục công việc của mình một cách vững vàng như đã làm trong thời gian chiến tranh và trước chiến tranh.



Khi chúng tôi gặp bất hạnh, bất hạnh cả đối với Ukraina, và đối với khoa học - chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina Bogomoles từ trần, ông được mọi người rất kính trọng, với đặt ra là sẽ là chủ tịch Viện hàn lâm? Người ta nói với rôi rằng các nhà khoa học Ukraina băn khoăn. Điều này là do nhiều người trong số họ nghĩ rằng BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina sẽ giới thiệu chính Paton. Họ biết tôi kính trọng Paton, nghĩ rằng ứng cử viên này, không còn nghi ngờ gì nữa, được nêu ra. Lúc ấy cần nói rằng trong Viện hàn lâm khoa học Ukraina có nhiều ý kiến khác nhau về Paton. Tôi cho rằng đa số tuyệt đối các nhà khoa học kính trọng ông rất cao như một nhà bác học. Nhưng mọi người rất sợ tính cách của ông và vì thế sợ rằng ông trở thành chủ tịch Viện hàn lâm. Mọi người biết suy nghĩ của ông, không chịu nổi tính ba hoa khoác lác, cụ thể trong công việc. Ông có ý chí kiên trì rất cao. Tin đồn đến tai tôi là nếu chủ tịch Viện hàn lâm là Paton, là do Khrusev ủng hộ ông, và ông sẽ đuổi người thứ hai, thứ ba... và biến Viện hàn lâm khoa học thành một xưởng thực nghiệm cao cấp. Nghĩa là buộc tội ông theo chủ nghĩa thực hành. Vâng, đây chính là một con người biết đặt kiến thức khoa học vào phục vụ sự nghiệp. Ông không chịu đựng nổi những cuộc bàn luận trừu tượng và những cãi vã vô bổ dưới mác học thuật. Quả là, với những người như thế, ông có thể là mối đe doạ.



Chúng tôi biết tất cả những quan hệ như thế vớiông, và vì thế chúng tôi không nảy ra ý tưởng giới thiệu ông vào chức vụ chủ tịch Viện hàn lâm. Nếu phải “gây sức ép” khi bỏ phiếu, thì sẽ gặp những điều không tốt. Chính Paton cũng không thiên về điều này. Ông say mê công việc của mình và của viện mà ông lãnh đạo. Bây giờ viện này nổi tiếng không những ở nước ta, mà viện còn chiếm một vị trí tương đối cao trên thế giới về hàn kim loại. Sau khi Paton chết, lãnh đạo viện là con trai ông, Boris, bây giờ là chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina.



Khi Paton chết, Tại Kiev, một chiếc cầu mới được xây xong qua sông Dnepr. Đó là chiếc cầu lớn nhất ở Kiev. Nó được hàn toàn bộ. Paton cố đạt được điều này, và tôi ủng hộ ông, để áp dụng cấu trúc hàn toàn bộ. Ông là nhà kỹ thuật, là người lãnh đạo hàn cầu. Trong thời gian tôi về công tác ở Ukraina. người Ukraina có ý định tặng tên tooi cho chiếc cầu. Điều này làm tôi ngạc nhiên, đặc biệt vì rằng trước đó chúng tôi đã quyết định cấm phong các xí nghiệp, cơ quan, nông trang và v.v... mang tên các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ khi còn đang sống. Và thậm chí hàng loạt tên tặng thưởng được trước đây, chúng tôi bằng quyết định đặc biệt đã bỏ đi. Như tôi nói đùa, người ta tước đoạt hết quyền và vị thế của những người “khoắng” về mình những xí nghiệp, nhà máy và thành phố. Cuộc thi đấu như thế thậm chí là không lành mạnh, tên của họ được tặng cho một lượng lớn xí nghiệp và nông trang. Điều này là dã man! Khi Lenin còn sống điều này, theo tôi, chưa hề có. Sau đó có lúc tặng tên của Budenyi còn sống (anh hùng nội chiến). Cũng tặng tên những người đã chết để tưởng nhớ sự nghiệp mà họ thực hiện đối với Đảng và nhân dân.



Tôi hỏi người Ukraina:



- Vì cái gì các anh muốn tặng tên tôi cho chiếc cầu? Điều này vi phạm trắng trợn quyết định của BCHTƯ. Tôi chống, hơn nữa điều này vì chính tôi là người khởi xướng quyết định như thế. Các anh không hiểu đặt tôi vào tình thế như thế này? Tôi đề nghị các anh không mang cái đề nghị ấy đi đâu cả. Và chẳng cần tìm kiếm lâu ai xứng đáng hơn, để của nó được thưởng cho chiếc cầu này? Chẳng hạn, viện sỹ Paton. Tôi đề nghị, hãy đưa những đề nghị như thế, và Chính phủ chuẩn y nó.



Thế là chiếc cầu mang tên Paton. Và bây giờ этот мост, như người ta nói, sống và khoẻ mạnh, còn mọi người đi lại qua nó. Tôi nhớ đến lời của người xây dựng nó - viện sỹ Paton.



Năm 1941 khó khăn


Chiến tranh kề sát chúng tôi. Không phải chúng tôi gây ra chiến tranh, mà là nó kéo đến chúng tôi. Chúng tôi đã nói về điều này và người ta đã làm tất cả để kẻ thù làm chúng tôi bất ngờ, để quân ta ở mức cao về tổ chức, trang vị và khả năng chiến đấu, công nghiệp chúng tôi có mức tương xứng phát triển, đảm bảo mọi nhu cầu cần thiết trang bị và phương tiện quân sự, nếu nổ ra chiến tranh, nếu kẻ thù tấn công chúng tôi. Và thế là chiến tranh không thương xót ập đến chúng tôi. Cái gì được làm trong quân đội, cụ thể không thể nói được, vì rằng tôi không biết. Tôi không biết ai trong số các uỷ viên Bộ chính trị biết tình hình cụ thể, biết tình hình quân đội chúng tôi, vũ khí và công nghiệp quốc phòng. Tôi nghĩ rằng hoàn toàn, hình như không ai biết, trừ Stalin. Hoặc chỉ một số người trong vòng rất hẹp biết, vâng, và không phải biết tất cả các vấn đề. Sự điều động cán bộ, những người có hiểu biết nhiều để chuẩn bị chiến tranh, cũng do Stalin làm.



Giữ “ghế” Ban tổ chức là Sadenko, một người, nổi tiếng với tính cách của mình. Ông là người có tính hung dữ trong quan hệ với mọi người. Sau đó “ngồi” ở Ban tổ chức là Golikov, từ tình báo chuyển về. Bây giờ chính xác không thể nhớ lại, nhưng ông cũng gần Stalin và tham gia những vấn đề này. Mekhlns có ảnh hưởng rất mạnh đến, nhưng chủ yếu trong vấn đề công việc chính trị. Ông là thủ trưởng Tổng cục chính trị, tuy nhiên ông thường vượt ra khỏi khuôn khổ chức năng của mình, vì rằng với tính kiên trì của mình, mà Stalin rất thích. Ông nhiều lần cho Stalin những lời khuyên, và ông được xem là Stalin. Hình như điều này không có lợi cho quân đội.



Trước chiến tranh vệ quốc không lâu, Timosenko trở thành Dân uỷ viên quốc phòng. Tôi không biết, Timosenko triển khai công việc mới của mình ra sao, nhưng tôi nghĩ rằng công việc được tổ chức tốt hơn trước khi ông đến. Tôi không nói về Vorosilov biết công việc quân sự sâu đến chừng mực nào. Nhưng người ta nói ông là một người thích làm mẫu trước ống kính máy ảnh máy quay phim ở hoạ sỹ lão làng Gerasimov hơn là lãnh đạo vấn đề chiến tranh. Vì thế ông thường tham gia nhà hát opera và các diễn viên nghệ thuật, đặc biệt opera, và ông chiếm được vinh quang người am hiểu opera và cho ca sỹ nào đó những đặc tính độc đoán. Thậm chí vợ ông cũng nói điều này. Có lần tôi nghe thấy nói về một nghệ sỹ. Bà không ngẩng mắt và nói:



- Kliment Efremovich không có ý đặc biệt cao về ca sỹ này.



Điều này xem như là kết luận cuối cùng. Ông ta có những dữ liệu nào cho điều này và vì sao xuất hiện những phàn nàn như thế, khó giải thích. Sự thật Kliment Efremovich thích hát và đến những ngày cuối cùng của mình, khi tôi còn gặp ông, ông luôn luôn hát, mặc dù cũng đã khó nghe. Ông hát khá. Ông kể cho tôi, ông đã học trường dạy hát: cũng như Stalin, trong đời đã hát trong dàn đồng ca nhà thờ.



Tại Ukraina năm 1940, Zukov chỉ huy quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev. Đầu 1941 người ta chuyển Zukov đi, và bổ nhiệm Kirponos. Theo tôi, trước Zukov và trước Mereskov, thủ trưởng Bộ tổng tham mưu là Boris Mikhailovich Saponikov. Điều này - tuyệt đối uy tín đối với một quân nhân cao cấp. Trong thời gian ấy làm việc trong Bộ tổng tham mưu có cả Sokolovski và Vasilevski, hai nhà chuyên môn có năng lực. Nhưng thời ấy trong quân đội có tin đồn, đây là - cựu sĩ quan quân đội cũ, và không tin tưởng họ. Trong thời gian đó, tôi còn chưa biết Sokolovski, Vasilevski và vì thế tôi không có ý kiến của mình về họ, nhưng lắng nghe những lời tốt đẹp về họ của các lão thành hồng quân, những người tham gia nội chiến cũng có lòng tin với họ. Từ khi chính tôi biết họ trong thời gian chiến tranh, tôi có sự không tin cậy về mặt chính trị đối với những người này, tất nhiên, và không bao giờ nảy sinh. Tôi với họ rất tốt với Vasilevski, và với Sokolovski.



Với Vasilevski và tôi có xảy ra, tuy nhiên, một trường hợp năm 1942, không thể bị xoá nhoà khỏi óc tôi. Điều này liên quan tới chiến dịch, mà chúng tôi tiến hành đầu năm 1942 ở Kharkov, ở Barvenkovo. Tôi, sẽ nói riêng chiến dịch này, hoàn toàn, tôi không thể đả động cuộc nói chuyện của mình với Vasilevski. Ông gây cho tôi thời ấy một ấn tượng rất nặng nề. Tôi cho rằng thảm hoạ, nổ ở Barvenkovo, lẽ ra có thể tránh được, nếu Vasilevski giữ giữ vị trí, mà ông cần giữ. Ông có thể chiếm vị trí khác. Nhưng ông chiếm nó và chính điều này dẫn đến cái chết một nghìn chiến sĩ Hồng quân trong chiến dịch Kharkov.



Tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev tướng Kirponos, tôi hoàn toàn không biết ông trước khi ông được bổ nhiệm đến cho chúng tôi. Khi ông đến và nhận việc, tôi với ông, tất nhiên, làm quen, vì rằng ông là uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev. Nhưng tôi không thể nói một điều gì cả về ông, tốt, xấu. Chỉ một điều làm tôi lo ngại - làm sao khi Timosenko ra đi, công việc quân đội không yếu đi. Tôi đánh giá rất cao những hoạt động của Timosenko, tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev. Ông là người có khí phách và có uy tín trong số các quân nhân có tính cách cứng rắn cần cho một một chỉ huy, đặc biệt là chỉ huy quân đội. Uy tín của ông rất lớn: anh hùng nội chiến, chỉ huy một trong những sư đoàn quân kỵ binh thứ nhất, lập vinh quang và có công trạng.



Sau Timosenko, Zukov đến. Tôi hài lòng, thậm chí rất hài lòng với Zukov. Ông làm tôi vui bằng tài năng và kỹ xảo của mình giải quyết các vấn đề. Điều này tôi yên tâm: một chỉ huy giỏi, như tôi cảm nhận. Chiến tranh đã xác nhận rằng ông quả là một chỉ huy giỏi. Tôi cũng xem như thế, dù những bất đồng mạnh với ông trong thời kỳ sau này, khi ông trở thành Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô, mà tôi hết sức vất vả và cố gắng để đưa ra sự bổ nhiệm ông. Nhưng ông không hiểu đúng vai trò của mình, và chúng tôi bắt buộc phải cách chức Bộ trưởng của ông và khép tội những âm mưu của ông, mà ông hoàn toàn có và chúng tôi chặn đứng chúng. Tuy nhiên là một người lãnh đạo chiến tranh, tôi đánh giá ông rất cao và bây giờ không thể phủ nhậnsự đánh giá này. Tôi nói về điều này cho Stalin cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh, khi Stalin thay đổi mối quan hệ của mình với Zukov, khi Zukov bị thất sủng.



Trước chiến tranh vệ quốc, tôi ở Moskva, rất lâu bị giữ ở đấy, đúng bị hành hạ, nhưng đành chịu. Stalin luôn gợi ý tôi:



- Anh còn phải ở lại, anh định bỏ chạy đấy à? Phải ở đây.



Nhưng tôi thấy không có ý muốn ở Moskva: tôi cũng không nghe điều gì mới từ Stalin. Nhưng sau này lại ăn trưa, ăn tối, uống rượu... Các thứ đó với tôi đơn giản không có ích. Tuy nhiên tôi không thể làm được một cái gì cả. Tôi quan sát Stalin và ông gây cho tôi một ấn tượng xấu. Ông ở trạng thái không có sự tinh anh và tin tưởng rằng quân ta đường hoàng gặp quân thù. Ông có lần buông tay sau khi Pháp thua, và Hittler chiếm Pháp. Tôi ở chỗ ông trong thời gian Pháp đầu hàng. Lúc đó ông chửi rủa thậm tệ, bằng tiếng Nga, khi biết về điều này, nói: Thấy chưa, người ta đụng chạm trước mặt chúng ta, Hittler thò tay ở phương Tây. Ông không nói điều này trực tiếp, nhưng chúng tôi hiểu.



Chúng tôi cũng hiểu cả tính cáu kỉnh của ông. Stalin biết rõ hơn chúng tôi tình trạng của Hồng quân và, hình như, ông đã kết luận rằng chúng tôi chưa chuẩn bị chiến tranh “lớn”. Cuộc chiến tranh “nhỏ” của chúng tôi với Phần Lan đã chứng minh điều này.



Chiến tranh là rất đẫm máu, rất nặng nề đối với chúng tôi. Chúng tôi khó khăn mới đánh tan Phần Lan và cũng bị thiệt hại nặng. Tôi nói - “khó khăn”. Điều đó, tất nhiên, ước lệ. Dù là nguồn dự trữ của chúng tôi ở mức nào đó không thể ngang với Phần Lan. Nhưng tôi cũng đánh giá như thế vì rằng nếu lấy Liên Xô và Phần Lan để so sánh số người chết, mà chúng tôi chịu trong cuộc chiến tranh ấy, điều này, tất nhiên, có thể gây ra chỉ do sự không thành thạo và thiếu chuẩn bị tổ chức hoạt động quân sự. Chúng tôi khó đánh tan Phần Lan, đưa ra số lượng người lớn. Nhưng chúng tôi lẽ ra, nếu quả là chiến đấu, giết những người Phần Lan và như thế biểu thị khả năng chiến đấu quân đội chúng tôi. Nhưng chúng tôi lại biểu thị vừa vặn ngược lại: khả năng nhỏ và tính nhu nhược của lực lượng đánh trả của chúng tôi...



Tôi kiên trì cố đạt được quyết định ra đi, về Kiev và cuối cùng tôi trực tiếp nói với Stalin:



- Vì sao mà tôi ngồi ở đây, đồng chí Stalin? Chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ giờ nào và sẽ rất dở, nếu tôi sẽ còn ngồi ở Moskva hoặc thậm chí trên đường. Tôi phải đi, tôi phải ở Kiev.



Và ông đồng ý:



- Đúng, đúng thế, anh đi đi!



Câu trả lời như thế chứng minh rằng chính Stalin không biết, vì sao tôi bị bị giữ lại. Ông hiểu rằng tôi làm một cái gì đó, rằng chỗ của tôi ở Kiev, rằng tôi ở đó cần hơn ở đây - Moskva. Tựa như ông hoàn toàn đồng ý. Nhưng, ông hỏi ai giữ tôi? Điều này rằng ông cầm sự có mặt nhiều người trong số những người quanh mình. Nhu cầu về người thời ấy là như thế.



Tôi bây giờ lợi dụng sự đồng ý của Stalin và đi về Kiev. Mùa hè nóng bức. Tôi đi đến Kiev buổi sáng, như thường lệ. Đó là ngày thứ bẩy. Lập tức tôi đến BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, báo cho cán bộ về tình hình công việc và buổi chiều đi về nhà. Bỗng nhiên 10 hoặc 11 giờ đêm, ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev gọi tôi đến BCHTƯ, vì có tài liệu từ Moskva gửi đến. Kèm với điều này là tài liệu này để Bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina Khrusev biết. Tôi lại đi đến BCHTƯ. Đến đấy, tôi không nhớ chính xác ai: hoặc thủ trưởng ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev Pukaev, hoặc phó của ông. Tôi tiếp xúc với Pukaev trong thời gian ở Kiev, vì rằng chỉ huy quân đoàn vài ngày trước đây dọn đến điểm chỉ huy ở Tarnopol. Ở đó bắt đầu xây dựng chỉ huy sở, và, mặc dù đó chưa phải là kết thúc, những phải rời đi, vì rằng cảm thấy chiến tranh sắp bùng nổ. Ở đó có cả bộ phận tham mưu ban tham mưu, thủ trưởng bộ phận tham mưu Bagramian và Tư lệnh quân đoàn Kirponos.



Pukaev (hoặc phó của ông) đọc tài liệu. Tài liệu nói rằng, phải chờ đợi sự bắt đầu chiến tranh đúng ngày, người có thể là đúng giờ. Bây giờ chính xác tôi không nhớ nội dung tài liệu, tôi nhớ chỉ có một thứ - sự băn khoăn nội dung và sự cảnh báo. Lúc đó xem xét: tất cả những gì cần làm, chuẩn bị lực lượng, được làm. Cho đến lúc Tư lệnh ra về với bộ phận tham mưu về ban tham mưu. Tiếp theo, chúng tôi chuẩn bị chiến đấu. Sau đó người ta gọi từ ban tham mưu Tarnopol và nói rằng ở hướng của chúng tôi có một người lính Đức chạy sang. Người này nói rằng ông là một người cộng sản, và bây giờ cũng xem mình như một người cộng sản, rằng ông là người chống phát xit, что ông chống cuộc phiêu lưu chiến tranh, mà Hittler gây ra, và cảnh báo rằng sáng mai vào lúc 3 giờ sáng bắt đầu cuộc tấn công quân Đức. Điều này trùng với những bằng chứng, vừa mới được Moskva thông báo ở tài liệu nhắc đến. Tôi không nhớ gọi ngày, giờ. Hình như có gọi. Tóm lại, đây không phải là cái gì mới, chỉ là xác nhận nó một cách cụ thể.



Người lính chạy từ phía tiền duyên. Người ta thẩm vấn anh ta, và tất cả những dấu hiệu mà anh ta chỉ ra, dựa bào nó mà ông ta nói rằng sáng mai lúc 3 giờ giờ bắt đầu cuộc tấn công, được mô tả logic và đáng tin. Thứ nhất, vì sao chính sáng mai? Người lính nói rằng họ nhận khẩu phần lương khô 3 ngày. Nhưng vì sao chính vào lúc 3 giờ? Vì rằng quân Đức luôn luôn chọn giờ sớm trong những trường hợp như thế này. Tôi không nhớ, ông nói cái gì liên quan đến giờ sáng, hoặc họ biết điều này theo “radio của lính”, cái đó luôn luôn rất chính xác xác định bắt đầu cuộc tấn công. Chúng tôi phải làm gì? Tư lệnh ở Tarnopolе, ban tham mưu cũng nằm ở đó. Bộ đội ở tại chỗ, sẵn sàng bắn quân thù. Chúng tôi xuất phát từ điều này. Tôi không về nhà và ở lại BCHTƯ đến giờ.



Và quả là, từ hửng sáng, khoảng 3 giờ, chúng tôi đã nhận thông báo, lính Đức nổ pháo và tiến hành những hành động tấn công, vượt qua tuyến phòng thủ phân giới thuỷ và bẻ gãy sự chống cự của chúng tôi. Bộ đội chúng tôi đánh lại và cản chúng. Tôi không nhớ, vào lúc nào, nhưng khi trời sáng, bỗng nhiên từ ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev nói rằng máy bay Đức tiến gần Kiev. Lát sau, chúng trên bầu trời Kiev và ném bom xuống sân bay thành phố. Bom rơi vào hăngga, các đám cháy bắt đầu. Trong hăngga này có một số một số máy bay U-2.



Sau đó trong thời gian chiến tranh máy bay U-2 được sử dụng làm máy bay liên lạc, còn thời ấy - dùng cho nông nghiệp. Máy bay chiến đấu trên sân bay không có, chúng được đưa đến biên giới, được phân tán và nguỵ trang.



Quân Đức bằng những đợt bay đầu tiên không đạt được mục đích không thể loại ra khỏi đội ngũ sân bay và máy bay chúng tôi, không thể phá huỷ chúng. Máy bay của chúng tôi và xe tăng hoàn toàn không bị tiêu diệt từ đòn đánh đầu tiên. Tại Quân khu đặc biệt Kiev (mặc dù, có thể là, một họ còn che giấu một cái gì đó từ tôi, nhưng những báo cáo cho tôi thời ấy, nhưng tôi tin và bây giờ tôi tin, đó là thông tin đúng) ở các nơi quân Đức không thể hoàn toàn dùng sự bất ngờ để giáng đòn vào máy bay, xe tăng, pháo, kho tàng, vũ khí quân sự khác. Sau này người ta nói cho chúng tôi rằng không quân Đức ném bom Odessa, Sevastopol, và những thành phố phía nam nào đấy.



Khi chúng tôi đã có những bằng chứng rằng quân Đức nổ súng, từ Moskva đưa ra chỉ dẫn không bắn trả. Đây là chỉ dẫn lạ lùng, người ta giải thích nó như thế này: có thể, đây là sự phá hoại nào đấy của chỉ huy địa phương quân Đức hoặc là một sự khiêu khích không thực hiện chỉ thị Hittler. Điều này nói rằng Stalin sợ chiến tranh đến đỗi kiềm chế bộ đội chúng tôi họ không bắn trả kẻ thù. Ông không tin Hittler bắt đầu chiến tranh, mặc dù bản thân ông không ít lần nói rằng Hittler, tất nhiên, sử dụng tình hình phức tạp ở phương Tây, và có thể tấn công chúng tôi. Điều này chứng minh Stalin không muốn chiến tranh và vì thế tự trấn an Hittler giữ lời và không tấn công Liên Xô. Khi chúng tôi nói cho Stalin rằng kẻ thù đã ném bom Kiev, Sevastopol và Odessa, rằng điều này không thể nói là vụ khiêu khích địa phương của quân Đức trong một vùng hẹp nào đó, rằng đây quả là bắt đầu chiến tranh, ngay lúc ấy đã nói:



- Đúng, đây là chiến tranh, và quân đội phải chấp nhận biện pháp thích ứng.



Vâng, nói khác đi, nhưng lần này quân ta bắt buộc bắn trả.



Bắt đầu chiến tranh. Nhưng vẫn không có một tuyên bố nào của Chính phủ xô viết hoặc của đích thân của Stalin. Điều này không gây một ấn tượng tốt. Sau đó ban ngày hôm chủ nhật, Molotov phát biểu. Ông tuyên bố chiến tranh bắt đầu rằng Hittler tấn công Liên Xô. Nói về lời phát biểu này bây giờ chưa chắc cần, vì rằng tất cả đã được ghi lại và mọi người có thể làm quen với sự kiện trên báo chí thời ấy. Molotov phát biểu, sao không phải là Stalin phát biểu, vì sao có chuyện như thế? Stalin thời ấy không phát biểu. Ông hoàn toàn bị tê liệt trong những hoạt động của mình và đầu óc lung tung. Sau đó, sau chiến tranh, tôi biết rằng khi bắt đầu chiến tranh, Stalin ở ở Kreml. Beria và Malenkov đã nói với tôi điều này.



Beria kể: Khi chiến tranh bắt đầu, các uỷ viên Bộ chính trị ở tụ tập ở Stalin. Tôi không biết, tất cả hoặc chỉ có một nhóm thường xuyên tụ họp ở chỗ Stalin. Stalin tinh thần hoàn toàn bị ức chế và tuyên bố như thế này:



- Chiến tranh bắt đầu, nó phát triển một cách thảm hoạ. Lenin bỏ lại cho chúng tôi nhà nước Xô viết vô sản, còn chúng tôi... - Ngay đúng chỗ ấy ông biểu hiện. Tôi từ bỏ khỏi vị trí lãnh đạo...



Và ông bỏ đi. Ông bỏ đi ngồi vào xe và đi về một nhà nghỉ “gần”.



- Chúng tôi - Beria kể - vẫn còn ở lại. Làm cái gì tiếp đây? Sau khi Stalin thể hiện mình như thế, qua một thời gian nào đấy, chúng tôi thảo luận với Molotov, Kaganovich, Vorosilov (mặc dù Vorosilov ở đấy, tôi không biết, vì rằng trong thời gian ông thất sủng ở Stalin do thất bại trong chiến dịch chống Phần Lan). Chúng tôi bàn bạc và quyết định chạy đến chỗ Stalin, kéo ông quay về hoạt động, dùng tên ông và khả năng để tổ chức phòng thủ đất nước. Khi chúng tôi đi đến gặp ông ở nhà nghỉ, thì tôi nhìn mặt ông thấy rằng Stalin rất khiếp sợ. Tôi cho rằng Stalin nghĩ, liệu chúng tôi đến bắt ông vì rằng ông từ chối vai trò của mình và không làm một cái gì cả để tổ chức chặn cuộc xâm lăng của Đức? Chúng tôi thuyết phục ông rằng chúng ta là một nước lớn, chúng ta có khả năng tổ chức, cơ động nền công nghiệp và mọi người, kêu gọi nhân dân đấu tranh, ngắn gọn, làm tất cả để nâng tinh thần chống Hittler. Stalin tựa như hồi tỉnh một chút. Chúng tôi chia nhau, ai làm gì, nhận gì để tổ chức phòng thủ, công nghiệp quốc phòng và v.v...



Tôi không nghi ngờ rằng lời trên đây là đúng. Tất nhiên tôi không có năng hỏi Stalin có phải như thế không. Nhưng không có lý do gì để không tin điều này, vì rằng tôi thấy Stalin ngay trước lúc bắt đầu chiến tranh. Ông ở trạng thái sốc.



Ở Quân khu đặc biệt Kiev trong những ngày đầu tiên chiến tranh tình hình rất nặng nề, nhưng hoàn toàn không phải tình thế thảm hoạ. Chúng tôi trong nguồn dự trữ có hai quân đoàn xe tăng, còn quân Konev cần phải bắt đầu chuyển đi. Theo chỉ dẫn của Tổng hành dinh chúng tôi quyết định phản kích quân Đức đang tấn công, tung vào đấy một quân đoàn cơ giới của chúng tôi. Tôi không biết, nhưng chúng tôi biết người chỉ huy quân đoàn xe tăng Đức, nhưng chúng tôi cho rằng quân đoàn cơ giới của chúng tôi ăn mừng với chúng và chúng tôi phục hồi tình thế. Trong thời gian này Konev bắt đầu chuyển đi. Tôi gọi cho Stalin để ông quyết định cho chúng tôi tuyển mộ bộ đội Konev tấn công vùng đất này. Ban đầu ông đồng ý, nhưng sau này gọi lại và ra lệnh:



- Ngay lập tức chở quân Konev và chở thẳng đến Belorussia.



Những quân đoàn cơ giới chúng tôi bị tiêu diệt và cả bộ đội nữa. Quân Đức có khả năng tiến vào Kiev, còn ban tham mưu chúng tôi lại đóng ở Tarnopolем. Stalin gọi chúng tôi và nói rằng ban tham mưu nên bỏ vị trí và rút lui. Phía sau có một hầm bê tông cho tư lệnh quân đoàn, nằm sau đường biên giới cũ của chúng tôi. Hầm này, có lẽ, do Yakir xây. Chúng tôi tới làng này gần Kamenes-Podosk khi hửng sáng và ở đó nhận chỉ thị: không xáo tung ban tham mưu, nhưng rút lui đến Kiev, ban tham mưu quay về Kiev và tổ chức phòng thủ. Chúng tôi ngạc nhiên: sao lại phải lập tức quay về Kiev? Nhưng lại lên đường. Vâng chúng tôi cũng không thể khi đó nói rằng nhanh chóng quét bọn Đức, chúng tôi không có bộ đội cần thiết.



Trong khi rút lui chúng tôi về Kiev, thì quân Đức ngốn số bộ đội còn lại của quân chúng tôi. Chúng tôi mất pháo và xe tăng, chúng tôi cũng không còn súng máy. Lực lượng chính của chúng tôi - hai quân đoàn cơ giới - bị tiêu diệt chủ yếu bởi máy bay. Quân Đức bay mà không bị đánh trả, và chúng tôi không còn cái gì có thể được bảo vệ. Bộ đội của sư đoàn tập đoàn quân №6 và №12 khi bị quân Đức đuổi đằng sau, đã tháo chạy. Quân Đức luôn giữ họ một nửa sau, và họ không có tính cơ động. Nhưng đó lại là cái quan trọng nhất đối với bộ đội. Nhưng những tập đoàn quân này, tất nhiên, chưa bị tan rã. Họ tự bảo vệ và thậm chí còn tập kích địch theo hướng Broda. Họ rút lui về phía nam Kiev, vùng nam Umani. Họ đóng vây quanh chỗ đó. Gộp hai ban tham mưu: Ponedenin và tư lệnh tập đoàn quân №6. Người chỉ huy tập đoàn quân №12 bị thương. Khi quân Đức tiến gần, Ponedenin nhẩy ra khỏi vị trí và đầu hàng làm tù binh. Khi đó chúng tôi vẫn chưa biết phát xít và luôn luôn cố gắng tiến hành chiến tranh “bằng mọi cách”.



Tất nhiên, thật là ngu ngốc, khởi xướng bỏ mặt khi sử dụng bộ đội theo sự xem xét này. Sự can thiệp của Bộ tổng tham mưu nhận được như thế như ở một người lính can đảm Sveyk: tất cả đều tốt, chừng nào Bộ tổng tham mưu không can thiệp. Bộ đội chúng tôi chết như thế đấy. Từng người một đi ra từ những người xung quanh ông tướng. Popel đến. Vlasov khét tiếng với cái roi đến, không có bộ đội. Popel quay về sau 2, 3 tuần lễ. Ông qua khu rừng Polesia, ở đó vẫn chưa có bọn Đức, họ đi bằng con đường lớn. Popel thậm chí còn chở một trung tá bị thương và dẫn một lượng nhỏ bộ đội rút khỏi vòng vây.



Tháng bẩy hoặc tháng tám (có lẽ, tháng tám) tôi được gọi về Moskva. Tình thế ở mặt trận rất nặng nề. Tôi không thể thêm một cái gì nữa vào cái điều mà Stalin, Chính phủ và Bộ tổng tham mưu biết. Khi tôi đến, người ta nói cho tôi, rằng Stalin - đang ở Tổng hành dinh. Tổng hành dinh khi đó nằm ở ga xe điện ngầm cổng Kirovski. Tôi đến đó. Có một chiếc đi văng. Stalin ngồi một mình trên đi văng. Tôi lại gần và chào ông. Ông hoàn toàn thay đổi. Ông trông có vẻ hờ hững, uể oải. Nhưng mắt ông, tiều tuỵ, van lơn. Tôi phác hoạ cho ông tình hình phức tạp ở chỗ chúng tôi. Nhân dân chịu đựng những việc đã xảy ra như thế nào, thiếu thốn những gì. Không đủ vũ khí, thậm chí không có cả súng trường, còn quân Đức tấn công chúng tôi. Dưới Kiev chúng tôi kìm chân bọn Đức. Tin tưởng rằng chúng tôi sẽ kìm được, tuy nhiên, cũng khó, vì rằng chúng tôi không có vũ khí, không còn cả bộ đội. Chúng tôi góp nhặt, như người ta nói, chổi cùn rế rách, thu nhặt mọi người, súng trường và tổ chức phòng thủ rất yếu ớt. Còn quân Đức, khi tiến đến Kiev, cũng đã yếu, và điều này giúp đỡ chúng tôi. Quân Đức dường như trao cho chúng tôi thời gian, chúng tôi sử dụng nó và cứ mỗi ngày lại mở rộng phòng thủ thành phố. Quân Đức còn không thể lấy chiếm được Kiev, mặc dù cũng tiến hành âm mưu khá năng động để chiếm nó.



Tôi nhớ, khi đó tính cách của Stalin gây cho tôi một ấn tượng cực kỳ khó chịu. Tôi đứng, còn ông nhìn tôi và nói:



- Hừ, sự tháo vát người Nga ở đâu? Người ta đã nói về sự tháo vát người Nga. Nhưng nó bây giờ ở đâu trong cuộc chiến tranh này?



Tôi không nhớ, tôi trả lời ông hay không. Có thể trả lời thế nào vấn đề này trong tình hình như thế? Khi chiến tranh bắt đầu, người ta gửi đến chúng tôi những công nhân nhà máy “Những người thợ rèn Lenin” và những người của các nhà máy khác, đề nghị cho họ vũ khí. Họ muốn ra mặt trận, giúp đỡ Hồng quân. Chúng tôi không thể cho họ một cái gì cả. Tôi lại được gọi về Moskva. Người duy nhất, mà tôi khi đó có thể trao đổi, là Malenkov. Tôi gọi cho Malenkov:



- Hãy nói cho tôi nhận súng trường ở đâu? Công nhân cần súng trường và muốn tham gia Hồng quân, đánh nhau chống quân Đức.



Ông trả lời:



- Tôi không thể nói với anh một điều gì cả. Ở đây hỗn loạn đến mức không thể thu xếp một cái gì cả. Tôi có thể nói với anh chỉ một điều rằng súng trường, có ở Moskva ở chỗ Osoaviakhima (nhưng đây là súng trường ổ đạn khoan, đã bị hư hỏng), chúng tôi ra lệnh làm lại thành súng chiến đấu, người ta đang gia công lỗ, và tất cả số súng trường này sẽ gửi đến Lenigrad. Anh không thể nhận một cái gì đâu.



Thế là rõ: súng trường - không, súng máy - không, máy bay hoàn toàn không còn. Chúng tôi còn không có cả pháo. Malenkov nói:



- Theo chỉ thị, tự rèn vũ khí, làm giáo mác, làm dao. Đánh nhau với xe tăng bằng chai lọ, chai xăng, quăng chúng và thiêu huỷ xe tăng.



Và tình hình như thế diễn ra một số tuần lễ! Chúng tôi không có vũ khí. Nếu khi đó nói điều này cho nhân dân, thì tôi không biết, ông phản ứng ra sao. Nhưng nhân dân không biết, tất nhiên, chúng tôi đang ở tình thế như vậy, mặc dù theo tình hình thực tế họ cũng đoán được. Hồng quân không đủ súng máy và pháo cần thiết, thậm chí không có cả súng trường. Đúng là, nói riêng, tình hình phức tạp như thế trong những tuần lễ đầu tiên của chiến tranh. Bây giờ tôi kể tỷ mỷ hơn.



Tôi không nhớ, một hôm trong những ngày đầu chiến tranh, Stalin gọi tôi. Ông nói:



- Zukov sẽ bay đến chỗ anh, và anh đi theo cùng với Zukov đến ban tham mưu.



Tôi trả lời:



- Được, tôi chờ Zukov.



Zukov bay ngày hôm đó hoặc hôm sau. Tôi, tất nhiên, rất vui lòng. Tôi biết Zukov và rất tin tưởng tài năng quân sự của ông. Tôi quen ông, khi ông là tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev, và tôi hài lòng, ông đến. Khi ông bay đến Kiev, chúng tôi và ông quyết định, làm thế nào tốt hơn để đến ban tham mưu. Bay đến bằng máy bay? (không thể đi bằng tàu hoả vì máy bay Đức hoành hành). Hay là đi bằng ô tô? Và cách nào cũng cũng không an toàn, vì máy bay chúng tôi bay đúng tầm đạn và máy bay địch hoạt động tích cực. Tàu hoả - rất chậm, mà địch ném bom và diệt nó. Cách này, nói chung, bỏ qua. Ô tô? Khi đó rất nhiều đã nói rằng xung quanh đó lính dù địch đang hoạt động, rằng kẻ địch ùa ra, như thú dữ, và cắt nát mọi giao thông, liên lạc. Điều nguy hiểm chúng tôi có thể trở thành nạn nhân của bọn lính dù.



Nhưng đường lại xa. Từ Kiev đến Tarnopol mất một số giờ đi vất vả. Trong lúc thời vụ, luá mỳ và luá mạch mọc cao, kẻ địch trên cánh đồng dễ dàng ẩn nấp, vì thế lính dù và bọn khủng bố có thể, lợi cho chúng bao nhiêu, khi lợi dụng các lùm cây. Hơn nữa chúng tôi phải đi từ biên giới cũ đến Tarnopol, đi quanh khu vực về tay chúng tôi năm 1939 sau khi Ba Lan thất bại. Dân địa phương bị nhồi sọ nặng bởi những người Ukraina dân tộc chủ nghĩa, những người này đã cộng tác với Đức. Chúng tôi cũng biết điều này. Nhưng không còn sự lựa chọn khác, vì thế quyết định di bằng ô tô. Chúng tôi lên đường. Nhiều báo động, khi chúng tôi trên đường đi, chúng tôi dừng lại để nhận thông tin về tình hình công việc. Cuối cùng vào buổi chiều chúng tôi đến ban tham mưu. Nó nằm ở tây bắc Tarnopol, nhưng gần một làng nhỏ. Tôi nhìn, có phải đây là ban tham mưu? Nhiều hố lớn đã được đào và được phủ đầy đất. Không thể làm được gì nhiều hơn nữa. Các cán bộ ban tham mưu và văn phòng sống ở nhà nông dân. Người chỉ huy quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev nương thân trong một cái lán nhỏ. Ở đó có phương tiện liên lạc, mọi người kéo đến và báo cáo.



Tình thế khi đó ở mặt trận là như sau. Hiện chưa phải là thảm hoạ! Nếu theo hướng Peremysl và phía nam, thì tình thế thậm chí lại là tốt. Nam Peremysl kẻ địch không tiến hành một cái gì cả. Ở đó trải dài biên giới với Hungary, tạm thời vẫn yên tĩnh. Nhưng chính tại Peremysl, địch tiến hành tán công tương đối kiên trì, nhưng bộ đội chúng tôi (ở đó có sư đoàn №99) đang chống cự, đánh bật kẻ địch khỏi những khu vực, mà địch đã chiếm do đòn phủ đầu, và chiếm những vị trí khác trong thành phố. Về sư đoàn này, sau này người ta đã viết nhiều, và vinh danh. Nó là sư đoàn đầu tiên trong số các sư đoàn tham chiến và được nhận huân chương Cờ Đỏ, vào đúng những ngày đầu tiên của chiến tranh. Tôi không thể im lặng và nói rằng người chỉ huy sư đoàn này trước khi chiến tranh là Vlasov, sau này ông trở thành kẻ bán nước, kẻ phản bội tổ quốc. Ông là một chỉ huy rất có khả năng. Trong các cuộc thi đấu quân sự, binh đoàn Hồng quân của sư đoàn của ông chiếm vị trí đầu tiên, còn từ trước chiến tranh Vlasov đã nhận quân đoàn, chỉ huy quân đoàn, còn ban tham mưu trao sư đoàn cho thủ trưởng của mình. Dưới sự chỉ huy của ông, sư đoàn cũng thể hiện chủ nghĩa anh hùng của mình và đi vào lịch sử chiến tranh là một sư đoàn chiến đấu giỏi nhất.



Các trận đánh dằng dai dọc xa lộ hướng về Broda. Như bây giờ đã được biết theo các tài liệu của bộ chỉ huy Hittler, đây là hướng đánh chính của tập đoàn quân Đức nhóm “Nam”.



Trên hướng này, quân Đức bà xuyên qua tới Kiev. Không thể nói rằng quân Hittler trong những cuộc chạm trán đầu tiên đã đánh tan bộ đội chúng tôi và dồn họ phải tháo chạy. Hoàn toàn không! Bộ đội chúng tôi kiên trì chiến đấu và bẻ gẫy nhiều cuộc tấn công. Tôi rất mừng khi chúng tôi đến đó. Zukov lập tức nhận “về mình” tin tức từ bộ đội và những báo cáo của lãnh đạo, rồi đưa ra những chỉ dẫn. Thật thú vị nhìn thấy ông đã khéo léo và có kiến thức công việc để thực hiện tất cả. Tình thế ấy, chúng tôi khi đó đánh giá thậm chí là tốt hơn cho rằng chúng tôi có thể đưa ra sự chống cự cần thiết với quân Đức.



Tôi không nhớ, bao nhiêu lần Zukov có mặt ở chỗ chúng tôi: một, hai, hoặc ba ngày. Sau đó có chuông điện thoại từ Moskva. Zukov nói với tôi rằng Stalin gọi cho ông:



- Ra lệnh cho tất cả dừng lại và cấp tốc chuyển về Moskva.



Stalin đã cho chúng tôi những lời khuyên đúng. Cần phải nói rằng trong những ngày ấy, bộ dạng của Stalin khoẻ mạnh, tự tin. Ông còn nói với tôi khi đó, rằng người chỉ huy quân đoàn chỗ tôi là yếu kém. “Làm gì đây làm? Không có tốt hơn. Phải ủng hộ ông ta”.



Tôi nói với ông một cách cởi mở:



- Tôi rất tiếc rằng anh bỏ đi (chúng tôi với nhau xưng “anh”). Bây giờ tôi không biết, công việc chỗ tôi ra sao ở tình thế như thế này và sự chỉ huy như thế. Nhưng không còn lối thoát khác.



Chúng tôi từ biẹt và ông đi.



Chẳng bao lâu, chỗ chúng tôi có những sự kiện rất nặng nề, lại ở trong vùng Broda. Ở đó xe tăng Hittler tấn công. Ở hướng này chúng tôi điều động ngoài bộ đội, đóng ở đó từ trước chiến tranh, một quân đoàn cơ giới, do chỉ huy Riabysev. Tôi không nhớ số hiệu của nó. Riabysev có một quân đoàn tốt và những xe tăng mới KV, một số chiếc, và cũng có một số chiếc xe tăng T-34. Và còn thêm một quân đoàn cơ giới, mà tôi quên họ tên người chỉ huy quân đoàn này. Trong chiến đấu, ông bị thương, và tôi không biết, sau này ông có tham gia chiến đấu nữa không. Đó cũng là một chỉ huy quân đoàn tốt gương mẫu. Chúng tôi đưa đến đó hai quân đoàn cơ giới, cho rằng đủ sức bẻ gãy cuộc tấn công của địch và cản trở ngại đường di chuyển tiếp theo của chúng. Chúng tôi không biết sự tập trung thực sự của quân địch, không biết rằng đòn tấn công chính của địch ở miền nam, mặc dù nó tấn công ở đây bằng một số lực lượng nhỏ hơn so với trung tâm tiền tuyến ở Moskva. Điều này là đương nhiên. Quân khu đặc biệt Belarussia và bộ đội chúng tôi là lớn hơn ở Kiev. Đã xác định đúng là hướng chính, sự nguy hiểm chính - dọc con đường qua Minsk đến Moskva, mặc dù Stalin nghĩ khác.



Quân Đức tập trung nhiều quân dù sao chăng nữa vào hướng Kiev. Chủ yếu, chúng khởi xướng. Tại hướng này chúng tôi đã đã có một tập đoàn quân dự trữ. Chỉ huy nó là Konev. Riêng tôi không biết ông, nhưng trước chiến tranh có một lần tôi gặp ông ở Moskva. Trước đây Konev phục vụ đâu đó ở ở Siberi. Giữa ông và Bí thư tỉnh uỷ địa phương có những quan hệ xấu. Quan hệ này căng thẳng đến mức Stalin gọi cả hai người về gặp mình và chính ông dàn xếp xung đột này, phát sinh bởi một vấn đề nào đó trong sinh hoạt. Lúc đó tôi cũng nhìn thấy Konev lần đầu tiên trong đời.



Konev đến Quân khu đặc biệt Kiev, quân đội của ông được bố trí, chúng tôi rất vui lòng nhận nguồn dự trữ. Chúng tôi chĩa tập đoàn quân này vào hướng Broda. Nhưng, ngay khi quân đội chúng tôi gặp địch, lại có chuông điện thoại từ Stalin:



- Nhanh chóng đưa tập đoàn quân Konev và tiến hành gửi cấp tốc những đoàn tầu này theo lệnh Moskva.



Lúc ấy tôi phải vật nài để lại tập đoàn quân Konev ở lại cho chúng tôi - tình thế thật nặng nề - và tôi nói:



- Nếu quân Konev ở lại, thì chúng tôi có lòng tin rằng chúng tôi ổn định tình thế theo hướng Broda và chủ yếu sẽ chặn quân địch đi đến phòng thủ. Nhưng có thể chúng tôi đánh tan được bọn địch.



Đúng, chúng tôi tưởng tượng là chẳng bao lâu sẽ đánh tan bọn Đức. Đây là không phải là mong úoc đơn thuần, chúng tôi đã tin vào điều này mặc dù tương quan lực lượng ở vùng này và sự có mặt của tập đoàn quân Konev, hình như dù sao chăng nữa, vẫn có lợi cho kẻ địch. Stalin lắng nghe tôi và trả lời:



- Được, chúng tôi để lại một tập đoàn quân dự trữ, nhưng chúng tôi để lại chính là để làm đòn tấn công.



Nhưng sau một thời gian - lại có chuông gọi từ Stalin:



- Chở ngay tập đoàn quân Konev.



Tập đoàn quân đã vào chiến dịch, nhưng lệnh đã đưa ra, và nó phải đi.



Chúng tôi, như thế, còn lại cái gì còn ở mình như khi bắt đầu chiến tranh. Nhưng cán cân rõ ràng có lợi cho địch, nảy ra mối đe doạ nặng nề vào hướng Brodaы và Rovno. Nhưng điều này nghĩa là - vào hướng Kiev. Như thế, sườn trái của chúng tôi còn lại phía sau quân thù. Thấy rõ quân Đức bị xé ra bởi mũi thọc sâu theo hướng nam, hướng Kiev, bằng cách bỏ lại nhóm Karpat đằng sau không đánh nhau với nó. Ở đó có tập đoàn quân №6, còn chiếm Karpat, hình như, tập đoàn quân №12. Vẫn còn lơ lửng mối đe doạ bao vây của kẻ thù đối với đội quân này. Nhưng tôi, về vấn đề này, không muốn phát biểu, tôi muốn làm rõ những tình tiết khó chịu đối với chúng tôi, xảy ra với một uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev.



Khi chúng tôi gặp điều kiện nặng nề trong vùng Brodaы, chúng tôi và tư lệnh quân đoàn áp dụng các biện pháp để tái tổ chức bộ đội và khẳng định hướng đánh trả kẻ địch tấn công vào Broda. Để lệnh này được trao kịp thời cho người chỉ huy quân đoàn cơ giới Riabysev và một chỉ huy quân đoàn khác, tôi quên họ tên của người này, chúng tôi quyết định cử một uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev để tự tay ông trao lệnh, trong đó có trình bày hướng đánh. Ông uỷ viên hội đồng quân sự đến quân đoàn. Tôi ít biết người này. Ông đến với chúng tôi từ Lenigrad trước chiến tranh và gây ấn tượng tốt, đúng thế, vẻ ngoài của ông biết nói thế nào nhỉ: một người còn trẻ, dáng thẳng, lịch sự, ăn mặc chải chuốt và thu hút sự chú ý. Và tính cách của ông có. Các quân nhân đã nói với tôi rằng ông là con người có điều tiếng. Người ta kể rằng ông đánh giá thấp tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev và cho rằng bản thân ông giỏi hơn ông tư lệnh và có thể có lợi hơn người đang giữ chức tư lệnh. Tất nhiên chưa chắc ông đã nói với ai đấy về điều này. Đây là sự kết tội của những người làm việc ở ban tham mưu. Đây chỉ là ý kiến cá nhân. Nhưng đương thời ông làm công việc của mình. Tôi xem xét ông: ông là con người không ngốc, vì thế tôi không có điều gì xấu chống ông ta, và không thể có.



Trước chuyến đi vào quân đoàn cơ giới ông rẽ vào chỗ tôi vào một buổi chiều. Bởi vì chỗ chúng tôi ở rất dở, chỗ làm việc và chỗ sinh hoạt chỉ ở một phòng, cùng với chỗ sĩ quan trực nhật. Chúng tôi ngủ trong lúc làm việc hoặc ngồi. Chúng tôi làm việc không theo lịch trình hàng ngày, chúng tôi vẫn còn không bị cuốn vào bầu không khí chiến tranh. Và khi ông uỷ viên hội đồng quân sự rẽ vào chỗ tôi, rồi đề nghị tôi ra ngoài, bởi vì khác đi không thể tiến hành cuộc nói chuyện tin cậy. Tôi ra ngoài. Ông nói với tôi:



- Tôi xem rằng ông phải nhanh chóng viết cho đồng chí Stalin rằng cần phải thay tư lệnh quân đoàn quân khu Kiev. Kirponos hoàn toàn vô dụng với chức năng tư lệnh.



Tôi kinh ngạc. Chiến tranh mới bắt đầu, mà một uỷ viên hội đồng quân sự, một chuyên gia quân sự, đặt vấn đề thay thế tư lệnh. Tôi trả lời:



- Không thấy cơ sở để thay thế, hơn nữa chiến tranh mới được bắt đầu.



- Ông ta yếu kém.



Tôi nói:



- Tính nhu nhược và sức lực được mọi người kiểm tra ở công việc. Vì thế tôi giả thiết rằng phải kiểm tra xem ông ta có yếu không”.



Tôi cũng biết viên tư lệnh không nhiều hơn ông uỷ viên hội đồng quân sự. Biết họ tên và mặt mũi, nhưng về chất lượng công việc không thấy có biểu hiện gì. Một người mới đến và giữ một chức vụ lớn như vậy. Nhưng tôi không muốn ngay lập tức ở lần gặp đầu tiên lại đề cập việc thay đổi thành phần chỉ huy. Tôi nói tiếp:



- Điều này gây ấn tượng rất xấu, tôi cũng không thấy có cơ sở, tôi không đồng ý.



Sau đó tôi hỏi:



- Ông xem ai làm tốt hơn? Ai có thể được bổ nhiệm thay thế Kirponos?



Ông trả lời:



- Tham mưu trưởng, tướng Pukaev.



Tôi có ý nghĩ rất tốt về Pukaev, tuy nhiên tôi nói:



- Tôi kính trọng Pukaev và tôi đánh giá cao, nhưng tôi không thấy có gì thay đổi, nếu chúng tôi thay Kirponos bằng Pukaev. Để lãnh đạo chiến đấu, cũng chẳng cần thêm một cái gì đấy, vì rằng Pukaev - tham mưu trưởng và cũng tham gia bàn bạc những quyết định được chấp nhận (tôi nhớ rằng tham mưu trưởng cũng nằm trong hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev). Kiến thức và kinh nghiệm của tướng Pukaev chúng tôi cũng hoàn toàn dùng và sẽ dùng tiếp tục. Tôi không đồng ý.



Ông uỷ viên hội đồng quân sự chạy về đơn vị, nhưng quay lại vào sáng sớm và gặp tôi. Bộ dạng ông xúc động một cách lạ lùng, một điều gì đó làm ông vô cùng to lớn xúc động. Ông đến đúng lúc, trong phòng không có ai cả, tất cả đã đi ra ngoài và ông nói với tôi rằng ông quyết định tự tử. Tôi nói:



- Ông làm sao thế? Ông nói những điều ngốc nghếch ấy để làm gì?



- Tôi có lỗi ở chỗ đã đưa một chỉ dẫn không đúng cho ban chỉ huy quân đoàn cơ giới. Tôi không muốn sống.



Tôi tiếp tục:



- Cái gì xảy ra thế? Ông trao mệnh lệnh cơ mà?



- Đúng, tôi trao.



- Chính là trong mệnh lệnh đã nói cách họ hoạt động và sử dụng quân đoàn cơ giới. Nhưng ông liên quan gì đến việc đó?



- Không, tôi cho họ sau đó những chỉ thị miệng, mà cái đó ngược với mệnh lệnh này.



Tôi nói:



- Ông không có quyền làm điều này. Nhưng nếu ông cũng đã cho chỉ thị như thế, đằng nào cũng thế, ban chỉ huy quân đoàn không có quyền theo nó, mà cần phải thực hiện chỉ dẫn, được nêu trong mệnh lệnh và được ký bởi tư lệnh mặt trận và tất cả các uỷ viên hội đồng quân sự. Những chỉ thị khác không còn hiệu lực đối với ban chỉ huy quân đoàn.



- Không, tôi ở đó...



Ngắn gọn, tôi thấy rằng ông gây với tôi một cuộc tranh cãi, chẳng có chút gì lập luận, còn bản thân ông - trong trạng thái sốc. Tôi nghĩ rằng nếu không khuyên nhủ người này, mà xử lý với ông ta nghiêm khắc hơn, thì sẽ kéo ông ra khỏi trạng thái sốc, ông tìm thấy nội lực và quay về trạng thái bình thường. Vì thế tôi nói:



- Ông nói cái gì ngu ngốc thế? Nếu quyết định tự bắn mình, thì còn chần chừ gì nữa?



Tôi muốn kìm lại những lời nói xẵng của ông để ông cảm thấy rằng ông can dự tính tội ác trong quan hệ bản thân. Nhưng ông bỗng nhiên rút súng lục ra (chúng tôi và ông ta hai người đứng đối diện nhau), đặt vào thái dương của mình bóp cò và ngã xuống. Tôi bỏ chạy ra ngoài. Lính bảo vệ vây quanh nhà. Tôi gọi lính bảo vệ, ra lệnh lấy xe và chở ông ta vào bệnh viện. Ông vẫn còn có dấu hiệu sự sống. Người ta chở ông vào bệnh viện, nhưng chẳng bao lâu ông chết ở đó.



Sau đó đã được nghe kể từ trợ lý của ông ta và những người, cùng với ông đến quân đoàn: khi quay về từ tiền tuyến, thì ông rất xúc động, không nghỉ, thường chạy vào nhà vệ sinh. Tôi giả thiết rằng ông làm điều này không phải do nhu cầu sinh hoạt, mà, hình như muốn tự sát ở đó. Có trời mà biết. Tôi không thể bấy giờ xác định sự lãng mạn của ông. Rõ ràng là ông luống cuống. Sau đó đến với tôi và tự bắn mình. Tuy nhiên trước đó, ông nói chuyện với những người, trực tiếp tiếp xúc với ông, và họ đã nghe lời ông nói. Ông cho rằng tất cả sẽ chết, chúng tôi rút lui, tất cả sẽ xảy ra như ở Pháp. “Chúng tôi chết!” - đó là nguyên văn lời ông ta. Tôi giả thiết rằng điều này cũng dãn ông vào ngõ cụt, và lối thoát duy nhất mà ông nhìn thấy - kết liễu cuộc sống bằng tự sát. Ông cũng xử sự như thế.



Sau đó tôi viết điện mật gửi Stalin, viết về cuộc nói chuyện của chúng tôi. Có những tài liệu tôi bây giờ giữ trong trí nhớ. Tôi nghĩ rằng, tôi nói chính xác, kết luận có thể, trật tự của sự giãi bày. Tôi mô tả bản chất, như nó đã có trong đời. Thậm chí ông uỷ viên hội đồng quân sự, người giữ chức vụ cao, đã rét cóng. Không phải thể xác nhát gan, không, ông rét cóng về mặt tinh thần, mất tự tin về khả năng đánh lui cuộc xâm lăng của Hittler. Đáng tiếc, điều này khi đó không phải là trường hợp duy nhất. Cũng xảy ra những trường hợp như thế và với viên chỉ huy khác. Bầu không khí là như thế. Nhưng chúng tôi vẫn còn hàng chục ngày không ở trong trạng thái chiến tranh.



Tôi quay về tình hình mà tôi nói trước đây bằng sự mô tả trường hợp với ông uỷ viên hội đồng quân sự. Như vậy, chúng tôi nhìn thấy rằng quân địch hầu như không tiến hành những hành động tích cực chống lại tập đoàn quân Muzychenko và tập đoàn quân №12 Ponedenin. Có sự phớt lờ rõ ràng sườn trái chúng tôi từ phía bọn Đức. Nhưng họ hy vọng sau khi quân đoàn xe tăng thọc sâu cánh phải, bao vây bộ đội chúng tôi và tiêu diệt hai tập đoàn quân này. Vì thế chúng tôi và tư lệnh quyết định rút tập đoàn quân №6, ban tham mưu của nó ở Lvov, còn bản thân quân đoàn đóng ở biên giới, bắc Peremyslя. Bộ đội của quân đoàn rút lui. Tôi không nhớ, họ rút lui bao nhiêu kilomet, nhưng kẻ địch thậm chí không đuổi theo họ. Và bỗng nhiên chúng tôi nhận chỉ thị từ Moskva - che giấu rằng bộ đội rút lui. Chấp hành lệnh - cho bộ đội quay lại để chiếm đường biên giới, như đã chiếm nó trước đây. Chúng tôi trả lời rằng:



- Vì cái gì mà phải chiếm nó? Không tiến hành các hoạt động quân sự chống hai tập đoàn quân này. Kẻ địch tập trung sức mạnh chính theo hướng Broda, mưu đồ của chúng thấy rõ. Địch có thể bao vây bộ đội chúng tôi, nhưng họ sau này không thoát khỏi đòn đánh vào sườn.



Nhưng người ta ra lệnh cho chúng tôi đưa tập đoàn quân quay lại, và chúng tôi đã làm điều này. Tôi rất giận và cay đắng chấp hành như thế. Trong tôi có ấn tượng rằng hai tập đoàn quân có thể chết. Họ sẽ đánh nhau trong vòng vây, nhưng họ không được sử dụng một cách hiệu quả như chúng tôi đưa họ về hướng đánh chính của quân thù. Tuy nhiên mệnh lệnh là mệnh lệnh và chúng tôi thực hiện nó.



Tôi giả thiết rằng khi đó (bây giờ tôi không nhớ, có phải chính Zukov gọi điện từ Moskva về vấn đề này?), Zukov không đúng. Tôi mang trong mình ý nghĩ này suốt nhiều năm, và khi cách chức Zukov năm 1957, tôi phát biểu phê bình hoạt động của ông, quay về thời điểm những ngày đầu chiến tranh, cấm rút quân đội khỏi khu vực Peremyslя và Lvov. Do tập đoàn quân №6 bị tiêu diệt sau đó trong vòng vây, cũng như cả tập đoàn quân №12 cũng chết. Tôi nói:



- Một người chỉ huy có khả năng như Zukov, mà cũng mắc sai lầm.



Ông trả lời:



- Đó không phải là sáng kiến của tôi, đó là chỉ thị của Stalin.



Bây giờ tôi không thể tranh cãi với ông ấy, nếu như đó là chỉ thị của Stalin. Có thể, tất nhiên, có những cái như thế, nhưng trên cơ sở báo cáo của Zukov, vì rằng Zukov vừa mới từ mặt trận quay về Moskva, và, tôi nghĩ, trong vấn đề này ông là cố vấn chính. Nếu ông nói rằng lệnh của hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev là đúng, thì Stalin, để tránh những tập đoàn quân này bị bao vây, có thể là, và không đưa chỉ thị của mình cho tập đoàn quân quay lại. Nhưng bây giờ tôi không biết cụ thể người khởi xướng mệnh lệnh này và, tiếp theo, người có tội thật về cái chết của hai tập đoàn quân, rơi vào thế bị bao vây sau đó.



Bạn có thể hình dung thời kỳ nặng nề đối với chúng tôi, khi Hittler huy động những binh đoàn cơ giới hoá cao và sung sức đánh nhau với chúng tôi, chúng tôi bị tước đoạt sức mạnh của hai tập đoàn quân №6 và №12? Họ rút lui, quân Đức tấn công họ và cuối cùng bao vây họ trong vùng Umani. Cả hai tập đoàn quân cùng với ban tham mưu và chỉ huy bị bắt làm tù binh. Nếu chúng tôi có thể trước đây dùng tập đoàn quân №6, thì có thể lấy một phần của nó những sư đoàn, để tổ chức đánh vào sườn kẻ thù trong vùng Broda. Không biết, cái gì xảy ra. Nếu thậm chí chúng tôi không cầm giữ quân thù hoàn toàn và không đánh tan nhóm này, thì trong mọi trường hợp chúng tôi cũng làm kiệt sức quân Đức một cách đáng kể và cầm chân trong một thời gian nào đấy. Tại hướng chúng tôi, có một bầu không khí hoàn toàn khác. Nhưng chúng tôi bị loại bỏ bởi những khả năng như thế. Vì sao tôi nói điều này? Ít người tin chúng tôi. Sự can thiệp từ trên có một phần, và không phải luôn luôn nó là khôn ngoan, hợp lý. Sự can thiệp, đáng giá nhiều mạng sống và máu. Lúc ấy - trong đầu tiên, nhưng tiếp theo, tôi sẽ dẫn thêm nhiều trường hợp khác, cũng đáng giá hàng nghìn, hàng nghìn nạn nhân, mà những trường hợp này là hoàn toàn không cần thiết và có thể tránh được, nếu như có lòng tin vào chỉ huy mặt trận và hội đồng quân sự của họ.



Sau một vài ngày, lại không phải theo sáng kiến của mình mà theo chỉ thị từ Moskva, chúng tôi rút lui từ chỉ huy sở. Họ ra lệnh cho chúng tôi chuyển ban tham mưu về Proskurov, có nghĩa là chúng tôi rút về sâu. Chúng tôi ngạc nhiên, bởi vì tại hướng chúng tôi, tình hình chưa đến nỗi xấu như thế, liệu có buộc phải áp dụng những biện pháp: rút lui và bố trí ban tham mưu vào sâu sau những quân đoàn chúng tôi. Nhưng đó là chỉ dẫn từ Moskva. Tôi không nhớ, gửi cho ai, nhưng tất cả cho rằng gọi từ Moskva, nghĩa là - chỉ thị của Stalin. Chúng tôi rút lui và di chuyển. Đó là một bức tranh khủng khiếp. Hàng trăm ô tô di chuyển từ tiền tuyến về phía sau cùng với các gia đình sĩ quan. Có nhiều gia đình sĩ quan ở Lvov, Drogobychе, Peremyslе. Cùng đi với họ là những người chạy nạn. Nhưng không có nông dân trong số này. Nông dân miền tây Ukraina không đi khỏi bọn Đức. Hình như điều này liên quan tới kết quả sự tuyên truyền những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina, những người chờ đợi bọn Đức với cảm tình hơn chúng tôi. Nông dân bị lừa bằng lời hứa rằng Hittler sẽ giải phóng Ukraina. Nọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina và bọn tuyên truyền lừa phỉnh nông dân như thế đấy.



Ngay khi chúng tôi đến Proskurov và triển khai ban tham mưu, thì Stalin gọi. Tôi nói chuyện với ông. Stalin nói:



- Anh bây giờ đi về Kiev và ở Kiev nhanh chóng tổ chức phòng thủ mó.



Chúng tôi đã làm như thế, mặc dù không biết cái gì được làm ở sườn phải của mặt trận. Tình thế ở mặt trận phía Tây, chúng tôi cũng không biết. Chúng tôi về Kiev, còn quân địch di chuyển theo chúng tôi đúng theo dấu vết, nhưng theo con đường khác: chúng tôi - theo Tarnopolsk, còn địch, tiêu diệt lực lượng chúng tôi ở hướng Broda-Rovno-Korosten. Đi lên phía bắc với tốc độ lớn. Và dưới Kiev tình hình chính xác là không còn tin cậy.



Bây giờ tôi không thể nói, ngày chiến tranh là như thế nào. Bộ đội thực tế không có, mặt trận bị vỡ. Kẻ địch vượt lên phía trước bằng quân đoàn cơ động, còn bộ đội chúng tôi nằm xa về phía sau lưng chúng và ở đó tiến hành chiến đấu. Kẻ địch tiến gần Kiev, vượt qua Irpen. Sông Irpen - không lớn, nhưng lầy lội. Trước con sông này, ngay từ năm 1928-1930 đã xây dựng một vùng phòng thủ vững chắc thuộc Kiev. Ở đó có hầm ngầm bê tông và phá, nhưng có trước đây thôi: chúng đã bị phá huỷ đề nghị của Mekhlic. Stalin ra lệnh tháo bỏ chúng, để sự chỉ huy chúng tôi không nhìn về phía sau, còn dồn sức củng cố sự vững mạnh biên giới mới, mà chúng tôi đã có được do sự thất bại chẳng Ba Lan trước Đức. Còn bây giờ, khi chúng tôi cần khu vực phòng thủ vững chắc như thế, thì nó lại bị phá huỷ. Công sự bê tông được giữ lại, nhưng vũ khí trong đó thì không có: không pháo, không súng máy và không có bộ đội. Vì thế chúng tôi bắt đầu thu nhặt đúng là tất cả những gì có thể: súng trường, pháo v.v... để phòng thủ.



Người ta bổ nhiệm tướng Parusinov chỉ huy khu này. Bây giờ tôi không biết một tí gì về ông. Ông khi đó đã có tuổi. Tôi có ấn tượng tốt về ông. Nhưng ở thời điểm đó, ông nhận việc hậu cần. Tôi không nhớ, chức vụ của ông được gọi như thế nào khi đó. Theo tôi, thủ trưởng hậu cẩn mặt trận, nhưng không đúng lắm. Nhưng chúng tôi cũng không có người khác và chúng tôi bổ nhiệm ông. Ông có lần phân tích cái gì chúng tôi có và cái gì chúng tôi gom được xây dựng phòng thủ thành phố. Nhưng quân Đức bố trí bên bờ tây sông Irpen. Quân Đức không tiến hành một mưu toan nào cả vượt sông Irpen. Một chiếc cầu ở đó bằng gỗ ọp ẹp. Chúng tôi cho nổ nó, tất nhiên. Tôi nghĩ rằng quân Đức đột phá tất cả bằng một số xe tăng tiên tiến, nhưng bộ binh họ không có, và vượt qua trở ngại này (tôi đã nói, không phải là sông mà là bùn) họ không bắt đầu.



Tình hình của chúng tôi là nặng nề nhất. Có người nói đùa rằng, địch đến Kiev, vượt qua sông Irpen! Trong thành phố được bắt đầu hoảng loạn. Điều này là đương nhiên. Tôi nhớ, vào ban đêm (tôi ngồi trên ghế băng) tướng Astakhov tư lệnh không quân Quân khu đặc biệt Kiev đến gặp tôi. Ông là một con người đứng đắn, tận tâm, vẻ bề ngoài chững chạc và mập mạp. Ông theo bề ngoài của mình dường như tượng trưng cho sự điềm tĩnh. Ông nói:



- Chúng tôi đã bị gần như mất sạch máy bay trong các trận chiến đấu. Nhưng bây giờ quân địch không cho chúng tôi mũi hở ra nữa.



Và khóc nức nở. Tôi bắt đầu an ủi ông, nhưng sau đó quát ông ta:



- Hãy bình tĩnh, đồng chí Astakhov! Hãy nhìn, mọi người đi lại, nhìn thấy một viên tướng trong trạng thái như thế. Chúng ta phải chiến đấu phải và, tiếp theo, phải làm chủ bản thân.



Đối với ông, điều này có tác dụng, nhưng mãi một lúc lâu, ông vẫn chưa bình tâm. Astakhov - một con người rất hiểu biết công việc. Nhưng trước đây ông là người tự tin, như những người khác, chúng tôi kênh kiệu rằng biên giới chúng tôi “bị khoá”, như lời bài hát, và rằng chúng tôi sẽ chiến đấu trên vùng đất lạ. Và bỗng nhiên chúng tôi chỉ sau một vài ngày bắt đầu chiến tranh lại dồn về Kiev. Trong tình thế bằng cách nào đó giữ Kiev, không có lực, không vũ khí, không bộ đội.



Tất cả những gì, chúng tôi có thể, chúng tôi mang ra để tổ chức phòng thủ Kiev. Kiev không đầu hàng! Hãy chống cự kẻ thù! Chúng tôi xây dựng tuyến phòng thủ từ phía tây theo dòng chảy sông Dnepr, bên phải Kiev, có sườn phải cao hơn thành phố. Nhưng từ phía nam đến bờ nam của Kiev có một khoảng không tương đối lớn, mà bộ đội chúng tôi chiếm giữ. Trước hết, theo hướng này rút lui tập đoàn quân №6 và №12. Họ bị bao vây, nhưng vẫn đánh nhau và gây cho địch tổn thất tương đối lớn. Chúng tôi tổ chức công việc sao cho từ phía đông xé tung vòng vây và giúp những tập đoàn quân này thoát khỏi khỏi vòng vây. Trong quá trình rút lui, ban tham mưu của hai tập đoàn quân được sát nhập.



Để bảo vệ Kiev chúng tôi quyết định xây dựng tập đoàn quân mới và đặt tên nó là №37. Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm tư lệnh. Chúng tôi cùng với Kirponos đề nghị một loạt tướng, những người đã mất quân của mình và ở trong sự sắp xếp. Trong số đó, gây ấn tượng rất tốt là Vlasov. Và chúng tôi quyết định bổ nhiệm chính Vlasov làm tư lệnh. Ban cán bộ của Quân khu đặc biệt Kiev cũng giới thiệu ông và đưa ra tính cách có ưu thế hơn người khác. Tôi không biết Vlasov, không biết các tướng “tự do” khác, thậm chí tôi không nhớ họ tên của họ nữa. Nếu yêu cầu bằng chứng, thì tôi có người làm chứng, bây giờ vẫn còn sống, khoẻ mạnh, và tôi mong ông sống đến nghìn tuổi - Ivan Christoforovich Bagramian. Ông là khi đó theo chức danh là trung tá trưởng bộ phận tác chiến thuộc ban tham mưu mặt trận Tây Nam. Một người rất đứng đắn, một cán bộ quân sự tốt, và tác chiến giỏi, có vai trò lớn trong việc tổ chức chống cự cuộc xâm lăng của Hittler trên khu vực ông được trao làm việc này.



Và dù sao chăng nữa tôi quyết định hỏi Moskva. Chúng tôi khi đó có một ấn tượng là ở khắp mọi nơi đều có kẻ thù nhân dân, đặc biệt trong hồng quân. Và tôi quyết định hỏi Moskva, xem có tài liệu nào về Vlasov, tính cách ông ta ra sao, có thể tin Vlasov được không và bổ nhiệm làm tư lệnh tập đoàn quân bảo vệ Kiev. Bộ đội - không có, phải gom nhặt họ, và tất cả phải làm ban chỉ huy mới. Tôi gọi điện cho Malenkov, gọi mãi mà không có ai. Bởi vì Malenkov làm về tổ chức cán bộ BCHTƯ, câu hỏi này cũng phải tới ông. Sự thật ông cũng chẳng biết gì về Vlasov, nhưng những người trong Bộ tổng tham mưu làm về tổ chức cán bộ cần phải nói cho ông suy nghĩ của mình. Tôi hỏi Malenkov:



- Có thể, nhận ra Vlasov có tính cách gì?



Malenkov trả lời:



- Anh đơn giản không giới thiệu cái gì ở đây được làm. Không thể biết ai và cái gì cả. Vì thế hãy nhận về mình hoàn toàn trách nhiệm và hãy làm nếu anh xem là cần thiết.



Ở tình thế công việc như thế, mặc dù tôi không có số liệu nào về Vlasov, chúng tôi biết rằng quân đội giới thiệu chính ông. Vì thế chúng tôi và Kirponos quyết định bổ nhiệm Vlasov chỉ huy tập đoàn quân №37. Ông bắt đầu tiếp nhận casc chiến sĩ từ các bộ phận rút lui hoặc thoát khỏi vòng vây. Sau đó nhận sự bổ xung nhận nào đấy. Chẳng bao lâu, có mặt một quân đoàn bộ binh nguyên vẹn dưới sự chỉ huy của tướng Kylesov. Quân đoàn này đến từ bắc Kavkaz. Quân đoàn là tốt, nhưng thiếu chuẩn bị. Về mặt tinh thần quân đoàn chưa được chuẩn bị, chưa từng trải, điều này đương nhiên, thì chiến tranh bắt đầu. Chúng tôi đưa nó vào vùng phòng thủ vững chắc Kiev và đặt vào vùng xung yếu nhất - bảo vệ rừng Goloseevski, đường tiến trực tiếp đến Kiev từ phía nam. Chúng tôi chờ đợi cuộc tấn công không phải từ phía bắc. Ở đó điều kiện thiên nhiên khó khăn, chúng tôi được che chở bởi Irpen. Sau đó ở đây có tập đoàn quân №5 trong trạng thái tương đối đầy đủ. Chỉ huy viên nó là tướng Potapop.



Láng giềng của ông tại tiền tuyến là tư lệnh Muzychenko. Trước chiến tranh, người ta nghi ngờ Muzychenko: phải chăng ông là kẻ phản bội trong hàng ngũ Hồng quân? Vì sao mà người ta nghĩ như thế? Trước chiến tranh ông vào bộ đội, để rèn luyện, hay thuần tuý kiểm tra ở biên giới. Ban tham mưu tập đoàn quân №6 đóng ở Lvov. Ở nhà, ông có một người vợ. Nhưng ông còn lại còn có một phụ nữ - nội trợ. Một thanh niên như thế này mà theo đuổi cô ta, và cũng chẳng có gì trái với quy luật tự nhiên. Hình như Muzychenko và vợ lại liên quan tới điều này. Nhưng, như được thấy, việc theo đuổi này không đơn giản chỉ là sự hào hứng. Ở đây sự theo đuổi lại vì mục đích chính trị, tình báo. “Người theo đuổi” này đã chọn thời điểm, khi Muzychenko đi bộ đội (trước đó ông có cho mình cái quyền vào nhà và làm quen những người trong gia đình liên quan tới sự xuất hiện của ông), và xuất hiện vào ban đêm. Vợ của Muzychenko đang ngủ. Bỗng nhiên cửa mở, ông đi vào giường ngủ và hỏi chìa khoá két sắt. Bà khiếp sợ. Sau đó bà nhớ lại thế này:



- Tôi đang ngủ. Không quần áo. Ông đến, láo xược ngồi lên giường và giọng khá lễ độ, bắt đầu nói chuyện. Ông không thể hiện một ý đồ đén danh dự của tôi và nói chuyện nhã nhặn nhưng đòi chìa khoá. Tôi nói với ông, rằng tôi không có chìa khoá. Người chỉ huy không bao giờ bỏ quên chìa khoá, nữa là tôi, ông luôn luôn mang chúng theo người hoặc gửi đâu, tôi không biết. Tôi cũng không có liên quan gì đến chìa khoá và chẳng thể nào thực hiện yêu cầu của ông. Ông vẫn kiên trì đòi chìa khoá, mặc dù ông đã pha trò để không doạ, có thể là, tôi bình tâm, để tôi trả ông chìa khoá. Sự việc kết thúc, ông ra đi.



Điều này được mô tả tương tự, hình như trong lưu trữ của cơ quan an ninh: vợ Muzychenko đưa chứng cớ. Cô gái ô-sin bỏ chạy. Lúc đó rõ ràng là cô gái này được bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina mật phái đến. Cô ta cũng dẫn dắt điệp viên này của tình báo Đức, kẻ muốn chiếm chùm chìa khoá nhưng không nhận được nó. Khi Stalin biết về trường hợp này, thì ông hỏi tôi về việc Muzychenko. Tôi trả lời rằng chúng tôi tuyệt đối không có dữ liệu nào để nghi ngờ vị tướng. Tôi đã dò hỏi nhiều người, và tất cả đều đánh giá ông ta có tư cách tốt ở vị trí quân nhân, vị trí con người và vị trí Đảng viên. Ở đây, hình như hiện diện một cách đơn giản sự trơ trẽn của tình báo nước ngoài. Vợ ông cũng không thể là điệp viên. Không có tư liệu gì cả về điều này. Những người biết bà, cũng nói rằng bà là một phụ nữ đứng đắn. Vấn đề Muzychenko đứng trước một con dao sắc: dùng ông hoặc cách chức chỉ huy tập đoàn quân? Người ta suy nghĩ khá lâu và dù sao chăng nữa quyết định giữ ông lại. Muzychenko tiếp tục chỉ huy tập đoàn quân №6. Ông có được sự tín nhiệm hoàn toàn, dù có sự cố này, hoàn toàn, bỏ lại dấu tích, nhưng trong công việc, tôi nghĩ, cũng chưa bị cắt hết. Sau vụ này tôi tin tưởng ông như trước kia.



Bây giờ tập đoàn quân của ông tác chiến ở nam Kiev. Nguy hiểm chủ yếu đối với Kiev chính là từ phía nam, từ phía Nhà thờ trắng. Việc xây dựng phòng thủ được triển khai cả ở đấy. Sau một thời gian quân Đức kéo quân và khởi đầu trực tiếp chiến dịch chiếm Kiev. Tôi nhớ rằng khi đó tình hình khó khăn theo hướng Nhà thờ trắng, chúng tôi và Kirponos quyết định đến chỗ bộ đội, đánh giá tình hình và áp dụng các biện pháp bộ đội chúng tôi không bỏ chạy. Trong thời gian này ban chỉ huy mặt trận nằm ở Brovar, bên bờ đông sông Dnepr, cách Kiev 25 km theo hướng Chernigov. chỉ huy sở bằng bê tông, được xây dựng cơ bản trong thời gian hoà bình dành cho ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev trong Sviatosino, bây giờ là chỗ ban tham mưu tập đoàn quân №37. Tôi không nhớ tên tham mưu trưởng tập đoàn quân, nhưng ông cũng gây ấn tượng tốt với tôi.



Chúng tôi tới ban tham mưu tập đoàn quân cùng với Kirponos và trước tiên gặp tham mưu trưởng. Vì lý do gì không có mặt người chỉ huy tập đoàn quân. Sau đó ông cũng đến. Vlasov trình bày tình hình, nói tương đối bình tĩnh, và tôi thích. Giọng ông tự tin và ông nó với sự hiểu biết công việc. Chúng tôi đề nghị đi đến khu rừng Goloseevsk, nơi bố trí một quân đoàn bộ binh gồm 3 sư đoàn. Trước đó, chúng tôi đã đến quân đoàn Kylesov. Tại lần chạm trán đầu tiên với quân địch, các chiến sĩ của quân đoàn này thể hiện mình rất kém. Khi hoảng loạn, quân đoàn rút lui. Phát sinh sự nguy hiểm là mọi người chạy tán loạn. Lúc chúng tôi đến đó để vãn hồi trật tự. Một toà án quân sự được lập ra. Đội quân đánh chặn được mang ra. Tất cả các biện pháp được chấp nhận trong trường hợp như thế để phục hồi trật tưh và kỷ cương, kỷ luật đã được sử dụng. Biện pháp cứng rắn! Phiên toà diễn ra trên chiến trường. Lúc ấy những nghiệt ngã bản án được thi hành, những bản án đó là cần thiết chỉ trong những tình thế khó khăn như vậy. Chúng tôi nhận thấy Kylesov chỉ huy kém quân đoàn. Có thể khi đó chúng tôi nóng nảy, vì rằng ông không có kinh nghiệm, cũng như quân lính của ông. Ông cũng là một người chưa từng trải. Chúng tôi cách chức ông và bổ nhiệm người chỉ huy mới quân đoàn. Bây giờ tôi không nhớ họ tên của ông, về dân tộc ông là người Do Thái.



Khi chúng tôi đi đến đó lần thứ hai, thì chỉ huy quân đoàn là một chỉ huy mới. Vlasov cùng đi với chúng tôi. Tình hình thế này: quân Đức bắn pháo cối và dùng máy bay ném bom khu vực này. Khi chúng tôi đến gặp viên chỉ huy, ông ngồi trên một cái ghế dã chiến, còn chiếc bàn trước mặt ông phủ vải điều. Có một chiếc điện để trên. Có một chiếc hầm được đào. Có một số người ở đó với ông. Ông báo cáo tình hình cho chúng tôi. Trong thời gian này quân Đức bắn chúng tôi bằng súng cối và súng máy, nhưng không nhìn thấy chúng, chỉ nghe tiếng ầm ầm trong rừng. Vlasov giữ bình tĩnh (tôi nhìn quanh ông ta). Ông ta có một chiếc ba toong cắt ra gỗ cây phi tử. Ông dùng ba toong này gõ nhè nhẹ ủng. Sau đó ông đề nghị chui vào hầm để tránh những điều rủi ro. Một mảnh đạn bất kỳ có thể đâm vào chúng tôi. Chúng tôi nghe lời khuyên của ông, leo vào hầm. Ở đó chúng tôi nghe báo cáo. Người chỉ huy quân đoàn gây cho tôi một ấn tượng rất tốt bằng sự bình tĩnh, tự tin và hiểu biết tình hình. Chúng tôi ra đi, chúc ông thành công.



Budenyi đến gặp chúng tôi trong khi cuộc chiến đấu phòng thủ Kiev. Tôi hỏi:



- Cái gì đã được làm ở mặt trận khác? Tôi không biết một cái gì cả, không nhận được thông tin gì cả. Ông, Semen Mikhailovich, từ Moskva. Liệu ông biết chứ?



- Đúng, tôi biết và tôi sẽ kể cho anh.



Và ông từng chuyện một kể cho tôi rằng mặt trận phía tây đúng gục trong trận đọ súng đầu tiên và bị băm nhỏ ra. Ở đó không thể tổ chức những sự chống cự cần thiết đối với địch. Địch lợi dụng sự ngơ ngá của chúng ta và đã tiêu diệt không quân tiền tuyến của chúng ta bay ở nhiều, cũng còn gây ra những tổn thất lớn cho bộ đội mặt đất từ 22 tháng sáu, ngày tấn công đầu tiên. Mặt trận tan vỡ. Stalin cử Kulik đến đó để giúp bổ xung quân số. Nhưng tôi không có một tin tức gì cả về nguyên soái Kulik. Cái gì xảy ra với ông, tôi không biết.



Tôi thương xót:



- Tiếc quá, Kulik bị giết.



Budenyi nói:



- Nhưng anh đừng thương xót ông ta.



Và điều này được nói bằng giọng như thế để hiểu rằng ở Moskva người coi Kulik là kẻ phản bội, rằng ông, hình như bán mình cho kẻ địch. Tôi biết Kulik, coi ông là một người tự trọng và vì thế tôi nói rằng tôi thương ông ta.



- Này, anh đừng thương ông ta, đừng thương ông ta - Budenyi nhắc lại.



Tôi hiểu rằng, hình như ông có một cuộc nói chuyện nào đấy về điều này với Stalin.



Vì cái gì Budenyi đến, khó nói. Ông lưu trú ở chúng tôi ngắn ngủi. Nhưng một buổi chiều ông hỏi:



- Chúng ta sẽ nghỉ ngơi ở đâu nhỉ? Thôi chúng ta cùng nhau ngủ.



Tôi đồng ý.



- Nhưng ở đâu? Chỗ anh à? Anh nghỉ ở đâu?



Tôi nói:



- Chỗ đấy chỗ nọ tôi thường nghỉ.



Chúng tôi đi khỏi nhà. Nhìn bề ngoài đây là một cái lều dã chiến và bên trong chất cỏ khô.



- Ở đây tôi cũng hay ngủ trong lều.



- Anh ở thế này ư?



Tôi giải thích cho ông: ở đây, nơi đóng ban tham mưu của chúng tôi, bùn lầy, không thể đào hầm, vì có nước. Vì thế tôi ngủ trong một trong lều dưới hầm tránh bom. Budenyi nói:



- Thôi được. Nếu anh ở đây, tôi cũng ở cùng với anh.



Và chúng tôi ngủ một vài giờ, nghỉ ngơi. Sáng sớm, chúng tôi bị đánh thức bởi không quân Đức. Máy bay lượn trên làng mạc và ném bom. Phòng không chúng tôi bắn trả. Chẳng thấy trúng viên nào vào máy bay cả. Còn máy bay của chúng tôi không xuất hiện. Tôi giận và nổi khùng về điều này. Tôi hỏi Astakhov:



- Thế này là thế nào? Vì sao bọn chúng bay và ném bom mà không bị đánh trả, chúng ta không thể làm một cái gì được à?



Quân Đức ném bom xong và bay đi. Astakhov báo cáo:



- Chừng này máy bay bị bắn rơi.



Tôi hỏi:



- Rơi ở đâu? Tôi không thấy chúng bị rơi.



- Chúng rơi ngoài sông Dnepr.



- Hừ, nếu chúng rơi sau sông Dnepr, thì có thể báo cáo, chúng bị rơi thậm chí nhiều hơn.



Tôi nghĩ rằng Astakhov đã có lỗi. Có thể tiêu diệt được một cái gì đó, nhưng tôi rất thất vọng về lời nói của ông ta, và tôi nói:



- Các chiến sĩ nhìn thấy quân Đức bay mà không bị đánh trả như thế nào, còn chúng ta không gây cho địch tổn thất.



Chẳng bao lâu sau, Budenyi ra về. Ông không thăm bộ đội, mà quay về Moskva. Ông đến đây với nhiệm vụ gì (không thể đây là chuyến tham quan), tôi không biết, còn ông không nói gì với tôi về điều này. Đơn thuần người ta nói chuyện với ông. Ông nghe tình hình, nghe tư lệnh quân đoàn và trong ban tác chiến Bagramian. Cuộc nói chuyện của ông với Bagramian gây cho tôi ấn tượng nặng nề. Tôi nhớ rất rõ không thể nào quên. Việc xảy ra sau bữa ăn. Budenyi nghe Bagramian báo cáo tình hình. Bagramian - một người rất trung thực, trình bày tất cả, những gì về bộ đội chúng tôi khi đó: mối thiện cảm của họ, tình hình. Lúc ấy Budenyi ép Bagramian. Cớ gì, tôi không biết cụ thể. Tôi đặc biệt khi đó, không thêm ý nghĩa của cuộc nói chuyện này. Theo cách nói quân sự điều này có nghĩa là: am hiểu tình hình. Trưởng ban tác chiến báo cáo tình hình cho nguyên soái Liên Xô, được Moskva cử đến.



Tôi chỉ nhớ việc xem xét tình hình được kết thúc bằng những lời thế này:



- Các anh thế này ư? Các anh không biết bộ đội của mình.



- Tôi không biết trình bày với đồng chí như thế nào, đồng chí nguyên soái - Bagramian trả lời.



- Đấy, tôi nghe anh, tôi nhìn anh và tôi cho rằng - phải bắn anh. Phải bắn vì những việc như thế này - Semen Mikhailovich nói bằng cái giọng the thé như thế.



Bagramia nói:



- Vì cái gì ạ, thưa Semen Mikhailovich, bắn tôi? Nếu tôi không có khả năng làm trưởng ban tác chiến, ông cứ cho tôi một sư đoàn. Tôi là trung tá, tôi có thể chỉ huy sư đoàn. Nhưng vì cớ gì lại bắn tôi?



Budenyi vẫn theo cách thô lỗ thuyết phục Bagramian để người ông chấp nhận bị đem bắn. Tất nhiên, Bagramian không thể nào đồng ý. Tôi thậm chí ngạc nhiên, vì sao Semen Mikhailovich cứ khăng khăng như thế để đạt được “sự đồng ý” của Bagramian. Tất nhiên phải tính rằng cuộc nói chuyện “nhã nhặn” giữa nguyên soái Liên Xô và ông trung tá xảy ra sau rất bữa ăn sang trọng có rượu cô-nhắc. Và dù sao chăng nữa, dù tình tiết thế nào đi nữa, kiểu đàm phán không chấp nhận được. Ông là đại diện Tổng hành dinh và, tất nhiên, không phải chịu bài toán đang đứng trước và không thể giúp đỡ công việc và cả cho quân đội chúng tôi. Điều này cũng chứng minh rằng có một trạng thái nào đấy ở mọi người. Semen Mikhailovich khi đó hoàn toàn vượt qua giới hạn cho phép. Nhưng chúng tôi đơn giản và nhìn cuộc nói chuyện này một cách không nghiêm túc. Mặc dù ông cũng đụng chạm cuộc sống của một con người, tuy nhiên không gây hậu quả. Semen Mikhailovich đi khỏi, còn chúng tôi ở lại trong tình thế nặng nề như trước đây, sau khi ông đến, cũng chẳng xấu hơn mà cũng chẳng tốt hơn.



Bước ngoặt Stalingrad


Trước khi bắt đầu cuộc phản công, tâm trạng chúng tôi nâng lên rất cao. Chúng tôi từ giã, chúc mừng nhau thành công và lên đường. Tôi ngồi vào xe cùng Popop, Vasilevski đi tới Tolbukhin. Chúng tôi quay về lúc hửng sáng. Đường tốt, phẳng. Thảo nguyên. Xe chúng tôi đi vùn vụt với tốc độ lớn. Chúng tôi đến Trufanov. Tất cả đã sẵn sàng, được sắp xếp nghiêm ngặt, mọi người ở tại chỗ, các bộ phận nhận nhiệm vụ của mình. Chờ đợi thời gian bắt đầu chiến dịch. Chúng tôi quyết định hạn chế pháo bắn mở màn. Không thể dùng không quân, vì rằng buổi sáng mây mù và không thể bay được. Chúng tôi sợ không quân ném bom nhầm vào bộ đội ta.



Chúng tôi, tất nhiên, bị thiệt lớn là không quân chúng tôi không thể giáng đòn tiền duyên của địch. Điều này còn gây cho địch rối loạn lớn, gây hoảng loạn trong quân đội Rumani và làm dễ dàng việc đột phá tuyến phòng thủ của chúng. Nhưng lại không có khả năng như thế. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng dùng pháo chúng tôi có khả năng đột phá tuyến phòng thủ, sau đó ngay lập tức dùng bộ đội xe tăng đột phá nó, sau xe tăng, khi chúng bị tung ra, dùng kỵ binh - đưa quân đoàn kỵ binh vòng sau lưng địch để làm rối loạn hậu phương của nó.



Đến ngày 20 tháng 11. Chúng tôi và tư lệnh tập đoàn quân ngồi ở sở chỉ huy của nó. Tất cả đã sẵn sàng. Pháo binh, như người ta nói, chia thành trung đội, bộ binh, quân đoàn cơ giới và quân đoàn kỵ binh chiếm lĩnh vị trí. Đây rồi, tín hiệu được phát ra bằng đạn tên lửa và pháo binh nhả đạn. Tôi có ấn tượng rằng mặt đất rung lên. Chúng tôi bắn rất mạnh. Nhưng tôi không nhớ bao nhiêu cỗ pháo trên một kilomet trên trận tuyến. Sau này, khi đánh nhau dưới Kiev, chúng tôi đặt ở hướng chính 370 họng súng trên một kilomet. Sau đó cũng một số lượng này vượt hơn. Lúc ấy không có đến một nửa. Nhưng vào thời gian này như thế là nhiều vì đây là sức mạnh pháo lớn. Và quả là, kẻ địch bị hoảng loạn. Cuộc mở màn bằng pháo kết thúc và chúng tôi ra lệnh bộ binh chiếm công sự địch. Bộ binh, bây giờ tiến lên, không gặp một kháng cự đáng kể từ phía quân Rumani. Quân Rumani dóng ở một vị trí tương đối thuận lợi. Thứ nhất, họ đào công sự kịp thời. Thứ hai, ở trên đất cao. Vùng đất tuy không lớn, nhưng dù sao chăng nữa, họ quan sát địa hình phía trước tốt hơn chúng tôi, quân đội chúng tôi cần khắc phục ban đầu sự đi lến trên để chiếm vị trí của chúng. Lợi thế về địa hình thuộc về phía địch, và nó có khả năng lựa chọn, khi phòng thủ.



Bộ đội chúng tôi bị vùi trong công sự và đánh giáp lá cà. Kẻ địch rút lui. Chúng tôi ra lệnh Volkovsk đưa quân đoàn cơ giới vào để đột phá. Chúng tôi chờ, xe tăng chẳng còn nữa. Chúng tôi у lo lắng. Thế nào đây? chúng tôi có lẽ mất thời gian. Kẻ thù có thể tập hợp lại và xây dựng phòng thủ mới ở chỗ xa phía sau, bỏ lại khu vực đằng trước. Chúng tôi giả thiết rằng địch có ở đấy những vị trí được trang bị trước đó. Nhưng xe tăng không còn. Cái gì thế? Trời sáng. Mặt trời lên dần. Cũng khó quan sát, vì sương mù, nhưng tất cả báo hiệu rằng sương mù sẽ nhanh chóng tan đi. Nhưng quân đoàn cơ giới không cách nào đột phá! Chúng tôi và Popop quyết định: ngồi vào xe và tới gặp Volski. Chúng tôi biết ông ở đâu. Chúng tôi theo lữ đoàn của ông và đúng, như người ta nói, chúng tôi sẽ huých chúng vào lưng hoặc vào chỗ khác để đẩy nhanh cuộc xuất phát.



Khi chúng tôi và Popop đến chỗ đóng quân bộ đội xe tăng, thì cách tổ chức của họ gây cho tôi ấn tượng không hay, căn cứ mà như thế này ư. Tất cả được nhìn thấy rõ, trên cánh đồng chẳng có lấy một bụi cây nhỏ, và tăng, và ô tô, và người đều phơi ra. Chúng tôi gặp may, thời tiết không phải mùa hè và máy bay địch không xuất kích. Nếu máy bay địch đến, thì tôi không biết là nó có ném bom vào quân đoàn xe tăng không, còn về kỵ binh cũng nói một cái gì đó. Tất nhiên kẻ địch không làm hỏng cuộc tấn công của chúng tôi và nhiệm vụ, đằng nào cũng được giải quyết, nhưng tổn thất địch gây ra cho chúng tôi là không nhỏ. Ở đó cỉ có một cái chợ Sorochin, một cái chợ như vậy. Ngựa và đoàn xe ngựa đứng trơ trụi trên cánh đồng. Hình ảnh như thế, có thể nói, ghê sợ. chúng tôi thới gặp Volski, Volski còn đi với tư lệnh lữ đoàn, trao nhiệm vụ cho anh ta. Chúng tôi bắt đầu thúc giục Volski - đã đến lúc kết thúc, nhiệm vụ tiếp tục đặt nhiệm vụ sớm hơn. Chúng tôi đi đến từng bộ phận, đưa ra trong cuộc tấn công quân đoàn cơ giới. Tôi cho rằng đây là sự không quán xuyến của Volski, rằng ông không đào tạo các tư lệnh lữ đoàn. Sau này tôi hiểu rằng, hình như sj việc đã được kết luận theo hướng khác, các lữ đoàn trưởng đã được hướng dẫn và từng vị tư lệnh lữ đoàn đã nhận nhiệm vụ của mình kịp thời.



Sau này phát hiện như thế không những ở Volski, mà còn ở những tư lệnh khác của bộ đội xe tăng. Họ cố tình chần chừ, chờ đợi, khi bộ binh dọn sạch đường, không phải đưa xe tăng dưới làn đạn và không bị mất mất chúng khi phải đánh đột phá. Họ chờ đến khi chỗ thủng tung ra và làm dễ dàng cho lính xe tăng tiến vào. Đáng tiếc, sự bàn luận này, sau đó tôi đã nghe thường xuyên, vâng và không những đã nghe, còn va chạm với họ ở nhiều lính xe tăng. Tôi sẽ không nói họ tên ra. Bây giờ những người này có vị trí tương đối cao. Họ đã chiến đấu một cách tuyệt đẹp và kết thúc chiến tranh một cách tốt đẹp. Cuối cùng Volski cũng đến. Chúng tôi đi quanh cánh đồng, quanh căn cứ của ông. Tôi xem, hai máy bay bay trên vùng tiền tuyến của địch và ném bom chúng. Tôi nói:



- Hãy xem, đồng chí Popop, cái gì thế kia? Máy bay của ai thế? Có vẻ như của chúng ta. Vâng, có lẽ chỗ đó bây giờ không còn địch, nó bị đánh bật rằng, như thế phải không? Hay là kẻ địch lại ném bom bộ đội chúng ta?



Tôi không hiểu, Popop cũng vậy. Tất nhiên chúng tôi vui mừng. Tâm trạng tốt hơn cái gì mà chúng tôi nắm được. Chúng tôi đột phá tuyến đầu, bộ binh tiến đến. Nhưng chúng tôi vẫn lo ngại hai máy bay. này Sau đó, chúng tôi nhìn thấy hai máy bay này lượn vòng vào hướng chúng tôi và bay là là mặt đất trên căn cứ này, trên xe tăng và ngựa. Nhưng tất cả rõ như lòng bàn tay. Những máy bay nhận thấy “Willy” của chúng tôi và bay thẳng đến đến nó. Tựa như máy bay của chúng tôi? Popop:



- Chạy đi, tản ra. Nhưng có trời mới biết nó, cái gì xảy ra.



Chúng tôi nhảy ra khỏi “Willy”, ông ta một hướng, còn tôi hướng khác. Máy bay bắn quanh chúng tôi bằng súng máy. Popop sau này nói rằng có một loạt đạn sát ngay ông. Quanh tôi - cũng thế, nhưng không gần trực tiếp, vì rằng tôi không nghe chùm đạn chạm землю. Máy bay bay khỏi. Tôi nói:



- Dù sao chăng nữa dó là máy bay của chúng ta. Vì sao họ bắn chúng tôi? Họ có thể bối rối? Vùng này được đánh dấu trên tất cả các bản đồ, mà phi công chúng ta có thể sử dụng, khu vực này tập trung bộ đội xe tăng và kỵ binh để chuẩn bị đột phá.



Chúng tôi thúc giục quân đoàn tiến lên và quay về ban chỉ huy, chỗ Trufanov. Và ông làm chúng tôi vui sướng bở những tù binh đầu tiên. Lúc đầu tóm được hai chục, sau đó nhiều hơn. Trong số tù binh, tôi nhớ, một người có họ Chaikovski, dân tộc Nga, như ông nói với tôi, từ Kisinev. Lại một tù binh nữa - một người Rumani rất đáng chú ý. Tôi thẩm vấn anh ta. Vì một lẽ gì đó, anh ta sống sót. Anh ta tự hiểu hiểu, tình thế quân Rumani chừng mực nào là bị lừa dối, rằng chiến tranh không phải vì lợi ích của Rumani, mà vì lợi ích của Đức, rằng Antonesku đem nước mình thành nạn nhân của Đức. Tôi không tuyên truyền anh ta. Anh ta nói là con trai mục sư và tâm trạng của anh ta - không những của cá nhân anh, cũng là tâm trạng của nhiều chỉ huy, mà ông giao thiệp. Tôi nói với anh ta:



- Anh, có thể, đồng ý viết một lá thư cho những viên chỉ huy này, để họ không kháng cự quân đội xô viết, ra hàng làm tù binh và giúp đỡ chính Rumani trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, chống Hittler?



- Đúng, vui lòng đồng ý. Cho tôi giấy, và tôi sẽ làm điều này.



Chaikovski không làm tôi chú ý theo một phần tờ truyền đơn. Ông này là dân tộc Nga, cho nên cái họ Chaikovski không gây cho người Rumani một ấn tượng, nếu ông thậm chí kêu gọi họ ra hàng. Nhưng đây người Rumani chính gốc, một sĩ quan quân đội Rumani, hình như, đại đội chỉ huy, con trai mục sư. Nói chung đối với người Rumani, đặc biệt đối với giáo dân, điều này có thể gây một ấn tượng. Nhưng tôi nói Chaikovski:



- Anh làm nhục một dòng họ lớn thế?



- Vâng tôi hiểu, tôi biết bản tính dòng họ mà tôi mang. Nhưng ông cũng nên hiểu: không những tôi, mà cả những người Nga khác cũng bị động viên vào lính. Chúng tôi không muốn đánh nhau, chứng cớ là - chúng tôi là tù binh đầu tiên của các ông ngay từ khi đánh nhau. Điều này có nghĩa rằng tôi không muốn đánh nhau và trước hết làm tất cả để bị bắt làm tù binh. Những người khác cũng hành động như thế này.



Sau đó tù binh được đưa đến tình báo, còn chúng tôi đi theo bộ đội. Phải không những tiến lên phía trước, mà còn làm tất cả để tăng tốc tiến lên. Chúng tôi trước hết quan tâm bộ đội cơ động Volski, và chúng tôi đến đó. Giờ đây kể theo ngày hoặc theo trình tự sự kiện là không thể (tôi nghĩ mọi người hiểu vị trí của tôi). Tôi nhớ chỉ bức tranh tổng quát hoặc những sự kiện riêng rẽ, rõ ràng. Chẳng hạn, những trường hợp thú vị nào đấy. Trong thảm hoạ, cũng như trong chiến tranh cũng xảy ra những hiện tượng hài hước.



Volski di chuyển xe tăng. Sự chống cự của địch tỏ ra yếu ớt. Có thể nói rằng nói chung không có sự kháng cự có tổ chức. Tại trận địa, nơi lực lượng chủ lực của chúng tôi hoạt động, Volski tóm nhiều tù binh, giết được nhiều quân địch, rất nhiều. Chúng tôi cảnh báo Volski, rằng trong bất cứ trường hợp nào không được dùng sức mạnh đối với tù binh. Thứ nhất, đây là không đạo đức. Thứ hai, nguy hiểm, vì rằng kẻ thù dùng điều này để tuyên truyền chống chúng tôi: không thể ra hàng làm tù binh quân đội xô viết, vì họ bắn tù binh! Tuy nhiên, khi chúng tôi tiến lên, tôi đã thấy nhiều nhóm người bị bắn. Quân lính ta đứng bên cạnh. Tôi nói với Volski:



- Sự việc quá đáng. Tôi quan sát hình ảnh những người bị bắn nằm chồng chất.



- Không, Volski nói - họ bị giết trong đánh nhau”.



Tôi không loại trừ có thể là, ở đâu đó xảy ra vi phạm chỉ thị của chúng tôi do ảnh hưởng của sự căm thù và sự tức giận. nguyên nhân của điều này rất lớn, cả ở mỗi người lính chúng tôi. Khi rút lui, chúng tôi nhìn thấy cái gì chúng tôi bỏ lại cho kẻ thù. Có những những bằng chứng cho điều này, khi quân thù hoành hành trên những lãnh thổ mà họ chiếm đóng. Tại Ukraina, Liên bang Nga, Belorussia và ở Bắc Kavkaz - khắp mọi chỗ, ở đâu xã hội kẻ thù, thì nó thẳng tay giết tất cả những người “không cần thiết” và không thừa nhận những yếu tố đạo đức nào cả. Hittler nhạo báng những yếu tố này, người chiến thắng được phép làm tất cả. Phải tiêu diệt người Nga, lung lạc tinh thần họ, đe doạ.



Những người lính của chúng tôi hiểu điều này. Và nếu ở đâu đó có sự lạm quyền và vi phạm lệnh, thì, như người ta nói, hãy tha thứ cho những người này. Lúc ấy không xã hội tính chất có tổ chức nào đấy của những người chúng tôi. Đó là do cuộc chiến tranh trói buộc chúng tôi, cuộc chiến tranh làm căng thẳng sự nhạy cảm của con người. Hiểu điều này, tất nhiên, là những người đã chiến đấu và muốn bằng sự hiểu biết đúng đắn đi đến hành động, được áp dụng ở những ngày ấy.



Tôi nhớ, một lần sau khi cuộc tấn công được tiến hành, chúng tôi đi lúc đêm khuia. Thảo nguyên. Không có đường. Việc đi lại là nguy hiểm, vì rằng luôn luôn có thể đụng phải mìn nhỏ, chôn ở chỗ không ngờ. Chúng tôi đi và không tin tưởng rằng đi đúng hướng. Không có một sự định hướng nào cả, không có lấy một bụi cây nhỏ, không có làng mạc. Thảo nguyên hoang vắng. Phải định hướng bằng những ngôi sao. Nhưng bằng những ngôi sao, cũng không thể chiến đấu thậm chí ở thảo nguyên. Chúng tôi nhìn thấy một ngọn lửa nhỏ nào đấy lập loè. Bấy giờ chúng tôi trên chiếc xe “Willy” của mình nhằm hướng ngọn lửa này. Popop nhảy vọt ra khỏi xe. Ông là một người yêu đời và muốn tất cả mọi thứ dễ dàng:



- Đồng chí Khrusev, lại đây, thoáng nhìn, hãy nhìn những con quỷ sống.



Tôi nhảy qua chiếc “Willy”, tiến đến gần. Những người lính của chúng tôi đang ngồi, đang nhóm một đống lửa. Đống lửa lớn ở đó tàn, không còn củi khô. Họ thu lượm tất cả mọi thứ để có thể đốt sưởi ở thảo nguyên. Họ lấy một chút nước ở đâu đó và đun trà, trên đống lửa. Họ bị ám khói - một sự sợ hãi thuần tuý. Trông họ như những người da đen, chỉ nhìn thấy độc răng và mắt. Quả là, những con quỷ, lại còn về ban đêm nữa chứ! Một vài người trẻ còn mỉm cười, nhìn những vị tướng đi đến gần họ. Khi đó, tôi không có kiến thức quân sự, nhưng mặc quân phục. Họ lập tức nhìn thấy rằng một “ông lớn” quân đội đến. Chúng tôi hỏi họ. Một cái gì đó ở họ khi xe bị phá và cháy. “Vâng, chúng tôi chờ, họ giúp chúng tôi.



Họ là lính pháo chống tăng - một hoặc hai khẩu. Chúng tôi nói đùa với họ vài câu. Họ không thể kể cho chúng tôi một điều gì lý giải, bản thân họ cũng không biết những tình hình, họ trả lời chỉ từ đơn vị chiến đấu.



Hôm sau, chúng tôi lại đi khắp mặt trận và gặp một bức tranh thú vị khác. Tôi nhiều lần kể cho Stalin về họ. Chiếc xe gỗ nghiêng ngả. Năm sáu người lính Rumani ngồi trên đó, một người phi ngựa. Họ đi về phía đông. Popop hỏi:



- Các anh đi đâu? Các anh là ai thế?



Một người lính Rumani chìa cho chúng tôi một miếng giấy nhỏ trong tay, Popop cầm lấy và đọc:



- Hãy để cho đi theo chừng này lính Rumani, ngựa và chiếc xe gỗ. Họ đi về phía đông, đến sông Volga, để vào trại tù binh”. Ký tên: thiếu tá một đơn vị nào đó.



Chúng tôi buồn cười. Những người lính Rumani nhìn thất rằng chúng tôi không có vẻ độc ác, và họ cũng được khích lệь. Popop trả lại họ mảnh giấy và nói:



- Hãy di theo hướng, mà các anh đang đi - và vẫy tay.



Và họ lại lên đường.



Chúng tôi đến Plodovit. Đây là một làng. Ở đó khắp mọi chỗ đều có những tên gọi của sự tồn tại cuộc sống của một điểm cư dân. Hình như trong quá khứ có sự tiến dần của vùng đất nửa hoang dã của thảo nguyên, những người đến đây, cho những chỗ mới này một những cái tên gọi đẹp. Một thiếu tá tiến đến và hỏi tôi:



- Tôi muốn hỏi, tôi phải làm gì với tù binh?



- Thế chỗ anh có bao nhiêu tù binh?



- Ba trăm.



- Họ ở đâu?



- Ở gần đây thôi!



Chúng tôi và Popop đến đó. Chúng tôi thấy một đám đông tù binh đứng ở đấy. Chúng tôi nói chuyện với họ qua phiên dịch. Cũng trong lúc ấy, lại một thiếu tá phi ngựa đến:



- Hãy quyết định đi? Tôi phải làm gì và giải tù binh đi đâu?



- Chỗ anh có bao nhiêu?



- Khoảng ba nghìn, có lẽ thế.



- Thế những tù binh này đâu?



- Kia kìa, ở đằng sau nhà thờ.



Chúng tôi đến. Ở đó một hàng dài người xếp hàng ngang, theo một trật tự nào đó. Thiếu tá báo cáo rằng tại đây có trung đoàn pháo binh cỡ lớn của Rumani. Viên chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh. Tôi nghĩ: có trời mới biết nó, toàn bộ trung đoàn pháo nằm sau lưng chúng tôi, nó có thể gây cho chúng tôi những thiệt hại. Tôi nói:



- Hãy ra lệnh cho tất cả các sĩ quan đứng lên phía trước. Phải tách các sĩ quan ra khỏi lính và đưa riêng họ vào sâu trong nước, đến trại tiếp nhận. Trên cánh đồng, ngổn ngang vũ khí, từ súng trường đến đại bác. Họ có thể gây cho chúng tôi thiệt hại, không có trong tay những cỗ pháo sẵn sàng nhả đạn.



Phía sau chúng tôi không có gì cả. chúng tôi đi đến trước mặt các sĩ quan của họ. Ông thiếu tá mời viên chỉ huy trung đoàn đi đến chỗ tôi.



Viên chỉ huy, đứng tuổi bình tĩnh trình bày:



- Tôi là một chỉ huy trung đoàn. Thậm chí tôi không ra lệnh tháo vỏ bọc đầu nòng pháo, không nổ súng và quyết định ra hàng làm tù binh cả với trung đoàn thành phần đày đủ cả vũ khí và lính. Vậy là tôi cũng đã đầu hàng các ông tất cả: cả sĩ quan, cả lính, cả pháo.



Tôi nói ông ta:



- Ngài trung đoàn trưởng, Liệu ngài có đồng ý ra lời kêu gọi lính và sĩ quan Rumani để họ ngừng chống cự và ra hàng làm tù binh? Nếu ông làm được như thế thì ông hiểu đúng rằng chiến tranh chống chúng tôi trói buộc các ông với Hittler. Ông không muốn chiến tranh tiếp diễn và đối với ông, thì nó đã kết thúc. Hãy giúp đỡ những ai còn ở bên kia chiến tuyến, hãy để họ noi gương ông.



Ông trả lời:



- Rất hay! Cho tôi cơ hội, tôi sẽ viết một bức thư.



Sau khi hỏi kỹ ông ta, tôi nói với ông ta về việc một sĩ quan, mà chúng tôi bàn bạc với anh ta trước đây và anh cũng viết một tờ truyền đơn tương tự. Ông ta, té ra, lại biết viên sĩ quan này. Trong tờ truyền đơn của mình, người sĩ quan này (như tôi biết sau này) gửi đúng tới viên trung đoàn trưởng. Quả là, khi tôi đọc truyền đơn của viên sĩ quan này, con trai một cha đạo, mà chúng tôi bàn bạc với anh ta trước đây, ông thông báo đích danh ông trung đoàn trưởng này:



- Đừng băn khoăn là anh đang chống lời khuyên của mình! Tôi biết tâm trạng của anh. Phải kết thúc chiến tranh!” Nhưng khi tôi quay về ban tham mưu, người ta đưa cho tôi truyền đơn để tôi ra lệnh in nó. Nhưng trong truyền đơn không có sự đòi hỏi: đơn vị, mà truyền đơn nhắm tới, đã đầu hàng làm tù binh. Chúng tôi chỉ ra rằng các sĩ quan Rumani riêng chở riêng, lính chở riêng.



Chiến dịch tiếp tục thành công. Bộ đội chúng tôi tiến lên phía trước, và chúng tôi nếm những quả ngọt của những chiến thắng lớn đầu tiên. Khó mà tả thành lời, sự vui mừng khi đó như thế nào và nỗi hân hoan ra sao. Lần đầu tiên sau chiến đấu trên hướng của mình, chúng tôi thành công đột phá phòng tuyến kẻ thù và thúc đẩy cuộc tấn công, làm thất bại tất cả những gì đứng trước chúng tôi, và hầu như không gặp kháng cự. Sự thật chúng tôi hiểu rằng trước mặt chúng tôi không phải là quân Đức, mà là quân Rumani. Họ không phải là những người kiên tâm, biết cuộc chiến tranh này không vì lợi ích cho Rumani. Nhưng dù sao chăng nữa, đây là kẻ thù. Như người ta nói, người Rumani và người Rumani. Cũng hoàn toàn khác. Chúng tôi biết họ tấn công như thế nào, nhạo báng những người hoạt động hoà bình ra sao, giết nhân dân chúng tôi. Họ đesn cùng với Quân đoàn Hittler và cũng gây ra những việc làm tàn bạo với các chiến sĩ xô viết. Vì thế phải đúng hiểu rằng sự hân hoan của chúng tôi, sự vui mừng của người lính chúng tôi và các sĩ quan, rạng rỡ thực sự.



Tôi không nhớ, ngày tấn công, ngày thứ ba hoặc thứ bốn, chúng tôi tấn công và quyết định nhiệm vụ đặt trước chúng tôi. Bộ đội xe tăng đến Sovietski, đến sông Đông, còn bộ đội Vatutin tiến dọc theo sông Đông đến Kalach. Ở đó chúng tôi cần phải tổ chức một cuộc gặp gỡ, nên chúng tôi và Popop đi đến đó. Tôi nói ở đó là chưa chính xác. Các tướng khác, những người tham gia chiến dịch này, trong các hồi ký của mình chính xác hơn, vì rằng họ, khi viết, sử dụng tư liệu của Bộ tổng tham mưu, các tài liệu chính thức, qua đó có thể phục hồi tất cả đúng thời gian, sự kiện tiến triển cụ thể. Tôi không có khả năng như thế. Như vậy, chúng tôi và Popop tới chỗ tư lệnh quân đoàn xe tăng mặt trận Tây Nam. Chỉ huy nó là viên tướng người quen của tôi, Kravchenko. Sau này, tôi không lần nào gặp ông ta cả trong thời gian, và sau chiến tranh. Bây giờ ông đã khuất.



Kravchenko là một nhưng đàn ông rất khoẻ mạnh. Sức khoẻ của ông không hao mòn, thế mà ông chết. Khi đó ông là người hoạt động tốt.



Khi chúng tôi rẽ đến chỗ ông, ông nói rằng ông không được khoẻ, bị ốm. Ông bị cúm, hay một chứng bệnh gì đó, nhưng ông gạt bệnh tật sang bên. Chúng tôi chúc mừng nhau và cùng nhau hân hoan rằng mặt trận của chúng tôi khép chặt. Chà cuộc gặp đầu tiên! Kravchenko đề nghị:



- Vì sự vui mừng cuộc gặp mặt của chúng ta, hãy uống một chai sâm-panh. Tôi có một chai sâm-panh Pháp, chiến lợi phẩm đấy.



- Ừ, uống thôi.



Chúng tôi mở sâm-panh, uống bằng cốc vại, ăn mừng binh đoàn Stalingrad và mặt trận Tây Nam. Kravchenko đề nghị tôi:



- Đồng chí Khrusev, xin hãy nhận từ tôi một món quà nhỏ kỷ niệm cuộc gặp mặt hôm nay, một dao con của Đức. Thật ra, nó có cả phù hiệu cơ, nhưng phù hiệu bây giờ bị đập vỡ mất rồi. Món quà kỷ niệm này sẽ ghi nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi.



Tôi nói:



- Được, tôi nhận. Tôi có thằng con trai nhỏ, tôi sẽ cho nó. Đây sẽ là bằng chứng rằng bộ đội chúng ta đánh nhau với bọn Đức, và là món quà tốt.



Chúng tôi ở lại chỗ Kravchenko ngắn ngủi, thông báo cho nhau về tình hình công việc. Tình thế là rất tốt. Chúng tôi không cảm thấy mối đe doạ nào đấy của quân thù, chúng tôi đã thắng kẻ thù của mình và không biết rằng kẻ thù vẫn còn kéo đến và chúng tôi sẽ phải đối mặt với điều này. Nhưng đó là việc sau này. Trong trường hợp đã kể trên, chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Kravchenko nói rằng ông, như người ta nói, hành quân dọc theo hữu ngạn sông sông Đông và không gặp phải sự kháng cự lớn. Phía sau kẻ địch tương đối lỏng lẻo và quân lính không đảm bảo Chúng tôi mừng về việc đó, khi dự liệu chiến dịch, chúng tôi gửi thư cho Stalin giải trình kế hoạch một cách cẩn thận, dự kiến rằng có khả năng tiến hành chiến dịch như thế, nhưng chúng tôi không biết dự trữ của chúng tôi, nếu Tổng hành dinh phân bố nó, không có dự trữ của cẻ địch. chúng tôi được giải thích rằng lời khuyên của chúng tôi không đi ngược với bước đi thực tế của những sự kiện, và những lời đề nghị của các tư lệnh khác. Vấn đề chính không phải là ở chỗ ai nói đầu tiên “A”, mà là ở chỗ thực hiện nhiệm vụ đặt trước chúng ta. Kẻ thù đang bị thất bại, quân Đức đang bị bao vây ở Stalingrad. Giờ đây phải kìm chúng lại ở đó đánh tan nó.



Sau đó chúng tôi gặp những khó khăn. Về những khó khăn này, tôi nói với Zukov, khi ông đến chỗ tôi và báo cáo dự án của Tổng hành dinh về kế hoạch chiến dịch. Tôi nói với ông khi đó nói rằng chúng tôi có thể giải quyết nhiệm vụ của mình, vì cảm thấy rằng, kẻ địch ở thế yếu. Nhưng nếu các anh không trợ sức chúng tôi, thì chúng tôi bằng sức sẵn có của mình không thể kìm lại được quân Đức đang bị vây hãm: kẻ thù sẽ đè bẹp chúng tôi và chạy thoát khỏi Stalingrad. Tôi nói, Zukov trả lời tôi: hãy để kẻ thù thoát khỏi Stalingrad đi đến đâu đó; đây sẽ là một thắng lợi lớn - đuổi cổ bỏ bọn Đức khỏi Volga. Tôi không đồng ý với Zukov, nhưng muốn hơn. Vả lại, tôi nghĩ rằng ở đây chúng tôi không thể có sự bất đồng: với Zukov đó là nguyện vọng. Nhưng bây giờ đặt nhiệm vụ kìm chân và đánh tan quân thù. Và trong chiều đó chúng tôi và Popop quyết định quay về ban tham mưu tập đoàn quân №51, mà về ban tham mưu Tolbukhin. Ông ở gần Sovỉetski. Với tập đoàn quân №51 thì nhiệm vụ đã được giải quyết, quan địch thất bại, bắt được nhiều tù binh và phía trước không có mấy nguy hiểm trực tiếp. Nhưng ở Stalingrad còn chủ lực kẻ địch. Giờ đây hướng chính lại là chỗ Tolbukhinе, không phải tập đoàn quân №51, mà là №57, một tập đoàn quân yếu nhất trong tất cả các tập đoàn quân tại mặt trận Stalingrad, ít quân nhất. Vì thế chúng tôi và quyết định đến Tolbukhin và ở đó có được thông tin sâu sát hơn. Chúng tôi cũng biết rằng Tolbukhin chuyển ban chỉ huy vào hẻm cạnh Nariman, gần sông Đông. Chúng tôi đến đó.



Đêm mùa xuân ở phương Nam. Trời tối như hũ nút, chẳng thể định hướng được. Chúng tôi cố tìm được cái hẻm. Tôi nghi ngờ nói với Popop:



- Markian Mikhailovich, theo tôi, chúng ta không tìm thấy hẻm, mà lại không có đường, chúng ta không biết đang ở đâu, không biết định hướng, rất khó đến đó được.



Nhưng ông tỉnh táo trả lời:



- Chà, đồng chí Khrusev, đối với chủ yếu phải có bản đồ, la bàn và máy đo tốc độ để tính toán con đường mà xe đã đi qua. Cứ tìm đi!



Chúng tôi lại tìm kiếm. Về sau, trong này trở thành chuyện tiếu lâm. Tôi nhiều lần nhớ lại nó, khi gặp Popop. Ông cũng cười... Tại một điểm dân cư, chúng tôi gặp hình ảnh thế này: hai xác lính Đức nằm trần truồng. Về đêm rất dễ nhìn thấy họ. chúng tôi đi, lại xác con ngựa nâu. Đây không phải là người định hướng. Nhưng kìa, một bảng chỉ dẫn bằng tiếng Đức. Chúng tôi đọc. Popop có hai trợ lý, và một trong hai người này biết tiếng Đức. Nhưng thực là gì? Chúng tôi chẳng đến đây cả, lại quay lại chỗ những cái xác. Thực là rơi vào chỗ lẩn quẩn! Không thấy chỗ thoát đâu cả, chúng tôi lại gặp hai xác lính trần truồng và con ngựa xám. Bọn tà quỷ dẫn chúng tôi quanh chỗ này. Cuối cùng chúng tôi nghe thấy có tiếng nói chuyện. Một ai đấy đi đến. Chúng tôi cũng cất giọng.



Một ô tô tiến lại. Một người nhảy ra khỏi xe và nói:



- Tôi trung tá, chỉ huy đơn vị xe tăng.



Ông biết tôi và hỏi:



- Các ông đi đâu đấy?



- Chúng tôi đi vào hẻm Nariman.



- Đồng chí Khrusev, đồng chí không tìm được hẻm Nariman đâu. Thảo nguyên mà. Vâng tại sao các ông lại đi? Mặt trận ở trước mặt, nhìn thấy rõ pháo sáng Đức vụt lên (quân Đức chiếu sáng rất mạnh mặt trận của mình). Lúc ấy có thể vướng phải mìn. Tôi đề nghị các ông, chúng ta đi cùng với nhau. Tôi đến chỗ đóng quân tập đoàn quân №57, tôi biết đường và dẫn các ông. Tôi đi đến trạm quân y, bị thương ở tay, ban đầu đau, còn bây giờ cảm thấy vết thương bắt đầu ổn rồi. Tôi muốn rằng ở đó người ta sẽ băng bó đúng chuyên môn và tất cả những gì cần thiết với vết thương.



Tôi đồng ý, nhưng Popop nói:



- Không, chúng tôi dù sao chăng nữa tự đi được.



Chúng tôi từ giã, lại đi tiếp. Lại nghe thấy tiếng nói rì rầm. Một ô tô đi vòng đến, chúng tôi dừng lại, ra khỏi xe.



Té ra đây là người đại diện Tổng hành dinh, một vị tướng, phụ trách liên lạc. Ông nói:



- Tôi đến ban tham mưu Tolbukhin, sông Volga. Tôi cũng cần vào thung lũng Nariman, nhưng tôi bây giờ không đi đến đó, vì không tìm thấy nó, và các ông cũng không tìm thấy. Hãy đi cùng với nhau?



Chúng tôi lại từ chối. Hy vọng rằng chúng tôi tìm thấy cái hẻm này. Chúng tôi tìm kiếm và luôn vòng quanh những cái xác này. Hình như chúng tôi đã đi xa theo hướng nào đó, còn sau đó bỗng nhiên té ngửa rằng chúng tôi đã “lượn vòng tròn” một chỗ nào đấy và mới đây lại rơi vào chỗ cũ.



Tôi run lên vì lạnh trong chiếc áo dạ và Popop cũng thế. Sự tức giận đã bùng nổ. chúng tôi tiến gần đến một ngã ba đường, nhìn thấy một số bảng chỉ đường bằng tiếng Đức. Sĩ quan phụ tá dịch cho biết đường đi đâu, đi hướng nào. Popop lạnh cóng đến nỗi không thể chờ được nữa, nói với sĩ quan trợ lý:



- Kéo cái biển ấy lại đây!



Sĩ quan trợ lý giật lấy và mang lại. Nhưng thực chất là gì đây? Kim này dẫn đến đâu, bây giờ không hiểu, hướng bị mất hút. Rồi rất lâu chúng tôi cũng đến được ban tham mưu Tolbukhin ở Volga. Chúng tôi biết ở đó có thể sử dụng nhà tắm. Và bạnnghĩ gì về điều này? Ngay lập tức chúng tôi đi đến.



Như vậy, sự thống nhất các mặt trận của chúng ta, bao vây quân Đức ở Stalingrad đã cho kẻ thù đứng trước sự thất bại. Đây là sự vui mừng. Sự hân hoan này, chúng tôi chịu khổ sở trong suốt chiến tranh, bằng sự rút lui khốc hại, bằng sự kinh ngạc, và những đau lòng khác. Mặt trận sông Đông do Rokossovski chỉ huy, cũng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi không nói gì về điều này vì rằng tôi không nhớ cụ thể, nhiệm vụ nào đặt trước ông. Như thế, mặt trận sông Đông từ phía bắc bây giờ đảm bảo vị trí chống quân Đức. Mặt trận Stalingrad phải hướng sức lực của mình vào hướng nam để củng cố phòng thủ trong trường hợp địch đột phá.



Chúng tôi của biết lần này quân Đức bị vây không cố gắng thoát ra khỏi vòng, nghĩa là, có chỉ thị từ Berlin không bỏ Stalingrad, mà chờ sự giúp đỡ và sẽ khôi phục tình thế trước đây. Theo hoạt động của địch, chúng tôi hiểu giải quyết như thế nào đối với chúng. Tiếp theo, cần chờ cuộc phản công của nó từ phía nam và phía tây. Nhưng từ phía tây thì có thể đi đến đây qua sông Đông. Nhiệm vụ kìm chân lực lượng này đặt lên sườn tây mặt trận Tây Nam dưới sự chỉ huy của Vatutin. Nhất thiết phải được bảo vệ ở từ hướng nam để quân tiếp viện Paulius, không thể đột phá. Mặt trận Rokossovski (thuộc sông Đông) với sự tham gia của các đơn vị chúng tôi đã giữ vòng vây.



Trên mặt trận hướng Kotenikovski, tham gia hoạt động là tập đoàn quân №51, quân đoàn kỵ binh Sapkin, quân đoàn cơ giới Volski và các binh đoàn khác. Tôi đôi lần đến những nhóm này, vì rằng ở đó tình hình nặng nề. Theo tin tình báo, chúng tôi biết thống chế Đức Manstein chỉ huy quân tiến đến giải thoát đám quân bị chúng tôi đang bao vây. Ông ta bắt đầu tiến gần chúng tôi. Quân của Manstein ở cách khoảng chừng 50 kilomet từ tiền tuyến của quân Paulius. Ban tham mưu tập đoàn quân Tolbukhin, nơi tôi đang ở đó (ở ban tham mưu mặt trận, tôi ít ở đó), được bố trí dưới Verkh Sarisynski, vừa đúng ở giữa quân đoàn Manstein, đang tiếp cậnsông Myskov, và quân đoàn Paulius. Trong những ngày đầu tiên sau khi vây Paulius, Tolbukhin còn ít quân đến nỗi có những đoạn hoàn toàn trống đến sáu hoặc bẩy kilomet. Ở đó nói chung chẳng có một cái gì cả. Nhưng do chỉ thị, do Hittler đưa ra và bắt đám quân bị vây ngừng hoạt động, đợi tiếp viện, kẻ địch bỏ lỡ khả năng đột phá. Nếu Paulius muốn làm điều này, tấn côngvề phía nam thò ông ta hoàn toàn có khả năng đột pháс. Chúng tôi không thể kìm chân Paulius. Tuy nhiên, như người ta nói, không có sự may mắn, sự ngu ngốc Hittler đã giúp. Hittler bắt quân Paulius ngừng hoạt động, mà quân của Paulius khi đó mạnh về vũ khí, và đông người. Thế mà đội quân Paulius ngồi chờ, còn trong thời gian này chúng tôi áp dụng các biện pháp để củng cố vòng vây.



Sau khi thực hiện vây hãm, quân đội Liên Xô quyết định cố gắng đột phá tuyến phòng thủ của đám quân Đức đang bị bao vây và tiêu diệt chúng. Lực lượng của chúng tôi không đủ, mà ý đồ lại lớn. Vì thế chúng tôi cố gắng thực hiện điều này bằng tập đoàn quân­ Tolbukhin, bằng cách tăng viện cho nó. Trong vùng sông Chevlena, địa hình tương đối bằng phẳng, chúng tôi cũng muốn đột phá phòng thủ Paulius. Chúng tôi và Popop đến chỉ huy sở Tolbukhin. Chỉ huy sở đặt ở vị trí rất thuận lợi: từ đây có thể nhìn thất tất cả như lòng bàn tay. Đất cao, nhìn xuống dưới thung lũng và lại nhìn lên trên. Chúng tôi nhìn địch phía trước - như lòng bàn tayи, và kẻ địch cũng nhìn chúng tôi như lòng bàn tay. thậm chí tôi thấy quân Đức đi quanh cánh đồng ra sao và bỗng nhiên biến mất, hình như trong một cái hầm nào đấy. Tại hướng này chúng tôi đặt tăng. Tôi không nhớ ai chỉ huy những xe tăng này. Tanachisin, chỉ huy quân đoàn cơ giới №13, trước đó được bổ xung cho quân đoàn cơ giới Volski ở miền nam, thuộc Kotenikovski.



Chúng tôi sử dụng tất cả khả năng của mình, nhưng không thành công. Và cuối ngày chúng tôi nhận thấy không thể ngày hôm sau tiếp tục đánh nhau mạnh như thế này và cũng chưa thể bẻ gãy sự chống cự của địch. Quân địch có cả xe tăng, lẫn pháo lớn. Máy bay địch, thật ra, không hoạt động. Phía chúng tôi chỉ có một ít máy bay tiêm kích hoạt động. Những máy bay này không thể yểm trợ lực lượng mặt đất. Bóng đêm xuống, chúng tôi ngừng tấn công, hơn nữa điều này sẽ mang tổn thất, đặc biệt ở xe tăng. Chúng tôi còn rất ít xe tăng. Nếu so sánh số lượng xe tăng mất đi với số chúng tôi đang có, thì sự mất mát này cảm nhận được. Và tất cả chúng tôi không mất hy vọng đột phá phòng thủ quân thù và xông vào chỗ đóng quân của quân Paulius. Chúng tôi cho rằng cứ mỗi ngày trôi đi lại làm hao mòn sức lực địch, làm mệt mỏi thể xác chúng, thực phẩm trong vòng vây không đủ, mặc dù chúng tôi không có những bằng chứng cụ thể. Chúng tôi đơn giản tính như thế này, và, bây giờ rõ ràng thấy được từ những tài liệu được công bố về Paulius, cũng như trong những hoạt động. chúng tôi phải thực hiện cuộc đột phá thứ hai. Và cũng không thành công.



Tôi nhớ những tình tiết như thế. Chúng tôi ở sở chỉ huy - ở một chỗ được đào sâu, che bằng một ụ đất được nguỵ trang. Ở đây có tư lệnh tập đoàn quân Tolbukhin và chúng tôi và Popop - đại diện mặt trận. Bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy một máy bay hạ thấp xà thấp hướng chúng tôi. Chúng tôi cũng đề phòng trước nó sẽ tấn công thẳng vào chỉ huy sở và phá huỷ tất cả những gì có ở đó. Máy bay của ai? Khó biết được. Cuối cùng chiếc máy bay chạm đất (bây giờ thậm chí có lần không tin được) cách sở chỉ huy khoảng 10 mét, và có thể ít hơn. Điều này giải thích rằng không phải phi công giỏi, mà đơn giản chỉ là một trường hợp. Cũng có những trường hợp không tưởng tượng được như thế trong chiến tranh. Tôi vọt ra khỏi công sự. Máy bay té ra là của Liên Xô. Phi công ngồi trong buồng lái, nhưng ở trạng thái sốc. Người ta lôi anh ta ra và anh ta tỉnh lại. Phi công này được đưa vào bệnh biện, còn máy bay nằm lại đó.



Tôi quay về căn hầm. Nhưng khi sau một lúc, máy bay đã bị trấn lột. Lính “của chúng tôi” làm điều này. Họ lấy tất cả những gì có giá trị đối với lính: đồng, kính và v.v... Sau đó họ làm tất cả những đồ giả và để đánh lừa. Lính tráng đã sử dụng tất cả để làm điều này. Khi đó tôi ngạc nhiên và tức giận. Máy bay vẫn có thể phục hồi được! Tôi rất lưu tâm tới quan hệ như thế với tài sản quân đội, nhưng không có ai chú ý đến điều này.



Từ khi tấn công lúc hoàng hôn, chúng tôi quan sát máy bay vận tải Đức chở hàng cho quân Paulius. Chúng bay lượn như là diễu binh. Pháo phòng không của chúng tôi nhả đạn, nhưng rất kém hiệu quả. Ngày đầu tiên ở phần đát chúng tôi chỉ bắn rơi được hai máy bay địch, ngày sau cũng bắn rơi rất ít.



Chúng tôi thẩm vấn tù binh, tôi chú ý, chở gì đến, hàng gì? Thực phẩm cho lính? Vũ khí? Nhiên liệu? đạn được? Như được biết, chúng chở đến không được nhiều. Sau đó, khi bộ đội chúng tôi áp sát vòng vây, máy bay không thể hạ cánh, mà phải thả dù. Nhưng cũng không đáng kể. Như thế, những cố gắng đầu tiên của chúng tôi để đánh quân Đức bị vây không thành công.



Tướng Sumilov, người chỉ huy tập đoàn quân №64, ở hướng của mình có nhiệm vụ tấn công từ phía nam. Ở đó tất cả đã bị phá huỷ. Lính của Sumilov chiếm cứ điểm như thế. Chúng tôi chúc mừng ông. Sau đó chúng tôi nghĩ rằng phải trao đổi những suy nghĩ với Eremenko và gọi Sumilov:



- Ông, dù sao chăng nữa, kiểm tra lại đi, liệu báo cáo này có sai không?



- Không! - ông cam đoan.



Sumilov hẳn phải biết điều đó. Đây là một con người rất trung thực và tận tâm. Và hôm sau, từ sáng sớm, ông kiểm tra lại, té ra là ông bị nhầm. Ông giải thích cho chúng tôi rằng sau khi ông gửi báo cáo, kẻ địch đã phản công và chiếm lại vị trí của mình. Sau này, tôi không một lần đùa với ông theo lý do này: dường như, để biện bạch điều này, người ta phải lừa bịp bằng cách tưởng tượng là kẻ địch phản công, đây là lời giải thích điển hình, khi họ không làm đúng việc chiếm một cứ điểm nào đấy, rồi sau đó nói rằng kẻ thù đã phản công và cướp lại nó từ tay chúng ta. Nhưng không có một sự giả mạo nào cả. Đơn thuần những người này nghĩ rằng sớm muộn thì cũng chiếm được cứ điểm, nhưng lại không đạt được.



Suốt thời gian ấy, địch tăng sức ép từ Kotelnikovski vào hướng Stalingrad. Bộ đội chúng tôi kiên trì chiến đấu và chúng tôi không bị thiệt hại lớn. Tôi đôi lần đến đó. Chúng tôi gửi đến khu vực này Zakharov, người thống nhất sức mạnh của mọi người. Hướng này, chúng tôi trở nên lo ngại, vì rằng chúng tôi đã thụt lùi và thụt lùi về Stalingrad. Có một mối đe doạ thật sự, là Manstein có thể chọc thủng. Đồng thời chúng tôi đã nhận thông báo rằng tập đoàn quân cận vệ №2 dưới sự chỉ huy Malinovski được chuyển cho chúng tôi. Tôi biết Malinovski và đánh giá cao về ông. Chúng tôi và Eremenko rất vui lòng về tin này và chờ đợi tập đoàn quân cận vệ №2 tới. Chẳng bao lâu tập đoàn quân này đến chỗ đóng quân của chúng tôi, và chúng tôi đưa nó đánh nhay với quân Manstein.



Đây là một một lực lượng giải cứu - gồm những thanh niên sung sức, mạnh mẽ, được huấn luyện và trang bị tốt. Tập đoàn quân cận vệ №2 có 3 quân đoàn bộ binh, mỗi quân đoàn - 3 sư đoàn và một trung đoàn xe tăng, với 22 hoặc 24 xe tăng mỗi trung đoàn, trong thời gian ấy- một lực lượng mạnh. Tóm lại, một tập đoàn quân đầy đủ. Phó tư lệnh tập đoàn quân là tướng Kreyzer, anh hùng Liên Xô. Là một tướng trẻ, ông đem cho tôi ấn tượng rất tốt. Trưởng ban tham mưu tập đoàn quân là Biriuzov. Một tướng cũng trẻ và tốt. Tóm lại, ban chỉ huy, lính là chọn lựa.



Tập đoàn quân này đến vào tháng 12 chạm trán với quân địch ở sông Myskov. Đánh nhau nảy lửa, và quân địch bị nằm lại. Chúng tôi lại xiết chặt nó. Khi đó Vasilevski bay đến gặp chúng tôi. Chúng tôi và ông lên tiền tuyến thấy những trận giao chiến ác liệt như thế nào. Chúng tôi liên tục bị thiệt hại lớn. Đôi lúc chúng tôi và Vasilevski “thử” đến chỗ xác định và trong tầm nhìn thấy, xem bao nhiêu người chết. Than ôi, có rất nhiều xác lính bên chúng tôi, chủ yếy là thanh niên. Tôi nhặt ở xác một người chết được một cái thẻ đoàn viên thanh niên cộng sản, chiếc thẻ đã bị đạn xuyên qua: chùm đạn trúng ngực anh ấy.



Rồi nhanh chóng, chúng tôi đã được tiếp viện một quân đoàn xe tăng bổ xung do Rotmistrov chỉ huy. Đây là một quân đoàn tốt, gồm những người “mũi nhọn”, biết sử dụng xe tăng tuyệt vời. Điều này cũng tăng thêm sức mạnh đáng kể cho mặt trận.



Tôi khi đó ở chỗ Tolbukhin, tại Verkh Sarisynski. Malinovski đặt ban tham mưu của mình cũng ở Verkh Sarisynski. Như thế, ở đây có hai ban tham mưu tập đoàn quân: Tolbukhin, giữ vòng vây quân Paulius từ phía nam, và Malinovski, hoạt động hướng tây nam, kiềm chế quân Manstein. Đôi lần tôi đến chỗ Sapkin. Có lần khi tới chỗ ông, nhìn thấy cảnh tượng nặng nề: cạnh một điển dân cư, nơi Sapkin và ban tham mưu đóng, ngổn ngang nhiều xác kỵ binh và ngựa. Tôi đi qua một chiếc cầu nhỏ, bên cạnh cầu là xác một sĩ quan, và bọn trộm cướp (ở nơi chiến sự) cũng đã lột bộ ủng từ xác này. Tôi kể cho Sapkin điều này, ông xác nhận:



- Đúng, đây là một chỉ huy đại đội kỵ binh.



- Thế nào? Các anh không lấy các thứ từ người chết chứ? Trấn lột cả người chết! Nhìn người chết, dù sao chăng nữa cũng thương tiếc, và chẳng đễ chịu.



Chiến tranh là thế đấy... Sapkin trong những ngày đó bằng mọi cách kiềm chế áp lực kẻ địch. Nhưng khi tập đoàn quân Malinovski tới, chúng tôi, đánh bật quân thù, và tấn công.



Trước khi lực lượng Malinovski đến, đã xảy ra những những tình tiết thế này. Đến chỗ chúng tôi là Đại diện Tổng hành dinh về sử dụng binh О. I. Gorodovikov. Gửi ông này đi đâu? Ông ta khi đó là tổng thanh tra kỵ binh, và chúng tôi, tất nhiên, gửi ông đến quân đoàn kỵ binh, quân đoàn duy nhất ở mặt trận chúng tôi. Oka Ivanovich đến đó. Tôi ở chỗ Tolbukhin, sau đó ở chỗ Popop. Trước đó đã thành lập tập đoàn quân mới do Popop chỉ huy. Tập đoàn quân xung kích này được chĩa vào hữu ngạn sông Đông ở Tormosin. Bỗng nhiên Oka Ivanovich tới gặp Popop, ông ta rất xúc động, phẫn nộ. Ông nói tiếng Nga vẫn chưa thuần. Ông kể:



- Kiếm đâu? Kiếm này chỉ dùng thái thịt nướng, đỡ phải cắn! Kiếm dở quá, không phải kiếm.



Quả là, vũ khí, bao gồm kiếm trong kỵ binh không phải là hạng tốt. Oka Ivanovich kể cho tôi: "Tôi ngồi trong công sự, tôi thấy kẻ địch ở đâu đó. Tôi nói với Popop, rằng anh muốn tôi bị bắt làm tù binh hay sao?



Manstein tấn công, và, hình như điều này gây cho chàng kỵ ninh ra vẻ can đảm ấy một ấn tượng mạnh. Sau đó, ông ta hỏi tôi:



- Đồng chí Khrusev, khi nào anh về ban tham mưu mặt trận? Ban tham mưu mặt trận ở đâu?



Tôi nói với ông ta rằng ban tham mưu mặt trận nằm ở nơi mà ông ta từng qua, trên đường từ Moskva đến đâu, ở làng Rai - thành phố nhỏ nằm ngay bờ sông Volga. Tôi không biết, vì sao ông lại như thế. Thực chất, đó chỉ là một cái làng lớn, tất cả chỉ là những làng dày đặc, san sát nhau.



Ngài trung tướng tiếp tục:



- Anh chuẩn bị đi tới đó?



- Tôi sẵn sàng.



- Chúng ta hãy đi cùng nhau.



- Thôi được. Chỉ vì ông muốn đi?



- Tôi muốn đi ngay bây giờ.



- Tôi không khuyên đi bây giờ, ban đêm rất khó đi, không thể bật đèn pha, máy bay Đức nhằm đèn pha, còn đi mò - có thể bị chết nhanh hơn bởi rơi vào chùm đạn súng máy của địch. Tốt nhất, sáng mai lúc hửng sáng chúng ta đi, khi chưa có ánh sáng mặt trời và máy bay vẫn còn chưa có, còn ban đêm cũng nguy hiểm, vì rằng máy bay ném bom ban đêm bay rất thấp, có thể hạ chúng dễ dàng bằng súng máy, thậm chí bằng súng trường. Vì thế chúng tôi chọn thời gian như vậy.



- Được, tôi đồng ý.



Nhưng sáng hôm sau, tôi gọi, người trực nhật trả lời tôi rằng Oka Ivanovich đã đi.



- Ông ấy đi lúc nào?



- Từ buổi chiều.



Ông ta, hình như xúc động và chấn động đến nỗi không đợi đến sáng. Từ đó đến nay tôi không gặp lại Oka Ivanovich nữa. Khi ông ta chỉ huy tập đoàn quân kỵ binh №2, ông là anh hùng nội chiến. Nhưng trong cuộc chiến tranh này, xuất hiện cả những vũ khí khác, và những điều kiện khác. Ông ta, tất nhiên, cảm thấy, không thể có một sự giúp đỡ cụ thể nào đó, chuyến đi của ông cũng chẳng đem lại chomặt trận một cái gì cả, ông chỉ có thể biểu thị ý định tốt, thẳng thắn và trung thành với tổ quốc Xô viết. Một chiến sĩ tốt, nhưng đã hết hơi. Và theo kiến thức binh nghiệp, và theo thể trạng, ông ta cũng không thể giữ một vai trò cần thiết.



Tôi cũng nhấn mạnh rằng phần lớn thời gian tôi lãnh đạo ở Verkh Sarisynski, ở ban tham mưu mặt trận: tôi có ở đó một căn hộ thường xuyên. Và thế là tôi đi đến đó, để nhận thông tin thường kỳ về tình hình, và chúng tôi nghỉ ngơi. Bỗng nhiên Malinovski hùng hục chạy đến tôi, không kịp cởi áo, vẻ rất xúc động. Tôi liếc nhìn, mắt ông có dấu vết nước mắt. “Gì thế? Chuyện gì vậy, Rodion Yakovlevich?



- Có chuyện bất hạnh, Larin bị bắn.



Larin là uỷ viên hội đồng quân sự tập đoàn quân cận vệ №2, một quân nhân. Họ đã là bạn thân với Malinovski, cùng phục vụ với nhau từ trước chiến tranh. Khi Malinovski chỉ huy quân đoàn, Larin chính uỷ. Malinovski luôn luôn nài nỉ để Larin được ở cạnh ông hoặc là trưởng ban tuyên huấn, hoặc là chính uỷ. Larin là một cán bộ chính trị xứng đáng kính trọng. Trước đó, ông bị thương. Tôi rẽ thăm ông tại căn hộ. Ông nằm, nhưng vết thương không nặng, chỉ bị ở phần mềm của chân, xương không bị rạn gãy, đạn chỉ có trúng cẳng chân. Larin nói chuyện, tỉnh táo. Bà vợ và các bác sỹ quân y chăm sóc ông. Sau đó người ta kể cho tôi rằng trước khi bị đem bắn, ông tương đối vui vẻ chuyện trò với vợ. Malinovski cực kỳ xúc động bởi sự kiện và than khóc Larin. Tôi không biết làm sao an ủi ông. Người ta gọi hành động như thế là gì nhỉ? Vì sao Larin bị bắn? Sau đó, trợ lý của Larin thông báo tình tiết sự kiện.



Tình tiết tương đối không rõ ràng. Larin đến tiền tuyến và quan sát trận đánh dưới sự che chở của một đống cỏ khô. Ông đi đi lại lại, như bóng lờ mờ trước quân địch, rõ ràng là ông tìm cái chết. Hoàn toàn không cần thiết phải tự thân làm như thế. Ông đơn giản thu hút đạn về phía mình. Tất nhiên chẳng bao lâu ông bị thương. Mặc dù vết thương không trầm trọng, bỗng nhiên ông bị bắn. sự việc ra sao? Việc bắn nhau là thường từ đầu chiến tranh, khi chúng tôi rút lui. Nhưng bây giờ chúng tôi tấn công, bao vây quân Paulius, giao chiến với Manstein, có thể nói, ở bước ngoặt phòng thủ. Từ lâu, chúng tôi đã thôi bỏ chạy, bắt đầu một giai đoạn mới của quân đội chúng tôi chống lại kẻ thù. Tập đoàn quân cận vệ №2, mạnh và rắn chắc, thành công giáng đòn vào Manstein. Và bỗng nhiên Larin bị bắn? Larin để lại mẩu giấy, cũng rất lạ lùng. Tôi không thể hồi phục chính xác nội dung của nó, nhưng ý là ông tự sát, sau đó có câu “Lenin muôn năm!” Và ký. Chúng tôi gửi mẩu giấy ấy về Moskva. Tổng cục trưởng Tổng cục chính trị lúc đó là Serbakov. Serbakov - một cán bộ nhiều năm trong thành phần cán bộ cỡ Bí thư tỉnh uỷ. Sau này, tôi va chạm với tính cách khó chịu của ông. Nhưng khi ông đã nhận mẩu giấy này, thì ông bắt đầu “sử dụng” nó. Tôi không biết thậm chí, ông theo đuổi mục tiêu gì. Larin cũng đã bị bắn. Không phải ông giận Malinovski và độc ác của Stalin, không phải ông “đào bới” sự việc nhằm chống tôi như uỷ viên hội đồng quân sự mặt trận, mà tại đó lại xảy ra một trường hợp như thế. Lúc ấy, người ta mời tôi về Moskva. Tổ chức một bữa ăn trưa thường lệ ở chỗ Stalin với tất cả mọi người, như người ta nói, “đủ lệ bộ”: uống rượu xem xét những biến cố xảy ra trong 24 giờ qua.



Stalin hỏi tôi:



- Hỏi riêng nhé, Malinovski là người thế nào?



Tôi trả lời:



- Tôi nhiều lần báo cáo với ông về Malinovski. Đây là một tướng nổi tiếng chỉ huy quân đoàn từ đầu chiến tranh, sau đó - tập đoàn quân, sau đó - mặt trận miền Nam. Ông ta ở đó cũng không thành công. Ông cũng có biết.



Stalin, tất nhiên, biết rằng mặt trận này bị kẻ địch đánh tan. Quân địch chiếm dễ dàng Rostov, vì thế Malinovski bị cách chức và bị chuyển về phía sau. Sau này Malinovski chỉ huy tập đoàn quân №66, là phó tư lệnh mặt trận Voronez, sau đó hình thành tập đoàn quân cận vệ №2. Tôi nhớ lại rằng nơi mà Larin phục vụ, cũng là nơi mà Malinovski yêu cầu Larin về làm việc chỗ mình và bị chết, để người ta nhượng bộ ông.



Cần nói rằng Serbakov người thợ lành nghề lợi dụng việc như thế để không làm Stalin nguội đi, mà, ngược lại, bồi thêm tư liệu để kích động Stalin. Serbakov hiểu rằng cơn giận chống Malinovski sẽ nổ ra, trực tiếp hoặc hían tiếp, chống tôi.



- Tất cả việc này - Serbakov nói - không phải ngẫu nhiên. Vì sao Larin không viết “Stalin muôn năm!”, mà viết “Lenin muôn năm!



Tôi trả lời:



- Tôi không thể nói. Larin bị bắn, hình như dưới ảnh hưởng của trạng thái thần kinh không bình thường. Giá như ông ta ở trạng thái bình thường, thì đã không bị bắn. Không có lý do gì để Larin tự sát cả.



Mọi việc tỏ ra đã rõ ràng. Nhưng không phải thế, Serbakov lại nhai đi nhai lại những lời của mình, sát muối vào vết thương. Khi đó tôi chịu đựng nhiều điều khó chịu.



Tất nhiên thuận lợi nhất đối với tôi đơn giản nói rằng Larin là đáng khinh như thế này, thế nọ, và Malinovski cũng thế. Nhưng tôi không đồng ý với điều đó và không thể nói như thế cho Stalin. Nhưng Stalin mới hỏi:



- Malinovski là người thế nào?



Tôi trả lời:



- Tôi biết Malinovski. Và tôi biết chỉ với mặt tốt. Tôi không thể nói rằng tôi biết Malinovski nhiều năm, nhưng tôi biết Malinovski từ khi bắt đầu chiến tranh. Suốt thời gián đó ông giữ thân rất tốt, kiên định như một con người cũng như vị tướng.



Trên đầu Malinovski vẫn lơ lửng mối đe doạ. Lúc ấy người gắn chuyện thất thủ Rostov, và Larin tự sát - tất cả quy về một mối. Stalin nói:



- Khi nào anh quay về mặt trận, phải theo dõi Malinovski. Anh phải luôn có mặt ở ban tham mưu Tập đoàn quân cận vệ №2. Hãy theo dõi tất cả các hành động, dấu hiệu, sắp xếp của Malinovski.



Tóm lại, cá nhân tôi chịu trách nhiệm về Malinovski và tập đoàn quân của ông, cần phải để mắt quan sát Malinovski từ Đảng và từ Tổng hành dinh. Tôi nói:



- Đồng chí Stalin, được, ngay khi tôi đi, tôi sẽ túc trực với Malinovski.



Tôi bay về Verkh Sarisynski. Khi đó đồng chí Ulbrich cùng với hai người người cộng sản Đức cũng bay tới chỗ tôi. Họ đến tiến hành sự tuyên truyền chống phát xít tại trận địa bằng loa điện, kêu gọi quân Đức ra hàng. Việc này chủ yếu làm về chiều và đêm. Ulbrich trườn mình theo các đường phân giới với chiếc loa điện nói chuyện với lính và sĩ quan quân Paulius.



Chúng tôi luôn luôn chuyện trò cùng với Ulbrich, và tôi đùa:



- Đồng chí Ulbrich ơi, hôm nay ông ăn trưa không làm việc, nên chẳng có ai ra hàng cả.



Ông bình tĩnh tiếp tục công việc của mình. Một lần người ta báo cáo với tôi rằng có một người lính từ vòng vây chạy sang phía ta. Tôi nói:



- Dẫn anh ta đến, để tôi biết tâm trạng của anh ta và xem anh ta đánh giá tinh thần đồng đội của mình như thế nào.



Họ dẫn tới. Tôi nói:



- Anh người dân tộc nào?



- Ba Lan.



- Làm sao anh lại vào quân đội Đức?



- Tôi sống ở vùng đất Ba Lan, vùng này lại thuộc về nước Đức, tôi bắt tôi đi lính.



- Chúng tôi, có lẽ, sẽ thành lập quân đội Ba Lan mới. Phải giải phóng Ba Lan. Anh thấy điều này thế nào?



- Đúng, phải giải phóng.



- Còn anh có tình nguyện vào quân đội Ba Lan chứ? Đi đến đó chứ?



- Không, tôi không đi.



- Làm thế nào giải phóng Ba Lan?



- Người Nga sẽ giải phóng Ba Lan.



Và anh ta trả lời khá trâng tráo. Tôi không thích điều này. Tôi nói với Ulbrich:



- Đấy, lính của anh, không phải người Đức - mà là người Ba Lan, bỏ chạy khỏi bọn Đức, nhưng anh ta thậm chí không chịu giải phóng nước Ba Lan của mình”.



Sau đó một số tù binh Đức bị bắt, vừa đúng trước Lễ Giáng sinh. Tôi nói rằng giải họ đến ban tham mưu Malinovski, và chúng tôi bắt đầu thẩm vấn họ. Nhưng đây không phải là buổi hỏi cung, mà là cuộc nói chuyện mang tính tuyên truyền. Chúng tôi tiến hành nói chuyện cùng với Walter Ulbrich. Đầu tiên, tôi ra lệnh đưa họ vào nhà tắm, tắm rửa, thay quần áo, không còn chấy rận, cho họ mỗi người 100 gam vodka (Lễ Giáng sinh mà!), cho họ ăn uống. Rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện với họ. Một tù binh đặc biệt khác hẳn là có tâm lý tốt. Ông ta là người chống bọn Nazzi, chống Hittler, chống chiến tranh. Ulbrich nói với anh ta:



- Chúng tôi muốn đưa anh quay lại. Anh đồng ý đi chứ?



Anh ta trả lời:



- Đồng ý. Thậm chí tôi đề nghị, dưa tất cả chúng tôi. Chúng tôi quay lại và sẽ kẻ hết cho đồng đội của mình.



Tuy nhiên có sự phân liệt trong nhóm này. Một tù binh nhận xét:



- Vì cái gì mà người ta tung chúng ta trở lại? Nếu bây giờ các ông ném chúng tôi sang đó, thì người ta sẽ bắn. Chẳng ai tin chúng tôi chạy khỏi các ông, chẳng có giả thiết khác cả, các ông tưởng tượng ra.



Một cuộc đấu khẩu khá nghiêm túc xảy ra giữa các tù binh giữa. Một người Đức “của chúng tôi” nói:



- Anh là người nhát gan! Còn tôi sẽ đi. Cứ để người ta bắn tôi, mà còn điều đó có vai trò của mình”.



Chúng tôi và Ulbrich cũng đồng ý ném nhóm tù binh này về phía địch. Bỗng nhiên, Tolbukhin biết điều này và đến gặp tôi:



- Đồng chí Khrusev, tôi biết, ông và Ulbrich tưởng tượng cái gì rồi. Đừng làm điều ấy, tù binh bây giờ biết chỗ đóng ban tham mưu của chúng ta, họ sẽ đưa tin cho người của họ và ném bom chúng ta. Ông đừng tung họ đi cho đến khi tôi di chuyển ban tham mưu đến chỗ khác. Tôi không muốn bắt mọi người phải chịu nguy hiểm.



Tôi nói:



- Sao thế? Chúng tôi dẫn họ đến bịt mắt và xích tay, họ cũng không biết, đang ở đâu.



- Không, tôi không thể liều như thế.



Tôi thấy, nếu Tolbukhin kể cho Stalin, thì Stalin không ủng hộ tôi. Tôi không nói cho Ulbrich về tâm trạng của Tolbukhin, mà chỉ nói:



- Đồng chí Ulbrich, hình như hành động này bị từ chối, vì rằng nó mạo hiểm, tù binh có thể chỉ chỗ đóng quân của ban tham mưu chúng tôi.



- Ô dào, không thể, nghĩa là, không thể!” Việc đó vẫn làm. Chừng mực nào đó có nguy hiểm thực sự cho Tolbukhin? Tôi không đồng ý với ông. quả là quá thận trọng. Tôi nghĩ rằng chẳng có nguy hiểm nào cả đối với ban tham mưu, thậm chí nếu chúng tôi ném những người này vào “nồi hơi”.



Đánh nhau vẫn tiếp tục. Chúng tôi bắt đầu ép địch về hướng Kotenikovski. Tình hình phức tạp đến mức ban tham mưu mặt trận Stalingrad rất khó điều khiển quân đoàn trực tiếp giữ vững vòng vây quân Paulius, và quân đoàn khác tấn công vào Manych Rostov. Họ đề nghị chúng tôi chia xẻ mặt trận. Một chỉ thị xuất phát từ Tổng hành dinh. Tôi không biết do khởi xướng của Stalin hoặc của ai đó của Bộ tổng tham mưu. Nhưng ở đó người ta hiểu sự phức tạp ở mặt trận. Đã bố trí tập đoàn quân đối mặt với Paulius, trả lại mặt trận sông Đông, còn bộ đội sang hướng nam và nhìn sang phương Tây, mặt trận miền nam. Chúng tôi lấy làm tiếc chia tay với sự thống nhất như thế nhận được ý nghĩa lịch sử thật sự, như tập đoàn quân №62 đã giơ ngực bảo vệ Stalingrad; như tập đoàn quân №64 do Sumilov chỉ huy; như như tập đoàn quân №57 và những binh đoàn khác. Tập đoàn quân №62 và tập đoàn quân №64 trấn giữ nửa vòng vây và đánh bật quân Đức xé rách Stalingrad. Tập đoàn quân №57 xé rách ban đầu ở chính Stalingrad, sau đó tất cả họ chuyển đến tiền tuyến. Chúng tôi cùng sống chết và những con người này. Nhưng, khi Stalin gọi, tôi nói với ông:



- Chúng tôi sẽ làm điều này. Tôi cho rằng điều này là đúng, vì lợi ích sự nghiệp, như thế sẽ tốt hơn.



Stalin cũng gọi cho Eremenko. Tôi không biết, ông với Stalin nói chuyện gì và ông trả lời Stalin như thế nào



Tôi bắt gặp Eremenko suýt rơi nước mắt. Tôi an ủi ông.



- Nào, Andrey Ivanovich, anh sao thế? Đây chính là vì lợi ích sự nghiệp. Anh không thấy tập đoàn quân chúng ta bây giờ quay về phía Nam. Nhiệm vụ của chúng ta - tấn công, đánh vào sườn địch nằm ở Bắc Kavkaz, ngăn chúng tiến đến Rostov. Nhưng ở Stalingrad - phòng thủ, tất cả ở đây tuyệt vọng, kẻ địch phải bao bọc chắc hơn, và chính kẻ địch chết vì đói, chúng không có đạn, không có thức ăn, không có quần áo.



- Đồng chí Khrusev, ông không hiểu, ông là dân sự, hình như ông không thông cảm, bao nhiêu chúng tôi, những những người lính, chịu khổ sở ra sao. Chúng tôi suýt nữa tuyệt vọng. Ông nhớ khi nào Stalin gọi điện, hãy đề nghị cho chúng tôi ở thêm ba ngày? Họ cho rằng quân Đức chiếm Stalingrad, còn chúng tôi như con dê tế thần. Và bây giờ là như thế đấy! Ông có thể không biết, nhưng tôi biết, tôi thấy trước rằng vinh quang Stalingrad sẽ thuộc về mặt trận sông Đông!



Tôi an ủi ông:



- Vinh quang lớn nhất - đó là thắng lợi của nhân dân chúng ta. Ý nghĩa lớn nhất là sự thoả mãn của người này người khác và chỉ huy quân đoàn, đấy mới là chính!



Nhưng tôi không cách nào làm ông tin. Ông quả là người chịu nhiều khổ sở, tốn nhiều sức lực, năng lượng, tài năng, hiểu biết và tính kiên trì vào chiến thắng của chúng tôi. Tôi không biết, dùng bao nhiêu lời để có thể đánh giá ý nghĩa sức lực của những người như Eremenko, người chỉ huy quân đội mặt trận Stalingrad. Tôi muốn, mọi người hiểu tôi, tôi ở mức độ nào đấy có ý hạ thấp phẩm chất của Rokossovski. Đây là một chỉ huy quân sự cực kỳ tài năng và một đồng chí đáng quý. Tôi và ông có ít việc với nhau, nhưng mỗi lần gặp, mỗi lần tiếp xúc với ông luôn luôn cho tôi những ấn tượng tốt nhất về Rokossovski. Tuy nhiên trong lịch sử, tôi cho rằng chủ yếu không phải ở ông: Stalingrad có tiếng vang khắp thế giới, mà không phải mặt trận sông Đông. Tuỳ vào phán xét...



Về nguyên tắc, chức năng mặt trận sông Đông là khác. Giả dụ địch chiếm Stalingrad, thì nó, tất nhiên, quay lại tấn công lên phía bắc. Nghĩa là, Tổng hành dinh đã làm đúng, bố trí ở đó thêm một mặt trận và bổ nhiệm một người chỉ huy đĩnh đạc, tướng Rokossovski. Nhưng bây giờ tình thế thay đổi. Không phải quân Đức quyết định hướng tấn công chính, mà là chúng tôi. Chúng tôi hướng bộ đội của mình về hướng nam, để đánh bại quân đội Đức nằm ở Bắc Kavkaz. Điều đó, tất nhiên, là quyết định duy nhất đúng. Danh dự trả lại cho người đánh bại Paulius. Nhưng người chỉ huy, mang tất cả sức mình phòng thủ, muốn tự tay kết thúc chiến dịch đã đặt ra, tự tay nắm chặt nguyệt quế thắng lợi. Và thực tế lại không ở mặt trận Stalingrad. Mặt trận phía nam để lại cho Eremenko, tấn công Bắc Kavkaz và miền tây, và mặt trận sông Đông, đi được đến chỗ Paulius. Điều này không thể uý lạo Eremenko, không thể!



Trong cuộc chiến như thế, kết thúc thiên hùng ca chiến đấu ở Stalingrad. Bắt đầu một giai đoạn khác của chiến tranh. Giai đoạn tấn công sang phía tây để giải phóng.







Trước trận đánh ở Kurk và khởi đầu trận đánh


Như vậy, tôi về Moskva và kể cho Stalin về tình hình công việc ở mặt trận phía nam. Lúc đó chúng tôi có tâm trạng tốt, chúng tôi còn cảm xúc vui mừng về thành công của mình. Bắc Kavkaz cũng nhanh chóng được giải phóng. Nhưng đây là một phần đất, chứ không phải mặt trận của chúng tôi, còn nói chung, các mặt trận khác, tôi báo cáo về công việc chẳng mặt trận chúng tôi. Stalin:



- Chúng tôi chuẩn y ông làm uỷ viên hội đồng quân sự mặt trận Voronez. Quân đội chúng ta phải chiếm Kharkov. Ông biết điều này chứ?



- Tôi biết. Hồng quân đang tiến trên khoảng cách tương đối đáng kể sang phía tây Kharkov.



- Anh phải bay ngay bây giờ về ban tham mưu mặt trận Voronez. Ông sẽ đảm nhận chức vụ không những là uỷ viên hội đồng quân sự của nó, mà còn Bí thư BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, như hiện thời và trước đây.



Sau đó Stalin bắt đầu chế giễu những nhà lãnh đạo, mà ông trao công việc Ukraina cho họ, trong những ngày Stalingrad mà ông đã nói với tôi rằng tôi không phải người Ukraina và vì thế vận hành công việc của nó là Kornies, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ CHXHCN Ukraina.



Tôi cũng kể, tôi đồng ý ra sao với việc tôi không phải người Ukraina: mọi người biết rằng theo hộ chiếu và theo chỗ tôi sinh ra, thì tôi là nông dân, còn làng tôi - làng người Nga, mặc dù đúng là kề sát với Ukraina. Biên giới là biên giới. Tôi còn chưa bổ xung một ý nghĩa nữa là, tôi là người Ukraina hay tôi người Nga. Tôi là người quốc tế và kính trọng từng dân tộc. Nhưng gần nhất với tôi là những người sống với tôi thuở thơ ấu và thanh niên. Đây là công nhân, nông dân Nga và Ukraina, cả trí thức Ukraina, mà tôi làm việc với họ, khi tôi làm ở Ban chấp hành Đảng Kiev năm 1928-1929 và đặc biệt là bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina. Tôi 13 năm làm việc tại Ukraina, và không phải đơn thuần với sự thoả mãn, mà còn với sự ham thích lớn, và rất hài lòng bởi mối quan hệ với tôi từ tất cả mọi người - công nhân, nông dân và trí thức Ukraina.



Tôi trả lời:



- Được, đồng chí Stalin, tôi thích thú đến mặt trận Voronez. Nhưng ai chỉ huy quân đội Mặt trận Voronez?



- Tướng Golikov.



Lúc ấy tôi lập tức nhớ lại khi Stalin phê bình tôi vì tôi không ủng hộ Golikov, khi ông là phó tư lệnh quân đoàn ở Stalingrad. Lúc đó (tôi đã kể) ông ta viết cho Stalin những điều xấu xa chống Eremenko, và Stalin tôi phê bình tôi là; tôi ủng hộ mạnh Eremenko và không ủng hộ Golikov. Có thể Golikov cũng viết những điều xấu xa nào đó về tôi? Điều này có thể. Tôi trong đời, đáng tiếc, thấy nhiều điều xấu xa. Sự thật, tôi cũng nhìn thấy những điều tốt và cả còn xấu xaо. Một lần khác những điều xấu xa lại được làm bởi những những những người có vẻ bề ngoài tương đối lịch thiệp và nhã nhặn. Có thể, lấy thí dụ, những người khác, có những sự kiện như thế, làm một cách thành công cùng với Golikov? Đúng là Golikov hành động một cách thiếu đứng đắn, mật báo viết những điều xấu xa về Eremenko và, trực tiếp hoặc gián tiếp, về tôi như uỷ viên hội đồng quân sự Stalingrad mặt trận. Có nhiều điều phụ thuộc vào tôi, khi Golikov tương đối muộn màng, trong đời mình, được giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục chính trị RKKA và khi người ta phong cho ông danh hiệu nguyên soái - danh hiệu cao nhất trong quân đội xô viết.



Tôi nói với Stalin:



- Golikov chỉ huy cái gì? Ấn tượng của ông thế nào?



Tôi không nói gì thêm nữa, nhưng Stalin hiểu ngay lập tức, tôi hỏi một vấn đề như thế vì rằng chúng tôi có những đánh giá khác nhau về tính cách Golikov - đại diện mặt trận thuộc tập đoàn quân Chuykov, khi Golikov không hoàn thành lệnh về tổ chức chuyển tải đạn dược và bổ xung cho Stalingrad. Tôi đã coi khi đó và bây giờ vẫn coi rằng chúng tôi và tư lệnh quân đoàn mặt trận Stalingrad đã phản ứng đúng. Tuy nhiên bây giờ nảy sinh tình hình khác. Quân thù ở Stalingrad đã thành tù binh, mọi người đều vui mừng chiến thắng. Đó là không những là vui mừng của nhân dân chúng tôi, mà còn tất cả loài người tiến bộ, hiểu rõ ý nghĩa cuộc đấu tranh của chúng tôi với bọn phát xít.



Stalin lại liếc nhìn tôi:



- Anh nhớ rằng anh đã nói với tôi về Golikov?



- Đúng, tôi nhớ.



- Anh đã nói như thế nào?



- Khi đó ông đã gửi tôi - uỷ viên членом hội đồng quân sự - tới chỗ Golikov?



- Chúng tôi nhanh chóng có quyết định quyết định mới và chuyển ông ta đi.



Tôi không biết vì sao Stalin nói với tôi điều này. Trong nỗu đau khổ, điều này có tồn tại không? “Chúng tôi nghĩ sẽ bổ nhiệm Vatutin làm tư lệnh quân đội mặt trận. Ông biết Vatutin chứ?



- Tôi biết tướng Vatutin, và thậm chí rất biết khá rõ. Tôi đánh giá cao ông ta.



Vị tướng này kể ra cũng đặc biệt. Tính cách của ông được đúc kết là ông hầu như không uống rượu. Nói chung tôi không nhìn thấy, ông uống rượu vang. Ngoài ra, ông rất có khả năng làm việc và được đào tạo rất tốt về binh nghiệp. không phải ngẫu nhiên, một thời gian, ông là tham mưu trưởng ban tham mưu Quân khu Kiev, còn sau đó phó tổng tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu. Cũng có những đánh giá tốt kiến thức quân sự của ông. Và tôi nói:



- Tôi kính trọng cao ông ta như trưởng ban tham mưu, những một con người hiểu biết công việc quân sự, như một Đảng viên. Nhưng tôi không biết, ông thể hiện mình như thế nào ở vị trí tư lệnh. Ở đây đòi hỏi, ngoài kiến thức, tài năng và kỹ năng sử dụng quyền hành của tư lệnh, kỹ năng ra lệnh và đòi hỏi sự hoàn thành mệnh lệnh. Ông có thể làm công việc chiến dịch, tôi không nghi ngờ điều này, còn những những khả năng khác của ông ta, tôi hoàn toàn chưa biết. Trong quan hệ này đối với tôi ông là một người mới, tôi với ông chưa chạm nhau cả.



Tôi không nhớ, Stalin sau đó nói cái gì, nhưng tôi hài lòng bởi sự bổ nhiệm mới.



Một hai ngày sau, tôi bay đi. Khi chuẩn bị bay, người ta báo cáo tôi rằng tại hướng Kharkov, quân địch gộp quân SS, sư đoàn xe tăng và dồn bộ đội chúng tôi về Kharkov. Bộ đội chúng tôi rút lui về phía đông trên một khoảng cách khá lớn, và kẻ địch tiến đến sát Kharkov. Tôi bay vào buổi chiều, trước hoàng hôn. Chúng tôi và Nicolai Ivanovich Sybinyi chọn chính thời gian như thế. Tôi luôn luôn, chừng nào còn sống, tôi sẽ nhớ những lời tốt của phi công đáng nể, một tướng, một con người trung thực, thông minh tỉnh táo và rất thú vị. Trong trường hợp đã nêu ông đã vạch kế hoạch chính xác sao cho chúng tôi bay đến Kharkov vào chiều tối, vì rằng trong thời gian này ít khả năng gặp máy bay tiêm kích địch. Chúng tôi xử sự như thế. Khi chúng tôi hạ cánh, thì ánh lửa sáng lên.



Từ sân bay về Kharkov. Người ta thông báo cho tôi một tin rất đáng lo ngại: Kharkov đang bị mối đe doạ, quân địch có thể chiếm nó. Tôi đi đến ban tham mưu mặt trận, gặp tư lệnh quân đội. Ông thông báo tình hình mặt trận. Quả là, tình thế rất bi đát. Kẻ địch hơn hẳn chúng tôi về số lượng người, hơn hẳn về vũ khí. Địch có xe tăng, và bộ binh tinh nhuệ. Trong cuốn sách “Tuyệt mật”, tôi biết rằng kẻ thù đưa chúng từ Italy đến. Tốt hơn cả, địch ném quân SS và sư đoàn xe tăng xung kích nơi đây, đánh chúng tôi trên hướng Kharkov.



Chúng tôi đến Merefa, cách Kharkov 25 km. Tôi từng ở Merefa từ trước cách mạng. Khi đó tôi đi từ tỉnh Kursk của mình đến Donbass, đến Yuzovkу, thì chắc chắn nhất định qua Merefa. Còn bây giờ, tất nhiên, tôi đến đó với tư cách khác. Lãnh đạo cụm quân ở đó là tướng Kozlov. Trước đó, tôi không biết Kozlovt. Trước đây, ông chỉ huy nhóm Kerchen của bộ đội chúng tôi. Chúng tôi đổ bộ quân vào Krym bị kẻ thù chiếm giữ, nhưng chiến dịch thất bại và bộ đội chết rất nhiều ở đó. Theo tôi, gửi đến đó Vorosilov để chỉ huy. Sau đó, hình như, người ta rút Vorosilov và cử Mekhlic làm chính uỷ. Thực tế, Mekhlic được coi như là người đại diện Tổng hành dinh chỉ huy nhóm quân này. Ông đặt Kozlov dưới ông, và bộ đội chúng tôi bị thiệt mạng. Tôi nhớ, khi đó Mekhlic nổi cơn thịnh nộ chống tất cả các dân tộc Kavkaz. Ông nói rằng sự bổ xung chính, và nói chung, bộ đội mặt trận này gồm toàn những người Kavkaz, mà họ hoàn toàn không được tin cậy. Từ quan điểm chính sách dân tộc của chúng ta, ông tuyệt đối không đúng đường lối. Bản thân ông là bốc đồng, nhưng là một người rất được lòng tin của Stalin.



Vơ về mình sự chỉ huy, Mekhlic thực tế tước đoạt khả năng chỉ huy của Kozlov. Tôi không thể khi đó xem xét chiến dịch này ở mọi mặt, dó không phải là chức năng của tôi. Nhưng tôi đã nghe những chuyên gia quân sự bàn cãi và phân định sự kiện xảy ra ở mặt trận Krym. Họ đổ lỗi thất bại cho Mekhlic và ở mức độ nào đấy cho Vorosilov. Nhưng họ cho rằng lỗi phần lớn là Mekhlic, rằng Kozlov thể hiện tính cách của mình là người chỉ huy quân đội. Ông lập tức chịu ảnh hưởng của Mekhlic thay vì chỉ huy theo ý mình và dùng kiến thức quân sự để tổ chức bộ đội. Ông trở thành ngoan ngoãn nghe lời và thực hiện mệnh lệnh và những dự kiến mà Mekhlic đưa ra. Tóm lại, tiếng tăm Kozlov bị hư hại. Ông là một chỉ huy thể hiện ở mức độ nào đấy tính vô nguyên tắc, tính ù lỳ.



Đến Merefa chúng tôi đi cùng với Golikov. Kozlov gây cho tôi nói chung, một ấn tượng xấu. Tôi cố gắng không bị nghiêng bởi ảnh hưởng mà đã nghe trước đó về ông ta, tôi muốn chính mình đánh giá ông trên cơ sở sự kiện mà bây giờ tôi có thể quan sát được. Ông lập luận hoàn toàn khôn ngoan, hợp lý. Những mệnh lệnh ông đưa ra, đối với tôi là sáng ý. Tóm lại, tôi không có ấn tượng phủ nhận về Kozlov.



Như vậy, chúng tôi lại ra đi. Cái gì đây? Hay là ở Kozlov, ở Petrov, Ivanov, đằng nào cũng thế, chúng tôi ra đi, vì rằng kẻ địch có sự lấn át. Lúc đó chúng tôi cảm thấy và thậm chí đã nói rằng chúng tôi không có khả năng giữ được Kharkov. Tôi rất đáng tiếc điều này. Tôi đi khắp thành phố. Thành phố không bị phá huỷ nhiều. Nhà máy sản xuất máy kéo nói chung vẫn nguyên vẹn, không bị phá huỷ chút nào! Chúng tôi trước đây tháo dỡ thiết bị mang đi, nhưng quân Đức lại sửa lại: thu nhặt thiết bị và tổ chức những thợ lành nghề sửa chữa. Như người ta nói, đưa máy tiện, cấp nguyên liệu, công nhân - và có thể bắt đầu sản xuất xe tăng, ô tô hoặc máy kéo. Nhưng tôi biết rằng bây giờ lại ở lại Kharkov, thì lần sau (chúng tôi tin rằng khi chính trị quay về thậm chí không ngờ vực kẻ địch có thể giữ được thành phố không lâu) kẻ thù làm tất cả những gì để phá huỷ thành phố, đặc biệt là các xí nghiệp. Tôi tin tưởng rằng nhà máy sản xuất máy kéo không còn lại, mà kết thúc nó. Thôi, đành chịu! Như vậy, chúng tôi bắt buộc lại dừng ở Kharkov.



Tôi quyết định chuẩn bị những cuộc hội đàm với trí thức Ukraina. Và buổi chiều, có cuộc gặp với trí thức, những người còn lại ở Kharkov và đã sống dưới thời bọn Đức. Nhưng đêm hoặc sáng sớm hôm sau chúng tôi phải đến ban tham mưu mặt trận Kharkov. Cuộc gặp gồm những trí thức Ukraina, những người trong thời gian ấy thuộc ban tham mưu mặt trận, nói đúng hơn - thuộc tôi, như thuộc uỷ viên hội đồng quân sự, và chủ yếu các cán bộ lãnh đạo của Hội đồng Dân uỷ Ukraina. Tóm lại, tích cực. Chúng tôi tập hợp theo nguyện vọng của mọi người, để khi quân đội chúng tôi tiến sang sang hướng tây, có thể lập tức sắp xếp cán bộ và tổ chức nhà nước, nước cộng hoà, cơ quan hành chính vùng và khu vực. Nhiều việc đã làm khi đó là Nicolai Platonovich Bazan và những nhà văn khác. Chính qua họ, tôi đề nghị trí thức tập hợp lại, nói rằng tôi sẽ đến họ nói chuyện và nghe họ. Chủ yếu, tôi muốn chính tai nghe, hiểu tâm trạng của họ.



Cuộc mit tinh được tổ chức rất tốt. Người của tôi cảnh báo:



- Ông rất thận trọng khi phát biểu. Chúng tôi luôn luôn nói rằng chúng tôi không lạc đề và chi tiết. Điều này sẽ gây một ấn tượng xấu, vì rằng chúng tôi cũng nhận quyết định về sự rút lui. Không cách nào giữ được Kharkov. Chúng tôi sẽ ở lại Kharkov. Vì thế phải nói sao cho gây được niềm tin rằng việc rút lui không đánh giá trong đầu của một cử chỉ khó hiểu nào đấy: đằng nào cũng thế, chúng tôi tiến lên phía trước, kẻ thù sẽ bị tiêu diệt và rút khỏi lãnh thổ Liên Xô.



Điều này nghĩa là muốn khuyến khích họ. Tôi không thể nói trực tiếp cho họ rằng chúng tôi rút lui. Nói chung về sự rút lui là không có cả trong lời nói. Nhưng tôi gián tiếp nói bóng gió cho họ và khêu gợi họ sự tự tin, để họ vững tâm hơn trải qua cuộc xâm lăng mới của quân thù. Tôi khuyến dụ họ trong lời phát biểu của mình để họ rút lui cùng với Hồng quân. Mặc dù tôi nói không đúng như thế, nhưng tôi muốn tin họ không tin bọn Đức; làm cho họ hiểu rằng chúng tôi sẽ không bắt giam trí thức, rằng sẽ không trách cứ mọi người, rằng họ vẫn ở lại trong vùng đất bị tạm chiếm, tuy nhiên tôi mong họ cùng rút lui với chúng tôi.



Có một tình tiết làm tôi lo ngại: tôi sợ rằng khi chúng tôi rút lui, còn họ ở lại. Nếu xảy ra như thế! Nhưng nếu tôi nói bóng gió rằng tôi phán xét họ sự nhục nhã của họ trong trường hợp nếu họ ở lại, thì điều này sẽ coi như là lời đe doạ. Tiếp theo, nếu như họ chạy sang sang phương Tây với Đức thì sao. Tôi cũng sợ điều đó. Tôi muốn, xua tan khỏi Kharkov những tin đồn, rằng trong bất kỳ trường hợp nào, sẽ không có sự đàn áp. Để tin này đến tai những người không có mặt tại buổi mit tinh (tại đó không có nhiều người dự). Không có mặt, chẳng hạn, Gmyr. Nhưng giọng hát của ông vang vọng khắp Ukraina. Đó là - nghệ sỹ tuyệt vời. Ông ở lại Ukraina khi Đức chiếm đóng. Sau đó ông giải thích rằng ông ở lại vì vợ ốm. Bây giờ chúng tôi sẽ không phân tích điều này. Tôi cũng đã quen với những lời giải thích rằng hoặc vợ, hoặc mẹ, hoặc bố đã chết và người ta không thể tản cư. Liệu có thật thế không, rất khó đoán. Tồn tại bầu không khí căng thẳng, không kiểm tra nổi. Nhưng sau đó cũng không nảy sinh ý nghĩ phải kiểm tra.



Ngắn gọn, tôi tiến hành cuộc nói chuyện như thế. Ở đó có mặt một hoạ sĩ (tôi quên họ tên của ông). Người ta nói rằng ông là một hoạ sĩ không tồi. Nhưng ông đã kể chuyện một cách trắng trợn, rằng đã sống như thế nào dưới thời Đức chiếm thành phố và đã sống như thế nào thời “bị săn đuổi”, điều này gây cho một ấn tượng rất khó chịu. Thôi, tôi không biểu lộ ra ngoài. Tôi giữ đường lối như thế, tôi không đụng đến điều này. Ông cũng khoe khoang đã buôn bán tranh thánh như thế nào. Ông kể:



- Chúng tôi lấy tranh thánh in hàng loạt, dùng hoá chất biến chúng có vẻ cũ hơn và, lợi dụng sự ngờ nghệch của người mua (bọn Đức), bán cho họ những bức tranh này như những tranh cổ có giá trị đặc biệt..



Ông kể y như một người quỷ quái, một con buôn ma mãnh. Hình như ông có cuộc sống không tồi. Những người khác kể khác đi là ông ta thậm chí có cả nhiệt huyết có thể sống trong hoàn cảnh như thế và lừa bọn Đức như thế nào. Người thông minh, dường như, luôn luôn lừa phỉnh những người ngốc nghếch; và tôi cũng chỉ ra những khả năng của mình.



Chúng tôi mit tinh, rồi tôi từ giã và ra đi. Vào lúc đêm hoặc sớm hôm sau, nhưng chúng tôi bắt buộc phải rút lui. Buổi sáng tất cả ban tham mưu ra khỏi thành phố và một thời gian ngắn sau, quân Đức lại vào Kharkov. Nhưng tôi muốn ông hoạ sĩ này ra đi, và những trí thức khác cũng không ở lại với Đức nữa. Tôi muốn tin rằng họ không ở lại. Không, hình như ý nghĩ của con người này không được tốt, ông ta có nếp nghĩ, có tính cách của mình gần với kẻ thù của chúng ta, hơn là có tinh thần của một người xô viết, của một trí thức xô viết, của một hoạ sĩ xô viết. Sau này tôi hỏi Bazan và những người khác đồng chí về ông ta: ông ta ở đâu? Họ trả lời rằng:



- Ông ta không ở với chúng tôi.



Thật khó biết, ông có thể đi hoặc không đi. Có thể, nếu như ông muốn. Nhưng không đi theo chúng tôi. Sau này, khi chúng tôi lại giải phóng Kharkov, tôi cho người tìm vị hoạ sĩ này để tự kiểm tra xem mình có đánh giá đúng người này không. Không, ông đi theo bọn Đức. Linh hồn của ông ta là linh hồn của một con buôn và một kẻ hám lợi đã kéo ông theo bọn Đức mà không theo chúng tôi, và ông đi theo “hướng này”.



Khi chiến tranh kết thúc, tôi hỏi liệu có thấy tăm tích ông ta không? Không, không tìm thấy ông ta. Nhưng tôi không thể giả thiết rằng quân Đức đã làm một điều gì đó với ông. Có lẽ ông phục vụ chúng. Có thể ông ở lại Đức mà không quay về nhà. Hồi ấy, nhiều người - cả Nga và Ukraina, và những người khác đã làm như thế. Người Ukraina khá nhiều! Đặc biệt những người dân vùng tây Ukraina. Ở đó nhiều người dân tộc chủ nghĩa, bị u mê bởi sự tuyên truyền của quân thù, hoặc bọn quảng cáo. Họ tin vào kẻ thù, ở lại ở phương Tây và cắt đứt với tổ quốc mình. Có thể, người hoạ sĩ cũng đi đến Canada. Tóm lại, tôi nói đây là kiểu người con buôn sản phẩm nghệ thuật.



Như vậy, chúng tôi lại rút lui. Ban tham mưu mặt trận rút về Belgorod. Chúng tôi tính toán cầm cự ở Belgorod, nhưng lực lượng chúng tôi yếu đến nỗi chúng tôi không làm được điều này. Ban tham mưu đóng ở một căn nhà nhỏ có một vườn nhỏ. Hàng đêm, địch ném bom Belgorod, kể cả chỗ đóng quân ban tham mưu chúng tôi. Không loại trừ ở Belgorod, có thể, trước đây đã cài lại bọn điệp viên Đức hoặc bọn bán nước, để bọn này liên lạc với máy bay địch. Sự thật Belgorod là một thành phố nhỏ. Nhưng máy bay quân thù nằm đúng khu vực ban tham mưu chúng tôi đóng. Một lần, khi chúng tôi và Golikov đứng cạnh bản đồ và phân tích tình hình, thì bom rơi trúng sân. Chao đèn vỡ nát, ánh sáng phụt tắt, thuỷ tinh phủ đầy bản đồ bản đồ. Chúng tôi chạy ra ngoài, nhìn thấy một vái hỗ miệng phễu. Hình như quả bom không lớn. Nếu như mà nó là bom to, thì có lẽ ngôi nhà chúng tôi đã bị sập. Chúng tôi thu xếp lại trật tự, nhưng cũng trong đếm ấy lại bị ném bom.



Có một trường hợp như thế này. Tư lệnh quân đội cần sử dụng nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh có nước nóng không có, chỉ có nước lạnh ở ngoài đường. Vị tư lệnh vừa ở đấy, khi chúng tôi bị ăn bom, nhưng mọi việc vẫn một cách bình yên, mặc dù lúc Golikov đến tất cả vẫn phủ đầy rác. Chúng tôi sau này không ít lần trêu chọc ông ta rằng với người còn sống thì tất cả đều tồn tại cả thảm kịch và cả những điều buồn cười.



Kẻ địch duổi theo và cũng tiến đến Belgorod. Chúng tôi không thể chống cự lại quân địch bằng sức của mình để chặn nó, và chúng tôi bắt buộc bây giờ phải giữ Belgorod. Nhưng sáng sớm, chúng tôi và Golikov chọn một chỗ mới để đóng ban tham mưu, không phải ở Staro Oskol, không phải ở Novo Oskol, mà ở một nơi xa bắc sông Đông. Chúng tôi quyết định ra đi lúc hửng sáng, để không bị ném bom. Khoảng cách đến ban tham mưu mới tương đối xa. Tôi không nhớ, chúng tôi đi bằng ô tô. Có thể, cả bằng xe trượt tuyết, bởi vì có nhiều đống tuyết rất dày. Chúng tôi rất đau lòng sự kiện cả Kharkov, cả Belgorod đã đầu hàng. Tất nhiên bây giờ kẻ thù sẽ dốc toàn lực chiếm Kursk, mà chúng tôi chiếm hồi tháng hai.



Chúng tôi xây dựng tuyến phòng thủ: tháo dỡ tất cả những gì chúng tôi có và các thứ mà Tổng hành dinh có thể cho thêm. Kẻ địch, hình như cũng hết hơi và ngừng tấn công tiếp. Bộ đội chúng tôi cầm cự ở bắc và đông Belgorod, từ Sudzi đến Volchank. Ban tham mưu mặt trận chuyển về Oboian. Đó là chính diện phía nam của vòng cung Kursk được hình thành lúc ấy; Tói lúc này, Vatutin đi đến với lệnh để ông chỉ huy quân đội mặt trận. Golikov được lệnh, bàn giao lại sự chỉ huy, quay về theo lệnh Tổng hành dinh. Chúng tôi từ giã Golikov, và Vatutin bắt đầu đảm nhận chức tư lệnh. Chúng tôi khi đó không có khả năng tiến hành một chiến dịch tích cực nào đó. Tiếp theo, chúng tôi cũng chưa có cả ý định gì cả. Tất cả sức lực dồn vào để làm tốt phòng tuyến và chọn chỗ thuận lợi nhất để tạo ra vững mạnh rộng rãi. Chúng tôi muốn chuẩn bị tốt hơn đến mùa xuân, vì tin rằng vào mùa xuân, kẻ địch lại tấn công, và chúng tôi cũng sẽ tấn công và tiêu diệt chúng.



Người ta gửi một quân đoàn tăng cho chúng tôi. Tôi bây giờ quên tên tư lệnh quân đoàn. Đó là một lính xe tăng, trước đây chỉ huy lữ đoàn tăng, còn năm 1943 nhận chỉ huy quân đoàn. Ông lê bước tới phòng tuyến, tại khu vực mà ông cần phải bố trí. Và khi đó lần đầu tiên từ khi bắt đầu chiến tranh chúng tôi gặp đối đầu như thế này từ phía quân thù: địch trực tiếp hành tiến có thể tiêu diệt hầu hết tất cả quân đoàn tăng này. Họ giết như thế nào? Từ trên không, địch dùng máy bay ném bom tầm thấp kiểu U-2 của chúng ta, nhưng chỉ mạnh hơn chút ít. Những máy bay này trang bị pháo. Chúng bay sát xe tăng chúng tôi và bắn từ trên không xuống, lợi dụng lớp thép bọc trên đỉnh tháp pháo rất mỏng. Vì thế chẳng khó khăn gì bằng pháo cỡ nhỏ hoặc thậm chí bằng đạn súng máy cỡ lớn có thể bắn cháy xe tăng. Tôi nhớ, khi vị tướng chỉ huy quân đoàn với roi nhỏ tới gặp chúng tôi. Có lúc nào đó người ta nói về dân Digan, những người bị mất ngựa và chỉ còn lại cái roi. Vị tướng “với cái roi nhỏ” đến ban tham mưu mặt trận chúng tôi, ông quá xúc động đến rơi nước mắt. Ông thẫn người vì mất cả quân đoàn. Quân đoàn của ông thậm chí không có súng máy phòng không để bảo vệ xe tăng khỏi bị máy bay tấn công. Sau trường hợp này, các nhà thiết kế xô viết rút kinh nghiệm thiếu sót này và cho xuất xưởng xe tăng có súng máy phòng không. Tôi không nhớ, mỗi xe tăng có súng phòng không hoặc chỉ có một số nào đấy có thôi, liệu có thể xây dựng được những đơn vị có thể bảo vệ từ trên không và che chở cho xe tăng của mình và của đồng đội. Nhưng trong lúc ấy thì quân Đức sử dụng yếu tố bất ngờ và gây cho chúng tôi tổn thất thật sự. Chúng tôi và Nicolai Fedorovich Vatutin đặt hy vọng lớn như thế vào quân đoàn xe tăng. Nhưng còn lại ở chỗ chúng tôi ban chỉ huy, lính xe tăng, và những xe tăng đã bị ngốn trong khi hành quân.



Trên mặt trận Voronez, bắt đầu yên tĩnh. Địch chỉnh đốn đội ngũ, trang bị và củng cố tuyến trước của mình. Còn chúng tôi cũng lo việc đó. Mùa xuân bừng lên. Mùa xuân đến với chúng tôi ở Oboian và Belgorod, tuy nhiên tuyết vẫn còn rất dày. Năm 1943, mùa đông khác thường, nhiều tuyết hơn là lạnh. Chẳng bao lâu, Vasilevski, đại diện Tổng hành dinh đến gặp chúng tôi. Ông thường đến thăm chúng tôi. Trước đó tôi cũng có một nỗi đau, mà tôi mang nó theo mình từ mùa đông 1942, khi Vasilevski, xử sự không đúng, không thực hiện nghĩa vụ người lính của mình và không báo cáo cho Stalin trong thời gian chiến dịch Kharkov lần thứ nhất. Nhưng cho đến bây giờ tôi bắt đầu nhớ lại thời kỳ ấy, tôi rất đau lòng. Điều này tôi buồn và thậm chí muốn chống Vasilevski, xét theo bản thân ông ta, như tôi đã nói, một con người đáng yêu và trầm tính. Với ông có thể sống hoà thuận. Ông nhiều lần ra trận, và với ông luôn luôn nói chuyện dễ chịu và thảo luận các vấn đề cần giải quyết. Vả lại, tôi nhắc lại, chúng tôi không cảm thấy chẳng có sự cần thiết đặc biệt cử một đại diện Tổng hành dinh với quan điểm giúp đỡ để hoàn thành công việc quân sự. Tôi cho rằng cả ban tham mưu Mặt trận Voronez, và người chỉ huy cũng được chuẩn bị đày đủ thi hành chức trách của mình, chúng tôi hiểu đúng chúng và đánh giá đúng tình hình. Vì cớ gì mà một mỗi lần đại diện Tổng hành dinh đến, lại nảy sinh hy vọng rằng được nhận bổ xung hoặc đạn dược, “giằng được” ở hậu cần những chỉếc áo ca-pốt, giày, ủng... Tóm lại, sự giống nhau ở chúng tôi là tầm thường. Đôi lúc chúng tôi cũng nhận được, nhưng không phải luôn luôn. Mọi người hiểu điều này và kể cả đại diện Tổng hành dinh. Họ đến đây, vì người ta ra lệnh cho họ. Tựa như thế này:



- Đến đấy đi, quân Đức lại tấn công một cái gì đó. Đấy cả Belgorod cũng thất thủ rồi.



Có thể, ở Moskva cũng có ấn tượng rằng đại diện Tổng hành dinh đến - và cuộc tấn công của kẻ thù bị chặn lại, mặt trận được yên tĩnh. Vấn đề là ở chỗ ai đấy đến, còn kẻ địch bị kiệt sức buộc phải dừng lại để chấn chỉnh đội ngũ, hoặc chúng tôi nhận được tiếp viện và chính chúng tôi buộc kẻ địch đứng lại.



Lúc ấy chỉ có một khu vực bị kẻ địch tiếp tục tích cực hoạt động và tấn công. Khu vực này do tập đoàn quân №38 giữ. Chúng tôi đến đó. Ban ngày ánh sangs mặt trời, tuyết dày, và những tia sáng phản xạ. Trải dài một màu trắng lấp lánh đến đau mắt. Không thể nhìn vào đám tuyết này được. Chúng tôi rẽ từ cánh đồng tuyết vào làng. Quả là, ngôi làng ở trong một cái hố, trong lòng máng. Và đúng lúc ấy, hai, ba máy bay địch bay tới và bắt đầu ném bom vào xe chúng tôi. Chúng tôi và Vasilevski nhảy ra ngoài và, có lẽ, đưa ra sự xúc động lố bịch đối với phi công. Viên phi công có lẽ nhìn thấy tất cả. Chúng tôi chạy khỏi xe, và cho hắn một sự lựa chon:: hoặc ném bom vào xe, hoặc nổ súng vào vật sống. Vật sống - đó là chúng tôi, Vasilevski, lái xe, và những người đi kèm. Nhưng phi công, hình như bắn hết từ phía sau đến phía trước xe, quay đi mất. Nó bay tương đối thấp và hành động rất điên. Ai nằm dưới trận bom, hiểu đấy nghĩa là cái gì.



Chúng tôi tới ban chỉ huy, nghe báo cáo tình hình. Kẻ địch cũng chưa chiếm vị trí đã nhắc đã nhắc ở trên. Địch, có lẽ, cố gắng cải thiện vị trí của mình. Đây là cuộc tấn công mang tính chất cục bộ theo bình diện đường tiền tuyến để tạo khả năng tốt hơn cho nó phòng vệ, còn sau đó trong quá trình tấn công, tạo ra những vị trí xuất phát thích hợp cho quân đội của chúng.



Tạm kết luận chiến dịch Đông-Xuân mà tôi tham gia như thế này: giải phóng Rostov và tiến sát Taganrog, suýt nữa thì đến Dnepropetrovsk và giải phóng Kharkov, còn sau đó do áp lực của địch, bắt buộc phải dừng ở cả Kharkov, và cả Belgorod, và một số thành phố khác. Sau đó, mặt trận được ổn định, còn hướng chúng tôi tạo thành một chỗ lồi, mang tên vòng cung Kursk. Vòng cung là tương đối sâu. Cánh trái của cung, nghĩa là ở chỗ chúng tôi, bắt đầu từ đỉnh Bắc sông Đông. Đỉnh cung là Bắc Sum, ở Rylsk, còn cánh phải của nó nằm giữa Kursk và Orla. Kursk ở sau chúng tôi. Bắc Ponyrey và đông Orla uốn khúc theo hướng ngược lại còn một đường dích dắc của tiền tuyến. Chúng tôi và tư lệnh, đồng chí Vatutin, trước hết lo ngại, tất nhiên, khu vực mà chúng tôi chịu trách nhiệm: từ Volchansk đến sông Seym. Và chúng tôi áp dụng biện pháp để ở đây kẻ địch trong trường hợp nào đó không di chuyển được. Nếu như nó di chuyển, chẳng han, về hướng bắc, nghĩa là tới Kursk, thì nó sẽ đe doạ tập đoàn quân №38 và №40, đứng ở Sum, còn chúng tôi mất một vị trí thuận lợi để tấn công vào Romna và Lebedin. Lúc này, chúng tôi dời ban tham mưu của mình sang phía bắc Obian, vào sâu trực diện nam của vòng cung. Tên gọi của các điểm dân cư mà chúng tôi chọn là đơn vị này... đại đội kia... khi biên giới quốc gia Nga thời trung cổ chạy qua Obian. Ở đây những người bị lưu đày từng sống, họ phải đi nghĩa vụ quân sự để giữ biên giới phòng đột kích từ phía nam. Vì thế các làng có tên như quân đội. Trong trường hợp đã nêu - đại đội như thế - (số hiệu của nó tôi không nhớ).



Mùa xuân tới. Nhưng từ khi mùa xuân gần đến, chúng tôi biết rằng đang tiến gần đến trận chiến căng thẳng. Chúng tôi cho rằng kẻ địch, hiện thời nó không “khô đi” và không tích luỹ đủ lực lượng, và không thể có những hoạt động đặc biệt chống lại chúng tôi. Nhưng về phía chúng tôi cũng chưa có khả năng tuyệt đối để hoạt động tích cự. Đơn giản, chúng tôi không có lực lượng để làm điều này. Tôi không nhớ chính xác, khi nào có một binh đoàn mới tới chỗ chúng tôi. Bỗng nhiên chúng tôi nhận được tập đoàn quân cận vệ №6. Đó là - tập đoàn quân cũ №21 từng tham gia trận đánh Stalingrad từ phía mặt trận sông Đông, sau đó được bổ xung, một lần nữa được huuấn luyện và nhận phiên hiệu mới. Nó đến với chúng tôi, khi tuyết đã tan hết. Chỉ huy nó là tướng Tchistiakov. Trước đây cá nhân tôi không biết ông. Nhưng, khi ông đến và chúng tôi làm quen với ông, ông gây cho cho chúng tôi ấn tượng tốt. Chúng tôi cho rằng đó là - sức mạnh! Thứ nhất, cán bộ của tập đoàn quân này chủ yếu trải qua trận Stalingrad, có sự tôi luyện, kinh nghiệm và sự bền bỉ trong phòng vệ. Chúng tôi vừa vặn đúng yêu cầu để quân đội mạnh hơn trong phòng thủ. Chúng tôi đưa nó về Bắc Belgorod để nó trấn giữ xa lộ Belgorod- Kursk-Moskva.



Chúng tôi còn nhận được cả tập đoàn quân cận vệ №7, cũng từng ở Stalingrad. Ở Stalingrad nó được gọi là №64. Chỉ huy nó là Sumilov, còn uỷ viên hội đồng quân sự là Serdiuk. Tập đoàn quân này đến với chúng tôi cùng cả ban chỉ huy, nó được bố trí phía Đông Belgorod, sau sông Đông. Tập đoàn quân №64 cần phải chống cự địch theo ý đồ tiến đến Novyi Oskol và đồng thời nó có thể đánh vào Nam Belgorod. Trong đoàn tầu thứ hai, giữa tập đoàn quân cận vệ №6 và №7, là tập đoàn quân №69 dưới sự chỉ huy của tướng Kriuchenkin. Tôi biết Kriuchenkin: đó là một chiến sĩ từ thời nội chiến. Mặt ông có sẹo, do những trận đánh nhau với bạch vệ. Bản thân ông trước đây là kỵ binh. Ban tham mưu tập đoàn quân của ông đặt ở Staryi Oskol. Tại sườn phải của tập đoàn quân cận vệ №6 có tập đoàn quân №40. Chỉ huy nó là Moskalenko vị tướng giỏi nổi tiếng. Đáng kể, sau này chúng tôi còn có tập đoàn quân №47. Nó đến từ lực lượng dự bị mặt trận. Nhưng cạnh tập đoàn quân của Moskalenko, có tập đoàn quân №27. Chỉ huy nó là tướng Trofimenko. Các tập đoàn quân quay mặt về phía nam, nằm trên một hướng, tạo thành vòng cung. Nhưng trực tiếp đối mặt sang phương Tây là tập đoàn quân №38 do Chibisov chỉ huy. Nó được bố trí ở cánh phải mặt trận, và sườn phải của nó chạm với cánh trái của Mặt trận trung tâm.



Phía sau Sumilov, sau sườn trái của ông, có bộ đội dự bị dưới sự chỉ huy Ivan Stepanovich Konev. Đó là mặt trận Thảo nguyên. Sau đó nó có tên Ukraina №2. Quân đoàn mặt trận Tây Nam, tiếp giáp từ phía nam với quân của Mặt trận Voronez, do Malinovski chỉ huy. Ông chĩa vào Kharkov và Dnepropetrovsk. Như thế, việc phân bố bộ đội trong vùng, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với chức trách của tôi khi đó. Ban tham mưu tập đoàn quân Sumilov đặt ở đông Belgorod, trong rừng. Chúng tôi nhiều lần đến đó và kiểm tra, quân đội của ông chuẩn bị tấn công như thế nào, nghe báo cáo không những của chỉ huy, mà còn của chỉ huy quân khu, sư đoàn và lữ đoàn.



Tất cả quân đội tại mặt trận được học chiến đấu, chiến thuật, đào tạo lính sử dụng tốt vũ khí. Đảng bộ và cục chính trị được đưa vào để củng cố chính trị và tinh thần bộ đội, sao cho từng chiến sĩ hiểu nhiệm vụ của mình và làm tất cả những gì có thể để không lùi một bước và chuẩn bị tấn công. Vả lại, không cần sự tuyên truyền đặc biệt, để lính vững tâm phòng thủ và dũng cảm tấn công. Mọi người bị lôi cuốn vào trận. Tôi không nhớ, phát sinh sự thái quá nào đấy, về sự đào ngũ tôi cũng không nghe. Tất nhiên luôn luôn khối người vẫn có sự lệch lạc nào đấy chuẩn mực trung bình trong tính cách của người này người kia. Nhưng, nói chung, bộ đội ở trạng thái rất tốt. Sẵn sàng chiến đấu, và chết, nếu cần, nhưng phải đuổi được quân thù ra khỏi đất nước. Phải đuổi bọn nó xéo đi! Đặc biệt là các tập đoàn quân cận vệ. Khi đó trong lính xuất hiện khẩu hiệu: «Tiến đến Berlin! Từ Stalingrad đến Berlin!»



Sau đó có nhiều chuyện đùa vè chủ đề này. Một vị tướng đùa, nói nửa đùa nửa thật:



- Nào, chúng ta lấy Berlin chứ! Tôi muốn là tư lệnh Berlin.



Sự ao ước như thế phát sinh ở mỗi người. Con người chịu chịu đau khổ bởi chiến tranh, nhìn thấy bao nhiêu thảm hoạ mà chiến tranh mang đến, muốn chỉ ra cho kẻ thù thấy rf chiến tranh chỉ đem lại sự nghèo hàn và người phải trả giá cuộc chiến tranh này chính là người bắt đầu nó.



Người ta ra lệnh cho tập đoàn quân cận vệ №6 chui vào đất, đào hào chống tăng làm ba dải phòng thủ. Chúng tôi xây dựng sự phòng thủ ở độ sâu lớn trong trường hợp nếu kẻ địch, bắt đầu tấn công, chiếm các vị trí quân sự của chúng tôi. Vì thế sau nó cũng chuẩn bị sẵn sàng thêm ba tuyến phòng thủ, được trang tốt chừng mực nào có thể. Các ụ súng cũng được làm bằng gỗ đắp đất, và “cơ khí hoá” như thế bằng xẻng quân sự. Ở phía sau, chúng tôi xây dựng phòng tuyến của mặt trận Thảo nguyên, chống đỡ phía sau, còn sau nữa, theo sông Đông từ Lebedian tới Pavlovsk, kéo thêm một phòng tuyến phòng thủ quốc gia. Từ trước đến nay, chúng tôi chưa từng gặp cái gì tỷ mý như thế này. Công việc bộ đội làm là rất lớn. Không cần phải thuyết phục nhiều bộ đội chúng tôi. Họ tự hiểu tất cả. Những chiến sĩ lão thành, là “sói”, trải qua hai cuộc chiến tranh. Mọi người biết rằng càng xây dựng tốt phòng thủ chống tăng, càng có nhiều đường hào tốt, càng đặt nhiều pháo và súng máy, thì càng đỡ tốn máu lính xô viết và kẻ địch khó tiêu diệt chúng tôi.



Tướng Tchistiakov và tham mưu trưởng của ông Penkovski biết rõ công việc của mình và cũng tiến hành công việc lớn và hữu ích. Penkovski vẫn còn sống và khoẻ mạnh. Chúc ông sống và khoẻ mạnh 100 tuổi. Một người tốt và vị tướng am hiểu công việc của mình. Ông đảm nhận những trách nhiệm phức tạp và hoàn thành nhiệm vụ tư lệnh tập đoàn quân. Các tập đoàn quân khác cũng phòng thủ, nhưng không phải ở sâu như thế, chẳng hạn tập đoàn quân cận vệ №6. Chúng tôi thường đi đến tập đoàn quân này, nghe người chỉ huy báo cáo và kiểm tra, hàng ngày được dùng như thế nào cho việc mở rộng phòng thủ. Một lần chúng tôi đi đến gặp tướng Moskalenko. Ông ở trong một phòng nhỏ của gia đình nông dân, chiếu sáng hơi yếu. Thuộc hạ của ông, những người cần phải có mặt, ngồi trên những chiếc ghế dài, tựa như ở hội đồng hoàng gia trong cung Granovit, điện Kreml. Ở đó cũng đặt những ghế dài thuở xưa, khi họp các điền chủ. Sự im lặng bắt đầu. Moskalenko mở đầu báo cáo. Và bỗng nhiên vang lên tiếng ngáy. Vatutin lập tức giật mình, chú ý và mắt nhìn quanh những người đang ngồi dự. Ánh sáng lờ mờ, và khó nhìn rõ ai ngồi ở đâu. Vatutin theo âm thanh, xác định được hướng phát ra tiếng ngáy. Khi tiếng ngáy lặp lại đôi lần, vị tư lệnh nhìn thấy rằng tiếng ngáy té ra từ tham mưu trưởng tập đoàn quân Batiuni. Một vị tướng giỏi và một đồng chí tốt, nhưng đơn giản, ông buồn ngủ. Trong phòng ấm áp, thế là làm ông mệt lử. Vatutin thét lên:



- Batiuni!



Batiuni bật dậy, ngơ ngác. Báo cáo được tiếp tụ, nhưng Batiuni lại thiu thiu. Những tình tiết như thế xảy ra trong cuộc sống hàng ngày và đã mang sự hài hước và làm sống động.



Tháng tư, mà có thể là tháng năm, chúng tôi và ban tham mưu mặt trận dời từ Kazach (một điểm dân cư bắc Obian) và đặt ở đông nam Obian, tại một làng rất lớn. Việc củng cố phòng thủ vẫn tiếp tục, nhưng ban tham mưu cũng bắt đầu lo đến xử lý chiến dịch phản công. Đã xác định rằng nếu chúng tôi phản công chẳng hạn bởi tập đoàn quân cận vệ №6 ở Belgorod đến Kharkov, có nhĩa là từ bắc đến nam. Tham mưu trưởng mặt trận của chúng tôi là Ivanov. Một người rất đứng đắn, tận tâm vì công việc. Nhưng vì chính tư lệnh mặt trận Vatutin trước đây đã từng là sĩ quan tham mưu lớn hơn một chỉ huy, nên Ivanovу không dễ thể hiện tài năng của mình - tham mưu trưởng. Vatutin không những đưa ra chỉ thị, kế hoạch chiến dịch, mà còn thường ngồi ở bàn, lấy thước kẻ, bút chì, bản đồ, và bắt đầu kẻ những mũi tên và gạch chân. Tóm lại, Vatutin ôm lấy về mình công việc tham mưu trưởng, còn thỉnh thoảng thậm chí còn ôm cả công việc tác chiến. Tôi cho rằng cũng có mặt thuận lợi và không thuận lợi. Tất nhiên ông bị quá tải và ôm đồm công việc, lẽ ra là tham mưu trưởng và những sĩ quan ban tham mưu phải làm.



Như vậy, bắt đầu chuẩn bị chiến dịch tấn công. Đã có những phương án. Phương án tốt nhất là phản kích Belgorod. Tôi muốn lạc đề một chút. Tôi nhắc đến Ivanov. Thời kỳ 1959-1962, ông làm việc trong Bộ tổng tham mưu, phó tổng tham mưu trưởng. Và chúng tôi cách chức ông. Nhưng tôi khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên Xô. Tôi tiếc cho ông, nhưng tình hình phức tạp như thế, khi nghĩa vụ quốc gia đòi hỏi đi đến nạn nhân như thế, khi tất cả lòng kính trọng lớn của tôi với tướng Ivanovу. Bây giờ tôi không còn nhớ, công việc được kết luận cụ thể ra sao. Ông có những sai sót nghiêm trọng về tài liệu. Điều này xảy ra đúng lúc khi chúng tôi vạch mặt gián điệp Penkovski (như đã nhắc đến, còn người khác, một trung tá. Tôi đề nghị không lẫn lộn một người lính tự trọng, trung thành với tổ quốc với kẻ phản bội tổ quốc) Một điều gì đó xảy ra ở Bộ tổng tham mưu liên quan đến tài liệu, và đi đến loại Ivanov khỏi công việc. Điều này đặc biệt nặng nề đối với tôi, vì rằng tôi kính trọng ông trong quá khứ và đánh giá khả năng làm việc và say mê công việc của ông. Tôi không bao giờ nghi ngờ lòng trung thực của ông. Nhưng sự nghiệp quân sự đòi hỏi không phải chỉ có lòng trung thành, mà còn cả sự chính xác, đặc biệt ở công việc bí mật trong tham mưu. Có thể là trung thực, nhưng nếu không tuân theo các quy tắc cần thiết thì có thể mang lại thiệt hại, thậm chí тkhông mong muốn. Kẻ thù lợi dụng cả luộm thuộm, và sai sót khác của chúng tôi. Vì thế chúng tôi khi đó trừng phạt tướng Ivanov, chuyển ông về làm tham mưu trưởng ở Quân khu Siberi.



Tôi nhớ lại cả những tình tiết không đễ chịu khác. Nó liên quan tới thời kỳ trước đây phòng vệ tại Vòng cung Kursk. Chúng tôi và Vatutin tới gặp tư lệnh Chibisov. Tôi không thích báo cáo của Chibisov, và lời phát biểu của uỷ viên hội đồng quân sự của ông. Vấn đề họ nâng lên là thế này, dường như, người ta bổ xung cho họ những người Ukraina, trước kia từng ở lãnh thổ do Đức chiếm đóng. Những người đến là những người không được học hành, và thậm chí tệ hơn: đưa ra những điều buộc tội không tốt có đặc tính chính trị chống họ. “Trật tự trong quân đội ra sao - vị uỷ viên hội đồng quân sự nói - Chiến đấu. Nhưng sau chiến đấu thì mẹ, vợ, và chị em của người đã hy sinh đi đến chiến trường, và thu nhặt những xác người chết.



Tôi nổi giận:



- Đồng chí, điều này phụ thuộc vào anh. Anh buộc tội gì cho mọi người, chính họ cũng bị động viên vào lính? Chẳng dậy dỗ huấn luyện gì cả, lập tức ném những con người không có tổ chức này vào trận. Họ chết, họ chết trong danh dự. Nhưng cái việc vợ, chị và mẹ tới và nhặt xác người thân, đây là tự nhiên. Đó là trách nhiệm của các anh - đừng cho là như thế là làm tan rã tinh thần bộ đội.



Đặc biệt sự ngoan cố của uỷ viên hội đồng quân sự.



Khi chúng tôi và Vatutin đi khỏi, chúng tôi hội ý và quyết định, rằng vị uỷ viên hội đồng quân sự có tâm tư khá xấu, và chúng tôi cách chức ông ta và bổ nhiệm một uỷ viên mới hội đồng quân sự, người này phụ trách các vấn đề, thuận lợi cho ông ta, hiểu đúng hiểu và tổ chức công việc của mình. Những tâm tư như thế, đáng tiếc, phát sinh không những trong quân đội Chibisov. Lúc đó nói chung trong quân đội tới vòng cung Kursk, tất cả tham gia động viên, tăng số nhập ngũ ở dân chúng địa phương, và lúc ấy sinh ra một tâm tư là những người địa phương từng ở dưới sự chiếm đóng của phát xít - là loại người hạng hai. Từ cách nhìn này, xảy ra đấu tranh. Tâm trạng như thế, về thực chất, cũng là không đúng, và tai hại. Chúng tôi chuẩn bị tấn công, giải phóng toàn bộ Ukraina. Hoàn toàn, chúng tôi được bổ xung từ những người được động viên mà những người này từng ở vùng Đức chiếm đóng. Những người này, sau này, cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh bại quân thù. Nguồn chính bổ xung cho bộ đội chúng tôi khi tấn công nói chung là “dự trữ địa phương”. Phương pháp như thế vẫn thịnh hành.



Chiến dịch tấn công đã được soạn thảo. Đã tính toán cần dùng lực lượng nào và vũ khí nào, dự trữ vật chất cần thiết để đột phá qua Belgorod đến Kharkov. Chúng tôi và Vatutin báo cáo cho Stalin. Stalin nói:



- Bay đến đây!



Trước khi báo cáo cho Stalin, công việc chuẩn bị của chúng tôi đã được Tổng hành dinh nghiên cứu và chỉnh lý, còn sau khi báo cáo, thường coi là văn bản cuối cùng. Chúng tôi đệ trình Stalin. Ông cảm thấy mình khang khác, toát ra sự tự tin. Tôi nói rằng trong thời gian này Stalin vui vẻ nhận báo cáo, chứ không phải như những năm trước đây. Và chính ông cũng thể hiện sự hiểu biết tình hình đúng hơn và quan hệ đúng hơn mà vấn đề mặt trận đặt ra. Người ta cho thời hạn 12 ngày - 20 tháng 6 - và ra lệnh chuẩn bị bắt đầu cuộc tấn công. Hướng chúng tôi lựa chọn được tán thành. Thêm nữa, vấn đề cơ bản lại có vẻ “mua bán”: chúng tôi có thể nhận bổ xung như thế nào để tiến hành chiến dịch này? Đúng là luôn luôn như thế vậy. Các đòi hỏi mà các tư lệnh đưa ra, hoàn toàn không bao giờ được thoả mãn. Chúng tôi đòi nhiều, nhưng người ta không thoả mãn tất cả. Tuy nhiên người ta cũng nói với chúng tôi: Đấy, lực lượng của các anh đấy, hãy sắp xếp nó, còn sau lưng các anh sẽ có dự bịcủa Bộ chỉ huy tối cao.



Với chiến dịch vòng cung Kursk, tôi tính rằng, cả ban tham mưu mặt trận, và Tổng hành dinh phải được chuẩn bị tốt. Chúng tôi rất hài lòng về cuộc thảo luận với Stalin và kết quả báo cáo. Bây giờ tôi không nhớ, vì sao cuộc tấn công của chúng tôi được ra lệnh đúng vào ngày 20 tháng sáu. Điều đó, hình như là do chúng tôi có thể nhận tất cả những gì cần thiết cho hạn đã nêu. Stalin nói với chúng tôi rằng mặt trận trung tâm Rokossovski sẽ tiến hành tấn công trước thời điểm đó 6 ngày, còn sau đó chúng tôi bắt đầu chiến dịch của mình. Tôi nhớ điều này vì rằng quân đoàn pháo hạng nặng dự bị của Bộ chỉ huy tối cao ban đầu dưa cho Rokossovski để đảm bảo đột phá mặt trận địch, còn khi ông làm xong việc của mình, thì sang theo lệnh của chúng tôi và sẽ cùng phối hợp tấn công. Vả lại, pháo cũng không phải của mặt trận trung tâm, mà là chẳng mặt trận bắc Briansk. Tôi cũng nhớ rõ cả tướng Korolkov, tư lệnh quân đoàn đã nêu. Ông làm tôi rất hài lòng. Sau này tôi gặp ông ở Kiev được giải phóng. Ở đó ông cũng chỉ huy quân đoàn pháo.



Còn lúc này chúng tôi tiếp tục để bộ đội phòng thủ và củng cố lực lượng, thống nhất cả hoạt động của bộ đội tại đường giáp ranh giữa các mặt trận. Chẳng hạn, chúng tôi tiến hành thảo luận với mặt trận phía nam. Họ đóng ở một khu rừng sồi. Chúng tôi đi đến đó, và Malinovski và các tướng lĩnh của ông cũng đến. Lập tức chúng tôi nhận xét rằng trong rừng không có lá cây: tằm đã ăn hết lá. Vì thế máy bay có thể nhìn thấy hết tất cả: không cách nào bảo vệ được. Tư lệnh tập đoàn quân của khu vực mà chúng tôi tiến hành thảo luận, nói:



- Kết thúc thảo luận, tôi sẽ đến đó. Tôi ngờ rằng có thể quân Đức và tấn công và diệt ban tham mưu của tôi.



Trong thảo luận, chúng tôi trao đổi những suy nghĩ và cùng nhau bàn việc phối hợp hoạt động tại đường giáp ranh các mặt trận để địch không thọc sâu vào chỗ đóng quân của chúng tôi.



Trước khi chúng tôi tấn công, Tổng hành dinh cử Zukov và Vasilevski đến. Chúng tôi đi với hai ông đến các tập đoàn quân. Chở đạn dược và đưa tới các binh đoàn theo kế hoạch, đã được thông qua để tiến hànhchiến dịch và được thực hiện ít nhiều kịp thời. Chúng tôi chở đại diện Tổng hành dinh từ bản doanh ban tham mưu họ ở đông nam Obian. Bản doanh này đóng ở đó một tháng hoặc hơn. Lúc ấy kỷ luật chưa được tuân thủ nghiêm ngặt: tại bản doanh của ban tham mưu xuất hiện nhiều ô tô khác nhau, và kẻ địch, trinh sát bằng máy bay, nhận thấy ở đây có thể một ban tham mưu nào đấy trú ngụ. Chúng tôi cảm thấy quân Đức tăng cường trinh sát bằng máy bay. Máy bay Đức bắt đầu bay trên đầu bản doanh ban tham mưu. Bởi vì chúng tôi đã chuẩn bị một điểm dự phòng trong vùng bắc Prokhorovk, chúng tôi quyết định rời ban tham mưu. Các sĩ quan tham mưu cảnh báo mọi người buổi sáng khi trời hửng sáng chuyển đến chỗ mới. Một số “ông chủ” của chúng tôi chuyển đi sớm hơn để trong khi di chuyển không tạo ra một đoàn xe lớn mà máy bay địch có thể để ý. Chúng tôi và Vatutin cũng chuyển đến một nông trang cách đó 2, 3 km. Dựng lên ở đó những tấm ván tạm thời. Những con mọt, và rệp thật đáng sợ! Đó là một loài thú dữ tương đối nhỏ đối sống trong các nhà gỗ bỏ hoang, bị đói khát, còn bây giờ thì chúng cắn chúng tôi, hút máu chúng tôi. Quanh nông trang có một cánh rừng nhỏ, một rừng cây sồi nằm thấp dưới. Nhạc sĩ khi hát bài “hoạ mi nâu” “Hoạ mi, hoạ mi ơi, đừng làm phiềnь lính nhé”, tôi luôn luôn nhớ cánh rừng này: bao nhiêu là hoạ mi! Vương quôsc của hoạ mi. Trong trường hợp bị máy bay tấn công, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn cho mình một căn hầm trong cánh rừng này và bố trí những thứ cần thiết cho sinh hoạt của ban tham mưu để không bị mất sự chỉ huy quân đoàn, không bị mất liên lạc. Hầm của Vatutin, của tôi và của một số những nhân vật khác cũng nằm ở cánh rừng này.



Chỉ có chúng tôi đóng ở chỗ mới, thậm chí một số người vẫn còn ở chỗ cũ. Người ta kể rằng hửng sáng hôm sau, máy bay địch và ném bom chỗ cũ của ban tham mưu. Không có thiệt hại, trận ném bom không có kết quả. Làng bị máy bay địch tàn phá, nhưng không hoàn toàn. Nhưng sau một hai ngày, chúng tôi bắn rơi một máy bay trinh sát Đức và tóm được phi công. Chúng tôi và Vatutin thẩm vấn chúng. Tôi hỏi phi công:



- Anh đã ném bom một điểm dân cư như thế phải không?



Còn chúng tôi bắn rơi máy bay của hắn đúng ngay ở điểm mà trước đây đặt ban tham mưu của chúng tôi



- Đúng, tôi có tham gia.



- Anh nhận nhiệm vụ gì?



- Họ nói cho chúng tôi rằng ở điểm dân cư này có một ban tham mưu bự của Nga.



Đấy, việc xảy ra như thế. Sau đó chúng tôi thường nhớ lại, linh cảm đã cứu chúng tôi.



Trong quân sự nói chung có một nguyên tắc, ngay lúc ban tham mưu đóng ở một chỗ nào đấy, lập tức phải chuẩn bị một chỉ huy sở dự phòng. Lần này chúng tôi chọn một vài chỗ ở phía bắc ban tham mưu. Cũng lựa chọn cho mình một cánh rừng và điều đến đó một tốp xạ thủ. Trước thời điểm cuộc tấn công vào bọn Đức ngày 5 tháng sáu 1943, chỉ huy sở này đã sẵn sàng. Theo kế hoạch, chúng tôi đến đó trước lúc tiến hành chiến dịch, được cố định vào ngày 20 tháng sáu: chúng tôi muốn chỉ có ở đó mặt trước khi tấn công để kẻ địch không phát hiện được nơi đóng quân mới ban tham mưu. Từ đó, chúng tôi có thể tự tin hơn, bằng sự liên lạc được đảm bảo chỉ huy quân đội.



Tôi không nhớ, ai nghĩ ra, hoặc Tổng hành dinh nghĩ ra, một lần nữa chúng tôi về Moskva, gặp Stalin. Tôi đề nghị cho tướng Popel làm uỷ viên hội đồng quân sự một tập đoàn quân. Tôi quen Popel trong những ngày đầu của hiến tranh, khi ông là chính uỷ một quân đoàn, do tướng Riabysev chỉ huy. Tôi rất thích Popel ở tính bình tĩnh, tài năng và lòng dũng cảm. Năm 1941 ban tham mưu quân đoàn cơ giới chia đôi. Riabysev một phần, và Popel một phần. Họ tự thoả thuận tỷ lệ: Riabysev nêu câu hỏi, nghi ngờ, bắt chính Popel trả lời xem ông có phải kẻ thù mạo danh không. Riabysev, tên con giá Popel là gì, và cái gì xảy ra với cho chó đực của ông. Cuộc nói chuyện mất thời gian như thế. Câu chuyện này lan truyền trong giới chỉ huy và nhiều lần được lặp lại ở chỗ Stalin. Chúng tôi đùa, nhưng khả năng nhận dạng, theo thực chất, lại đúng. Bây giờ tôi vẫn đề nghị xin Popel Stalin đồng ý.



Khi chúng tôi còn ở Moskva, người ta nói rằng chúng tôi sẽ nhận đưa vào chiến đấu tập đoàn quânxe tăng №1, do tướng Katukov chỉ huy. Chúng tôi rất sung sướng về điều này. Trước đâym tôi chưa gặp Katukov, nhưng biết ông qua công việc. Ông được coi là một lính tăng giỏi, một người lính trung kiên, hiểu biết kỹ thuật, một chỉ huy có tài tổ chức. Khi báo cáo cho Stalin tình trạng quân đội của mình, ông hỏi:



- Thưa đồng chí Stalin, tôi đề nghị, cho tôi uỷ viên hội đồng quân sự Popel.



Stalin lập tức ngó nhìn cho tôi. Katukov nói:



- Tôi biết Popel, và ông ta biết tôi. Chúng tôi tin và hiểu lẫn nhau. Tôi đề nghị ông, cho tôi xin Popel.



Stalin:



- Ừ, chúng tôi cho anh Popel.



Và Stalin quay sang tôi:



- Còn anh đi tìm người khác đi.



Và chúng tôi tìm được người khác: Krayniukov, một uỷ viên hội đồng quân sự giỏi, đang nằm ở tập đoàn quân khác của mặt trận chúng tôi.



Tập đoàn quân xe tăng №1 đến. Đội hình của nó có khoảng một nghìn xe tăng và chưa kể đến lính mô tô. Sự thật lính mô tô không nhiều. Chúng tôi bố trí nó vào chỗ đóng quân tập đoàn quân cận vệ №6 để tạo ra chiều sâu phòng vệ, không những bằng những vũ khí chống tăng mà còn vũ khí dã chiến. Chúng tôi quyết định bố trí tập đoàn quân xe tăng tại một chiều sâu nhất định và đào hầm cho xe tăng của Katukov đề phòng kẻ địch chọc thủng và đâm vào những chỗ phòng thủ vắng vẻ. Chúng tôi quyết định dùng xe tăng hầm pháo, nhưng có khả năng di động. Chính là xe tăng có thể chạy được. Chúng tôi để hở nóc xe. Điều này làm xe điều khiển tốt. Katukov lý giải việc sử dụng lực lượng của mình và ông đóng vai trò rất lớn cuộc tấn công vòng cung Kursk đánh bại phát xít.



Chúng tôi đã có thêm sức mạnh của xe tăng ở dạng một quân đoàn độc lập. Khi chúng tôi nhận lực lượng này trước thời điểm cuộc tấn công kẻ địch, thì chúng tôi có khoảng hai nghìn rưỡi xe tăng. Quả là khá mạnh! Trinh sát báo cáo rằng địch cũng có số lượng xe tăng chừng đó. Như thế là trên một vùng đất hẹp của mặt trận, cả hai bên có hơn bốn nghìn nghìn xe tăng. Chưa nói tới pháo, chúng tôi cũng có không ít. Nhưng pháo của bọn Đức pháo lại còn nhiều hơn. Tôi không nhớ tất cả các con số mà trinh sát báo cáo. Nhưng chúng tôi vẫn chờ. Còn 15 nữa mới bắt đầu chiến dịch. Chúng tôi tin rằng cuộc tấn công của chúng tôi sẽ thành công, chúng tôi sẽ quét sạch quân thù ở đây và đẩy chúng về phía Tây, giải phóng Kharkov và tiến đến sông Dnepr. Nguyện vòng này đơn giản vì đã chịu nhiều khổ đâu rồi.



Bỗng nhiên, có chuông gọi từ tập đoàn quân cận vệ №6: tư lệnh báo cáo rằng tại vùng giáp ranh có một lính Đức từ tập đoàn quân SS chạy sang. Những sư đoàn SS khác cũng ở đấy. Tôi nói với Vatutin rằng tôi từng bị những sư đoàn “đầu lâu” truy đuổi. Theo vị tư lệnh, người lính Đức này tin rằng dường như sáng mai, 5 tháng sáu lúc 3 sáng, quân Đức tiến hành tấn công. Chúng tôi ra lệnh đưa người lính tới. Chúng tôi hỏi cung anh ta. Anh ta luôn lặp lại. Chúng tôi hỏi:



- Tại sao anh nghĩ vậy?



Anh ta trả lời:



- Tất nhiên, tôi không nhìn thấy mệnh lệnh tấn công, nhưng tôi có linh cảm người lính và tin tức của người lính. Thứ nhất, tất cả chúng tôi đã nhận khẩu phần lương khô 3 ngày. Thứ hai, xe tăng được đưa đến sát đường ranh giới. Thứ ba, đã có lệnh đặt lữ đoàn pháo trực tiếp cạnh vú khí. Người ta chuẩn bị tất cả để không có cái gì bị chậm trễ cả.



- Nhưng cớ gì anh nói là vào lúc 3 giờ sáng? Tại sao lại chính xác thế?



- Điều này, chính các ông có thể nhận xét. Nếu chúng tôi tấn công, thì trong thời gian này luôn luôn vào ba sáng, nghĩa là từ lúc bắt đầu hửng sáng. Tôi tin rằng sẽ như tôi thông báo cho các ông.



Người lính đào ngũ này là một thanh niên trẻ, đẹp trai, trí thức, được chăm sóc, rõ ràng không phải xuất thân từ công nhân. Tôi hỏi anh ta:



- Vì sao anh chạy qua đường mặt trận và thông báo cho chúng tôi về cuộc tấn công, mà chính anh lại là lính SS? Hiểu điều này ra sao? Anh là Nazzi cơ mà.



- Không, tôi không phải Nazzi, tôi chống Nazzi, vì thế tôi chạy sang phía các ông.



Tôi nói với anh ta:



- Bọn SS thường tuyển chỉ những người Nazzi?



- Không, đó là trước đây, những năm đầu và năm thứ hai chiến tranh, thì như thế, còn bây giờ họ lấy tất cả những ai mà vừa mắt. Họ lấy tôi vì tôi trông cao ráo và vẻ ngoài giống chủng Arial. Thế là tôi vào lính SS. Nhưng tôi chống chủ nghĩa dân tộc. Tôi là người Đức, nhưng cha mẹ tôi người vùng Elzat. Chúng tôi được nuôi dưỡng bằng văn hoá Pháp, và vì thế chúng tôi không như bạon Nazzi. Cha mẹ tôi chống chủ nghĩa dân tộc, và tôi cũng vậy. Tôi quyết định dứt khoát và bỏ chạy để không phải tham gia vào cuộc tấn công này, không đặt đầu của mình dưới làn đạn của các ông vì lợi ích của Hittler. Vì thế tôi bỏ chạy. Tôi nói tất cả điều này một cách thẳng thắn vì tôi muốn Hittler thất bại. Điều này sẽ vì lợi ích của nhân dân Đức.



Chúng tôi gọi về Moskva và cảnh báo về những tin tức nghe được. Sau đó Stalin gọi tôi. Tôi không biết, trước đó liệu ông đã nói chuyện với Vatutin chưa. Vào những lúc này, chúng tôi mỗi người chạy một nơi. Đôi lúc Stalin gọi điện cho tôi trước, lúc khác lại gọi tư lệnh trước. Không có “trật tự” nào cả, và cũng chẳng thể. Tôi mong mọi người hiểu đúng tôi: dường như, Stalin gọi điện cho Vatutin. Nói rằng, Khrusev lại tự khoe mình. Không, tôi không tự khoe mình. Chính tôi là uỷ viên hội đồng quân sự mặt trận và là uỷ viên Bộ chính trị BCHTƯ Đảng. Stalin biết rõ tôi, thậm chí dù ông nổi khùng ở thời điểm đất nước gặp khó khăn, khi ông gây oan ức cho tôi và những người khác, khi ông tìm “con dê tế thần”.



Nhưng lúc đó bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐCS(b) Ukraina, uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên hội đồng quân sự mặt trận. Ông trút tất cả lỗi cho người khác. Nhưng không nhận về mình sự thất bại của tổng tư lệnh tối cao, mà chúng tôi phải chịu đựng những thất bại ấy đến tận. Nhưng bây giờ người ta rũ sạch sự thất bại của chúng tôi.



Về nguyên tắc Stalin tin tôi. Ông thường gọi điện cho tôi và hỏi ý kiến tôi. Cũng như thế ở Stalingrad, và ở miền nam, và ở vòng cung Kursk. Ở vòng cung Kursk, một trận đánh có tính chất quyết định, bản lề, xác định chiều quay lịch sử chiến tranh có lợi cho Hồng quân, và hơn nữa chiều kim này không thay đổi hướng, chắc chắn chỉ ra con đường thất bại hoàn toàn của Đức Hittler, con đường vinh quang của nhân dân chúng tôi. Hồng quân, hệ tư tưởng xô viết, ĐCS chúng tôi!



Khi Stalin gọi, tôi nói với ông một lần nữa tin tức người lính Đức thông báo cho chúng tôi bộ đội Đức. Ông lắng nghe hết sức bình tĩnh, và tôi vui lòng; ông không thể hiện sự thô lỗ, hoặc cáu gắt. Thường thường ông là người cục cằn, thô lỗ thậm chí cả trong lúc tâm lý tốt. Có trời mà biết vì sao thế. Dường như có một người nào đấy его thường xuyên ai đấy làm ông rối mù liên quan tới sự căng thẳng thần kinh, và làm ông mất thăng bằng. Mặc dù có lần, ông có khả năng tự kìm chế được và che đậy tâm trạng của mình. Và điều này điều khác ở ông đã phát triển ở mức mạnh. Tất cả điều này xuất hiện thường xuyên: lúc thế này, lú lại ngược lại. Nhưng ông làm chủ mình khi ông muốn. Tóm lại, đây là một cá tính mạnh, một con người mạnh.



Stalin hỏi tôi:



- Anh ở đó cảm thấy tình hình ra sao? Anh tin như thế nào vào thành công?



Tôi trả lời:



- Chúng tôi và tư lệnh trao đổi suy nghĩ và thống nhất rằng chúng tôi cảm thấy rất tự tin. Chúng tôi thậm chí hài lòng nếu quân Đức sáng mai tấn công.



- Vì sao?



- Vì rằng bọn Đức lao vào chỗ phòng thủ của chúng tôi rất mạnh, và chúng tôi thực sự tin rằng chúng tôi trên tuyến phòng thủ sẽ chặn quân thù. Chúng tôi lúc ấy chưa đủ lực lượng để tấn công, chúng tôi vẫn chưa nhận các thứ theo kế hoạch trước 20 tháng sáu. Vì thế bản thân chúng tôi chưa sẵn sàng tấn công, nhưng phòng thủ thì được chuẩn bị sẵn sàng: có thể phòng thủ cả khi lực lượng nhỏ hơn. Điều này chúng tôi cũng học được trên thực tế, mà không phải là lý thuyết. Vì thế chúng tôi vững như vậy. Được, kẻ thù sẽ tấn công, còn chúng tôi sẽ chiến thắng chúng.



- Chúng tôi cũng có những bằng chứng là sáng mai bắt đầu cuộc tấn công chống chúng ta.



Cuộc nói chuyện kết thúc.



Theo kế hoạch đầu tiên quân của Rokossovski phải tấn công, sau một thời gian nào đó, đến lượt chúng tôi. Quân đoàn pháo dự bị của Bộ chỉ huy tối cao cũng chiếm vị trí phía bắc. Nhưng kẻ địch bắt đầu tấn công chúng tôi và Rokossovski đồng thời. Như thế, Rokossovski tỏ ra trong tình thế thuận lợi. Bởi vì theo kế hoạch, ông phải tấn công trước, nên cũng đầu tiên nhận tiếp viện, và đạn dược, và tất cả các thứ còn lại. Vì cái gì mà tôi vin vào điều này? Để độc giả hiểu, vì sao это xoay chuyển trong một thời kỳ nào đó chống tôi và Vatutin. Kẻ địch, khi tấn công, đột phá vào hướng chúng tôi sâu hơn hướng của Rokossovski, nơi đã được chuẩn bị tốt hơn. Nhưng chúng tôi vẫn còn 15 дней trước cuộc tấn công theo kế hoạch; Theo kế hoạch, chúng tôi có quỹ thời gian. Và bỗng nhiên thời gian bị cắt ngắn, kẻ thù ra tay trước chúng tôi.



Ai chỉ huy quân đội trên mặt trận chúng tôi? Tư lệnh pháo binh là tướng Varensov, tham mưu trưởng mặt trận - Ivanov, tư lệnh phòng không - tướng Krasovski. Hôm qua xem trên TV buổi trao tặng Huân chương Cờ Đỏ cho Học viện phòng không mang tên Gagarin, tôi nhìn thấy nguyên soái không quân Krasovski béo ra. Ông đã ngoài 70, nhưng ông vc lãnh đạo Học viện... Ai chỉ huy quân đoàn thiết giáp? Năm 1942 là một người Armenia, một vị tướng giỏi. Sau đó không rõ vì cái gì người ta bắt ông và, theo tôi, đem bắn. Tôi đánh giá rất cao những hoạt động của ông và kính trọng. Họ của ông - Tamruchi. Có lần tôi hỏi ông:



- Theo cái họ này, ông là người Ý hoặc Hy Lạp?



Ông nhạo báng:



- Người Armenia, thưa đồng chí uỷ viên hội đồng quân sự.



Nói chung mặt trận chiến đấu của chúng tôi khi đó có một nhóm đông người Armenia. Nhiều tướng giỏi.



Sau đó Stevnev trở thành tư lệnh bộ đội tăng-thiết giáp. Ông chết, và ở mức độ nào đấy do lỗi riêng. Ông phải đi thêm một số kilomet khỏi con đường mà ông đang đi, vì rằng con đường ông chọn cắt qua một chỗ khác bị pháo địch bắn phá. Nhưng ông, phẩy tay, nói:



- Cứ vụt qua đi!



Và ông không qua được. Pháo địch bắn đúng trực diện vào ông. Stevnev cũng là một tướng giỏi. Nói chung tư lệnh tăng-thiết giáp và những người khác mà tôi gặp, đều xứng đáng với trách nhiệm, hiểu công việc và làm chủ vũ khí. Và tôi giận mình không nhớ họ tên tư lệnh quân đoàn tăng thiết giáp mặt trận Voronez. Nhưng thỉnh thoảng cái họ tên ấy vụt qua óc tôi...



Chúng tôi và Vatutin, suy nghĩ kế hoạch giáng trả cuộc tấn công của Đức, thảo luận với tư lệnh tập đoàn quân cân vệ №6 Tchistiakov. Tchistiakov đề nghị:



- Lúc 21.00 chúng tôi sẽ làm pháo kích vào vị trí kẻ địch, để chúng bị tổn thất trước khi tấn công chúng ta.



Tôi phát biểu như thế này:



- Tốt nhất là đừng pháo kích vào lúc 21.00. Chúng ta tiến hành pháo kích được bao nhiêu lâu nếu tính đến dự trữ đạn? Chỉ một số phút. Chúng ta không thể bắn lâu được, phí đạn. Để đạn đến hôm sau, khi kẻ địch bắt đầu tấn công. Nhưng khi ấy chúng ta sẽ bắn chỉ theo diện. Tiêu tốn đạn không lợi lắm. Chúng ta sẽ pháo kích, nhưng vào một vài phút trước khi quân địch tấn công, khoảng 3 giờ.



Tôi thay đổi suy nghĩ như thế này: trong thời gian ấy, quân địch sẽ ở vị trí xuất phát, mà không ngồi trong đường hào, và không che phủ; pháo binh của địch cũng ở vị trí của mình bên cỗ pháo. Tất cả lính địch sẽ chui lên khỏi mặt đất trong trận địa hở chờ tín hiệu hoạt động. Nếu trong thời gian này mà pháo kích tốt thì chúng tôi có được hiệu quả tốt, gây cho địch tổn thất về người và một phần vũ khí của chúng. Chắc chắn, khi ấy phá huỷ khi ấy cả sự liên lạc, cái đó có giá trị nhiều khi tiến hành chiến dịch. Vatutin đồng ý với tôi. Chúng tôi cũng quyết định vào trận như thế, và chờ đợi đến 3 giờ.



Tôi muốn tả lại trận sống mái quyết định của hai bên vào năm 1943 tại hướng chúng tôi, trận thư hùng này có ý nghĩa quân sự rất lớn và có kết quả trực tiếp trở thành lịch sử không những đối với chúng tôi, mà nói chung đối với tất cả Hồng quân và số phận Liên Xô. Tôi muốn nói hết tất cả chúng tôi, và tôi trong số này, đã chịu đựng như thế nào đọc trên một số tờ báo rằng tại địa đầu mặt trận có tổ chức hoà nhạc cho bộ đội, rồi nghệ sĩ nào đấy và nhà văn nào đấy phê bình này kia. Trước đây những điều này thuộc về quân đội mặt trận phía tây, hầu như đứng tại chỗ, bảo vệ Moskva năm 1942 và năm 1943. Chúng tôi phát sinh lòng ghe tỵ với họ và sự không hiểu biết: chiến tranh đang tiếp diễn, còn họ họ nghe hát, nhảy? Năm 1942 tại hướng nam, chẳng có hát và nhảy. Đầu cất không nổi, để lên trời, vì kẻ địch luôn tiến hành tấn công, đem cho chúng tôi những tổn thất lớn và chúng liên tục tiến lên phía trước. Chúng tôi cũng phòng thủ, rút lui, thỉnh thoảng cũng bỏ chạy. Địch dồn chúng tôi đến sông Volga và chúng tiến suýt nữa đến Kaspia. Chỉ có bây giờ, trước cuộc tấn công bọn Đức ngày 5 tháng sáu, và chúng tôi chút ít nếm náp thành quả giải trí, khi đứng ở vị trí phòng vệ và tiến hành công việc phòng thủ vị trí của mình. Trung ương cũng cử người đến, cũng làm báo cáo Lúc đó thành lập nhóm những người báo cáo - “những diễn giả bốc lửa”.



Thế là “những diễn giả bốc lửa” cũng đến chỗ chúng tôi. Nhưng lửa cần phải sáng lò rèn để nhìn rõ được. Không phải mọi người đều nhận ra được. Nhưng, đằng nào cũng thế, người báo cáo được coi là bốc lửa! Tôi không biết, ai nghĩ ra cách trình diễn này: “diễn giả bốc lửa”.



Sau đó cả nghệ sĩ, dàn nhạc cũng đến. Tóm lại, tiến hành công tác văn hoá quần chúng.



Khi đó Cục trưởng Cục chính trị mặt trận là tướng Satinov. Tôi biết rõ Satinov khi còn công tác ở Moskva. Ông làm ở Nhà máy đồ điện, tham gia những hoạt động tuyên truyền, sau đó làm việc đảng bộ thành phố hoặc ở đảng uỷ khu Stalin. Tóm lại, đây là một cán bộ Đảng Moskva. Nhưng sau này ông trở thành cục trưởng cục chính trị mặt trận chúng tôi, và tất cả công tác tuyên truyền quần chúng ở mức độ đáng kể nằm trong tay ông ta. Chỉ có năm 1943 tôi có thể hiểu, nghĩa là - đứng lâu trong phòng tuyến - người ta trình diễn những khả năng đối với tổ chức Đảng công tác tuyên truyền trong lính.



Ngày 4 tháng sáu. Vụ việc xảy ra vào buổi chiều. Chúng tôi và Vatutin nóng vội chờ giờ tận số, mà Hittler đặt ra đối với mặt trận chúng tôi. Tôi có thể khi đó всnhớ tướng Tupikov. Khi ban tham mưu mặt trận năm 1941 đóng ở Kiev và máy bay Đức ném bom chỗ đóng quân của ông, tham mưu trưởng Tupikov, đang đi đi lại lại trong phòng, đang lẩm nhẩm hát một khúc ca chẳng bản nhạc kịch Chaikovski:



- Ngày tương lai chuẩn bị cái gì cho tôi?



Bây giờ cả chúng tôi và Vatutin có thể cũng cuốn hút khúc ca này. Tất nhiên chúng tôi tin rằng ngày tương lai chúng tôi chuẩn bị thành công. Nhưng, như người Ukraina nói, chưa làm được đã vội khoe. Vì thế đương nhiên có sự báo động về sự sắp bắt đầu cuộc tấn công của kẻ thù, lúc đầu chúng tôi chặn nó, còn sau đó chuyển sang phản công.



Ba giờ kém 5 phút, Varensov ra lệnh pháo kích vào các vị trí của địch, nã bao nhiêu là đạn từ tất cả các cỗ pháo đặt ở tập đoàn quân cận vệ №6 và №7. Chúng tôi biết kết quả muộn hơn. Nhưng đúng 3 giờ sáng, tính chính xác của người Đức “không đưa đến”: Đất rung chuyển, không khí đặc quánh. Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nhìn thất như thế này. Tôi đau khổ rút lui, và chính chúng tôi tấn công, nhưng hoả lực như thế này trước đó chưa từng. Sau này bản thân chúng tôi cũng nổ súng, có thể như thế này hoặc mạnh hơn. Nhưng năm 1943, phải công nhận rằng kẻ địch tổ chức chuẩn bị pháo cực kỳ mạnh. Máy bay của địch cũng không kích vị trí tiền duyên của chúng tôi. Quân Đức sử dụng máy bay trong những giờ đó vào lúc tảng sáng để bẻ gãy sự chống cự của chúng tôi, đánh tan tác sự phòng thủ của chúng tôi, xới lộn đất lên và dọn sạch đường cho xe tăng lao chạy đến Kursk và bao vây bộ đội xô viết bên trong vòng cung. Họ muốn lặp lại hoặc thậm chí thực hiện ở mức độ lớn hơn như đã làm với bộ đội chúng tôi năm 1942 trên hướng Barvenkovo-Lozovaia.



Sau này, khi chúng tôi tấn công, đánh bại sư đoàn tăng của địch và tóm được ban tham mưu của nó, tên tư lệnh sư đoàn này ẩn trong đống luá mỳ. Chúng tôi không tìm thấy nó, mặc dù cố gắng săn đuổi hắn. Bù lại lấy được tài liệu tham mưu và bản đồ. Trên đó đánh dấu chỗ đóng quân của các đơn vị của chúng tôi và cắm một lá cơ đuôi nheo ở chỗ đặt ban tham mưu Mặt trận Voronez. Nghĩa là, kẻ thù biết chỗ đóng quân ban tham mưu chúng tôi, nhưng không ném một quả bom nào, không cho một chiếc máy bay nào đến ném bom. Tôi giải thích điều này là quân Đức tin tưởng vào thành công và phớt lờ sự thật rằng ban tham mưu đang ở trạng thái bình thường tiến hành công việc, những hoạt động của nó không bị hoảng loạn và liên lạc không bị tàn phá. Địch cho rằng điều chủ yếu - phá huỷ các vị trí phòng thủ, bẻ gẫy khu vực phía trước, đánh tan bộ đội chúng tôi và dọn sạch đường cho xe tăng của họ, còn tất cả các thứ khác còn lại sẽ tự bị sụp đổ. Quả là, họ hung dữ tiến lên phía trước, sử dụng mọi cơ hội, đặt tất cả lên bàn cờ để giải quyết nhiệm vụ đặt ra.



Mặt đất rung lên từ các mảnh đạn và bom, không khí ầm ầm từ tiếng rú của máy bay ném bom và máy bay tiêm kích bảo vệ. Bộ đội chúng tôi sẵn sàng đánh trả. Trận đánh bắt đầu, một trận đánh nặng nề. Quân Đức xung phong, như là chỉ có họ làm được điều này, họ là những người có kỷ cương, kỷ luật. Hay là họ sử dụng một phương tiện bùa mê đối với lính của mình (về điều này nhiều người khi đó đã nói), nhưng sự ngoan cường trong tấn công thể hiện rất lớn. Bộ đội chúng tôi ban đầu giữ vị trí của mình. Tuy nhiên hoả lực dần dần phá vỡ thậm chí cả thép, mà còn những người ẩn trong lòng đất. Và đầu tiên dải phòng thủ bị đột phá. Chúng tôi thấy trước điều này. Vì thế đã xây dựng ba dải phòng thủ. Chúng tôi còn dải thứ hai và thứ ba. Vì thế bắt đầu trận đánh, chúng tôi không thất vọng. Chúng tôi biết quân địch cho nhiều lính và vũ khí, kỹ thuật đột phá tuyến trước. Không hề có chuyện bộ đội ta tháo chạy. Bộ đội ta chiến đấu đến người cuối cùng, chết, nhưng không chạy. Ở đây xã hội chủ nghĩa anh hùng thực chất, không phải là báo chí, mà là thực sự.



Vasilevski bay đến chỗ chúng tôi. Hình như, vào ngày thứ hai cuộc tấn công của Đức. Chúng tôi luôn luôn gặp ông lịch thiệp, vì rằng đây là một người có những tính cách đặc biệt. Nói chuyện với ông rất dễ chịu: ông không cao giọng, không quát mắng, còn ông dẫn dắt cuộc nói chuyện luôn luôn không phải nói chung chung, nhưng theo thực chất tình hình. Cảm thấy sự hiểu biết nhân văn dễ chịu, tình người trong quan hệ, đặc biệt trong những phút khó khăn phòng vệ. Giữa lúc ấy, chúng tôi bắt được một số tù binh. Người ta báo cáo tôi rằng trong số tù binh có cả một sĩ quan pháo binh. Tôi nói với Vasilevski:



- Chúng ta đi hỏi cung nó nhé!



Người ta dẫn đến một người trẻ tuổi. Tôi hỏi:



- Anh đã sơ suất thế nào và bị bắt làm tù binh?



Anh ta trả lời:



- Thật quả là phức tạp, tôi nhìn kém, tôi bị u mê đi, chuyển qua hào chống tăng vào pháo của mình, còn bộ binh của ông bắt tôi làm tù binh.



Sau đó tôi nêu câu hỏi cho anh ta về các vấn đề khác. Anh ta hiểu rằng tôi muốn được nghe anh ta kể về thành phần quân Đức và các vấn đề khác mang tính quân sự để chúng tôi có thể sử dụng. Lúc đó anh ta ngó nhìn tôi và nói:



- Tôi là một sĩ quan Đức và yêu cầu đừng nêu câu hỏi về những vấn đề như thế với tôi. Tôi không trả lời một vấn đề nào đâu, có thể dùng làm hại Đức.



Và chúng tôi và Vasilevski nêu câu hỏi với anh ta nữa, nhưng nói:



- Anh sẽ được đưa đến chỗ theo dõi.



Anh ta khiếp sợ. Có lẽ, nghĩ rằng điều này có nghĩ là đem bắn. Tuy nhiên người ta dẫn anh ta đến tình báo quân sự của chúng tôi, nơi có trại tù binh. Tôi cũng không động chạm đến. Tôi thậm chí không biết thực chất, người ta giải tù binh đi đâu. Đúng, điều này tôi cũng không chú ý.



Giao chiến ngăn cách ra. Tôi và Vatutin bị báo động: tất cả chúng tôi không chờ đợi áp lực như thế. Chúng tôi cực kỳ lo ngại về tin tức rằng địch có loại xe tăng mới với lớp thép bọc dày mà đạn chống tăng của chúng tôi không xuyên thủng. Run rẩy toàn thân. Làm gì? Chúng tôi ra lệnh pháo tất cả các cỡ bắn và xích. Xích xe tăng luôn luôn chỗ yếu. Nếu không xuyên thủng được chỗ bọc thép dày, thì đạn luôn luôn làm xích hỏng được. Còn khi phá được xích, thì nó không phải là xe tăng nữa: tựa như như pháo cố định. Tạm dễ thở hơn. Những tác động chính xác như thế đã có tương đối thành công. Đồng thời chúng tôi bắt đầu ném bom xe tăng địch. Và báo cáo với Moskva rằng chúng tôi gặp xe tăng mới. Quân Đức đặt tên những xe tăng này là “con báo”. Chúng tôi trình Trung tâm cả về những tính văng kỹ thuật của các xe tăng này. Chúng tôi biết chúng, vì bộ đội ta tóm được một hoặc hoặc một số “con báo” bị bắn hỏng. Chẳng bao lâu chúng tôi nhận được đạn chống tăng mới, bắn thủng lớp vỏ thép của “con báo”, đây là đạn nổ định hướng làm chảy kim loại. Tuy nhiên “con báo” cũng kịp làm nghiêng ngả sự tự tin của pháo chống tăng của chúng tôi. Chúng tôi cho rằng phá hỏng xe tăng Đức cũng dễ như trở bàn tay. Nhưng xe tăng mới cũng đáng kính nể, đòi hỏi có những những quan hệ đặc biệt từ phía bộ đội ta.



Nói chung khi đó sự kiện xảy ra rất quan trọng. Số phận chiến tranh và số phận đất nước được định đoạt. Bây giờ nhớ lại những điều không hay. Và tình hình bây giờ là khác, thời gian cũng khác, và tình thế cũng khác. Khi đó, có tin tức tình báo, tôi cần phải phản ứng nhanh, tìm ra lối thoát để chống lại kẻ thù bằng quyết định của mình, cách trả lời của mình. Giờ đây tôi không hấp tấp.



Trận đánh vòng cung Kursk tăng mạnh. Kẻ địch vẫn ngoan cường và tiến lên phía trước, mặc dù chậm. Địch dồn bộ đội chúng tôi rút lui. Đúng, những người xô viết ở đó đã bị chết, nhưng sức mạnh của địch ban đầu còn lớn hơn. Chúng tôi không thể chặn lại được ở phòng tuyến thứ nhất, phải rút lui về phòng tuyến thứ hai, tiếp tụcи kiên cường chống đỡ. Tới lúc này bộ đội chúng tôi biết cách tiêu diệt “con báo”, lúc ấy được coi là xe tăng mạnh nhất. Sự thật xe này cũng hơi kềnh càng, nhưng có lớp thép dày đằng trước. Ban đầu chúng tôi bắn vào xích. Nhưng sau này, như tôi đã, chúng tôi nhận được đạn hướng nhiệt làm nóng chảy thép. Cú sốc đầu tiên do xuất hiện xe tăng mới đã qua. Chúng tôi nhìn thấy những “con báo” bị trúng đạn của chúng tôi.



Tuy nhiên kẻ thù dồn chúng tôi về tận phòng tuyến thứ ba. Ba dải của phòng tuyến, bao gồm cả dải cuối cùng, có hào chống tăng, phòng thủ dã chiến, vị trí đặc biệt đối cho bộ binh, pháo và xe tăng. Và hầu hết sau một tuần chịu đựng, địch vẫn chưa tiến sát vào dải phòng thủ hậu phương. Tình cảnh ở ga Prokhorovk, theo hướng đến Kursk là đặc biệt phức tạp. Lúc ấy hoặc sơm hơn chút ít, Tổng hành dinh có đề nghị chúng tôi một việc như thế này (Vasilevski nói chuyện với tôi, nhưng vin vào Stalin): phải để tướng Apanasenko trải qua thực hành quân sự; đưa ông ta vào mặt trận Voronezс; nhưng Vatutin phản đối. Vasilevski thuyết phục tôi:



- Chẳng có một tư lệnh nào muốn nhận ông ta. Tất cả đều từ chối, vì thế tôi quyết định gọi cho ông và đề nghị rằng ông đồng ý nhận ông ta. Apanasenko - một người có bề dày kinh nghiệm, anh hùng nội chiến, nhưng tính tình ông ta khó chịu và tự cao. Vì thế tất cả các tư lệnh đều từ chối.



Quả là, Apanasenko coi tất cả các tư lệnh mặt trận nhe những người thấp hơn ông, mặc dù có công lao cách mạng. Ông trải qua toàn bộ nội chiến trên lưng ngựa, một người chiến đấu, còn những người lính mới như thế là ai? Nhưng bây giờ họ có vị trí cao tình thế, còn ông thì vật vờ không công việc ở Viễn Đông. Điều này có một vai trò quan trọng trong quan hệ của ông đối với mọi người. Tôi chưa gặp ông bao giờ, mặc dù đã nghe nói về Apanasenko. Tôi nói:



- Để ông ta đến.



Apanasenko đến.



Tại Kiev, khi chúng tôi làm việc chung với Timosenko, Timosenko ở tập đoàn quân ngựa №1 biết rõ Apanasenko, ông kể cho tôi nghe về ông này. Hình như khi người ta tử hình Tukhachevski và những tư lệnh hồng quân khác, thì người ta cũng thẩm vấn cả Apanasenko. Người ta cũng nghi ngờ ông. Timosenko kể rằng Stalin có nói chuyện với Apanasenko và Apanasenko thú nhận rằng dường như có đứng trong nhóm mưu phản. Stalin tin lời thề của ông, tha tội, điều về Trung Á. Ở đó ông giữ chức vụ chỉ huy lớn. Sau đó ông trở thành tư lệnh quân đội ở Viễn Đông. Nghĩa là, người ta đã tin ông. Từ chỗ ấy ông đến chỗ chúng tôi.



Apanasenko gây cho tôi một ấn tượng tốt. Thuở trưởng thành ông là một người hùng. Giữ chức phó tư lệnh mặt trận, còn ban đầu chỉ là phụ việc cho tư lệnh đối với các nhiệm vụ được trao. Người ta cảnh báo rằng ông cần phải được thực hành, phải hít thở không khí chiến tranh thế giới 2. Ông biết chiến tranh thế giới 1, nội chiến, nhưng không biết chiến tranh thế giới 2. Đây là chiến tranh hoàn toàn khác, và diến biến cũng hoàn toàn khác. Và vũ khí khác, và chiến thuật khác, và điều kiện đã thay đổi. Chúng tôi đưa ông vào quân đội để ông làm quen. Trước tiên gửi ông về tập đoàn quân cận vệ №6, vì rằng ở đó có tình hình đặc biệt căng thẳng.



Ông tôi làm tôi sửng sốt về tính cách của mình, Chúng tôi và Vatutin trêu chọc ông. Có lần ông đi đến một đơn vị, làm quen với tình thế và gửi một bức điện:



- Ông ấy nhìn thế này... thế này..., nếm món xúp của lính. Xúp cực ngon. Tướng quân đội Apanasenko.



Chúng tôi cười một lúc lâu. Lần đầu tiên tôi gặp tính cách nghệ sỹ như thế này. Tôi chưa hề nhìn thấy tính cách này ở một ai khác. Ông, nói như thế, hơi liều. Sau đó chúng tôi gửi ông đến các mặt trận khác, nơi xuất hiện những trận đánh nhau dữ dội. Ông được đến chỗ đó nơi chứa đầy tình thế nguy hiểm nhất. Điều này là tất nhiên. Một tư lệnh lớn như thế có thể giúp đỡ tư lệnh tập đoàn quân.



Chúng tôi cần được bổ xung nhiều và củng cố lực lượng. Và Tổng hành dinh bây giờ cũng cho chúng tôi. Chúng tôi đã nhận quân đoàn xe tăng №10. Sau đó lại thêm một quân đoàn xe tăng, do Poluboiarov chỉ huy. Nhưng nó hoạt động trong dải mặt trận Thảo nguyên. Bây giờ Poluboiarov - tư lệnh bộ đội xe tăng thiết giáp quân đội Liên Xô. Chúng tôi lúc đầu bố trí quân đoàn của ông ở phía sau, tây Voronez. Sau đó chúng tôi nhận tập đoàn quân cận vệ №5, mạnh, thành phần đầy đủ, với những thanh niên được đào tạo tốt. Chỉ huy nó là Zadov. Chúng tôi bố trí nó để chống đỡ sườn phải cuộc tấn công của Đức. Chúng tôi còn nhận tập đoàn quân xe tăng cận vệ №5. Chỉ huy nó là tướng Rotmistrov. Về ông này, tôi cũng kể trong trận đánh Stalingrad. Ông đến với chúng tôi như những người quen cũ. Tôi sự kính trọng ông và đánh giá cao kiến thức và khả năng quân sự của ông. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ №5 chúng tôi bố trí để nó cùng đánh thọc sườn quân Đức. Khi kẻ thù ngoan cố tấn công như vậy, còn bộ đội chúng tôi kiên cường giữ vững vị trí của mình, nghiền nát người và vũ khí quân thù, chúng tôi quyết định giáng quân Đức vào chính sườn, mà không phải trực diện, với tính toán là nhanh chóng chọc thủng đúng sườn địch, sau đó làm rối loạn bên cạnh cuộc tấn của địch và quay sang phản công.



Nhưng có một sự trùng hợp. Quân Đức cũng quyết định giáng vào sườn chúng tôi, chỉ vào sườn trái, nghĩa là vào phía đông. Ở đó lực lượng của chúng tôi ít hơn: đóng tại Bắc sông Đông là một tập đoàn quân №69. Thế là quyết định của chúng tôi và quyết định của địch trùng nhau về mặt địa lý. Có cuộc đấu xe tăng. Bên cạnh đấy, tập đoàn quân của Zadov cũng tác chiến. Tôi có mặt đúng lúc ở tập đoàn quân này. Trước đây tôi đôi lần cũng tiếp xúc với Zadov, nhưng không quen lắm.



Zukov đến gặp chúng tôi. Chúng tôi và ông quyết định cả hai đi về tập đoàn quân xe tăng Rotmistrov, ở khu vực Prokhorovk. Chúng tôi có mặt ở chỗ đóng quân ban tham mưu, ngay ở chiến trường. Ở đó không có sự phục vụ nào cả - chỉ có một mình Rotmistrov và các sĩ quan truyền lệnh và liên lạc. Con đường đến đó ngoằn ngoèo. Nhưng chúng tôi được cảnh báo, kẻ địch đang bắn phá và ném bom rất mạnh tập đoàn quân này. Chúng tôi và Zukov cho tăng ga và vượt qua, thực tế không gặp nguy hiểm.



Quân của Rotmistrov cũng giao chiến mãnh liệt. Trên cánh đồng nhìn thấy nhiều xác xe tăng bị cháy của cả hai bên. Xuất hiện sự không trùng hợp về đánh giá thiệt hại: Rotmistrov nói xe tăng Đức bị cháy nhiều hơn, còn tôi nhìn thấy xe tăng ta bị cháy nhiều hơn. Cũng là tự nhiên thôi. Cả hai bên đều nhận thấy được thiệt hại. Sau đó tôi lại một lần nữa đến đó, đi một mình, không có Zukov, vì ông quay về Moskva. Trước đó không lâu, Apanasenko rẽ qua tôi đến Rotmistrov. Tôi gặp ông ở đó его, khi một sĩ quan liên lạc dẫn tôi đến chỗ ông tại một ngôi làng nhỏm, gần một chỗ có nước. Nông dân thường chọn cho mình nơi nào có nước. Ở đó tôi thấy cảnh gây cho tôi ấn tượng như trong nhà hát. Trong nhà có một cái nàn nhỏ, phủ vải điều. Trên bàn - điện thoại. Apanasenko ngồi ở bàn, áo dạ, quàng qua vai. Và tất cả cái đó ở cạnh nơi ác liệt nhất. Đạn địch và những mảnh đạn bay qua nhà. Mảnh đạn bay vù vù.



Trước đó tình thế của chúng tôi là xấu đi. Chúng tôi mất nguồn dự trữ, mặc dù không biết liệu Bộ chỉ huy tối cao có còn dự trữ không. Sau đó người ta nói cho chúng tôi rằng sau chúng tôi là tập đoàn quân của mặt trận Thảo nguyên, do Konev chỉ huy. Người ta thêm rằng tập đoàn quân №47 của mặt trận này sẽ theo lệnh của chúng tôi. Điều này xảy ra, khi kẻ thù dồn chúng tôi 35 kilomet lên phía bắc và khi chúng tôi chết mất nhiều. Tôi tới gặp Katukov. Lính của ông giữ xa lộ Belgorod - Kursk và trấn thủ namObian. Ở đó có ban tham mưu tập đoàn quân cận vệ №6, vì Katukov và Tchistiakov tham gia mặt trận ở sâu trong một dải: tập đoàn quân xe tăng được lệnh tăng cường cho tập đoàn quân cận vệ №6 như là pháo cơ động. Ở đó tôi lập tức gặp cả hai ông tư lệnh. Tình thế rất nặng nề, Moskva nổi tính cáu kỉnh. Tôi nhớ, ngay trước lúc tôi đến gặp Katukov, tôi và Vatutin nói chuyện với Stalin. Sau đó Molotov cầm máy. Molotov luôn luôn trong những trường hợp như thế nói chuyện một cách thô lỗ hơn Stalin, thoá mạ cấp dưới, cho phép mình nói không suy nghĩ. Nhưng chúng tôi không nghe từ ông ta những cái gì cụ thể cả, trừ chửi rủa. Ông chẳng thể giúp đỡ chúng tôi một cái gì, vì rằng về quân sự, ông là con số không, mà ông trong những trường hợp như thế này được sử dụng cái roi, một cái dùi cui của Stalin. Với giọng thoá mạ, ông nói với các tư lệnh, sau đó cả với tôi. Tôi không muốn đến lượt mình tỏ thái độ không kính trọng đối với ông ta, vì rằng trong tất cả mọi phẩm chất không lợi của ông, Molotov đáng bị chửi mắng, còn lòng trung thành của ông vào chính quyền Xô viết không cho phép tôi quyền nhận xét xấu về ông, khi chiến tranh đang tiếp diễn. Tại những thời điểm khủng hoảng ông thể hiện sự thô lỗ, nhưng lúc tình hình yên ả - thì không, và tôi hiểu rằng trong những giờ phút ấy, ông chỉ có thể văng tục, chửi bới. Tình thế bị đe doạ. Khi đó tôi cũng đi đến ban chỉ huy chính, gặp Tchistiakovу và Katukov. Lực lượng của họ rất ít. Tập đoàn quân của Katukov bị đánh tơi tả. Tôi không nhớ, trước đó nó có bao nhiêu xe tăng. Người ta nói đùa rằng: ba dải phòng ngự, gần như bị xe tăng địch “chọc thủng.



Nhưng sau dải cuối cùng, bộ đội chúng tôi được củng cố, và kẻ thù không thể đi tiếp được. Địch bản thân cũng hết hơi. Mặt trận trở nên không là ổn định (vì rằng chẳng bên nào đạt được qua tuyến phòng thủ), mà là hết sức chiến đấu.



Hai phi công Đức bị bắt làm tù binh. Họ lái chiếc máy bay một chỗ ngồi, tôi không nhớ mác máy bay, những chiếc máy bay bà già trang bị pháo nhỏ. Đó cũng là máy bay tiêm kích chống xe tăng. Một phi công tuổi ngoài 40, người kia còn trẻ, có lẽ, giàu có, vì đoán theo bộ dạng những thứ trên người anh ta. Người thứ nhất có vẻ mộc mạc hơn, mặc dù chức vụ cao hơn. Anh ta bị bỏng ở tay và mặt, chỗ khác không việc gì. Tôi thẩm vấn cả hai. Hỏ tỏ ra “chống đối” khác nhau. Tình báo nói với tôi về phi công trẻ rằng trong lần thẩm vấn trước, anh ta không nói gì cả: đây là một tên phát xít, tin vào Hittler và tin quân Đức chiến thắng. Thậm chí khi đe doạ hắn rằng có thể bị bắn, thì hắn trả lời sẵn sàng chấp nhận cái chết vì Hittler, vì chiến thắng của quân đội Đức, rằng chúng tôi sẽ bị tiêu diệt. Sau đó hắn cũng lặp lại cho tôi những lời như thế. Tôi ntiếp xúc với hắn ngắn ngủi và người ta dẫn hắn đi.



Nói chuyện với viên phi công già hơn. Đó là một người khác hẳn, tinh thần rệu rã. Tôi đề nghị anh ta:



- Liệu anh có thể viết một bức thư cho các bạn phi công của anh và đề nghị họ ném những tờ truyền đơn có nội dung chống Hittler được không?



Anh ta trả lời:



- Tôi sẽ viết như thế nào? - Anh ta chìa tay- Tôi không thể làm chủ được cái tay, tất cả tay tôi bị bỏng.



Tôi nói với anh ta:



- Anh cứ đọc chính tả.



Tóm lại, anh ta đồng ý. Tôi nghĩ rằng chúng tôi không in tờ truyền đơn, vì giải quyết vấn đề chính, còn truyền đơn ít tin tưởng. Phải đánh tan thể xác quân địch. Tôi nói điều này vì trong trong thời gian đó, thậm chí trong số phi công của quân Đức, đã xuất hiện những người dao động và mất lòng tin vào chiến thắng của vũ khí Đức.



Nhiều người tôi bây giờ không nhớ, mà còn không đưa ra được bức tranh đúng sự chuyển dịch của bộ đội và chiến dịch. Những dùng được trình bày trong các hồi ký của các tướng, mỗi người ở một khoảnh riêng trong các tài liệu được công bố. Qua đó biết, khi kẻ địch hết hơi, khi chúng tôi cản bước tiến của địch. Tôi muốn nói hết về tri giá của mình những biến cố mà tôi nhớ trong óc, về những người nổi bật và về cái gì mà tôi cảm thấy trong những ngày ấy.



Như vậy, chúng tôi sát kẻ địch tại hướng chính, hướng quyết định tình thế trên tất cả mặt trận. Tôi không nhớ, bao nhiêu kilomet chúng tôi đi qua, khi di chuyển ban tham mưu, và tôi đi cùng với nó. Ban tham mưu dã chiến đặt dưới hầm. Ban tham mưu tập đoàn quân cận vệ №6 và tập đoàn quân xe tăng №1 gần như bị quét sạch, căn hầm đạt ở một cái gò, và chúng tôi có thể quan sát quá trình đánh nhau. Chúng tôi nhìn lên nhìn xuống cùng với Tchistiakov, Katukov và Popel và tất cả nhìn rất rõ như lòng bàn tay: và hoạt động của xe tăng chúng tôi, xe tăng địch, và bộ binh. Máy bay kẻ địch lượn vòng trên đầu chúng tôi. Tôi không biết, chúng có nhận ra chúng tôi không, nhưng cứ ném bom. Sự thật bom không trúng, và chúng tôi chia xẻ chỉ có sóng thôi.



Tôi nhớ đêm đầu tiên, khi tôi đến một chỗ mới. Ngồi rất gần địch. Chính xác, căn hầm nằm dưới mũi địch. Tôi không nhớ tên tư lệnh pháo binh của tập đoàn quân cận vệ №6, người Ukraina. Là một pháo binh rất giỏi. Đáng thương cho ông, ông chết, khi chúng tôi giải phóng Kiev, một cái chết ngớ ngẩn: ông đi bằng mô-tô và bị ngã, chấn thương não, đưa vào bệnh viện một số ngày thì chết. Rất tôi thương tiếc đến bệnh viện thăm ông. Ông là một vị tướng tốt. Tôi không nhớ họ tên của ông, nhưng tôi nhớ lời ông:



- Này, các đồng chí, khi ngủ chúng ta nằm thế nào nhỉ? Mặc quần hay là nằm trên quần?



Trong ý nghĩ của ông, về đêm kẻ địch có thể đột kích, và khi đó chúng tôi hoặc chết, hoặc sẽ vội vàng bỏ chạy. Vả lại, tôi không nhớ, tướng nào khi ngủ cởi quần áo, tướng nào ngủ mặc luôn cả quần áo. Lính hay xoa thuốc cao (thuốc tốt về mùa hè chống bọ chó), và chúng tôi nghỉ trên nó.



Chúng tôi kéo một lực lượng lớn đến vùng chiến sự ác liệt, lực lượng này lấy từ tập đoàn quân №38 và các tập đoàn quân khác đang đóng ở phía tây, ở sườn phải, nơi chưa có các hoạt động ác liệt. Và tất cả đã bị biến mất, mang nhiều thiệt hại. Tôi quay lại ban tham mưu mặt trận, gặp Vatutin. Ông ngồi ở đó, như một đồng hồ, và liên tục chỉ huy quân đoàn. Tôi tin ông, kính trọng ông và biết rằng ông làm tất cả những gì của một tư lệnh.



Còn bây giờ nhớ lại thêm một tình tiết thú vị. Apanasenko ở sở chỉ huy tập đoàn quân cận vệ №6. Bỗng nhiên Tchistiakov gọi và nói rằng kẻ địch tiến đến rất gần chỉ huy sở, và ông đề nghị chuyển chỉ huy sở đến chỗ dự phòng được xây dựng từ trước. Tuy nhiên liên lạc với chỗ dự phòng không có, vì thế tôi và Vatutin nói trả lời:



- Không, cứ duy trì phòng thủ và không chuyển chỉ huy sở!



Một lúc sau, Tchistiakov lại gọi và tha thiết đề nghị. Chúng tôi lại từ chối. Lúc đó, Apanasenko gọi và nói rằng ông của tư lệnh Tchistiakov thống nhất ý kiến và cũng yêu cầu chuyển chỉ huy sở:



- Chính mắt tôi thấy, xe tăng quân thù tiến lên đúng trên chỉ huy sở. Chúng tôi có thể bị bắt làm tù binh đấy.



Chúng tôi trao đổi những suy nghĩ:



- Sao họ không làm gì đó đánh lui xe tăng? Có thể những người này ở tuyến trước. Họ nhìn rõ hơn chúng tôi.



Và chúng tôi quyết định: Cho Tchistiakov, tư lệnh tập đoàn quân và Apanasenko đến chỉ huy sở mới, còn tham mưu trưởng ở lại, đến khi đường liên lạc với sở chỉ huy mới được thông suốt. Tham mưu trưởng ở lại, còn hai người ra đi.



Khi đến sở chỉ huy mới, lẽ ra họ phải liên lạc với chúng tôi và báo cáo rằng đã có liên lạc và có thể điều khiển quân đoàn. Nhưng chẳng có tiếng chuông nào từ Tchistiakov, hoặc từ Apanasenko. Bù lại, tham mưu trưởng tập đoàn quân cận vệ №6 từ sở chỉ huy cũ thường xuyên báo cáo cho chúng tôi cái gì mà chính mắt ông trông thấy và cái gì tiến đến chỗ ông. Điều này kéo dài mấy giờ. Và sau này chúng tôi sáng tỏ việc này như thế nào? Té ra, đó là xe tăng chúng tôi rút lui, còn họ nhìn xe tăng ra ra xe tăng địch. Được, vả lại, tham mưu trưởng Penkovski cũng thoát chết. Tôi gạt bỏ ý nghĩ ngờ vực Tchistiakov và Apanasenko. Tôi không muốn, họ hiểu tôi như thế. Mọi cái đều có thể xảy ra ở mặt trận. Có những người đầy ấp đặc tính anh hùng, tự kiêu không phải trong chiến đấu, bỗng nhiên mất bình tĩnh, bị sai lầm. Nhưng có thể xảy ra sai lầm đơn giản.



Khi chúng tôi đánh đuổi quân thù ra khỏi những vùng đất mà chúng đến sau ngày 5 tháng sáu, thì xảy ra một chuyện kỳ cục kỳ cục. Apanasenko đi đến gặp Rotmistrov, và chẳng bao lâu chúng tôi nhận được tin Apanasenko chết. Ông chết như thế này: Apanasenko và Rotmistrov đứng ở bãi chiến trường nói chuyện, bên cạnh là một số người đi kèm. Một máy bay Đức bay tới, bỏ bom. Bom rơi tương đối xa, nhưng mảnh đạn trúng vào Apanasenko và làm ông chết tươi. Tất cả những người đứng đó không ai bị thương, trừ một mình ông. Trong túi của ông, người ta tìm thấy một mẩu giấy, mà tôi đến nay vẫn không hiểu. Nội dung của mẩu giấy là cam đoan lòng trung thành của ông với ĐCS. Ông giải trình tình cảm của mình. Tôi không hiểu điều này: lúc chiến tranh tại sao lại mang trong túi một mẩu giấy trong đó mô tả tình cảm trung thành? Những điều tương tự tôi chưa hề gặp trước đây, cũng như sau này. Bản thân Apanasenko bởi tính cách của mình gây ra một ấn tượng nghệ sỹ, luôn luôn chơi, thích thú bởi hoạt động của mình. Có thể, ông nghĩ, điều này gây ấn tượng thế nào nếu mẩu giấy rơi vào tay người khác? Hay là mẩu giấy này là hậu quả của cuộc chấn động năm 1937 liên quan với ông, mà Timosenko kể cho tôi nghe?



Vợ ông đến. Tôi biết bà. Người ta nói cho tôi rằng bà là một nghệ sỹ của một nhà hát. Bà kiên quyết yêu cầu mang xác ông về chôn ở Staropol, tại quê hường người quá cố. Tôi thuyết phục bà rất lâu để bà không làm điều này:



- Tốt nhất là chôn ông ấy ở đây, trong vùng Prokhorovk. Lúc xảy ra cuộc đánh nhau lớn, người ta sẽ nhớ nó hàng thế kỷ.



Có thể là tôi nó có đôi chút không nhũn nhặn vì rằng tôi cũng là người lính của đại đội này, đánh nhau ở đấy. Một người lính nói: đây là đại đội chiến đáu giỏi nhất mà ông đã từng phục vụ. “Còn cái gì có thể vinh dự hơn đối với một vị tướng như Apanasenko, là chôn ở đây? Mọi người sẽ tới đây và trả món nợ cho những người đã ngã xuống.



Bà vợ đồng ý, và chúng tôi chôn cất vị tướng ở noi ông ngã xuống. Nhưng sau này bà đặt lại vấn đề này, và thân thể ông được đưa về và chôn lại ở Staropol.



Tôi quay về việc đánh nhau. Tại mặt trận trung tâm, đánh quân của Rokossovski, quân Đức cũng tiến được nhưng ít hơn chúng tôi. Trong thời gian ấy, một ai đấy có một kết luận không đúng và đáng xấu hổ: tại hướng các ông, địch đang tiếp tục tiến! Nhưng điều này là ít để nói về kỹ năng chỉ huy tổ chức phòng thủ và lãnh đạo bộ đội. Bây giờ không thể nói, tương quan của lực lượng hướng chúng tôi và hướng Rokossovski, người mà tôi rất kính trọng. Tôi coi ông là một trong những tư lệnh xuất sắc của quân đội. Và như một con người, ông làm tôi thích. Đặc biệt tôi thích tính chính xác trong công việc của ông. Tôi không muốn đề cao ai đó để hạ thấp người khác, hoặc ngược lại. Phải trả lại món nợ cho tất cả những người có mặt trong trận vòng cung Kursk.



Những suy nghĩ sau chiến tranh


Ngày 24 tháng sáu 1945 Moskva tổ chức Diễu binh mừng chiến thắng. Tôi cũng về Moskva. Tôi muốn xem bộ đội đi trên Quảng trường Đỏ như thế nào, cùng vui mừng với tất cả nhân dân tại thủ đô tổ quốc chúng tôi. Tôi không nhớ, hoặc Stalin gọi điện cho tôi để tôi đi đến, hoặc tự tôi đi đến. Eisenhower cũng đến Liên Xô. Ông cũng đứng ở Lăng. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Eisenhower, lúc ấy ông chưa phải tổng thống Mỹ, mà là Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh ở Tây Âu.



Cuộc diễu binh diễn ra như thế nào, tôi không miêu tả. Tôi thấy nó nhiều lần, nó được ghi bởi phim ảnh và hoạ sĩ. Đây quả là cuộc diễu binh vui mừng nhất. Sau đó Stalin thết cơm trưa. Ở đó có cả Eisenhower, và những những tướng lĩnh quân sự cao cấp của chúng tôi. Tư lệnh Anh, hình như, không có. Stalin có mối quan hệ tốt với Eisenhower và còn tốt hơn với Russevelt. Stalin có quan hệ xấu với Churchill và rất xấu với Monttgomery. Stalin đối với Monttgomery tồi, và tôi cho rằng đối với điều này Stalin có nhiều cơ sở.



Tôi muốn phát biểu ở đây quan điểm của mình trong mối quan hệ tương hỗ của chúng tôi với các nước đồng minh, mà chúng tôi cùng nhau chiến đấu chống Đức Hittler. Pháp gần như không chiến đấu sau 1940, còn chẳng bao lâu sau khi giải phóng, Pháp thoát khỏi chiến tranh do chiến tranh đã kết thúc. Thực tế chỉ còn hai đồng minh Mỹ và Anh trong thời kỳ 1941-1945. Tôi cho rằng Churchill có vai trò lớn quá trình chiến tranh. Ông hiểu mối đe doạ, treo lơ lửng trên đầu Pháp, và làm tất cả để xúi Đức đánh Liên Xô, kéo Liên Xô vào cuộc chiến chống Đức. Nhưng khi Hittler tính đến khả năng tấn công chúng tôi, Churchill là nước đầu tiên tuyên bố rằng Anh cần phải ký một hiệp ước với Liên Xô để tập hợp sức mạnh quân sự của chúng tôi. Stalin xử sự đúng: ông chấp nhận đề nghị này và đặt tiếp xúc tương ứng, để hình thành hiệp ước. Một thời gian sau, Mỹ tham gia chiến, tạo ra liên minh ba cường quốc lớn: Liên Xô, Mỹ và Anh.



Cuối 1941, Nhật Bản tuyên bố chống Mỹ, Anh, Hà Lan và những nước khác có thuộc địa ở châu Á và Thái Bình Dương. Lúc ấy chúng tôi đã nhận sự dễ dàng hơn về quân sự, có thể dùng bộ đội chúng tôi từ Viễn đông và biết chắc rằng Nhật Bản sẽ không chiến đấu chống chúng tôi. Giờ đây Viễn đông không còn bị mối đe doạ trực tiếp. Điều này tạo khả năng để hành binh, để sử dụng tốt nhất quân đội chúng tôi, mặc dù khi đó chúng tôi cũng cần tính đến khả năng đòn tấn công từ phía Nhật Bản. Nhật Bản, ban đầu tấn công thành công và tin rằng sẽ nhanh chóng đạt được chiến thắng quyết định. Nhưng đây là “những chiến thắng không khôn ngoan”, và, khi Nhật Bản sa lầy vào chiến tranh và người Mỹ chặn được sự tiến lên của nó, thì rõ ràng Nhật Bản không thể tổ chức cuộc tấn công vào Liên Xô.



Anh và Mỹ người ta đã làm tất cả để giúp đỡ vật chất cho chúng tôi, chủ yếu là đồ quân sự - vũ khí và nhu cầu vật chất, để tiến hành chiến tranh. Chúng tôi đã nhận sự giúp đỡ rất đúng thực chất. Đây là, tất nhiên, не sự độ lượng từ phía Anh và Mỹ và cũng không phải họ muốn giúp đỡ nhân dân Liên Xô, hoàn toàn không. Họ tỏ ra giúp đỡ chúng tôi để chúng tôi nghiền sức người của quân thù chung. Như thế, họ dùng tay chúng tôi, máu chúng tôi chiến đấu chống Đức Hittler. Họ trả giá cho chúng tôi chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, trả giá vũ khí và vật chất. Với quan điểm của họ, đây là sự khôn ngoan. Và điều này quả là khôn ngoan, đúng và thuận lợi cho chúng tôi. Chính khi đó chúng tôi trải qua khó khăn, chúng tôi trả giá rất đắt trong chiến tranh, nhưng bắt buộc phải làm điều này vì rằng, khác đi, chúng tôi không có khả năng chiến đấu. Lúc ấy phát sinh một lợi ích qua lại, và chúng tôi xác lập và hiệu chỉnh những quan hệ tốt và sự tín nhiệm song phương.



Tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình và nói thẳng về ý kiến của Stalin đối với vấn đề, Hồng quân, Liên Xô không có sự giúp đỡ từ phía Mỹ và Anh liệu có thể thắng Đức Hittler và sống sót trong chiến tranh. Trước hết, tôi muốn nói về những lời của Stalin, ông đôi lần nói đi nói lại, khi giữa chúng tôi với nhau có “những cuộc nói chuyện thiện ý.



Ông nói thẳng rằng nếu Mỹ không giúp đỡ chúng tôi, thì có lẽ chúng tôi không thắng cuộc chiến tranh này: một chọi một với Đức Hittler, chúng tôi không chịu được nổi áp lực của nó và thua. Chủ đề này, không một ai trong chúng tôi đề cập đến một cách chính thức, và Stalin cũng không có ở đâu, tôi nghĩ, để lại những bằng chứng bằng văn bản ý kiến của mình, nhưng tôi tuyên bố rằng ông trong đôi lần nói chuyện với tôi đã nhấn mạnh tình tiết này. Ông không tiến hành riêng những cuộc trao đổi về vấn đề này, nhưng khi có cuộc trao đổi có tính chất thoải mái, hồi tưởng các vấn đề quốc tế của quá khứ và hiện tại và khi chúng tôi trở lại giai đoạn đã qua của chiến tranh, thì ông phát biểu điều này.



Khó dự đoán tính khách quan của Stalin. Ông là người rất chủ quan. Nói chung trong chính sách, nhân thể nói thêm, chủ nghĩa chủ quan, vai trò cá nhân đóng một vai trò lớn. Một lần khác đánh giá hứu ích cái gì được làm đúng, tiếp cận một cách khách quan tới quá khứ, cân nhắc tất cả những yếu tố có ảnh hưởng, để đánh giá đúng giai đoạn đã qua và trong tương lai tìm quyết định đúng. Trong trường hợp đã nêu tôi cho rằng việc kết tội Stalin là đúng. Khi đó tôi nghe ông, thi tôi hoàn toàn đồng ý với ông, còn bây giờ - hơn thế nữa. Vì thế tôi muốn lập luận từ phía mình cái gì mà Stalin nói và cái gì tôi tự thấy và hiểu.



Chiến tranh xảy ra như thế nào? Phải đi vào tình thế chúng tôi, phân tích về mặt tư tưởng con đường mình chúng tôi đã đi qua sau cuộc tấn công của Đức, đặc biệt sau khi Hittler buộc chúng tôi bỏ Belorussia, Ukraina và những vùng rộng lớn Liên bang Nga, bao gồm Bắc Kavkaz có những vùng có dầu mỏ. Sự thật những khu vực có nhiều dầu mỏ vẫn nằm trong tay chúng tôi, nhưng chúng thực tế bị loại bỏ, thiết bị bị tháo ra, ngừng khai thác và chế biến dầu mỏ. Có những điều kiện rất nặng nề đối với công nghiệp. Ngoài ra, chúng tôi bị mất khả năng sử dụng kinh tế trong lãnh thổ bị địch chiếm.



Tôi lấy thí dụ Ukraina. Luyện kim của Ukraina năm 1941 chiến tỷ trọng bao nhiêu trong Liên Xô? Bây giờ tôi không có số liệu thống kê, nhưng tôi nghĩ rằng khi đó Ukraina làm được tối thiểu 50% sản lượng thép, nếu không hơn; đứng hàng đầu về khai thác than; có một tỷ trọng lớn trong sản xuất bánh mỳ, hoa quả, thịt. Công nghiệp chế tạo máy, hoá học của Ukraina là mạnh.



Thực tế công nghiệp Leningrad bị loại ra khỏi hàng ngũ: đóng tầu, chế tạo xe tăng, chế tạo thiết bị. Đây là nền công nghiệp với đội ngũ công nhân tay nghề cao và một lượng lớn các viện nghiên cứu khoa học, trung tâm đầu não của tất cả các ý nghĩ kỹ thuật Liên Xô. Leningrad bị tê liệt và hoảng loạn, thực tế bị phong toả. Vấn đề đặt ra không phải về sản xuất mà là mọi người sống sót như thế nào về thể xác. Hàng nghìn người Leningradе chết, chỉ có một phần thoát ra được. Công nghiệp của thành phố Gorky làm việc không đều, do nằm dưới tầm hoạt động của máy bay Đức. Công nghiệp của Moskva cũng bị hoảng loạn. Đưa ra khỏi Moskva công nghiệp sản xuất máy bay, sản xuất động cơ cũng thế, sản xuất ô tô ở Moskva ngừng hoạt động. Moskva làm gì với thế năng hùng mạnh của nó?



Kharkov: nhà máy sản xuất máy kéo lớn, đứng thứ hai ở Liên Xô chỉ sau Stalingrad; rồi đến nhà máy chế tạo máy, nhà máy sản xuất đầu xe lửa. Công nghiệp Kharkov cung cấp nhiều phương tiện, tiền để tiến hành chiến tranh, nhưng tất cả lại nằm trong tay kẻ địch. Voronez - một thành phố công nghiệp lớn. Ở đó có nhà máy sản xuất máy bay khá lớn, và thực tế nó cũng ngừng sản xuất: không phải khi kẻ địch tràn vào Voronez, mà ngay từ sớm khi thiết bị được chuyển đi, nhà máy sử dụng làm nơi sửa chữa máy bay, chứ không phải sản xuất nó.



Chúng tôi bị mất những cơ sở hùng mạnh nhất về sản xuất máy bay, xe tăng, động cơ cho máy kéo và ô tô. Nhưng nhà máy sản xuất máy kéo Stalingrad thì sao? Chúng tôi cũng mất nó. Ở đó có nhà máy sản xuất pháo lớn cung cấp pháo hàng nặng và nhẹ cho quân đội và Hải quân, bao gồm pháo bờ biển tầm xa. Bạn có thể hình dung chúng tôi rơi vào thảm hoạ như thế nào? Chúng tôi không có phương tiện di chuyển, không còn nhà máy để cung cấp vận tải ô tô, đặc biệt sức kéo, thiếu nó không thể chiến đấu. Sức kéo cũng không có! Sự thật một số lớn những đơn vị pháo chúng tôi dùng cả ngựa. Thậm chí chiến tranh với quân Rumani phải dùng bò để kéo pháo. Nghĩa là, chúng tôi hoàn toàn di chuyển trên lưng bò và ngựa?



Với kỹ thuật và vũ khí hiện đại, quân Đức chiếm được gần như toàn bộ châu Âu cùng với tiềm năng công nghiệp của nó, tạo ra một tình thế khó khăn cho chúng tôi. Nếu ngoảnh lại nhìn, tôi nói rằng khi chúng tôi rút lui, tôi không thể hình dung, làm thế nào mà chúng tôi có khả năng thoát khỏi tình thế này. Một phần thiết bị đã mang sơ tán về phía đông, nhưng vẫn còn phải tìm chỗ để lắp đặt và sửa chữa thiết bị, điều này đòi hỏi nhiều thời gian. Nhân dân chúng tôi đáng là anh hùng với những khó khăn như thế. Họ sáng tạo những thứ lạ lùng. Thỉnh thoảng họ sửa chữa thiết bị trong kho và khởi công sản xuất vũ khí. Nhưng, mất nhiều thời gian là điều không tránh khỏi.



Vì thế người Mỹ và người Anh phải thực hiện sự tăng cường cho chúng tôi khả năng không bị khỏi hàng ngũ và kẻ địch không đánh bại chúng tôi, để chúng tôi không phải dừng lại vì hết sức. Họ cung cấp cho chúng tôi máy bay, ô tô, vũ khí. Tôi đã thấy ô tô mà chúng tôi nhận được, thì bằng mắt của mình không thể tin được. Nhưng chúng tôi nhận một lượng khá lớn ô tô. Những con số này chúng tôi chưa được công bố. Người giữ những con số này, nếu không phải trong văn bản, mà trong đầu, thì bây giờ là Mikoian.



Mikoian thực hiện chức năng đại diện Liên Xô, làm việc với Mỹ và Anh để nhận “cho vay-thuê” quân trang và thiết bị công nghiệp. “Cho vay-thuê” - đây là tín dụng đặc biệt của thời chiến, sau khi chiến tranh kết thúc mới xem xét đến điều kiện lãi.



Ngắn gọn, mọi hàng hoá chảy vào chúng tôi. Có lần Anastas Ivanovich kể, ông đã nhận bao nhiêu là dura, xăng, máy bay, vật liệu để sản xuất máy bay, bao nhiêu vậ dụng quân sự và vũ khí. Đó là sự giúp đỡ rất thực chất. Trước hết là ô tô. Nghĩa là, chúng tôi có khả năng đảm bảo cơ động bộ đội, trong điều kiện hiện đại là điều kiện quyết định để chiến tranh thành công. Quân Đức đánh Pháp và đánh chúng tôi, sử dụng rộng rãi lính cơ động, tấn công chọc sâu bằng những cái nêm chẻ đôi, và sau đó bao vây bộ đội chúng tôi, giế hoặc bắt làm tù binh và đi tiếpь tiếp, thực hiện cuộc hành quân tại một chiều sâu lớn để một vòng vây mới. Họ gây ra hoảng loạn ở dân thường, và cả bộ đội cũng bị sợ hãi, chịu sự khiếp sợ bị vây. Điều này sau đó được phản ánh trong văn học nghệ thuật và chiến tranh của chúng ta.



Còn máy bay ném bom tầm xa? Đầu chiến tranh chúng tôi thực tế không có. Nhe người ta nói, nó là biểu tượng. Một lần khác, có một số máy bay cố gắng thì bay được đến Berlin. Nhưng đây không phải máy bay ném bom hệ thống. Những máy bay ném bom như thế không thể phá huỷ được tiềm năng sản xuất kẻ địch. Đó là một giọt nước trong biển cả, chỉ là muỗi đốt, còn cần có những đòn mạnh mẽ vào trung tâm công nghiệp. chúng tôi không có khả năng làm điều này. Quả là tôi chưa nói khi chúng tôi rút lui và Lenigrad nằm trong vòng vây, thì chúng tôi mất khả năng ném bom thậm chí trung tân hành chính Đức - Berlin, đấy là chưa nói đến các khu vực Tây Đức. Họ ở vị thế an toàn, và chúng tôi chẳng thể nào không đe doạ được họ. Vấn đề khác - các đòn của không quân Anh. Nhưng khi nhảy vào cuộc chiến, nước Mỹ, nước đã đặt công nghiệp của mình đảm bảo thoả mãn mọi yêu cầu của chiến tranh, thì tiềm năng hùng mạnh của công nghiệp Mỹ đã gây mối đe doạ thực sự cho Đức. Tôi nghĩ rằng Hittler, hình như tự biết rằng điều này - bắt đầu kết túc sự nghiệp của hắn.



Đấy, tôi vin vào Stalin, phê bình ông. Nhưng những hoạt động của Stalin có hai mặt. Ông làm nhiều việc tốt và có lợi cho đất nước ta, điều này ai cũng phải công nhận, thừa nhận, và tôi cũng công nhận. Nhưng là một người ở cương vị cao, tôi phải phân tích tất cả, mổ xẻ khuyết điểm, sai lầm và sự lạm quyền, vượt quyền từ phía Stalin. Đấy mới chỉ là một mặt của vấn đề. Giờ đây tôi nói mặt khác, mắt tích cực của ông. Khi Mỹ tham chiến, Stalin nói với tôi:



- Hừ, bây giờ là chiến tranh của các động cơ.



Nhưng trước đây ông cũng nói điều này. Đây là câu nói của riêng ông, hoặc một ai đó nói cho ông, tôi không biết. Ясно, tuy nhiên, mọi người biết rằng cuộc chiến tranh bây giờ, ở giai đoạn hiện đại, quả là chiến tranh các động cơ. Ai có nhiều động cơ, và có nhiều khả năng duy trì những động cơ này trong hành trình, nghĩa là có đủ nhiên liệu, thì người đó chiến thắng. Tất nhiên nước Mỹ, hoàn toàn loại trừ tất cả mọi sự tàn phá các hoạt động công nghiệp, có có tiềm năng kinh tế hùng hậu và những khả năng như thế. Và họ biết sử dụng điều này.



Cái đó là thuận lợi cho chúng tôi xét theo quan điểm cung cấp vật chất và vũ khí. Tất nhiên việc cung cấp làm giầu các nhà tư bản, độc quyền Mỹ vớ bở. Nhưng họ giúp đỡ chúng tôi. Mỹ xây dựng một lực lượng không quân hùng mạnh. Họ có máy bay B-29 “pháo đài bay”, máy bay tuyệt vời, tốt nhất trên thế giới. Người Mỹ bằng những máy bay này tràn vào không phận địch thậm chí không cần máy bay tiêm kích đi kèm, còn máy bay ném bom của chúng tôi chỉ có thể bay vào đêm, còn nếu bay ban ngày phải có máy bay khác che chở. Thiếu sự che chở họ có thể hoạt động trong một fiới hạn của mặt trận, bằng cách sử dụng yếu tố bất ngờ tấn công. Và chúng tôi đã bị thiệt hại tương đối nặng bởi pháo cao xạ và máy bay tiêm kích của Đức. Người Mỹ trên B-29 không cần được che chở, bay trên lãnh thổ địch và ném bom các trung tâm công nghiệp của Đức, điều này có một giá trị lớn. Những máy bay được trang bị súng máy cỡ lớn, đặt trong khoang hoặc đằng trước.



Năm 1943, khi chúng tôi tấn công Kiev, máy bay địch không còn là lực lượng đáng gờm như hồi đầu chiến tranh. Năm 1944, mặc dù tôi hiếm khi ra mặt trận, tuy nhiên nói chung không nghe thấy những lời phàn nàn rằng máy bay Đức gây khó khăn cho quân mình. Những chiến hữu của tôi, mà tôi thường duy trì nói chuyện qua điện thoại, khi họ đến Kiev hoặc tôi lần nào đó ra mặt trận, nói:



- Anh không thể thậm chí hình dung rằng, bây giờ chúng tôi đi cả vào ban ngày, cả vào ban đêm, và máy bay địch kẻ địch không làm gì được chúng ta.



Đây là công lao của ai? Là công lao của máy bay Mỹ. Các máy bay Mỹ đã đánh phá các nhà máy sản xuất máy bay của Đức. Chẳng có lẽ đây là nhỏ? Chẳng có lẽ đây là sự giúp đỡ nhỏ? Và Mỹ rất kiên trì, kiên trì và với sự hiểu biết công việc đã phá huỷ nhiều nhà máy sản xuất vũ khí khác nhau của Đức. Đó là sự ủng hộ to lớn cho chúng tôi. Còn sự giúp đỡ, mà chúng tôi nhận ở dạng xe tăng nguyên chiếc thì sao? Tôi nhớ, chúng tôi nhận xe tăng Anh cho trận Stalingrad (bây giờ tôi quên nhãn hiệu xe). Chất lượng chiến đấu của xe không cao, nhưng tất cả đều là xe tăng. Bộ binh được che chở bằng những tấm thép, những cái khiên chắc chắn trong tấn công và giáng đòn tốt hơn cho quân thù. Tất nhiên những xe tăng nay thua xe tăng ta về mặt bọc thép, nhưng phần chuyển động vượt xa xe chúng ta.



Tôi nhớ một trường hợp bực mình với xe tăng chúng ta. Chúng tôi nhận xe tăng, và những xe này không đi nổi 100 kilomet, phải nằm lại trên đường, vì rằng hỏng phần chuyển động. Tôi viết thư cho Stalin, và Stalin áp dụng những biện pháp nghiệt ngã. Nói riêng, Stalin cách chức những người có trách nhiệm sản xuất sản xuất xe tăng, và bổ nhiệm Malysev. Người ta phải lưu ý đến chất lượng phần chuyển động của xe tăng, mà không phải là số lượng của chúng. Nhưng chất lượng xe tăng của ta nói chung không cao. Tập đoàn quân cận vệ Malinovski được bổ xung cho chúng tôi. Nó gồm ba quân đoàn, trong mỗi quân đoàn - có một trung đoàn xe tăng. Và không một xe tăng nào của trung đoàn vượt qua nổi đường mặt trận: tất cả các xe tăng đứng ở trên đường và chờ, trong khi người ta cần chúng ở trạng thái chuyển động. Giá như cứ ba xe tăng có một chiếc chạy được đến nơi, thì chúng tôi có được một trung đoàn tăng, và như thế chúng tôi không có nổi một trung đoàn xe tăng nào cả do chất lượng thấp sản xuất. Nhưng vẫn phải chiến đấu! Kẻ địch có đầy đủ vũ khí. Vũ khí của họ thường kém hơn chúng tôi, nhưng số lượng lại lớn hơn đáng kể. Và không phải tất cả người Đức kém hơn chúng tôi. Chủ nghĩa yêu nước đơn giản, nó sẽ đập yếu, nếu trong đó đặt ra một chính sách và không phân tích những sự kiện. Tiếp theo, và trong tương lai không thể xây dựng một bức tranh, mà phải xuất phát từ những yếu tố thực.



Chúng tôi không có những bằng chứng tương ứng. Chúng không xuất hiện trên báo chí do nhậy cảm xấu hổ vì lừa dối. Điều này không đúng. Tôi cho rằng sẽ có ích, nếu như những việc làm này được công bố. Có thể thậm chí do những viện nghiên cứu khoa học làm, những viện này phân tích quá khứ. Phải nghiên cứu quá khứ, để không mắc những sai lầm trước đây, và loại trừ chúng khỏi hiện tại và tương lai. Đáng tiếc, Stalin trong thời gian ấy, đứng không đúng vị trí. Ông thừa nhận nhiều, nhưng ông chỉ nói trước một mình ông, ở nhà vệ sinh. Nhưng phát biểu điều này công khai cho người khác nghe, ông xem như sỉ nhục. Không, đây không phải là sự sỉ nhục! Sự thừa nhận công lao của các bạn của mình không hạ thấp công lao của chúng tôi. Ngược lại, một cách chủ quan tuyên bố đặt chúng tôi cao hơn tất cả nhân dân và ở mức độ nào đấy không hạ thấp sự kiên cường của chúng ta, sự thành công của chúng ta, sự chiến thắng của chúng ta, của giá trị những đòn quyết định mà chúng ta giáng cho kẻ thù. Nhưng điều này đối với Stalin là không thể. Ông cố gắng che chở tính nhu nhược của chúng ta, khi cho rằng cái đó làm chúng tôi mạnh hơn kẻ thù: phải làm cho chúng tôi sợ hãi. Đây là một kết luận ngu ngốc, không đúng. Anh không lừa kẻ địch: nó biết tính toán, biết phân tích, còn nhân dân chúng tôi tất cả đều hiểu đúng.



Có thể, Stalin sợ rằng sự cởi mở trong vấn đề này có một lúc nào đó xoay chuyển và chống lại ông: Vì sao ông thấy trước? Đây là một vấn đề khác. Tôi nghĩ rằng phải đi đến sự thừa nhận thẳng thắn, đừng thương xót mình, vì rằng sự giúp đỡ tốt nhất cho đất nước và sự nghiệp mà anh phục vụ, đừng che giấu khuyết điểm, đừng che giấu chúng, thậm chí cả những bệnh tật để tất cả nhân dân nhìn thấy. Lúc đó nhân dân hiểu đúng, đánh giá và ủng hộ anh; nếu cần, sẽ tha thứ những sai lầm mà anh từng làm. Nếu mọi người chân thật phân tích những sai lầm, tiếp theo, họ sẽ không lặp lại chúng. Có thể nói:



- Ừ, Khrusev phê bình Stalin, trong những vấn đề này bản thân sự phân tích và phê bình Stalin cũng chỉ là cái cớ.



Có thể lắm. Vả lại, tôi giả thiết rằng các đồng chí của tôi, những người cùng làm việc với tôi dưới sự lãnh đạo của Stalin, cũng dừng lại những hồi tưởng nào đấy. Nếu họ là khách quan, thì không sợ trước lịch sử nói hết khuyết điểm của Stalin, về tất cả những gì mà họ biết. Stalin nói cho tôi không những chỉ có tôi và ông, mà trong các cuộc nói chuyện có mặt 5, 7, 10 người. Không phải tất cả uỷ viên Bộ chính trị thường tham gia phiên họp ở Stalin. Stalin luôn luôn lựa chọn một nhóm gần ông, rằng ông chọn một nhóm nào đấy dường như để trừng phạt, đôi khi ông không mời. Trong nhóm ấy có thể có người có lợi. Ông có thể hôm nay mời một người, nhưng sáng mai ông mời người mà hôm qua chưa được mời. Để dằn mặt. Để họ nhớ và sợ.



Những điều mà Stalin nói tại những cuộc họp này, là sự thừa nhận đúng, sâu sắc và tỉnh táo trên cơ sở đối chiếu tất cả các yếu tố, xác định chúng tôi tồn tại hay không tồn tại, thắng hoặc thua trong chiến tranh. Khi đó Stalin đánh giá tốt vai trò các nước đồng minh của chúng ta, tôi hoàn toàn đồng ý với ông và cho rằng đây là - sự phân tích đúng các yếu tố. Nói điều này không bao giờ muộn. Chính thế hệ mới, thế hệ thay thế giới lãnh đạo đất nước đương thời, nhất định cả gan làm rõ một cách khách quan việc bắt đầu chiến tranh. Bây giờ điều này không có ý nghĩa nguyên tắc, đằng nào cũng thế, các nước đồng minh hôm qua của chúng tôi, ngày hôm nay là kẻ thù của chúng tôi. Việc thừa nhận sự giúp đỡ của họ cho chúng tôi từ quan điểm đảm bảo vật chất và vũ khí trong thời gian ấy không phản ánh tình trạng công việc hiện nay, vì rằng bây giờ chúng tôi ở trong tình thế. Nói đùa, hãy sống đến lúc chúng tôi được coi là cường quốc thứ hai theo tiềm năng công nghiệp trên thế giới! Chúng tôi quả là cường quốc như thế.



Thủ tướng Anh McMillan nói với tôi trong một cuộc nói chuyện:



- Nước Anh bây giờ là gì? Nước Anh bây giờ không còn là nước bá chủ trên biển và quyết định chính trị thế giới nữa. Giờ đây hai nước Mỹ và Liên Xô quyết định tất cả.



De Gaull, tổng thống Pháp, một người tỉnh táo thông minh nói với tôi điều này hầu hết trong các bài phát biểu. Ông nói:



- Ngài Khrusev, bây giờ Mỹ và Liên Xô - hai nước lớn. Pháp không lớn như nó từng có trong quá khứ. Giờ đây Pháp không thể quyết định chính trị thế giới.



Sự thừa nhận sức mạnh chúng tôi, vai trò và ý nghĩa trong chính sách thế giới là như thế. Vì thế không giảm bớt bao nhiêu giá trị của chúng tôi thừa nhận rằng trong quá khứ những nước đó đã giúp đỡ như thế cho chúng tôi, những sự giúp đỡ thể hiện thực chất khi xảy ra chiến tranh.



Tôi nhắc lại: họ giúp đỡ chúng tôi không phải vì thắng lợi của sự nghiệp CNXH, tư tưởng Mác-Lenin. Với họ, đây là vấn đề sống hoặc chết. Họ giúp đỡ chúng tôi quân đội chúng tôi không bị Đức Hittler đánh bại, mà còn dựa vào vũ khí hiện đại hơn nghiền nát sinh lực quân thù, hơn nữa làm yếu mình. Điều này cũng vì lợi ích của các nước đồng minh chúng tôi. Họ muốn chọn thời gian thích hợp và tích cực tham chiến chống Đức khi nào Liên Xô không đủ sức và không giữ tình thế quyết định khi giải quyết các vấn đề thế giới sau thất bại Đức. Vì thế sự giúp đỡ của họ - không phải là họ yêu quý nhân dân chúng tôi và không phải là có lòng kính trọng với đất nước chúng tôi, mà là kết quả tỉnh táo cân nhắc tình thế nảy sinh khi đó đối với các nước phương Tây.



Tình hình phức tạp đến nỗi chúng tôi đồng minh với họ để chiến thắng kẻ thù chung. Anh và Mỹ muốn lợi dụng tình hình và sử dụng người dự trữ quốc gia của chúng tôi chủ yếu là sức người để mượn tay người khác bẻ gẫy sức lực kẻ thù chung, để họ đạt được chiến thắng và chính họ có khả năng giải quyết số phận thế giới. Họ cũng lái theo hướng này khi giúp đỡ chúng tôi. Họ không ngượng nghịu liên minh với một nước XHCN - kẻ thù không đội trời chung của CNTB. Và Stalin, buộc phải trả món nợ, cũng đi theo điều này. Tất nhiên không phải từ cuộc sống tốt, mà vì không còn lối thoát khác, không còn sự lựa chọn nào cả. Nhưng đây là con đường dẫn đến sự nguy hiểm. Con đường duy nhất để sống sót và chiến thắng chiến tranh. Tôi đánh giá vấn đề này như thế, và tôi đã nghe ý kiến như thế này từ Stalin. Ông không tỷ mỷ phân tích thời kỳ chiến tranh. Nhưng không đòi hỏi một sự cố gắng lớn để đi tới sự kết tội như thế. Ông hiểu điều này và nói về điều này.



Tôi hy vọng quan điểm của tôi được phản ánh những nghiên cứu của các nhà sử học, những người cố gắng phân tích một cách chủ quan bầu không khí, của những năm 1941-1943. Vả lại, năm 1944-1945 người Mỹ cung cấp nhiều cho chúng tôi. Sau chiến tranh, Zdanov đi sang Mỹ, và người ta nói cho tôi, rằng sau đó theo hợp đồng “vay-thuê” chúng tôi đã nhận được máy cán thép lớn của Mỹ và máy này được lắp đặt tại nhà máy mang tên Ilich tỉnh Mariypol, sau đó thành phố này mang tên Zdanov. Tôi đến đó. Người Nhật thực hiện việc lắp ráp. Sự lắp ráp được tổ chức theo từng điểm, để đưa nhanh máy vào hoạt động. Tôi nhớ, tôi nói chuyện với người Nhật, hỏi về đời sống của họ. Sau đó chúng tôi buồn cười rằng tù binh Nhật Bản trả lời chúng tôi: họ đến đây để giúp đỡ người Nga, Micado (Nhật hoàng) cử họ tới. Họ tự cho mình không phải tù binh, mà được Micado (Nhật hoàng) cử đến.



Như vậy, chúng tôi nhận từ các nước đồng minh thiết bị, tàu thuỷ, nhiều quân trang. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh. Hầu như tất cả pháo của chúng tôi dùng ô tô kéo của Mỹ. Có lần, sau khi Stalin chết, tôi đề nghị:



- Hãy đưa cho quân đội tất cả những xe mà chúng tôi sản xuất, vì rằng không lịch sự lắm khi xem duyệt binh: các đầu kéo đều của Mỹ.



Hầu như tất cả máy móc, ô tô... của chúng tôi dùng ở CHDC Đức, cũng là của là Mỹ. Điều này bất tiện, đó là mối nhục đối với chúng tôi. Bao nhiêu năm đã trôi qua từ khi chiến tranh kết thúc, mà tất cả chúng tôi đều đi bằng xe Mỹ.



Tôi muốn nhấn mạnh nhấn mạnh, số lượng và chất lượng những ô tô mà chúng tôi nhận được. Bạn hãy hình dung, không có những xe này chúng tôi tấn công như thế nào? Di chuyển từ Stalingrad đến Berlin như thế nào? Tôi không thể hình dung được. Thiệt hại của chúng tôi sẽ khổng lồ, vì rằng bộ đội chúng ta không thể hành quân. Ngoài ra, chúng tôi nhận được nhiều dura. Nền công nghiệp chúng tôi bị tàn phá hoại, một phần rơi vào tay kẻ thù. Trong những điều kiện này sự giúp đỡ của Mỹ có ý nghĩa rất nhiều.



Người Anh cũng rất kiên cường giúp đỡ chúng tôi. Họ dùng tàu biển chở hàng tới Murmansk và cũng chịu nhiều thiệt hại lớn nhiều thiệt hại lớn. Ở đó những hành trình trên con đường dài xuyên qua đại dương, noi mà Đức tàu ngầm Đức hoành hành. Đức tóm được Na Uy và tiến sát Murmansk. Vì thế người Anh chở nhiều ô tô cho chúng tôi qua Iran. Đây là thuận lợi hơn nhiều, vì rằng con đường phía nam không nguy hiểm. Tàu thuỷ dỡ hàng ở vịnh Persic, tiếp theo, ô tô tự đi đến chúng tôi. Ngoài ra, máy bay Mỹ bay qua Alaska, Chukhotka và Sibiri. Ở đó nhận tương đối nhiều hàng.



Tất nhiên điều này không phải hoàn toàn giải quyết tất cả, nhưng thiếu nó và thì những quyết định chủ yếu cho sự nghiệp không làm được. Từ máu của những chiến sĩ chúng tôi và kỹ thuật từ phía Mỹ và Anh tổng hợp lại đã đảm bảo chiến thắng, đảm bảo hoạt động của Hồng quân, giáng cho kẻ thù những thiệt hại lớn cho kẻ thù chung. Chúng tôi cũng nhận khi đó một lượng lớn thực phẩm. Tôi bây giờ không thể nêu những con số cụ thể, hoặc là không ở đâu và không bao giờ công bố. Có không ít chuyện tiếu lâm, trong số này có cả những chuyện tục về thịt hộp Mỹ. Và dù sao chăng nữa thịt hộp này là ngon. Xuất hiện nhiều những câu đùa về đồ hộp Mỹ, nhưng thịt hộp chúng tôi vẫn ăn. Không có thực phẩm Mỹ thì chúng tôi rất khó nuôi quân đội. Vì chúng tôi mất những vùng đất trồng trọt tốt nhất - Ukraina và bắc Kavkaz. Điều này phải tự hình dung khó khăn như thế nào trong điều kiện như thế mà tổ chức đảm bảo tiêu dùng của cả nước.



Ngoài ra, chúng tôi đã nhận từ các nước đồng minh nhiều thiết bị kỹ thuật mới, mà tôi không có hiểu biết về chúng. Đối với lực lượng phòng không chúng tôi đã nhận rada. Người chỉ huy lực lượng phòng không nói với tôi rằng thiết bị này đến từ nước Anh. Trước đây chúng tôi trang bị hệ thống phòng không chỉ bằng đèn pha và “tai nghe”, tương đối thô thiển và phức tạp. Về những thiết bị điện tử phức tạp, chúng tôi cũng không có kiến thức, người Anh đã dạy cho chúng tôi sử dụng. Tại điểm chỉ huy hàng không người ta dạy tôi có thể theo dõi máy bay kẻ địch trên màn hình của thiết bị này.



Ngắn gọn, phải thành thật thừa nhận sự đóng góp của các nước đồng minh vào sự thất bại Hittler. Không thể khoác lác rằng: Đấy nhé, chúng tôi đeo gươm đi và chiến thắng, còn họ khi kết thúc mới đến. Quan điểm như thế có thể tin được, nếu xem xét chỉ có sự đóng góp các nước đồng minh từ quan điểm sự đổ bộ lính, nghĩa là sự tham gia trực tiếp của lính Mỹ và Anh chống Đức tại lục địa châu Âu. Lúc ấy sẽ tin được. Nhưng vũ khí và vật chất mà họ giúp đỡ chúng tôi - lại là vấn đề khác. Giả sử họ không giúp đỡ, thì chúng tôi không chiến thắng trong cuộc chiến tranh này, vì rằng chúng tôi bị nhiều thiệt hại lớn trong những ngày đầu tiên chiến tranh. Giờ đây - về sự đổ bộ của các nước đồng minh. Chúng tôi chờ mặt trận thứ hai ở châu Âu năm 1942 và năm 1943. Đặc biệt nó buộc phải làm vào năm 1942, khi chúng tôi ở tình thế rất nặng nềо. Tôi nói chủ yếu về sự tham gia của chúng tôi - mặt trận Tây-Nam và mặt trận Nam, nơi mà năm 1942 chúng tôi bị kẻ thù giáng đòn chí tử. Kẻ địch đặt nhiệm vụ chiếm đoạt dầu mỏ của chúng tôi và xuyên qua Kavkaz vào Iran. Bọn Đức còn xa mới thực hiện được kế hoạch của mình. Tất nhiên nếu các nước đồng minh đổ bộ chính khi đó, thì thiệt hại của chúng tôi nhỏ hơn nhiều.



Bây giờ tôi khó phán xét về ý định của các nước đồng minh trong thời gian ấy. Liệu chăng quyết định không đổ bộ lính bị áp đặt bởi họ muốn đặt gánh nặng lên vai Liên Xô và làm suy kiệt chúng tôi nhiều hơn nữa? Tôi không loại trừ điều này. Hoặc là như người ta người ta giải thích cho chúng tôi: Họ vẫn còn chưa kịp chuẩn bị, rằng họ còn chưa đủ phát triển sản xuất vũ khí, rằng họ chưa chuẩn bị đổ bộ một lượng lớn lính?.. Họ còn cần cái gì lúc ấy? Tôi nghĩ rằng xảy ra điều này, điều khác, nhưng trước hết là ý muốn làm suy kiệt chúng tôi, làm suy kiệt một đồng minh của mình, để mà tham gia cuộc chiến ở giai đoạn hoàn thành và sau này giải quyết số phận thế giới. Lợi dụng kết quả chiến tranh và trói buộc tất cả theo ý mình: không những kẻ thù, mà còn đồng minh. Điều này tôi hoàn toàn nghĩ thế. Và điều này, hình như đóng một vai trò không nhỏ.



Nếu xem xét từ vị trí giai cấp, thì đồng minh không lưu tâm củng cố chúng tôi. Lợi ích của họ là ở chỗ dùng Liên Xô đúng lúc, dù rằng Liên Xô dựa trên nguyên tắc XHCN. Số phận chung của chúng tôi quả là phức tạp đếm nỗi chúng tôi phải cần tập hợp sức mạnh. Một một nước trong đồng minh không thể thắng cuộc chiến tranh, hoặc thắng được nhưng phải mất mát rất khủng khiếp và thời gian kéo dài rất năng nề. Vì thế các bên đi đến một liên minh như vậy và chung sức trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, bỏ lại trong thời kỳ này vị trí giai cấp của mình.



Chúng tôi cũng cho rằng chúng tôi cũng có lợi đáng kể mạnh hơn các nước đồng minh của mình khi chiến tranh gần kết thúc để tiếng nói của chúng tôi đĩnh đạc hơn vang lên khi giải quyết vấn đề quốc tế. Nếu điều này đạt được, thì vấn đề Đức không phải được giải quyết như nó được quyết định tại Postdam. Tại Postdam quyết định là thoả hiệp. Nó dựa trên tương quan lực lượng có được trước khi kết thúc chiến tranh. Đặc biệt là vấn đề quy chế Berlin và Vien. Những thành phố này nằm trong vùng do quân đội xô viết chiếm đóng. Lẽ ra những thành phố này thuộc vào khu vực của chúng tôi. Tuy nhiên các nước đồng minh hoàn toàn không trả lại chúng cho chúng tôi. Những thành phố này được chia thành bốn vùng chúng tôi đã nhận một phần tư, còn ba phần thì Anh, Mỹ và Pháp nhận. Điều này cũng chứng minh tương quan lực lượng trước khi kết thúc chiến tranh.



Mỹ và Anh đã nghĩ nhiều, tất nhiên, từ khi liên minh với với chúng tôi. Vấn đề này trở nên đặc biệt đe doạ họ, khi quân ta chịu đựng đòn của Đức và trong tình hình căng thẳng tất cả các lực lượng, quân đội ta chuyển sang tấn công, rất bền bỉ trên tất cả các mặt trận. Khi chúng tôi tiến sang phương Tây và tiến sát Đức, các nước đồng minh bắt buộc phải vội vàng mở mặt trận thứ hai ở châu Âu, vì rằng họ sợ rằng chúng tôi có thể tiến tiếp đáng kể sang phía Tây từ đường biên giới được xác định ở Yanta, quy định các vùng chiếm đóng đối với từng nước nước tham gia chiến tranh. Tất cả điều đó cũng phải tính đến, chỉ ra tư cách các nước đồng minh, sự đóng góp của họ vào sự nghiệp chung đánh bại Đức Hittler, và chỉ ra vị trí giai cấp của họ.



Bây giờ tôi muốn nói hết về việc lời phát biểu của Stalin đối với quan hệ qua lại với các nước đồng minh trong quá trình chiến tranh, cụ thể với Russevelt và Churchill. Pháp không có lực lượng lớn ở châu Âu, và Stalin chú ý đến Pháp, thực chất, bắt đầu từ Hội nghị Postdam và sau đó. Trước đây, ông chú ý chủ yếu Russevelt và Churchill. Stalin, theo lời ông, có thiện cảm hơn với Russevelt, vì rằng tổng thống Mỹ có hiểu biết với những vấn đề của chúng tôi. Sự gần nhau của Russevelt với Stalin là do sự không thích vương quốc Anh, và hiến pháp của nó.



Stalin có lần kể một chuyện như thế này. Trong thời gian hội nghị Teheran, những người đứng đầu các cường quốc gặp nhau trong bữa ăn trưa Russevelt, nâng cốc, đề nghị uống chúc mừng chủ tịch Liên Xô, ngài Kalinin. Tất cả uống. Lúc sau, Churchill, cũng nâng cốc, tuyên bố chúc vua nước Anh. Russevelt nói rằng ông không uống. Churchill nhìn một cách không bằng lòng, còn Russevelt nói:



- Không, tôi không uống. Tôi không thể uống vì vua nước Anh. Tôi không thể quên lời bố tôi.



Té ra, khi bố Russevelt chạy từ châu Âu sang Mỹ, trên tàu thuỷ, ông nói với con trai về vua Anh:



- Ông ta là kẻ thù của cha.



Người con không quên điều này và, chẳng nể gì, không nâng cốc.



Tại các cuộc hội đàm công việc và những vụ tranh cãi phát sinh, Stalin rất thường gặp sự ủng hộ từ phía Russevelt chống Churchill. Như thế, ở Stalin sự thiện cảm rõ ràng có lợi cho Russevelt, mặc dù ông cũng đánh giá Churchill và kính trọng ông. Đó là chính khách, một người hoạt động không những cho nước Anh, mà ông giữ một trong những vị trí đi đầu trong chính sách thế giới. Khi Anh thất bại cuối 1944 ở Ardena, còn quân Đức đe doạ quân đồng minh tại mặt trận thứ hai, Churchill đề nghị Stalin giúp đỡ, bằng cách chúng tôi thu hút quân Đức về mình. Để làm điều này chúng tôi cầm tiến hành một chiến dịch tấn công bất thường. Chúng tôi tiến hành chiến dịch, mặc dù nó được vạch kế hoạch trong một thời hạn rất ngắn. Điều này thể hiện tình hữu nghị và sự giúp đỡ đồng minh, gặp tình hình nặng nề. Điều này được Stalin tiến hành rất tốt, ông biết và hiểu những việc như thế, và cho tiến hành.



Tôi nhớ Stalin đôi lần nói về tính tình Eisenhower. Ông nhận xét Eisenhower là người tốt bụng, sự giống nhau nghĩa hiệp đối với mối quan hệ tương hỗ với đồng minh. Đôi lần tôi đã nghe những lời phát biểu như thế tại các cuộc họp hẹp ở Stalin từ sau chiến tranh, nhưng lúc ấy tôi chưa về Moskva. Nhưng khi tôi bắt đầu làm việc ở Moskva và thường có mặt ở chỗ Stalin, ông hay mời tôi, khi ông đi nghỉ ở Kavkaz. Tôi cảm thấy Stalin đơn giản không chịu được sự cô đơn và thậm chí còn sợ nó. Ở ông xuất hiện sự sợ hãi trước cô đơn. Đây là đối với tất cả chúng tôi (tôi nói về các thành viên lãnh đạo đất nước gần gũi Stalin). Được nghỉ và ăn cơm cùng với ông được coi là một vinh dự lớn. Nhưng đó cũng là một gánh nặng lớn.



Một lần tôi với ông cùng với ông nghỉ tròn một tháng. Ông bố trí tôi bên cạnh ông. Cùng sinh hoạt, ăn trưa, ăn tối bên nhau. Nhưng đây là ngoài công việc. Nhưng nếu ông biết rằng đây nghĩa là công việc, thì đây là gánh nặng biết chừng nào, cần ăn hết bao nhiêu và nói chung là bị hại hoặc không thích thú gì, chỉ có đừng phá hoại mối quan hệ cá nhân! Mối quan hệ với anh thể hiện tình bạn tốt nhất và thành nạn nhân. Nhưng cuộc sống như thế phần nào có ích bằng cách có những cuộc nói chuyện, từ đó có thể rút ra sự có lợi cho bản thân và những kết luận chính trị khác nhau.



Trong quá trình nói chuyện như thế tôi nhiều lần đã nghe từ Stalin những nhận xét rất tán dương về sự đứng đắn Eisenhower. Stalin nói rằng khi chúng tôi tấn công về Berlin, giá như từ phía các nước đồng minh không phải là Eisenhower, mà là một tư lệnh tối cao khác của quân đội của họ, thì chúng tôi tất nhiên, không chiếm được Berlin, đơn giản vì không kịp. Lẽ ra người Mỹ chiếm Berlin sớm hơn chúng tôi. Và điều này quả là như thế, vì rằng quân Đức tập trung chủ lực chống chúng tôi và chuẩn bị đầu hàng phương Tây. Stalin viết thư cho Eisenhower, trong đó nói rằng theo thoả thuận giữa các đồng minh và có tính đến máu nhân dân chúng tôi đổ ra, chúng tôi muốn bộ đội chúng tôi là người đầu tiên tiến vào Berlin, mà không phải là liên minh. Như Stalin kể, Eisenhower khi đó làm chậm, kìm quân đội mình và ngừng cuộc tấn công. Ông cho bộ đội chúng tôi khả năng tiêu diệt bọn Đức và chiếm Berlin. Như thế, chúng tôi đã nhận được ưu tiên, chiếm được thủ đô Đức. Người khác họ không làm như thế. Giả thử Berlin bị Mỹ chiếm, khi đó, theo lời Stalin, có lẽ vấn đề số phận Đức sang hướng khác, tình thế của chúng tôi xấu đi đáng kể. Eisenhower thể hiện cử chỉ nghĩa hiệp và tin vào lời hứa của Russevelt nói với chúng tôi. Stalin kính trọng Russevelt.



Trong thời gian này tổng thống mới của Mỹ là Truman, người mà Stalin cũng không kính trọng, và không đánh giá. Và, hình như đúng vì rằng Truman xứng đáng với những quan hệ như thế. Stalin kể một sự kiện và cũng liên quan trước khi kết thúc chiến tranh, khi quân Đức bị quân đội chúng tôi dồn đên chân tường đầu hàng và không thể kháng cự, cần phải hạ vũ khí và đầu hàng. Nhiều lính Đức từ chối đầu hàng quân đội chúng tôi và chạy sang phía Tây, để đầu hàng người Mỹ. Lại tiếp tục một yêu cầu Stalin tới Eisenhower: như đã kể rằng quân đội xô viết đổ máu, đánh bại quân thù, còn kẻ địch, đứng trước quân đội chúng tôi, mà lại đầu hàng làm tù binh ở người Mỹ; điều này là không đúng. Eisenhower ra lệnh không nhận bọn Đức làm tù binh (có lẽ ở phía bắc nước Áo, nơi Malinovski tấn công) và đề nghị tư lệnh lực lượng Đức đầu hàng làm tù binh ở người Nga, bởi vì chính vũ khí Nga chiến thắng quân đội họ.



Stalin cũng kể rằng ông có những yêu cầu tương tự với Churchill. Tại vùng bắc Đức, nơi Monttegomery chiếm, quân Đức cũng chạy khỏi bộ đội Rokossovski sang phía người Anh. Stalin đề nghị người Anh không nhận chúng làm tù binh và buộc phải đầu hàng quân đội chúng tôi.



- Chẳng ra sao cả! - Stalin tức giận - Monttegomery vơ về mình tất cả bọn chúng và lấy hết vũ khí. Bộ đội chúng tôi đánh tan bọn Đức, còn Monttgomery gặt hái kết quả.



Cả Eisenhower, cả Monttgomery - cả hai đại diện cho giai cấp tư sản. Nhưng họ quyết định một cách khác nhau và tuân theo những nguyên tắc bè bạn, thoả thuận, cũng theo cách khác nhau.



Khi tôi làm việc với Eisenhower, những hoạt động trước kia của ông luôn luôn dường như đứng trước tôi. Tôi nhớ lại những lời mà Stalin kể, và tôi tin ông; Không thể nào nghi ngờ Stalin trong sự thiện cảm với một ai đấy. Trong vấn đề giai cấp, Stalin là không thể mua chuộc và không khoan nhượng. Stalin một con quỷ chính trị rất mạnh, mà ông sử dụng sự kính trọng cao của chúng tôi để làm việc đó.



Trước khi chiến tranh kết thúc, Stalin rất lo ngại rằng liệu người Mỹ có vượt qua đường ranh giới của quân đội liên minh. Tôi cũng nói rằng đánh lại chúng tôi chỉ có bọn Đức chống cự có tổ chức, còn người Mỹ tấn công từ từ và dế dàng cắt ngang đường phân giới. Stalin nghi ngờ, liệu họ có nhượng bộ, giữ lời, mà Russevelt hứa ở Teheranе. Họ có thể nói rằng quân đội của họ ở lại đó, rút đi đâu, và cái đó bây giờ là đường phân chia khu vực chiếm đóng. Nhưng không, người Mỹ rút quân đội của mình trước đây và bố trí họ theo đường được thoả thuận ở Teheranе, từ trước khi chiến thắng Đức. Điều này cũng chứng minh sự đứng đắn Eisenhower. Từ những yếu tố như thế, mà mối quan hệ tốt của Stalin đối với Eisenhower được xây đắp. Vì thế Stalin cũng mời Eisenhower tới buổi diễu binh mừng chiến thắng và bầy tỏ sự thừa nhận của chúng tôi về công lao của ông, bằng phần thưởng là huân chương cao quý nhất của quân đội Liên Xô - huân chương “Chiến thắng.



Đây là một một phần thưởng rất cao. Thật ra, huân chương như thế cũng được tặng cho cho thống chế Monttrmery. Nhưng trong trường hợp đã nêu, đây là thực hiện một cách hình thức món nợ của chúng ta với đồng minh, vì rằng người Anh cũng tặng cấp chỉ huy của chúng ta những huân chương của mình. Ở đây diến ra chỉ có sự tương hỗ chính thức, còn Eisenhower, Stalin tách riêng. Sau đó tôi nhiều lần gặp Eisenhower, nhưng về điều này tôi sẽ kể ở chỗ khác.



Bây giờ tôi muốn phát biểu suy nghĩ của mình về chủ đề, liệu Liên Xô đã xây dựng điều kiện để cung cấp tất cả cho Hồng quân, để cho Hồng quân có thể đương đầu cho kẻ thù. Tiếp theo, vấn đề cụ thể như thế này: liệu Hồng quân có thể đương đầu với quân đội Hittler, như Vorosilov và Stalin khi đó đã nói, không nhượng bộ một thước đất cho kẻ thù? Liệu có thể tiêu diệt quân thù chỉ trên lãnh thổ của chúng? Có những khẩu hiệu như vậy. Tất cả thế giới cảm thấy sự lừa dối của khẩu hiệu này, sự không đảm bảo cho Liên Xô bởi sức lực thật. Nhưng liệu chúng tôi có thể làm nó thành hiện thực? Hoàn toàn, có thể. Vấn đề khác, ngoài kinh tế, điều này phụ thuộc rất mạnh vào vấn đề cán bộ quân sự, đặc biệt trong thời kỳ đầu chiến tranh. Liệu chúng tôi có thể dễ dàng thắng phát xít Đức, nếu như vào thập niên 1930 những cán bộ quân sự của chúng tôi không bị giết. Đội ngũ cán bộ chỉ huy hồng quân bị giết ở mức độ rất lớn.



Tôi không có con số cụ thể, bao nhiêu sĩ quan cấp bậc khác nhau bị giết. Nhưng nếu xem ở đội ngũ chỉ huy cao cấp thì rõ ràng gần như tất cả đội ngũ - từ tư lệnh quân đoàn, quân khu đến tư lệnh sư đoàn - bị giết. Nhưng chính đây là những người có kiến thức giỏi, những người này tốt nghiệp Học viện quân sự, còn một số - theo học cả hai Học viện: Học viện xã hội quân sự và Học viện chuyên ngành. Đội ngũ sĩ quan trung cấp có trình độ trung học. Nhưng cái quý giá nhất là họ trải qua nội chiến và các cuộc chiến tranh khác, có kinh nghiệm quan trọng. Khi tham gia nội chiến, họ không có những kiến thức cần thiết, nhưng sau khi kết thúc nội chiến, họ học các kiến thức lý luận và chuyên ngành quân sự và họ và tích luỹ nhiều kinh nghiệm chỉ huy binh đoàn, còn trước đó họ trải qua các trường quân sự và sĩ quan chiến tranh thế giới I, trong hồng quân, họ trở thành chỉ huy ở mức độ và cấp bậc khác nhau và, tham gia tập trận, và hành binh. Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm đây là cuộc sống những cán bộ này, để dạy các cách cần thiết huấn luyện những người này. Họ hoàn toàn xứng đáng với chức vụ của mình và sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ của mình trước tổ quốc.



Đáng tiếc, những người này bị giết, sau đó người ta điều động đến chức vụ chỉ huy những người chẳng có một chút kiến thức, một chút kinh nghiệm. Vì thế, trong thời gian chiến tranh, trên chiến trường họ cũng tiến hành thực hành và đào tạo bộ đội. Nhưng điều này hoàn toàn không phải là trong điều kiện hoà bình. Sự thật sự chín muồi đến nhanh hơn, nhưng tốn kém của nhân dân nhiều hơn. Khi nhập vai trên bản đồ hoặc chiến dịch khác, họ tính toán: chừng này nghìn người chết; nhưng đó là sự thiệt hai quy ước. Trên mặt trận không phải chết theo quy ước mà là chết sạch. Giá như giữ lại được những cán bộ đã trải qua trường học cần thiết từ trước chiến tranh, thì chúng tôi cgỉ bị những thiệt hại nhỏ hơn đáng kể. Điều này ai cũng biết, và điều này nhất định cần tính đến khi phân tích những biến cố thời kỳ đầu chiến tranh. Đáng tiếc, không có ai vén lên bức màn che này. Những người bị giết vào thập niên 1930, được coi “kẻ thù nhân dân”.



Vì sao cái chết của những con người này không gắn với lỗi của ai mà những người này bị thiệt mạng; ngược lại, việc giết họ thậm chí được coi là thành tích.



Chà, khi đó tất cả chúng tôi bị lừa, tất cả đã tin sự sáng suốt “người Cha và lãnh tụ vĩ đại của nhân dân xô viết của Stalin” đã cứu chúng tôi khỏi kẻ thù. Nhưng sau này, tại Đại hội 20 ĐCSLX, tất cả các vấn đề này được mang ra và được làm sáng tỏ không chối cãi được. Những sự kiện không chối cãi được có thể được trình bày cho những ai muốn tiến hành phân tích sâu những việc đã xảy ra. Tuy nhiên vẫn còn những người, từng thật sự run sợ trước xi lip bẩn của Stalin, vẫn như trước đây đứng trước Stalin ở mặt trận và cho rằng về mặt lịch sử không tránh khỏi thiệt hại, và rằng họ đã nói về sự vĩ đại ở chỗ ai không bị dừng lại trước những mất mát, còn dẫn nước ta đi đến nơi này... nơi kia..., tại phòng tuyến như thế, cố đạt được cái này, cái kia... Tôi thậm chí tôi không biết, làm thế nào để nêu tên những người ấy, những người lập luận như thế. Nhưng giá như không có những thiệt hại như thế và sự lạm quyền? Chẳng có lẽ lại tồi đi? Tôi nhớ lại Lenin nói về Stalin, rằng Stalin là người không chịu nổi, vì thế cần loại bỏ Stalin khỏi quyền lực của Đảng. Giá như điều này được làm, thì cuộc chiến tranh cứu Liên Xô chúng tôi trả giá nhiều lần ít hơn so với cái giá của “người Cha đẻ, lãnh tụ vĩ đại và thiên tài nhất”.



Đáng tiếc, những người này bị giết, sau đó người ta điều động đến chức vụ chỉ huy những người chẳng có một chút kiến thức, một chút kinh nghiệm. Vì thế, trong thời gian chiến tranh, trên chiến trường họ cũng tiến hành thực hành và đào tạo bộ đội. Nhưng điều này hoàn toàn không phải là trong điều kiện hoà bình. Sự thật sự chín muồi đến nhanh hơn, nhưng tốn kém của nhân dân nhiều hơn. Khi nhập vai trên bản đồ hoặc chiến dịch khác, họ tính toán: chừng này nghìn người chết; nhưng đó là sự thiệt hai quy ước. Trên mặt trận không phải chết theo quy ước mà là chết sạch. Giá như giữ lại được những cán bộ đã trải qua trường học cần thiết từ trước chiến tranh, thì chúng tôi cgỉ bị những thiệt hại nhỏ hơn đáng kể. Điều này ai cũng biết, và điều này nhất định cần tính đến khi phân tích những biến cố thời kỳ đầu chiến tranh. Đáng tiếc, không có ai vén lên bức màn che này. Những người bị giết vào thập niên 1930, được coi “kẻ thù nhân dân”.



Vì sao cái chết của những con người này không gắn với lỗi của những ai làm những người này bị thiệt mạng; ngược lại, việc giết hại họ thậm chí được nâng thành công lao.



Chà, khi đó tất cả chúng tôi đã bị lừa, tất cả đã tin vào sự sáng suốt “người Cha và lãnh tụ vĩ đại của nhân dân xô viết của Stalin” cứu chúng tôi khỏi kẻ thù. Nhưng sau này, tại Đại hội 20 ĐCSLX, tất cả các vấn đề được đưa ra và được làm sáng tỏ một cách không thể chối cãi. Tuy nhiên vẫn còn những người, run sợ trước cái quần đùi bẩn của Stalin, vẫn như trước đây đứng trước mặt Stalin ở mặt trận và xem rằng về mặt lịch sử không tránh được thiệt hại và họ nói về sự vĩ đại của một người không dừng bước trước mất mát, còn dẫn dắt nước ta đi đến nơi nọ, nơi kia, nước ngoài thế này thế kia, cố đạt được cái này, cái kia. Tôi thậm chí tôi không biết, làm thế nào vạch mặt những người lập luận như thế. Giá như không có những thiệt hại và sự lạm quyền. Chẳng có lẽ lại tồi hơn? Tôi nhớ Lenin nói về Stalin. Rằng Stalin là người không chịu nổi, vì thế cần loại bỏ Stalin khỏi quyền lực Đảng. Nếu như điều này được làm, thì cuộc chiến tranh vệ quốc Liên Xô sẽ tốn nhiều lần ít hơn ở chế độ “Cha đẻ, vị lãnh tụ thiên tài và vĩ đại nhất”.



Chuẩn bị bước vào chiến tranh - những bài học thực địa, tiến hành chiến dịch trên bản đồ, huấn luyện quân, mặc dù thiếu nó thì không thể sẵn sàng chiến đấu. Nếu không xây dựng những điều kiện vật chất cần thiết, không xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, thì chẳng bao giờ chiến đấu thắng lợi. Vấn đề chủ yếu là cung cấp đủ và sản xuất vũ khí: máy bay, pháo, tăng, vũ khí bộ binh, xe, máy, và những vũ khí khác để đánh bại quân thù. Cần có cả một số vũ khí phòng mọi trường hợp: vũ khí hoá học và vi trùng. May mắn, chiến tranh xảy ra không sử dụng những vũ khí này, nhưng trong chiến tranh thế giới 1, hơi đọc đã được sử dụng. Nếu như không có từ trước những vũ khí như vậy, mag dịch sử dụng nó, thì quân đội ta lâm vào tình thế hiểm nghèo. Tiếp theo, vũ khí này, cần thiết trong quá khứ, phải sẵn sàng, than ôi, hiện tại, và thậm chí trong tương lai, nó tồn tại ở bên hệ thống xã hội đối lập. Ở mức độ nào đấy chúng tôi bắt buộc tích luỹ những vũ khí như thế và giữ chúng dự phòng



Như vậy, tôi kể sự đàn áp trong quân đội. Khó tính được hết tất cả, tôi muốn được dừng lại chỉ ở một số người. Thí dụ Garmanik, phó Dân uỷ quốc phòng Liên Xô. Đó là một chính khách lớn, một nhà tổ chức rất tốt, người trực tiếp tham gia xây dựng Hồng quân. Chức vụ phó Dân uỷ quốc phòng cũng là rất lớn. Erorov - một chỉ huy quân đội lớn. Ngay từ thời nội chiến, ông chỉ huy mặt trận Tây-Nam. Tukhachevski ở tuổi 27, chỉ huy hàng loạt. Lenin đích thân trao cho Tukhachevski tiến hành nhiều chiến dịch: Krostadt, chống Antonov, chống Kolchak và Denikin, chống bọn Balan trắng. Khi tử hình ông, bao nhiêu là những lời to nhỏ ti tiện nhằm vào ông từ những người tài năng chẳng đứng đến rốn ông, thậm chí không hơn đầu gối ông. Nhưng họ đá hậu ông.



Nếu trong nội chiến, chiến dịch tiến hành dưới sự chỉ huy Tukhachevski, thì khi thất bại họ trút tội vào chính Tukhachevski. Họ đổ cho ông là “không có tầm cao”, tuy thế thậm chí những chiến dịch phức tạp hơn, liên quan đến vấn đề sống còn của đất nước xô viết, Lenin vẫn kiên định, trao quyền cho Tukhachevski. Lenin đánh giá ông, và đánh giá đúng. Tôi gặp Tukhachevski, mặc dù biết ông không gần nhưng cũng không quá xa. Khi tôi công tác bí thư thành uỷ và tỉnh uỷ Moskva, tôi vẫn thường gặp ông, không những tại Plenum: tôi với ông không ít lần đến chỗ ông, ông cho tôi xem những vũ khí mới của quân đội. Tôi nói vũ khí mới có liên quan với trang bị Hồng quân và những thiết bị kỹ thuật của nó. Tôi vẫn giữ những kỷ niệm về Tukhachevski.



Bây giờ - Yakir. Yakir trước kia là sinh viên, trước năm 1917 không được học về quân sự. Ông không tham gia chiến tranh thế giới 1, còn thời kỳ nội chiến, ông bắt đầu sự nghiệp công danh của mình, thành lập một đội. Trang bị khi đó ai có gì thì dùng, còn vũ khí chính của những người lao động là sự căm thùь đội ngũ cũ và trung thành với đội ngũ mới, theo tên của nó và đi chiến đấu. Đội của Yakir lớn dân sau đó thành sư đoàn. Ông chỉ huy nó, còn lại ở miền nam, nơi nó bị cắt khỏi lực lượng chính của Hồng quân, sư đoàn đi xuyên qua bạch vệ và về tập đoàn quân của mình. Nội chiến kết thúc, ông giữ chức vụ cao trong hồng quân, chỉ huy bộ đội Ukraina và Krym, các quân khu khác, nhưng sau đó bị bắt và bị hành quyết.



Eideman. Ông là nhà thơ và là một người lính Được coi là một chỉ huy quân đội. Ông lãnh đạo Osoaviakhim, bị bắt và cũng bị hành quyết. Tôi quên họ ông, chỉ biết ông là người Estonia, từng là sĩ quan quân đội Nga hoàng, nhưng đã cùng với chúng tôi trải qua suốt nội chiến, sau đó chỉ huy quân đoàn Moskva và những quân khu khác. Tôi biết ông ở Moskva. Ông cũng được coi là một chỉ huy quân đội lớn, cũng bị bắt với Tukhachevski và Yakir và bị hành quyết cùng với họ.



Người ta nói rằng Garmanik không bị hành quyết. Tôi biết, chính Garmanik bị bắn. Nhưng ông thấy trước rằng sẽ bị hành quyết. Người ta đến bắt ông. Đội hành quyết kéo ông tới cột, và ông quyết định tốt nhất là kết liễu đời mình bằng tự sát. Đó là một người tự trọng. Nhưng Bliukher? Bây giờ báo chí liên tục xác nhận: Bliukher đã nhận huân chương Cờ Đỏ đầu tiên, Bliukher làm điều này, Bliukher làm điều nọ... Không ai có can đảm nói hết ra Bliukher chết như thế nào. Tại nơi ông ở, khi xảy ra chiến tranh с Hittler? Nhưng ông cũng đã. Vì sao? Ông chết? Không, ông cũng bị hành quyết với tội “kẻ thù nhân dân”.



Ông là một công nhân, nghề thợ nguội, có kinh nghiệm quân sự trong chiến tranh thế giới 1 là hạ sĩ quan, còn sau đó trưởng thành là một chỉ huy quân đội lớn, chỉ huy một binh đoàn trong nội chiến, từng là cố vấn xô viết nên cạnh Tưởng Giới Thạch (người mà chúng tôi khi đó đã tin là một nhà quân sự và chính khách), chỉ huy quân đội quân khu Viễn Đông, quân khu này là mối đe doạ kẻ thù và là tấm chắn cho đất nước xô viết. Bây giờ người ta đặt tượng ông. Thật là ngượng không muốn nói sự thật cho nhân dân rằng Bliukher bị chết bởi chính tay của con người mà Lenin từng nói rằng không thể tin được? Đúng, tượng Bliukher là cần. Nhưng tượng ông cần phải đặt như thế này để mọi người biết rằng cái chết không tự nhiên của một người đã tước đoạt khả năng sử dụng tài năng của Bliukher trong chiến tranh chống bọn Đức.



Cách đây không lâu, tôi xem phim “Suối thép” dựa theo một tiểu thuyết nổi tiếng. Đó là cuốn sách đầu tiên nói về nội chiến, mà tôi trải qua trong đời mình. Sách được viết bởi nhà văn tài ba Sarafimovich, cuốn sách này giờ đã lên màn ảnh. Tôi xem phim này không phải lần đầu tiên, như thường lệ, lo lắng và đau khổ, luôn không thể rời khỏi ý nghĩ trong đầu: tôi thấycon người dũng cảm và thông minh, tư lệnh quân tiên phong Tamansk? Trong sách gọi là Kozykh, tên trong thực tế là Kovtykh. Kovtykh thể hiện tài năng và thông minh và lòng dũng cảm: ông chỉ huy tập đoàn quân Tamansk, đột phá vòng vây bạch vệ. Khán giả khâm phục nhân vật tài năng và những chiến sĩ của ông - những người nông dân và những người kazak vùng Kubansk, họ thoát khỏi vòng vây cùng với gia đình của mình. Hỏi rằng Kovtykh đâu rồi? Ông làm gì trong thời gian cuộc chiến tranh này? Không, Kovtykh. Ông cũng rơi vào “kẻ thù nhân dân” và bị bắn. Anh có thể tự hình dung? Nếu như Kovtykh còn sống và chỉ huy binh đoàn của mình trong cuộc chiến đấu với Đức, thì có lợi như thế nào? Khi ông bị bắt, ông có chức vụ tư lệnh quân đoàn, một chức vụ quân đội lớn. Chẳng có lẽ chỉ mình Kovtykh? Còn ai khác?



Họ cũng chết bởi tay của Stalin như “kẻ thù nhân dân”.



Giờ đây phải trả lại tên tuổi họ. Điều này được làm sau Đại hội 20. Nhưng và bây giờ nhiều người lờ đi. Tôi cho rằng không những cần phải trả lại tên tuổi họ, mà còn xem họ là những người tuẫn tiết của bọn khủng bố do Stalin tiến hành dưới khẩu hiệu đấu tranh với “kẻ thù nhân dân”.



Ông ta là cái gì cơ chứ? Ông thiên tài ra sao? Ông là “bố đẻ” của nhân dân xô viết, người ta nói ông ta như vậy trong các cuộc mit tinh và lặp lại điều này ở đâu phải làm và ở đâu không phải? Trong văn học ông cũng được đưa ra “bố đẻ”.



Không, lớp vỏ bọc trước đây sẽ bị bóc trần, và Stalin sẽ hiện ra trước nhân dân xô viết, xứng với vị trí của ông lịch sử.



Lại còn một chỉ huy quân sự lớn, cũng xuất thân từ nhân dân - Fedko. Trong những hoạt động cuối cùng của mình, ông chỉ huy quân khu Kiev và trở thành phó Dân uỷ quốc phòng. Sau đó bị bắt năm 1938 và cũng chết, giống những những người lương thiện khác, bị buộc tội “kẻ thù nhân dân”.



Người ta kể cho tôi về Ivan Namovich Dubov. Dubov - xuất thân từ một gia đình vô sản. Bố ông - thợ mỏ Donesk có thâm niên trước cách mạng. Trong thời gian chiến tranh thế giới 1, Ivan tốt nghiệp trường nghề và trở thành sĩ quan. Sau đó bắt đầu nội chiến, và ông là phó tư lệnh sư đoàn, còn tư lệnh là Sors. Tôi quen Dubov muộn hơn, tại Đại hội ĐCS Ukraina. Ông luôn luôn là thành viên những Đại hội này. Đặc biệt tôi làm quen với ông năm 1928-1929, khi công tác tại Kiev, lãnh đạo đảng uỷ khu vực, còn Dubov trợ lý tư lệnh quân khu Ukraina. Ông rất thân với Nicolai Nestrerovich Demchenko, bí thư khu uỷ Kiev. Tôicũng kính trọng ông này, tôi thường gặp ông, cùng ông đến thăm bộ đội. Dubov là bạn thân Yakir. Tôi vui mừng là chúng tôi có vị tư lệnh như thế trong hồng quân, tinh thần và thể xác trung thành với sự nghiệp cách mạng, chính quyền Xô viết và CNXH.



Khi bắt đầu phanh phui “kẻ thù nhân dân” và giết Yakir, Tukhachevski và những người khác, thì một thời gian sau, Stalin gửi cho chúng tôi những “chứng cớ” của họ. Stalin có lần khác làm điều này. Hiếm, nhưng ông gửi. Tôi đọc những “chứng cớ” của Dubov. Té ra, những chứng cứ này được Dubov tự tay viết. Ông viết rằng ông giết Sors, rằng mô tả nơi giết như thế nào, nơi mà Sors chỉ huy sư đoàn chiến đấu:



- Chúng tôi và Sors nằm và quan sát trận đánh. Bỗng nhiên súng máy địch khạc đạn vào hướng chúng tôi. Chùm đạn khá trúng quanh các chiến sĩ của chúng tôi. Chúng tôi cũng bắn lại bằng súng máy. Tôi ở phía sau, còn Sors phía trước, ông quay lại: “Vania, Vania, quân bạch vệ có súng máy tốt, nhìn đi, ngay lúc nó khạc đạn”. Sau đó ông quay sang và muốn nói cho tôi một điều gì đó. Lúc ấy tôi giết ông ta - bắn vào thái dương. Tôi giết ông ta để sau đó chiếm chỗ của ông ta nghĩa là chỉ huy sư đoàn này.



Bạn có thể tự hình dung tôi căm phẫn như thế nào? Tôi kính trọng con người này, và bỗng nhiên ông làm điều đểu cáng như thế. Tôi tự rủa mình: sao tôi lại mù như thế! Khi tôi biết ông là kẻ giết Sors! Sau Đại hội 20, khi chúng tôi mở lưu trữ, xem lại sự việc của những người bị gọi là “kẻ thù nhân dân”, bị bắn và bị bóp cổ, tôi đã thấy tất cả là dối trá, lừa đảo. Té ra tôi lần thứ hai bị lừa: lần thứ nhất Dubov là người lừa dối, khi tôi xem Dubov là người lương thiện, còn ông “thú nhận” những tội ác của mình; còn lần thứ hai tôi cũng bị lừa là kẻ sát nhân này, chính là Stalin.



Tôi hoàn toàn giả thiết đây là những chứng cớ do Dubov tự tay viết và tự ông kể và “những tội ác”của mình, thú nhận mình giết Sors - một người bạn thân. Lúc đó tôi biết, người ta đã làm Mereskov thành “kẻ thù nhân dân” như thế nào. Mereskov cũng tự tay mình viết chứng cớ, trong đó công nhận mình là gián điệp Anh, là kẻ thù nhân dân và v.v... Tôi không đọc những chứng cớ của ông, năm 1941 Stalin cũng không cần những nhân vật khác trong ban lãnh đạo ủng hộ mình, đơn giản ông tự lập toà án và giết mọi người. Chiến tranh xảy ra, Beria kể cho tôi chuyện ấy, nghĩa là nguồn tin tương đối đúng. Beria kể về một người nào đó, một người bất khuất, Beria phát biểu như thế này:



- Hãy nghe đây, đưa hắn cho tôi một đêm thôi, và hắn sẽ thú nhận rằng hắn là vua nước Anh.



Quả là Beria biết, làm thế nào có thể đạt được, và không phải chỉ một lần đạt được. Lúc đó, khi Stalin còn sống, Beria cũng nói như thế, sau này, khi chúng tôi mở tư liệu lưu trữ, bắt và kết tội Beria, thì chúng tôi nhìn thấy, bằng cách nào ông đạt được mục đích của mình.



Beria ngay từ khi Stalin còn sống kể về sự kiện bắt Mereskov và tước bỏ công lao của ông:



- Tôi đến gặp đồng chí Stalin và tôi nói: “Đồng chí Stalin, Mereskov ngồi ở đây như gián điệp Anh”. Ông ấy là gián điệp à? Ông một người trung thực. Chiến tranh xảy ra, còn ông thì ngồi lại. Giá như ông có thể chỉ huy. Ông hoàn toàn không phải là gián điệp Anh.



Tôi và bây giờ không thể hiểu, ai bắt Mereskov? Beria đổ tội tất cả lên đầu Abakumov. Nhưng Abakumov là ai chứ? Là người của Beria. Abakumov tham gia hoạt động trước trước Beria, cũng trước cả Stalin. Abakumov không thể bắt Mereskov, mà không tư vấn với Beria và thiếu sự phê chuẩn của Stalin.



- Và thế là - Beria tiếp - Stalin nói: “Đúng rồi. Anh gọi Mereskov và nói chuyện với ông ta”. Tôi gọi Mereskov và tôi nói: “Mereskov, anh viết những điều ngốc nghếch, anh không phải gián điệp. Anh là một người trung thực, một người Nga, làm sao anh có thể là gián điệp anh? Nước Anh cần gì anh? Anh là người Nga lương thiện”. Mereskov nhìn cho tôi và trả lời: “Tôi đã nói tất cả. Tôi tự tay mình viết rằng tôi là gián điệp Anh. Tôi không thể và tôi không biết thêm một cái gì nữa, vì lẽ gì ông lại gọi tôi đến hỏi cung”. “Không phải hỏi cung. Tôi muốn anh nói rằng anh không phải là gián điệp. Đi đi, vào buồng giam, ngồi, nghĩ đi, không vội, tôi sẽ gọi anh”. Người ta lại dẫn ông vào buồng giam. Sau đó, ngày thứ hai, tôi gọi Mereskov và hỏi: “Thế nào, nghĩ kỹ chưa?”. Mereskov bắt đầu khóc: “Làm sao tôi có thể là gián điệp? Tôi là người Nga, tôi yêu nhân dân tôi và tôi tin họ”. Người ta thả Mereskov, phong tướng cho ông và ông ra mặt trận để chỉ huy.



Còn bây giờ, khi tôi thấy Mereskov lần cuối cùng, nhưng không còn là Mereskov nữa, mà là cái bóng của ông. Trước đây ông là một vị tướng trẻ, thân hình rắn chắc, một người mạnh mẽ, còn bây giờ ông đi lại chậm chạp. Tôi biết ông được tặng thưởng nhân 50-năm Quân đội xô viết. Điều đó, tất nhiên, một phần thưởng về công lao. Nhưng sức khoẻ của ông đã bị Stalin lấy mất, và ông là một người trung thực bị biến thành “kẻ thù nhân dân”, thành gián điệp anh, được cứu thoát một cách lạ lùng và tôi không biết, cái đầu Beria nghĩ như thế nào. Tôi nghĩ rằng Beria muốn đưa Mereskov trở về hàng ngũ tướng lĩnh có tài năng, muốn đưa ông trở lại quân đội để ông làm công việc của mình, chỉ huy quân đội và đánh lại quân Đức đang tràn vào đất nước chúng tôi.



Không loại trừ, rằng Beria có thể xử sự như thế còn do tầm nhìn xa: không ai sống hai thế kỷ, còn vị tướng tài năng Mereskov trong đời mình lại chiếm một chỗ tương xứng trong quân đội, có thể có hữu ích cho Beria. Beria rất quỷ quyệt, và tôi không loại trừ, đây là bước đi lớn về mặt chính trị, đưa những tướng lĩnh “của mình” rơi vào tay ông, để khi cần có thể sử dụng trong tương lai.



Tôi mất nhiều thời gian để tính ai chết do sự phản bội và khủng bố. Vả lại, đối với tôi việc hồi tưởng lại điều này, có lẽ, cũng không cần. Có thể khi nào đấy con cháu chúng ta, những nhà sử học đào bới trong lưu trữ và lôi tất cả ra ánh sáng. Điều này tất cả sẽ đến được, và họ sẽ công bố những sự kiện bí mật để mọi người biết và rằng họ để lặp lại những việc như thế.



Lịch sử có lần lặp lại, đặc biệt ở những việc như thế. Lúc ấy không thể sống vô tư, không thể coi rằng giai đoạn đã qua không bao giờ lặp lại. Phải phỉ nhổ sự đê tiện, phải vạch mặt tác giả của nó, phải không lờ đi những biến cố, không chau chuốt lịch sử, mà ngược lại, khoei dậy cảm giác trách nhiệm của nhân dân, của Đảng, với mục đích loại trừ sự lặp lại của nó được làm bởi Stalin. Chính Stalin đã làm vượt quá những gì mà Lenin cảnh báo, đồng thời cảnh báo rất rõ ràng. Bất chấp sự cảnh báo của Lenin, Stalin dù sao chăng nữa cũng lấy được sự tín nhiệm nhân dân, còn sau đó nhanh quay lại phương pháp hoạt động mà Lenin nhắc đến, cảnh báo rằng có thể dẫn đến sự lạm quyền. Nó đã diễn ra như thế.



Tôi quay lại vấn đề là nếu như những cán bộ, được đào tạo, trải qua, vẫn còn sống và giữ cắccchsc vụ tương ứng trong quân đội thì liệu Hittler có dám tấn công Liên Xô. Có lẽ đã xảy ra hai ba lần, có nơi bốn lần thay đổi đội ngũ chỉ huy. Tôi biết có những người thậm chí thay lần thứ năm. Nhiều người đã có công từ trước. Đây là những người lương thiện và có khả năng, trung thành với tổ quốc. Nhưng những kinh nghiệm mà họ có được trong chiến tranh được tính bằng máu lính và những thiệt hại vật chất của tổ quốc. Có một học thuyết như thế đáng giá một lượng lớn sinh mạng và sự tàn phá đất nước. Cuối cùng chúng tôi sống sót, chiến thắng, bằng những sai lầm riêng khi học cách chỉ huy theo hiện đại và đánh tan quân thù. Nhưng đáng giá cái gì? Nếu như không xảy ra điều này, thì Stalin làm gì, khi ông tưởng tượng ra “kẻ thù nhân dân” và đã giết những người lương thiện, tôi tin tưởng rằng cái giá chúng tôi trả cho chiến thắng rẻ hơn nhiều, tất nhiên, nếu từ này về mặt tinh thần đạt được từ quan điểm đánh giá số lượng máu chảy trong thời gian chiến tranh. Tất cả xảy ra rẻ hơn đáng kể và làm dễ dàng cho nhân dân chúng tôi.



Bây giờ những việc như thế vẫn còn chưa được viết ra, chẳng có ai làm những phân tích như thế. Nhiều nhà sử học nhận học vị tiến sĩ và phó tiến sĩ do phân tích những biến cố ít được chú ý. Một lần khác anh nhìn thấy: người ta đứng bảo vệ luận án về một chủ đề nào đấy, còn chủ đề còn tương đối hoài nghi đối với khoa học. Thỉnh thoảng cũng có những chủ đề như vậy. Nhưng cứ làm công việc mà tôi mơ ước. Công việc vẫn còn chờ các nhà nghiên cứu và tất nhiên sẽ được thực hiện, nhưng, hình như không phải ngay lập tức.



Lớp cán bộ trước đây ra sao, tôi giả thiết rằng có thể, với sự có mặt của họ, thì quân Đức cũng không dám chiến tranh với chúng tôi. Nhưng nếu chiến tranh xảy ra, thì nó sẽ trên lãnh thổ khác chứ không phải lãnh thổ chúng tôi. Như vậy, kỹ năng dùng sức người, tổ chức bộ đội, tin chỉ huy, là ở mức cao tình thế trong chiến lược và chiến thuật quân đội - một trong những điều kiện để chiến thắng. Nhưng đó chỉ là một. Mặt thứ hai của vấn đề - là kinh tế. Sự phát triển đất nước về kinh tế và ở mức độ nào đấy nền kinh tế có thể phục vụ cơ sở cơ giói hoá và vũ khí quân đội, chiến thắng cũng phụ thuộc vào điều này trong điều kiện hiện đại cũng. Trải qua một thời gian, khi hoàng tử dắt đội thiếu niên của mình với giáo mác, rìu đánh nhau với kẻ thù. Giờ đây là chiến tranh cơ giới, động cơ, pháo, máy bay, xe tăng và vũ khí chống tăng, bộ đội kỹ thuật. Chiến tranh trên đất và trên mặt nước, dưới đất (mìn, hầm và dưới nước, trên không. Chỉ có một thứ sẽ làm chủ tất cả là xây dựng khoa học và kỹ thuật hiện đại, còn những thứ khác chỉ dựa vào sức cơ bắp và khí phách của con người, nảy sinh những điều kiện không cân sức.



Liệu Hồng quân có cơ sở vật chất kỹ thuật trước chiến tranh? Nếu không, thì nảy sinh vấn đề sau: liệu chúng tôi có khả năng xây dựng cơ sở kỹ thuật quân sự tương xứng, vũ khí, phương tiện bảo vệ và tấn công? Không ngần ngừ, tôi thẳng thừng trả lời:



- Đúng. Có!



Nhân dân chúng tôi xem xét việc kết thúc nội chiến là sự tạm dừng đấu tranh với chủ nghĩa đế quốc, có xu hướng sử dụng nó để xây dựng nền công nghiệp hùng manh, cải tổ, xây dựng kinh tế quốc dân, trong một thời gian ngắn làm được những việc mà các nước tư bản chủ nghĩa phải làm hàng chục năm. Nhân dân chúng tôi thắt lưng buộc bụng, đói, lạnh, sống thiếu thốn, nhưng không tiếc tiền xây dựng nền công nghiệp như thế và vũ khí quân đội để kẻ thù không thể thậm chí tiến sát biên giới chúng tôi.



Tôi nhớ lại thời gian đầu năm 1922, khi tôi từ mặt trận nội chiến quay về. Ngay khi vừa đặt chân, Đảng bộ cử tôi phụ tá lãnh đạo nhóm thợ Pháp, nơi đó, năm 1912-1914 tôi làm thợ nguội. Nhưng chỉ huy nhóm thợ này là người bạn thân của tôi Egor Trofimovich Abakumov. Ông này không phải là Abakumov, Bộ trưởng Bộ nội vụ, mà là người khác, sau trở thành một trong những nhà lãnh đạo công nghiệp than và Liên Xô. Chúng tôi chịu đựng thời kỳ khó khăn trong thập niên 1920. Tại mỏ đá, cũng bị đói, năm 1922 còn nhận thấy có trường hợp ăn thịt người. Nhưng ở thôn quê còn tiêu điều hơn ở vùng công nghiệp. Tình thế phát sinh như vậy. Nhưng nhân dân tin Đảng, vì biết rằng gây ra cảnh hoang tàn này là bọn tư sản trong và ngoài nước, được sự ủng hộ của bọn phản cách mạng và tổ chức can thiệp. Khẩu hiệu của Đảng là mọi người phải biết chữ. Chúng tôi khi đó không những buộc bụng vì cuộc sống mới, nhưng một lần khác tôi đã có lỗi về tinh thần và đã nói rằng trong chế độ cũ, dường như, sống tồi hơn.



Tội lỗi, mặc dù không tất cả, nhưng những công nhân tay nghề cao trong vùng Donbass, nơi tôi từng lao động, trước cách mạng đã sống tốt hơn, thậm chí tốt hơn nhiều. Chẳng hạn, năm 1913 cá nhân tôi được đảm bảo về vật chất tốt hơn năm 1932, khi công tác Bí thư thứ hai Thành uỷ Moskva. Có thể nói rằng những công nhân khác đã sống tồi hơn. Chắc chắn là tồi hơn. Cái chính là không phải tất cả đã sống như nhau... Đứng, chúng tôi chủ ý tước bỏ, vì rằng chúng tôi đã vui mừng lơi lỏng công nghiệp hoá. Cần phải chiến thắng. Thỉnh thoảng điều này cần phải có những nạn nhân vô nhân đạo. Nhưng nhân dân vẫn đi tới dùng xây dựng công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên sử dụng nền công nghiệp này tiếp tục nào, thì chúng tôi lại không thể. Quân ta sắp bắt đầu chiến tranh và thiếu đội ngũ chỉ huy thành thạo, và thiếu vũ khí, cần thiết đánh trả cuộc tấn công của địch và đánh bại chúng ngay từ biên giới Liên Xô.



Tôi nghĩ rằng các nhà sử học cần phân tích hậu quả thiệt hại không những cán bộ quân đội bị Stalin giết, mà còn cả trong kinh tế quốc dân. Bao nhiêu cán bộ quân đội, Đảng, chuyên gia lương thiện nhất đã bị chết? Hàng nghìn và hàng nghìn... Những người có tay nghề cao nhất cũng bị thiệt mạng: giám đốc các nhà máy, các kỹ sư trưởng, phân xưởng trưởng, các bí thư Đảng khu vực và thành phố, Chủ tịch khu vực và thành phố, các bí thư tổ chức Đảng cơ sở. Giết hàng trăn nghìn người vô tội. Tôi, tất nhiên, tôi không thể tính hết được, chỉ nói và những người mà tôi biết.



Вот, chẳng hạn, Ivan Tarasovich Kirilkin - giám đốc mỏ Rutchenkov, nơi trước đây tôi là công nhân, còn sau đó phó chỉ huy. Như tôi đã kể, tôi đến những mỏ này năm 1912. Lúc đó họ thuộc về một công ty Pháp, sau này họ đã bán chúng đi (hình như “Công ty cổ phần Briansk”). Sau cách mạng, các mỏ này thuộc sở hữu nhà nước, và người ta gọi chúng Rutchenkov. Trước kia chúng mang tên Krasnotvorchecski, nhưng cái tên này không sát. Thế là gọi chúng là Rutchenkov, theo họ của một chủ đất, diện tích lớn. Kirilkin là người lãnh đạo thợ mỏ thời kỳ năm 1925-1926. Nhưng sau này Ivan Tarasovich được bổ nhiệm làm giám đốc nhà máy luyện kim Makeev, và ông có kiến thức công việc, đã lãnh đạo nó. Nhưng nhà máy, trước đây thuộc về người Anh Yuzu, Bazulin chỉ huy, Vasia Bazulin một người nổi tiếng, một công nhân địa phương. Ông lãnh đạo nhà máy này không tồi, dựa vào những người cốt cán, kỹ sư. Nhưng sau đó năm 1937. Ivan Tarasovich chết. Tôi cũng không tìn dấu vết, địa điểm và tình tiế cái chết của ông. Bazulin cũng biến mất khỏi chân trời.



Còn ở Moskva bao nhiêu giám đốc nhà máy, bao nhiêu kỹ sư chết? Đôi khi người ta báo cáo cho tôi: hừ, bỏ sót “kẻ thù nhân dân”.



Đảng bộ đấm ngực mình: bỏ sót! Đã lấy được bao nhiêu “kẻ thù nhân dân” và Ordzonikidze không thể tránh được điều này và bị bắn. Một con người lương thiện nhất, tính cách cao thượng đã tự tử.



Như lời Anastas Ivanovich Mikoian kể cho tôi, trước hôm bị bắn, Sergo đi bộ với Mikoian vào buổi chiều ở vườn Kreml và nói:



- Không thể giảng hoà được nữa với cái gì được tạo ra. Tôi cũng không thể đấu tranh với Stalin và không nhìn thấy khả năng kéo dài cuộc sống của mình được.



Và thế là Sergo bị bắn. Nhưng Stalin thì sao? Stalin khôn khéo lừa bịp vụ này theo cách của mình. Trong thời gian ấy, tôi là bí thư Đảng Moskva. Vào một ngày nghỉ Avel Safronovich Enukidze gọi tôi và nói:



- Đồng chí Khrusev, cùng với tôi vào ngay Kreml. Vấn đề khẩn cấp.



Tôi đến, và hỏi:



- Việc gì thế?



- Chết... Sergo...



- Chết là thế nào? Tôi nhìn thấy ông ấy mới đây.



- Chết đột ngột. Anh có biết rằng Sergo là một người quan trọng. Thành lập một Uỷ ban Chính phủ để tổ chức đám tang của ông ta, ông sẽ tham gia Uỷ ban này, còn tôi là Chủ tịch. Chúng tôi cần chuẩn bị tờ trình cho BCHTƯ về nghi lễ.



Có khuôn mẫu tương ứng đối với việc chôn cất, chúng tôi nhanh chóng thảo luận vấn đề và đưa ra tờ trình của mình. Tôi không nhớ chính xác, nhưng, hình như, tôi phát biểu thay mặt Thành uỷ Moskva tại lễ tang.



Tôi rất thương tiếc Sergo. Ông được nhân dân rất kính trọng, còn cá nhân cũng rất tiếc và vì rằng tôi cảm thấy quan hệ nồng ấm và tốt đẹp của ông với tôi. Người ta chôn cất. Khi đó tôi cũng cho rằng Sergo chết đột ngột trong ngày nghỉ. Họ đã nói rằng ông điểm tâm, nằm ở đi văng và không dậy được. Ông quả thật là nằm trên đi văng, nhưng bị bắn.



Tôi biết sự thật chuyện này hoàn toàn ngẫu nhiên, trong thời gian chiến tranh. Tôi từ mặt trận trở về. Ăn trưa ở với Stalin, bữa ăn kéo dài cả đêm, hình như tôi rơi vào một trạng thái không bình thường. Bỗng nhiên tôi nhớ lại về Sergo, bắt đầu nói những lời tốt về Sergo: chúng tôi bị mất con người như thế, thông minh, tốt, ông chết sớm quá, giá như có thể sống thêm, và làm việc. Tôi nhìn, lập tức sau bàn có một phản ứng như thể tôi nói một điều gì đó không lịch thiệp. Sự thật, không ai nói với tôi một cái gì cả, và nếu tôi như thế này, thì tôi đã ngậm miệng. Tôi nhìn thấy điều này, và sau đó, khi tôi và Malenkov ra về, tôi nói ông:



- Việc gì thế?



- Chẳng có lẽ anh không biết một tý gì à?



- Anh nói cái gì cơ chứ?



- Sergo không chết, mà bị bắn. Stalin kết tội ông ta, còn anh cứ nói những điều tốt về ông ấy, vì thế có một chút lặng đi, mà anh đã nhận ra.



- Đây là lần đầu tiên tôi nghe! Thế, thế đấy...



Bao nhiêu năm tôi và những người khác đã bị Stalin lừa dối. Vì cái gì mà ông cần phải lừa dối? Hình như, để không đánh thức những ý nghĩ thừa của mọi người, vì sao những người như Sergo, gần gũi Stalin, bỗng nhiên bị bắn. Hình như không phải từ cuộc sống tốt? Và đây là - con người trải qua đấu tranh bí mật, bị đi đày. Nhưng trong những năm khi Liên Xô đang lên, khi, phải làm việc gì vui vẻ, bỗng nhiên quyết định ra đi đã tự sát. Nghĩa là, có nguyên nhân. Không có nguyên nhân, con người như thế không thể tự sát, vì rằng đây là một người cộng sản thực chất cao và giáo dục đặc biệt, có cảm giác phát triển cao của lòng tự trọng. Tôi nói thế, dựa vào ý kiến của chính Stalin: không có nguyên tắc trong vấn đề đạo lý, Stalin kết tội ông chính vì điều này. Khi tôi biết, Sergo bị bắn, tôi bắt đầu hiểu rõ hơn những gì tôi nghe từ Stalin về Sergo: Stalin luôn luôn cố gắng làm giảm bớt vai trò của Sergo trong cách mạng và trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển kinh tế Liên Xô.



Còn Zaveniagin Avrami Pavlovich? Người bạn thân của tôi mà tôi quen từ năm 1922, khi rời Hồng quân. Khi đó ông ở Yuzovk bí thư đảng uỷ địa phương. Sau đó tôi đến học ở Yuzovk ở khoa công nhân, còn Avrami Pavlovich vào Viện hàn lâm mỏ và tốt nghiệp xuất sắc. Đó là một người hấp dẫn và một công nhân tốt. Ông công tác ở nhiều chức vụ. Sau đó Ordzonikidze đưa ông về làm phó cho mình về luyện kim đen. Và bỗng nhiên Zaveniagin biến mất. Tôi lo ngại Avrami ở đâu? Chẳng có tin đồn, chẳng có tăm hơi gì cả. Nhưng sau một thời gian lại bật ra Zaveniagin. Sau này ông trở thành phó chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Chức vụ sau cùng của ông (kiêm nhiệm) - Bộ trưởng chế tạo máy Liên Xô. Nói khác đi, ông tham gia việc nguyên tử. Nhưng ông chết, do phóng xạ. Zaveniagin ở đâu trong thời gian ấy? Té ra, bị phạt phát vãng. Sau này tôi biết rằng Stalin gọi ông và tỏ ra không tin ông nữa:



- Đấy, Zaveniagin, có chứng cớ với anh đấy.



Và ông bị lưu đày ở vùng xa lắc xa lơ. Ở đó ông lao động và được tặng thưởng. Một người lương thiện, có hiểu biết dùng kiến thức và năng lực của mình. Sau đó Stalin nghĩ lại, và ông lại về công tác ở Moskva.



Bây giờ tôi cũng không quyết định gọi tất cả những người bị thiệt hại theo họ tên. Thứ nhất, tôi quên họ tên nhiều giám đốc nhà máy, kỹ sư và phân xưởng trưởng bị giết ở Moskva. Họ, có lẽ, đến hàng nghìn. Thứ hai, đơn giản không phải khoá học công việc: những người này ở đâu, bị đày đi đâu? Nhưng tôi có kết luận thế này: nếu như những cán bộ này không bị giết, mà tiếp tục những hoạt động của mình có lợi đất nước ta, tạo ra phương tiện sản xuất và vũ khí Hồng quân, áp dụng tiềm năng công nghiệp một cách khôn ngoan, hợp lý với hiểu biết công việc, то chúng tôi sử dụng thực chất mọi điều kiện để tạo ra vũ khí cần thiết và trong một lượng cần thiết để Hồng quân được trang bị không kém hơn, mà là tốt hơn bọn Đức. Chúng tôi có tất cả khả năng để làm điều này.



Tôi muốn chỉ ra điều này một cách hiển nhiên. Thí dụ, chúng tôi có thể xây dựng một lượng vũ khí cần thiết trong quá trình chiến tranh, giữa năm 1943. Đúng vào lúc chúng tôi đánh bại quân Đức ở vòng cung Kursk, một đội quân hùng mạnh được trang bị tận răng những vũ khí hiện đại nhất. Tôi không nhớ bộ binh chúng tôi có sử dụng vũ khí nước ngoài hay không, trừ ô tô. Tôi thấy ở Stalingrad có mẫu xe tăng Anh và Mỹ, nhưng bộ đội xe tăng xô viết xét về chất lượng chiến đấu luôn luôn đứng hàng đầu. Xe tăng, đặc biệt T-34, pháo, súng máy, súng trường, tiểu liên là của chúng tôi, đồ nội. Tiếp theo, chúng tôi có thể chế tạo vũ khí tuyệt vời theo số lượng cần thiết để trang bị quân đội ta vào giữa 1943? Hơn nữa, chúng tôi nhận được vũ khí theo số lượng tăng lên, mặc dù trước đó kẻ thù chiếm lãnh thổ rộng lớn - Ukraina và Donbassом, Belorussia, những khu vực khác với những nhà máy và nguyên liệu của chúng.



Nhưng điều này cũng chưa phải tất cả. Khi đó chúng tôi bị mất những cơ sở công nghiệp, khoa học và kỹ thuật của thành phố Leningrad phong toả và của Moskva bị sơ tán - hai trung tâm công nghiệp có ý nghĩa. Chúng tôi bị mất Rostov, Voronez, Stalingrad, Bắc Kavkaz. Nếu làm bây giờ chọn các số liệu thống kê, thì những khu vực bị Đức chiếm, cung cấp gang, than đá, và dầu mỏ hơn một nửa mức sản xuất ở Liên Xô. Có lẽ 60-70% nếu lấy luyện kim. Và mọi thứ bị mất của các cơ sở này, nhân dân chúng tôi, đưa cán bộ và thiết bị, cố gắng, tìm cách sửa chữa thiết bị, ở trong kho hoặc một nơi đâu đó và thu xếp để sản xuất xe tăng, pháo, vũ khí tự động, súng trường, súng máy, mìn, chất nổ và v.v... Một khối lượng công việc khổng lồ đã được làm để cung cấp cho quân đội mọi thứ cần thiết.



Vấn đề ở chỗ nào? Vì sao không phải tất cả không kịp làm trước khi chiến tranh? Ngay khi xác định rằng chúng tôi sẽ có chiến tranh với phát xít Đức, từ khi Hittler lên nắm chính quyền vào năm 1933, chúng tôi cần phải liên tục mở rộng sản xuất vũ khí và chuẩn bị một cuộc chiến tranh không tránh khỏi. Năm 1936-1939, khi xảy ra chiến tranh ở nước cộng hoà Tây Ban Nha, chúng tôi mặt đối mặt với kẻ thù của mình, giúp đỡ lực lượng cách mạng Tây Ban Nha. Lính ta chạm trán với phát xít Đức và Ý, đang chiến đấu ở phía nổi loạn Franco. Nhưng lại năm 1939. Đã ký một hiệp ước Ribentrop - Molotov, khi đó phương Tây gọi nó như thế. Và Stalin nói với chúng tôi:



- Bọn lừa đảo, bọn lừa đảo Hittler.



Tiếp theo, ông cho rằng Hittler, sớm muộn cũng tấn công chúng tôi, nhưng ông chiến thắng thời gian cần thiết bằng cách ký hiệp ước này. Thay vì lập tức đối đầu với Hittler và để địch chĩa súng vào mình, bằng cách ký một hiệp ước, chúng tôi thoát được tình thế nguy hiểm, tạo điều kiện để Hittler chạm súng đầu tiên với các nước Tây Âu. Điều này chính là điều chiến thắng thời gian mà Stalin đã nói.



Chính Stalin khi đó đánh giá như thế tình hình phức tạp. Tôi nghĩ rằng nghĩ rằng ông hiểu nó đúng như thế. Trong tình thé như vậy, ông phải làm hết sức để ký một hiệp ước không tấn công nhau, còn sau đó ký một một hiệp ước mới - về thân thiện và biên giới với Hittler, quay sang công việc công nghiệp, cơ quan khoa học, viện thiết kế sản xuất vũ khí, thay đổi hướng đi. Nếu như chúng tôi đã làm điều này (tôi lấy năm 1939, 1940 và nửa năm 1941, nghĩa là hai năm rưỡi, đúng vào thời gian chúng tôi sau này mất một nửa nước về tiềm năng công nghiệp), thì chúng tôi có thể xuất xưởng vũ khí và đảm bảo cho quân đội tất cả các phương tiện tiến hành chiến tranh. Nghĩa là, giá như chúng tôi tận dụng thực chất thời gian hoà hoãn có được, thì tới 1941 chúng tôi nhận được những gì mà năm 1943 có, và Hồng quân có đủ trang bị, thậm chí còn dư, để đánh bại bọn Đức ngay từ biên giới và không để cho sự xâm lược của tụi phát xít vào đến biên giới Liên Xô.



Tất nhiên chúng tôi không ăn không ngồi rồi, mà làm việc. Tuy nhiên tận dụng thời gian hoà hoãn không phải như vậy. Lịch sử biết điều này. Ngay khi chiến tranh bắt đầu, chính công nhân tại Ukraina đến BCHTƯ Đảng và yêu cầu:



- Cho chúng tôi súng trường!



Mà tôi không thể đưa cho họ một cái gì cả, cũng chẳng có súng trường, và tôi gửi đề nghị này về Moskva. Malenkov nói:



- Không có súng trường. Những thứ có ở Moskva, là súng trường bắn đạn hơi có lỗ, chúng tôi phục hồi chúng, bịt lỗ và đưa cho Leningrad. Còn các ông tự đi rèn vũ khí. Hãy làm dao, giáo mác và v.v....



Bạn có thể tự hình dung được không? Quân Đức đánh chúng tôi bằng vũ khí như thế nào, còn người ta nói với chúng tôi: “Rèn giáo mác, rèn dao, đánh nhau với quân thù đang tấn công bằng xe tăng(!).



Chỉ có nhân dân, quân đội, Đảng chúng tôi mới có thể giữ được sự thử thách như thế! Dù bị khó khăn, quân đội vẫn chống cự, rút lui, mà khi rút lui vẫn tiêu diệt sinh lực địch và vũ khí của địch. Lúc ấy còn dùng cả chai xăng, và mìn và tất cả những thứ gì có thể nghĩ ra được để nhân dân bảo vệ mảnh đất quê hương, danh dự và thịnh vượng.



Giá như chúng tôi hoàn toàn tận dụng thời gian hoà hoãn? Liệu Stalin có đúng không, phớt lờ sự nguy hiểm, giữ nhịp độ làm việc như trước đây trong công nghiệp sản xuất vũ khí và ở mức như trước khi ký những thoả thuận với Đức? Không, không đúng như thế. Chính ông nói rằng Hittler lừa ông. Rồi ông tin rằng Hittler tấn công chúng tôi. Nhưng để tấn công, thực chất cần có thời gian, khi ấy Hittler bận việc ở phía Tây, chúng tôi có thể quay về sản xuất vũ khí đánh quân thù, cung cấp cho quân đội số lượng vũ khí cần thiết và xây dựng nguồn dự trữ. Lúc ấy phải đưa ra những con số về mức sản xuất gang, thép cán, phát triển chế tạo máy. Những con số này, trong tay tôi không có.



Chẳng lẽ, những điều đã nói mâu thuẫn với sự nhận xét là chúng tôi chiến thắng có tính đến sự giúp đỡ quân sự của các nước đồng minh. Nó không mâu thuẫn vì chúng tôi tự sản xuất hàng loạt vũ khí để đánh bại quân thù. Tôi không biết chúng tôi có nhận pháo của các nước đồng minh không. Theo tôi, thì không. Máy bay, ô tô thì có nhận. Ô tô chúng tôi không những trang bị đày đủ cho quân đội, thậm chí sau chiến tranh còn đưa vào nền kinh tế quốc dân một lượng lớn ô tô Mỹ. Vận tải biển của chúng tôi ở mức đáng kể cũng là người Mỹ. Sau chiến tranh, chúng tôi trả lại Mỹ một phàn tàu thuỷ.



Về nguyên tắc, sự thật rằng chúng tôi rút lui khỏi biên giới rất xa và cho địch khả năng chiếm và tàn phá Ukraina, Belorussia, một phần Liên bang Nga, là hậu quảо sự sai lầm và lãnh đạo yếu kém. Tôi nhớ về Kulikе. Kulik, nhận việc sản xuất vũ khí, chính là người vụng về. Sau này Stalin bắn ông ta. Tôi nhắc lại rằng đây là tội ác, ông không đáng bị bắn. Nhưng việc bổ nhiệm con người Kulik yếu kém lên chức vụ cao như thế, không còn nghi ngờ. Từ lâu tôi không nghi ngờ và nói điều này cho cho Stalin từ trước chiến tranh.



Còn bây giờ nói về vũ khí. Năm 1940 xe tăng T-34 cũng được chấp nhận làm vũ khí và trải qua những thử nghiệm cần thiết. Chúng tôi đã bị chiến tranh dồn sát chân, không phải chỉ một nhà máy 75 ở Kharkovsản xuất xe tăng, mà phải có công nghệ sản xuất hàng loạt, xây dựng thiết bị công nghệ, nhân rộng hàng loạt nhà máy và quay về sản xuất nhiều T-34. Lúc đầu chiến tranh chúng tôi có thể một tháng xuất xưởng T-34 đủ để đảm bảo nhu cầu tối thiêu. Chúng tôi cũng còn thiếu súng máy phòng không, quả là súng máy thì chúng tôi có sản xuất và công nghiệp chúng tôi sẵn sàng cung cấp theo nhu cầu. (Cứ như vịt nghe sấm).



Sau khi ký hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau với Đức, Stalin đặt vấn đề xây dựng những nhà máy mới sản xuất súng phòng không. Những nhà máy, tất nhiên, không được xây dựng trước lúc bắt đầu chiến tranh, mà còn không xây dựng chúng cả trong thời gian chiến tranh. Sản xuất súng phòng không người ta chuyển sang nhà máy khác đến mức còn xa mức yêu cầu của quân đội. Vì sao không làm điều này năm 1939, năm 1940? Chính lúc có đủ thời gian thời gian. Chúng tôi không đủ cả pháo cho sư đoàn. Tại trận Stalingrad, trong các thứ bổ xung cho chúng tôi, lại không có pháo. Tôi nhớ, sư đoàn (con trai của Dolores Ibarruri ở trong đó) không những thiếu pháo: mà còn không đủ súng máy. Ai chịu trách nhiệm điều này? Có người nói rằng người ta lừa Stalin. Nghĩa là, khi Stalin giết cán bộ quân đội, kinh tế, Đảng, khoa học, trí thức, đấy là do thiên tài của ông gợi ý ông hay sao? Còn cái gì ông làm để đầu chiến tranh quân ta không có súng trường, chưa nói gì các vũ khí khác, chả lẽ người ta lừa ông sao. Vì sao có sự không giống nhau khi đánh giá thiên tài và sự sụp đổ của lãnh tụ?



Tôi tôi xem rằng các việc xảy ra - là tội ác. Lúc ấy biểu lộ buông trôi đạo đức, đầu óc mù quáng: mọi người bỏ cái mạnh, và tìm kiếm cái yếu, và cái yếu “lừa” cái mạnh để cái yếu bỏ vào cối xay thịt, thêm vào cối xay thịt này đã từng giết người trước đây. Tôi nghĩ rằng Đảng cần có kết luận đúng và hoàn thành việc được đặt ra ở đại hội Đảng 20 và 22; làm nêu ra tất cả những tội lỗi và như thế thông tin đúng cho nhân dân xô viết để không lặp lại việc này nữa. Đáy là ý kiến của tôi về sự thất bại của chúng tôi trong những năm đầu chiến tranh, thiệt hại của chúng tôi, sự rút lui của chúng tôi. Sự thất bại, có lẽ được chuẩn bị “liên minh” với Hittler. Hittler lợi dụng tính đa nghi, sự không tin tưởng và sự phản bội của Stalin và quẳng cho ông những tài liệu nói rằng những cán bộ quân đội nổi tiếng của chúng tôi - là điệp viên của Đức. Stalin “tin”, và cỗ máy giết người đã chạy. Kẻ thù có thể tước đoạt các cán bộ quân đội của chúng tôi như thế. Nhưng chúng tôi vẫn giúp ông. Đỉnh cao việc giết những người xô viết lương thiện là vào năm 1937, là kế hoạch 5 năm duy nhất trước chiến tranh sản phẩm công nghiệp không hoàn thành theo kế hoạch. Nhưng Hittler tận dụng sự chậm phát triển công nghiệp chúng ta, chuẩn bị chiến tranh với Liên Xô.



Những người “Stalinit” (biệt hiệu này, trở thành câu chửi rủa thoá mạ nhất) ngày nay đang tô vẽ Stalin như thiên tài, và như lãnh tụ. Đây là những người đang bị hại. Họ, vừa ý hay không vừa ý, không những che chở những tội ác được thực hiện, mà còn khai phá con đường tới tương lai bằng những phương pháp mà Stalin từng sử dụng. Nguyên soái Zakharov đã phát động “phong trào những người Stalinit” từ giữa thập niên 60. Đi theo con đường ấy là nguyên soái Konev, theo đuôi ông là Grechko. Đây là sự nhục nhã!



Zakharov có thể đọng lại một chút nào đấy quan hệ với tôi, mặc dù tôi không bao giờ va chạm với ông và tôi không bao giờ ему nói một lời xấu về ông trong thời gian chiến tranh, và tôi cũng không nghe từ ông những lời như thế. Vào thập niên 1960 tôi quả là nói với Malinovski, phải cách chức Tổng tham mưu trưởng của Matve Zakharov. Nhưng chính tôi không làm điều này một mình. Trời cứu tôi! Khi tôi đứng đầu lãnh đạo đất nước, thì mọi vấn đề được tiến hành qua phiên họp Đoàn chủ tịch BCHTƯ, mọi quyết định quan trọng được bàn cãi, và với đệ trình này, tất cả đều đồng ý. Tôi dựa vào cái gì? Tuổi tác và sức khoẻ của con người. Không thể để ở chức vụ Tổng thăm mưu trưởng một người, tại cuộc họp sau năm phút khai mạc, ngủ gà ngủ gật. Liệu quốc phòng đất nước có thể tin tưởng ở những người mà thể xác hư hỏng? Đấy không phải là lỗi của họ. Tuổi tác là tuổi tác.



Nhưng không thể để chức vụ những người mà không còn thể lực làm việc có lợi cho quân đội. Vì thế tôi nói rằng phải tìm Zakharov việc khác, cũng là địa vị xứng đáng. Và ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Học viện Bộ tổng tham mưu. Điều này không những vinh dự, mà còn thích hợp: đào tạo cán bộ, giảng dạy. Ở đó tuổi tác của ông không cản trở, ở đấy có một đội ngũ giáo sư, giáo viên, và chính ông, một con người, tôi biết, hiểu biết, trung thực và trung thành, biết ra lệnh như thế nào. Hình như sự xúc phạm nhân tính một lần nữa lấn át lý trí và làm mất khả năng hành động đúng, nhất định không phải là dễ chịu. Nhưng phải hiểu rằng điều này được thực hiện vì lợi ích công việc!



Kế nhiệm ông là nguyên soái Biriuzov, bị chết khi bay cùng với Đoàn đại biểu đến Nam Tư. Zakharov có kiến thức quân sự cao hơn Biriuzov, bù lại Biriuzov - trẻ và năng động hơn. Bây giờ Zakharov quay lại chức vụ trước đây. Tôi cho rằng người ta thực hiện sự tập hợp này vì quyền lợi đất nước, vì cải thiện ban lãnh đạo, cải thiện công việc quân đội. Than ôi, đồng chí Zakharov đã già. Nhưng vì sao Konev lại vào chức vụ ấy? Konev - một người có tư chất thông minh đặc biệt và tính cách đặc biệt. Ông - là người duy nhất trong số chỉ huy quân sự cao cấp, dám “đáp lại” bằng văn bản gửi cho Stalin về vụ “những bác sỹ giết người” bị bắt lúc cuối đời Stalin. Konev trả lời những tư liệu nặc danh, đã gửi cho Stalin một bức thư, trong đó đồng tình với những tin tức giả tạo mà Stalin nhận được. Ông củng cố ý nghĩ của Stalin việc bắt giam các bác sỹ là đúng và thậm chí xác nhận điều này bằng thí dụ cá nhân tựa như những bác sỹ này cũng chữa bệnh đúng cho ông. Điều này là sự nhục nhã thật sự đối với một người trung thực! Không thể cam chịu rằng có thể một người có văn hoá lại đồng ý với lời hoang tưởng do Stalin tưởng tượng ra. Sau đó tất cả đã sáng tỏ, như may khói. Chẳng có tội ác nào cả, và tất cả những người này, những bác sỹ giỏi, được tha.



Còn Grechko? Đó là - KVD. Tôi nhiều lần nỗ lực để nâng đỡ ông ta. Konev tung tin rằng Khrusev bảo kê Grechko, nâng đỡ ông ta, ủng hộ ông ta, rằng chính Khrusev đề nghị tặng Grechko danh hiệu Nguyên soái Liên Xô ngay sau chiến tranh, và v.v... Nhưng sau này với Grechko xảy ra một sự quay ngoắt đáng ngạc nhiên. Tôi thấy trước mắt mình không phải chỉ một mình Grechko, và tôi có thể nói rằng hàng loạt người xu thời, ông cũng một kẻ xu thời điển hình. Đúng, hỡi các ngài, anh không có chức vụ nào, anh không có công lao nào, không thể dừng lại đến con đường dối trá, lịch sử không tha thứ điều này. Anh chỉ còn trí nhớ sai lầm của mình, vì rằng anh không phải là người lương thiện trước chính bản thân anh và dẫn dắt nhầm nhân dân, bằng cách bao che sự lạm quyền của Stalin bằng sự thật rằng nước ta chiến thắng!



Đúng, nhân dân giành được chiến thắng, Đảng giành được chiến thắng. Nhưng Stalin? Stalin trong ý tưởng của mình, trong thế giới quan hiểu biết công việc был, tất nhiên, là con người của Đảng. Nhưng những phương pháp của ông, cách thức làm việc lại dựa trên sự giết người, bắn, đày ải, khảo tra để người ta thừa nhận những tội mà họ không có. Không thể nảy sinh hai ý kiến đánh giá hoạt động của cá nhân Stalin, chi tiết của nó hiện ra đày đủ sau khi ông chết. Nhiều mặt của những hành động này đáng lên án về mặt đạo đức, còn có thể cả toà án lịch sử.



Chúng tôi đạt được những thành tựu lớn trong xây dựng, nền công nghiệp hùng mạnh, cải tổ nông nghiệp, nâng cao văn hoá, khoa học, nghệ thuật. xây dựng cường quốc hùng mạnh Liên Xô. Ngày nay chúng tôi không còn yếu hơn bất kỳ nước nào. Mặc dù công nghiệp Mỹ mạnh hơn chúng tôi, nhưng quân đội chúng tôi không tồi hơn, có thể bằng Mỹ. Thậm chí tốt hơn Mỹ. Điều này sẽ là sự cảnh báo nghiêm túc đối với tất cả những người phiêu lưu, các nhà quân sự của và những kẻ xâm lược. Nếu họ phát động chiến tranh, thì cuộc chiến tranh ấy sẽ đi thẳng vào thân họ. Thậm chí tôi nói về những người thù địch tại châu Âu đối với Liên Xô, chẳng hạn Tây Đức. So sánh với chúng tôi, bất kỳ một nước châu Âu nào (trừ Mỹ) - chỉ là con số không. Bây giờ không có một người đầu óc bình thường kể cả căm thù Liên Xô, không thể nghĩ tới việc xâm lược chống Liên Xô. Đấy là tiếp bước chiến thắng cách mạng tháng Mười năm 1917.