Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh

Phùng Cung, 1956
Phương Lộ là một làng nhỏ hẻo lánh, nằm lọt trong một thung lũng phía Nam chân núi Tản, cách chợ Ðan lâm chừng bẩy dậm. Từ Ðan lâm vào Phương lộ trên con đường đất mòn, ngoằn ngèo dọc theo bờ suối, phải qua một chiếc cầu bằng đá vắt ngang suối, bên cạnh một ngôi đền nhỏ. Trong làng có ông lão già họ Nông, hai đời chuyên nghề buôn ngựa. Ông cụ sinh ra lão ngày trước là mã phu của triều Trần, khi mãn lính, trở về làng làm nghề buôn ngựa. Năm 14 tuổi, lão đã theo cha ra chợ Ðan lâm học nghề. Lớn lên, lão đã nổi tiếng khắp vùng về môn xem tướng ngựa.
Lão Nông có con ngựa trắng, mình kim, lông tráng như bông, lại lấp lánh như có nạm kim cương, nên lão đặt tên nó là Kim Bông. Lão thường khoe con ngựa này lão mua được từ lúc nó chưa phát nha ở tận miền nước Hai. Lão từng đi nhiều nơi mà chưa thấy có con nào tướng phách toàn mã như nó: Có sức vượt hàng nghìn dặm với cái thể "Cao đầu phóng vĩ" của nòi ngựa chiến.
Từ khi con Kim Bông bắc yên, ngày nào lão cũng cưỡi nó đi các nơi để buôn ngựa. Hàng năm những cuộc đua ngựa miền này, không cuộc đua nào vắng lão. Không cuộc đua nào con Kim Bông không đoạt giải nhất. Từ đó tiếng con ngựa này, mỗi ngày một truyền rộng ra khắp nơi và lọt đến tai Chúa Trịnh.
Thủa ấy Chúa Trịnh đang cần tuyển mộ một đoàn kỵ binh để bình định đất nước, nên liền ủy một viên quan hầu cận, tìm đến tận nơi để hỏi mua.
Lão Nông tuy luyến tiếc con Kim Bông, nhưng nghĩ đến cái tài của nó lão sẵn sàng trao lại cho viên quan mà rằng: "Con ngựa này của bần dân thuộc loại quý mã, là vật, nhưng nó hiểu tiếng người. Bấy lâu nay nó sống với bần dân ở nơi sơn lâm hẻo lánh này, ăn cỏ núi, uống nước suối, tài nó có mà không được dùng, thật lòng bần dân cũng tiếc cho đời nó lắm! Nay Chúa công lại cho vời nó về chốn triều đình để dùng nó xông pha chiến trận, bần dân cũng được hả dạ vì đã làm vừa ý con ngựa quý mã và cũng bõ công nuôi nấng tập luyện". Con Kim Bông dỏng hai tai gật gật cái đầu như biết được mình sắp được từ dã cảnh sơn lâm hưu quạnh, để vùng vẫy chốn kinh thành.
Trên đường về, viên quan hết lời khen ngợi con ngựa quý mã: Kim Bông phi như gió, giả lại đằng sau những đồi núi, cây cỏ của Sơn Tây. Chỉ trong nửa ngày đã về đến Thăng Long.
Viên quan vào tâu với Chúa trịnh, hắn tả lại tướng phách cùng nước bay, nước kiệu của con ngựa. Chúa Trịnh lấy làm toại nguyện, và truyền cho các tướng tá chọn ngày mở hội đua để kén ngựa chiến.
Một buổi sáng, trên các ngả đường, nhân dân các vùng lân cận nghe tin lũ lượt đổ về xem như nước chảy. Hàng nghìn ngựa tốt từ các nơi đem về được xếp hàng tề chỉnh bên cạnh những kỵ binh nai nịt gọn gàng. Con Kim Bông ngơ ngác trước quang cảnh mới lạ, lòng nó rộn ràng, mắt nó đăm đăm nhìn thẳng về phía cuối đua trường như để dương oai với đồng loại, nó nín hơi, tóp bụng, cất tiếng hí dài lanh lảnh nghe sởn óc. Ngưòi kỵ binh đứng bên cạnh, bỗng né sang một bên, lao đao tưởng ngã. Bọn ngựa trố mắt nhìn theo và cũng cất tiếng hí theo.
Sau ba hồi trống lệnh, các kỵ binh lên yên, ra roi bắt đầu rời vạch. Ðoàn ngựa lồng lên trong bụi lốc mịt mù, những tiếng đất bắn ra tứ phía như mưa rào, nhân dân reo hò vanh dậy. Chỉ trong chớp mắt, con Kim Bông đã vượt lên hàng đầu, vừa hí, vượt lên, chân trước khoăn lại như móc sắt, đuôi bay như dải phướn, tưởng như chân nó khong hề chạm đất. ở phía xa người ta nhìn nó chỉ còn thấy ở một bóng trắng lấp loáng, oằn lên, oằn xuống như một con rồng trắng uốn khúc. Nó bay tới phía nào là tiếng reo hò phía ấy nổi lên không ngớt. Hàng loạt ngựa thấy sức mình không sánh kịp với con Kim Bông, bỏ dở cuộc đua, đứng dừng cả lại, hí hí nhìn theo cái bóng trắng nhỏ dần... Khi dứt hồi trống, con Kim Bông đứng lại, tai nó ù đi vì tiếng reo hò ca ngợi của xung quanh, nó càng nức lòng, chân nó dậm xuống đất cồm cộp như muốn hàng nghìn vòng nữa mới phí sức.
Khi tiếng trống lệnh truyền sang thi nước kiệu, con Kim Bông rời vạch một cái là bốn chân nó bám liền trên mặt đất như guồng nước, tiếng chân vỗ rồn rã như mõ đổ hồi, đuôi trải ra tráng như một dòng nước chảy sối. Nó chạy hết một vòng mà trên lưng nó một kỵ binh bưng một bát nước đầy, bát nước không sánh ra ngoài một giọt.
Lúc này nó thấy cả đua trường đều hướng nhìn về nó, trầm trồ ca ngợi tài nó. Nó lại hí lên một tiếng thật dài kiêu hãnh.
Sau cuộc đua này, nó được cả đua trường tặng danh là "Bạch Long Thiên Lý Mã" và chọn làm mẫu mực để tập luyện cho cả đoàn ngựa chiến của Triều đình. Cho nên chẳng bao lâu các đồng loại của nó cũng trở thành những chiến mã lành nghề. Và từ đó, nó cùng bầy ngựa chiến xông pha chiến trận, trải qua nhiều trận vào sinh ra tử. Nó nhớ nhất là trận quân chiến bên bờ sông Gianh. Thế địch mạnh, quân địch đã thắt vòng vây quanh nó, nhiều đồng loại nó đã phơi thây. Nó gắng hết sức mạnh, vùng lên như hổ đói, phá vỡ vòng vây, hạ thủ tướng địch, giành toàn thắng. Sau trận này, nó được Chúa Trịnh chọn làm mã lệnh và được vào ở trong phủ Chúa.
Chúa Trịnh truyền cho quân lính, xây một chiếc hồ bán nguyệt phía Nam vườn thượng uyển, để làm chỗ tắm cho mã lệnh, và cử hai mươi mấy phu ngày ngày trông nom săn sóc ngựa quý của Chúa.
Lần đầu tiên con "Thiên Lý" đặt chân tới Hoàng cung. Trước mắt nó toàn những lâu đài nguy nga tráng lệ, trong phía nào cũng thấy vàng son chói lọi. Dưới chân nó toàn đá xanh nhẵn bóng. Những cảnh vật mới lại khiến nó sợ hãi. Nó toát mồ hôi, run lên cầm cập, khi đặt chân lên những phiến đá hoa, được dịp đưa mắt nhìn hai hàng thị vệ tả hữu, đứng cắp gươm trần bên hành lang. Nó rụt rè, co cổ lại khi mã phu dắt nó vào mã đài, nó tưởng mã phu đưa nhầm nó vào nơi của một tướng lĩnh.
Con Thiên Lý được ngự hẳn trong mã đài ngày ngày chỉ ăn và tắm. Mỗi buổi chiều nó phải đứng một chỗ để dăm bảy mã phu mang kéo tỉa từng sợi mao, vuốt ve từng chiếc lông đuôi. Nó càng cảm thấy bạn bịu, tù cẳng. Nó bắt đầu mơ ước những cảnh sống khi còn ở bên ngoài cung cấm: "Ôi chao! Còn đâu những buổi ssáng ta cùng đồng loại trên đua trường hàng vạn người ca ngợi tài ba? Với cái sức khỏe bay hàng nghìn dặm, với cái thể "Cao đầu phong vĩ" hùng dũng như ta, đã bao phen xông pha trận tuyến, đời ta tù túng như thế này thì ta sống sao được? Sao Chúa không cho đem tài ra vùng vẫy trên chiến trường? Hay Chúa đã quên ta là kẻ có tài?".
Một buổi sáng, nó đang đứng trong mã đài, hai con mắt đăm đăm vọng ra ngoài bức thành cao ngất, nó bỗng thấy một đội mã phu nai nịt gọn ghẽ khác ngày thường, đến dắt nó ra đứng dưới mái hiên, phía tả hành lang. Nó sửng sốt, tưởng phen này lại được xung trận. Một mã phu khác trải lên lưng nó một tấm gấm điều, xung quanh thêu kim tuyến. Nó ngoái cổ lại, bỗng thấy mình đẹp như phượng hoàng. Hai mã phu nữa mang đến đằng sau nó một vật gì vuông vắn giống như một nhà lầu, gấm vóc xanh đỏ phủ quanh. Một mã phu khác mang cương đóng vào gáy nó. Bộ cương quý giá và đẹp đẽ làm sao. Ðời nó chưa từng nhìn thấy. Hàm thiếc bằng bạc, hai đầu nạm nạm vàng sáng lóe. Nó sung sướng gục đầu xuống nhạp hàm thiếc một cách ngoan ngoãn. Khi mã phu buông tay, lạ lùng, nó thấy hai vật gì to bằng hai cái lá đa che ngang hai bên mắt, khiến nó chỉ nhìn thấy phía trước mà thôi. Rồi một mã phu đẩy nó lùi lại, đứng vào giữa hai càng gỗ sơn son thếp vàng. ủa, lạ quá chừng, những cái mà gì đẹp quá thế này? Ta sẽ làm gì đây? Nó rùng mình, thấy như được sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn trước.
Bỗng dưng hai càng trước dúi mạnh một cái, cổ nó bệt xuống, miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc được dậy thì giây cương đã ghìm thẳng: Nó cất bước thấy nặng, cái nặng quái gở, như bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bồng bềnh nhẹ đi một chút nhưng rồi gáy nó càng như lún xuống. Nó phải cố lấy gân bốn vó mới giữ được cái thế đường bệ. Rồi bỗng có một ngọn roi da quất nhẹ vào mông, nó cắm cổ đi, nó mới biết là nó đang kéo xe cho Chúa.
Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt nó lờ mờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán.
Nhưng chẳng bao lâu, những chậu thóc trộn mật vừa ngon vừa bùi, những bó lá trúc quân tử vừa thơm vừa ròn sậm sựt đã cùng những buồn tủi sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột, tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con Thiên lý dần dần quen với chức vị. Nó thấy mình phải phò Chúa cho đến hơi thở cuối cùng mới xứng danh Thiên Lý Mã.
Trong những buổi chầu, nó thấy hàng trăm đôi hia, ủng và đủ các loại ống quần, tà áo, văn có, võ có, lướt đi lướt lại trước mắt, nó càng cảm thấy chức vị của nó to tát ghê gớm! Chốn thâm cung nghiêm cấm nào mà chân nó không bước tới? Có việc quốc sự triều đình nào vắng mặt nó? Nó đi đến đâu cũng thấy người chắp tay khấu đầu tung hô vạn tuế. Ðời nó quả là đã sang một bước đường hiển hách, hơn tất cả những lúc oai phong chiếm giải đầu trên các trường đua.
Một buổi chiều, trên cổng thành đã nổi trống thu không, mặt trời đã khuất hẳn mái lầu tay, mặt hồ đã gợn lên một mầu đỏ nhạt của giáng chiều, nó sung sướng kéo Chúa cùng bà Phi đi ngoạn cảnh. Ði chẳng cần đến đâu, nó được đôi lúc thong dong đứng lại, soi bóng xuống nước. Chà! Nhìn mặt ta uy nghi, lộng lẫy đến thế này ư! Phải chăng giời đã an bài cho số phận ta! Nó càng nhìn thấy bóng nó dưới nước to ra, to mãi, uy nghi trong sắc nước lẫn sắc trời.
Nó đang say sưa ngắm bóng bỗng giây cương lại giật mạnh. Mép nó găng thẳng ra, nó lại bắt đầu cất bước. Xe tới đầu vườn thượng uyển, có lệnh dừng lại. Tức thì hai bên tay ngài dìm mạnh cổ nó xuống rồi lại bênh lên nhẹ bổng. Nó vừa ngóc đầu lên thì một luồng gió mát, lướt đưa vào lỗ mũi nó những hương thơm ngào ngạt của muôn hoa. Nó phồng hai cánh mũi hớn mặt lên gấu xiêm mầu thiên thanh của bà Phi quất nhẹ qua mặt nó. Nó cảm thấy một vị thơm đầm đậm. Nó đưa mắt nhìn theo chỉ thấy từ ngang lưng trở xuống của Chúa và bà Phi. Gió hồ lồng vào vạt áo và giải xiêm bà Phi, làm căng phồng lên và đú đởn múa máy trước mắt nó. Nó cảm động đứng ngẩn ra, hai mắt dương thao láo: "Chà! Thật là ngoạn mục! Ôi! Trời đã ban cho ta đôi nhãn ngọc để riêng ta được nhìn những ưu vật của trần gian, ta đội ơn trời".
Càng nhìn theo càng thấy ngoạn mục, nó càng thấy hối hận với những sự việc ngày trước. Nó dậm chân xuống đất cộp cộp mắt nó nhắm lại, đầu nó đập vào hai càng xe như để nhận lấy một hình phạt xứng đáng với tội lỗi của mình. Vừa đập đầu vừa kể tội: "Tội thứ nhất là khi chưa vào phủ Chúa ta đã để cho Chúa và bà Phi phải vất vả khó nhọc biết chừng nào! Tội thứ hai: Sao ta dám đem một việc nhỏ bé tầm thường so ssánh với chức mã lệnh đáng tôn kính của Chúa đã ban cho như thế chẳnh phải trước đây ta đã phụ ơn Chúa hay sao? Tội ta thật đáng phanh thây mới phải. Nếu ta chỉ nghĩ đến cuộc đời phóng khoáng, chỉ nghĩ đến lúc đồng loại đua tranh, thì lấy ai để cùng Chúa gánh vác việc giang sơn, làm cho trăm họ an cư lạc nghiệp! Ơn hưởng lộc Chúa, sức ta ngày một cường tráng, thì cái vượt hàng ngàn dặm đối với ta có gì đáng kể".
Sống một cuộc đời lặng lẽ trong phủ Chúa, bằng sự kiêu hãnh với chức mã lệnh, chẳng bao lâu bờm, mao con Thiên Lý đã trồi lên một lớp vàng sóe. Trước mã đài nó đã nhìn thấy những cây cảnh bao lần đổi lá, nhưng nó không biết đời nó đã chuyển dần về già. Tài của nó cũng đã mòn mỏi. Nó vẫn tưởng nó còn sức chạy như ngàn dặm.
Có một buổi sáng, nó được kéo xe để Chúa cùng bà Phi ra ngoạn cảnh ngoài thành. Từ ngày vào phủ Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ao ước được thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi phủ Chúa, bon bon lên con đường đất rộng thênh thang. Nhìn thẳng phía trước nó thấy làm lạ, nó kêu í í trong cổ như tự hỏi: "Làm sao con đường này ngày xưa rộng mà nay bé nhỏ thế này!". Ði được một quãng, nó nhìn phía trên, lại dừng lại tự hỏi: "Ô hay, ngôi chùa kia, ngày xưa rõ ràng nằm bên cạnh một quả đồi lớn, mà bây giờ quả đồi lại nhỏ bằng con đường ta đang đi nghĩa làm sao?". Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều.
...Xe đi mãi. Lúc đến gần một thao ttrường, nó bỗng nghe tiếng hí của đồng loại. Tự dưng nó hớn hở: "Chắc các chú em bao lâu không gặp ta, sẽ khấu đầu chúc tụng". Vừa nghĩ nó vừa cất nhanh bước. Xe vừa tới thì đồng loại nó cũng đều nhảy bổ cả đến trước mặt nó, miệng hí, chân cất tiền, cất hậu, như chê bai nước đi và tướng mạo của nó. Nó tím gan, hí lên một tiếng như để quở mắng: "Bọn nhãi kia, tội các chú đáng chặt đầu làm lệnh! Các chú không biết ta là ai ư? Ðã quên tài của anh đấy rồi sao?". Tất cả đồng loại nó nhe cả răng, và lại í í trong cổ: "Chúng em biết bác lắm, biết bác ngày xưa là kẻ có tài nhưng bây giờ chúng em nhìn qua và bật cười về tài của bác. Thôi bác ạ! đừng khoe tài nữa, chúng em đây ngại bác không rời khỏi đươọc cái xe của Chúa! Rời ra được thì thóc kia trộn mật ai ăn?".
Con Thiên Lý uất lên, muốn thoát ra khỏi xe xông thẳng ra ngoài để tỷ sức, nhưng trên xe lại giật cương. Nó bực lắm nhưng cũng phải cắm đầu đi. Vừa đi vừa nghĩ: "Những kẻ ngu si hèn mạt kia, ở đời chúng bay chỉ nhìn có một chiều. Bay không biết được ta làm đấy mấy kẻ dễ làm được! Sức bay được mấy nả mà vội kiêu ngạo, bay chạy được vài dặm đã phờ mao, sều dãi. Rồi đây ta sẽ cho bay biết tài ba!".
Và hình ảnh một trường đua gió lộng, bụi cuốn, cờ bay bỗng hiện ra như thách thức. Con Thiên Lý Mã vẫn tin rằng mình còn đủ sức phi lên hàng đầu.
Sự đời biến đổi. Sau đó ít lâu, Chúa Trịnh được tin nhiều tướng ta thua trận ở bờ sông Gianh. Chúa định thân chinh đi, nên truyền cho viên tướng trông coi về mã lệnh mang mã lệnh ra đua trường để ôn dượt trước khi xung trận. Viên tướng cúi đầu tâu lại: "Muôn tâu Chúa công, hiện nay trong triều đình có thiếu gì ngựa chiến có dư sức vượt nghìn dặm, và đã từng dự trên dưới trăm một trận. Xin tướng công để tiểu tướng được chọn một con mã chiến có sức khỏe vào bực nhất. Còn như con mã lệnh, cứ để nó kéo xe, vì từ khi đem nó vào phủ Chúa, nó ăn nhiều, lại không hề luyện tập, tài nó ắt không được như trước. nếu Chúa công dùng con mã lệnh để ra trận, tiểu tướng áy náy lắm!".
Nghe tâu trình, chúa Trịnh cũng thấy viên tướng nói có lý, nhưng Chúa vẫn còn tin ở tài con mã lệnh. Chúa bèn hạ lệnh cho mang con mã lệnh ra tỷ sức cùng các chiến mã khác để tiện bề kén chọn.
Con Thiên Lý được dịp dời phủ Chúa ra đua trường. Hai cái lá đa đã được cất đi. Nó bàng hoàng nhìn trời, nhìn đất, mắt nó hoa hoa, đầu nó choáng váng. Cảnh vật như cây chong chóng, cây như mọc ngược, núi như đổ xuống. Vừa gặp đồng loại một cái, nó cố dóng hai tai, tóp bụng lại lấy hơi hí một tiếng để dương oai. Nhưng tiếng hí của noí vừa hé ra thì cụt lủn như có vật gì đút lấy mõm. Các đồng loại của nó cùng nhe răng ra cười , rồi cùng cất tiếng hí làm cho nó càng uất. Không chờ tiếng trống lệnh, nó đã lồng lên, tức thì các đồng loại của nó cũng bỏ vạch rượt theo. Tiếng trống liên hồi, con Thiên Lý càng cắm đầu cắm cổ chạy. Nó đã tưởng mình thắng cuộc, đắc chí nghoảnh lại thì bọn ngựa chiến đã tới sát đằng sau. Chỉ trong chớp mắt, nó bị tụt lại. Không chịu, nó càng lồng lên. Bỗng nó thấy nhói một cái ở trong ngang bụng như một nhát gươm chém mạnh, nó ngã vật xuống, vùi đầu trong bụi lốc của đàn ngựa bay qua, nó biết là đứt ruột, không thể sống được. Nó gắng mở to hai mắt, rên một tiếng như nói rằng: "Tiếng tăm lừng lẫy như ta chỉ có thể chết ở chiến trường. Nhưng, than ôi! Bãi cỏ này cũng là bãi chiến trường, chết thế này cũng là chết vì giang sơn, vì Chúa".
Trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái thế "Cao đầu phong vĩ".
Hà nội 10.1956
Lão Nông có con ngựa trắng, mình kim, lông tráng như bông, lại lấp lánh như có nạm kim cương, nên lão đặt tên nó là Kim Bông. Lão thường khoe con ngựa này lão mua được từ lúc nó chưa phát nha ở tận miền nước Hai. Lão từng đi nhiều nơi mà chưa thấy có con nào tướng phách toàn mã như nó: Có sức vượt hàng nghìn dặm với cái thể "Cao đầu phóng vĩ" của nòi ngựa chiến.
Từ khi con Kim Bông bắc yên, ngày nào lão cũng cưỡi nó đi các nơi để buôn ngựa. Hàng năm những cuộc đua ngựa miền này, không cuộc đua nào vắng lão. Không cuộc đua nào con Kim Bông không đoạt giải nhất. Từ đó tiếng con ngựa này, mỗi ngày một truyền rộng ra khắp nơi và lọt đến tai Chúa Trịnh.
Thủa ấy Chúa Trịnh đang cần tuyển mộ một đoàn kỵ binh để bình định đất nước, nên liền ủy một viên quan hầu cận, tìm đến tận nơi để hỏi mua.
Lão Nông tuy luyến tiếc con Kim Bông, nhưng nghĩ đến cái tài của nó lão sẵn sàng trao lại cho viên quan mà rằng: "Con ngựa này của bần dân thuộc loại quý mã, là vật, nhưng nó hiểu tiếng người. Bấy lâu nay nó sống với bần dân ở nơi sơn lâm hẻo lánh này, ăn cỏ núi, uống nước suối, tài nó có mà không được dùng, thật lòng bần dân cũng tiếc cho đời nó lắm! Nay Chúa công lại cho vời nó về chốn triều đình để dùng nó xông pha chiến trận, bần dân cũng được hả dạ vì đã làm vừa ý con ngựa quý mã và cũng bõ công nuôi nấng tập luyện". Con Kim Bông dỏng hai tai gật gật cái đầu như biết được mình sắp được từ dã cảnh sơn lâm hưu quạnh, để vùng vẫy chốn kinh thành.
Trên đường về, viên quan hết lời khen ngợi con ngựa quý mã: Kim Bông phi như gió, giả lại đằng sau những đồi núi, cây cỏ của Sơn Tây. Chỉ trong nửa ngày đã về đến Thăng Long.
Viên quan vào tâu với Chúa trịnh, hắn tả lại tướng phách cùng nước bay, nước kiệu của con ngựa. Chúa Trịnh lấy làm toại nguyện, và truyền cho các tướng tá chọn ngày mở hội đua để kén ngựa chiến.
Một buổi sáng, trên các ngả đường, nhân dân các vùng lân cận nghe tin lũ lượt đổ về xem như nước chảy. Hàng nghìn ngựa tốt từ các nơi đem về được xếp hàng tề chỉnh bên cạnh những kỵ binh nai nịt gọn gàng. Con Kim Bông ngơ ngác trước quang cảnh mới lạ, lòng nó rộn ràng, mắt nó đăm đăm nhìn thẳng về phía cuối đua trường như để dương oai với đồng loại, nó nín hơi, tóp bụng, cất tiếng hí dài lanh lảnh nghe sởn óc. Ngưòi kỵ binh đứng bên cạnh, bỗng né sang một bên, lao đao tưởng ngã. Bọn ngựa trố mắt nhìn theo và cũng cất tiếng hí theo.
Sau ba hồi trống lệnh, các kỵ binh lên yên, ra roi bắt đầu rời vạch. Ðoàn ngựa lồng lên trong bụi lốc mịt mù, những tiếng đất bắn ra tứ phía như mưa rào, nhân dân reo hò vanh dậy. Chỉ trong chớp mắt, con Kim Bông đã vượt lên hàng đầu, vừa hí, vượt lên, chân trước khoăn lại như móc sắt, đuôi bay như dải phướn, tưởng như chân nó khong hề chạm đất. ở phía xa người ta nhìn nó chỉ còn thấy ở một bóng trắng lấp loáng, oằn lên, oằn xuống như một con rồng trắng uốn khúc. Nó bay tới phía nào là tiếng reo hò phía ấy nổi lên không ngớt. Hàng loạt ngựa thấy sức mình không sánh kịp với con Kim Bông, bỏ dở cuộc đua, đứng dừng cả lại, hí hí nhìn theo cái bóng trắng nhỏ dần... Khi dứt hồi trống, con Kim Bông đứng lại, tai nó ù đi vì tiếng reo hò ca ngợi của xung quanh, nó càng nức lòng, chân nó dậm xuống đất cồm cộp như muốn hàng nghìn vòng nữa mới phí sức.
Khi tiếng trống lệnh truyền sang thi nước kiệu, con Kim Bông rời vạch một cái là bốn chân nó bám liền trên mặt đất như guồng nước, tiếng chân vỗ rồn rã như mõ đổ hồi, đuôi trải ra tráng như một dòng nước chảy sối. Nó chạy hết một vòng mà trên lưng nó một kỵ binh bưng một bát nước đầy, bát nước không sánh ra ngoài một giọt.
Lúc này nó thấy cả đua trường đều hướng nhìn về nó, trầm trồ ca ngợi tài nó. Nó lại hí lên một tiếng thật dài kiêu hãnh.
Sau cuộc đua này, nó được cả đua trường tặng danh là "Bạch Long Thiên Lý Mã" và chọn làm mẫu mực để tập luyện cho cả đoàn ngựa chiến của Triều đình. Cho nên chẳng bao lâu các đồng loại của nó cũng trở thành những chiến mã lành nghề. Và từ đó, nó cùng bầy ngựa chiến xông pha chiến trận, trải qua nhiều trận vào sinh ra tử. Nó nhớ nhất là trận quân chiến bên bờ sông Gianh. Thế địch mạnh, quân địch đã thắt vòng vây quanh nó, nhiều đồng loại nó đã phơi thây. Nó gắng hết sức mạnh, vùng lên như hổ đói, phá vỡ vòng vây, hạ thủ tướng địch, giành toàn thắng. Sau trận này, nó được Chúa Trịnh chọn làm mã lệnh và được vào ở trong phủ Chúa.
Chúa Trịnh truyền cho quân lính, xây một chiếc hồ bán nguyệt phía Nam vườn thượng uyển, để làm chỗ tắm cho mã lệnh, và cử hai mươi mấy phu ngày ngày trông nom săn sóc ngựa quý của Chúa.
Lần đầu tiên con "Thiên Lý" đặt chân tới Hoàng cung. Trước mắt nó toàn những lâu đài nguy nga tráng lệ, trong phía nào cũng thấy vàng son chói lọi. Dưới chân nó toàn đá xanh nhẵn bóng. Những cảnh vật mới lại khiến nó sợ hãi. Nó toát mồ hôi, run lên cầm cập, khi đặt chân lên những phiến đá hoa, được dịp đưa mắt nhìn hai hàng thị vệ tả hữu, đứng cắp gươm trần bên hành lang. Nó rụt rè, co cổ lại khi mã phu dắt nó vào mã đài, nó tưởng mã phu đưa nhầm nó vào nơi của một tướng lĩnh.
Con Thiên Lý được ngự hẳn trong mã đài ngày ngày chỉ ăn và tắm. Mỗi buổi chiều nó phải đứng một chỗ để dăm bảy mã phu mang kéo tỉa từng sợi mao, vuốt ve từng chiếc lông đuôi. Nó càng cảm thấy bạn bịu, tù cẳng. Nó bắt đầu mơ ước những cảnh sống khi còn ở bên ngoài cung cấm: "Ôi chao! Còn đâu những buổi ssáng ta cùng đồng loại trên đua trường hàng vạn người ca ngợi tài ba? Với cái sức khỏe bay hàng nghìn dặm, với cái thể "Cao đầu phong vĩ" hùng dũng như ta, đã bao phen xông pha trận tuyến, đời ta tù túng như thế này thì ta sống sao được? Sao Chúa không cho đem tài ra vùng vẫy trên chiến trường? Hay Chúa đã quên ta là kẻ có tài?".
Một buổi sáng, nó đang đứng trong mã đài, hai con mắt đăm đăm vọng ra ngoài bức thành cao ngất, nó bỗng thấy một đội mã phu nai nịt gọn ghẽ khác ngày thường, đến dắt nó ra đứng dưới mái hiên, phía tả hành lang. Nó sửng sốt, tưởng phen này lại được xung trận. Một mã phu khác trải lên lưng nó một tấm gấm điều, xung quanh thêu kim tuyến. Nó ngoái cổ lại, bỗng thấy mình đẹp như phượng hoàng. Hai mã phu nữa mang đến đằng sau nó một vật gì vuông vắn giống như một nhà lầu, gấm vóc xanh đỏ phủ quanh. Một mã phu khác mang cương đóng vào gáy nó. Bộ cương quý giá và đẹp đẽ làm sao. Ðời nó chưa từng nhìn thấy. Hàm thiếc bằng bạc, hai đầu nạm nạm vàng sáng lóe. Nó sung sướng gục đầu xuống nhạp hàm thiếc một cách ngoan ngoãn. Khi mã phu buông tay, lạ lùng, nó thấy hai vật gì to bằng hai cái lá đa che ngang hai bên mắt, khiến nó chỉ nhìn thấy phía trước mà thôi. Rồi một mã phu đẩy nó lùi lại, đứng vào giữa hai càng gỗ sơn son thếp vàng. ủa, lạ quá chừng, những cái mà gì đẹp quá thế này? Ta sẽ làm gì đây? Nó rùng mình, thấy như được sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn trước.
Bỗng dưng hai càng trước dúi mạnh một cái, cổ nó bệt xuống, miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc được dậy thì giây cương đã ghìm thẳng: Nó cất bước thấy nặng, cái nặng quái gở, như bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bồng bềnh nhẹ đi một chút nhưng rồi gáy nó càng như lún xuống. Nó phải cố lấy gân bốn vó mới giữ được cái thế đường bệ. Rồi bỗng có một ngọn roi da quất nhẹ vào mông, nó cắm cổ đi, nó mới biết là nó đang kéo xe cho Chúa.
Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt nó lờ mờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán.
Nhưng chẳng bao lâu, những chậu thóc trộn mật vừa ngon vừa bùi, những bó lá trúc quân tử vừa thơm vừa ròn sậm sựt đã cùng những buồn tủi sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột, tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con Thiên lý dần dần quen với chức vị. Nó thấy mình phải phò Chúa cho đến hơi thở cuối cùng mới xứng danh Thiên Lý Mã.
Trong những buổi chầu, nó thấy hàng trăm đôi hia, ủng và đủ các loại ống quần, tà áo, văn có, võ có, lướt đi lướt lại trước mắt, nó càng cảm thấy chức vị của nó to tát ghê gớm! Chốn thâm cung nghiêm cấm nào mà chân nó không bước tới? Có việc quốc sự triều đình nào vắng mặt nó? Nó đi đến đâu cũng thấy người chắp tay khấu đầu tung hô vạn tuế. Ðời nó quả là đã sang một bước đường hiển hách, hơn tất cả những lúc oai phong chiếm giải đầu trên các trường đua.
Một buổi chiều, trên cổng thành đã nổi trống thu không, mặt trời đã khuất hẳn mái lầu tay, mặt hồ đã gợn lên một mầu đỏ nhạt của giáng chiều, nó sung sướng kéo Chúa cùng bà Phi đi ngoạn cảnh. Ði chẳng cần đến đâu, nó được đôi lúc thong dong đứng lại, soi bóng xuống nước. Chà! Nhìn mặt ta uy nghi, lộng lẫy đến thế này ư! Phải chăng giời đã an bài cho số phận ta! Nó càng nhìn thấy bóng nó dưới nước to ra, to mãi, uy nghi trong sắc nước lẫn sắc trời.
Nó đang say sưa ngắm bóng bỗng giây cương lại giật mạnh. Mép nó găng thẳng ra, nó lại bắt đầu cất bước. Xe tới đầu vườn thượng uyển, có lệnh dừng lại. Tức thì hai bên tay ngài dìm mạnh cổ nó xuống rồi lại bênh lên nhẹ bổng. Nó vừa ngóc đầu lên thì một luồng gió mát, lướt đưa vào lỗ mũi nó những hương thơm ngào ngạt của muôn hoa. Nó phồng hai cánh mũi hớn mặt lên gấu xiêm mầu thiên thanh của bà Phi quất nhẹ qua mặt nó. Nó cảm thấy một vị thơm đầm đậm. Nó đưa mắt nhìn theo chỉ thấy từ ngang lưng trở xuống của Chúa và bà Phi. Gió hồ lồng vào vạt áo và giải xiêm bà Phi, làm căng phồng lên và đú đởn múa máy trước mắt nó. Nó cảm động đứng ngẩn ra, hai mắt dương thao láo: "Chà! Thật là ngoạn mục! Ôi! Trời đã ban cho ta đôi nhãn ngọc để riêng ta được nhìn những ưu vật của trần gian, ta đội ơn trời".
Càng nhìn theo càng thấy ngoạn mục, nó càng thấy hối hận với những sự việc ngày trước. Nó dậm chân xuống đất cộp cộp mắt nó nhắm lại, đầu nó đập vào hai càng xe như để nhận lấy một hình phạt xứng đáng với tội lỗi của mình. Vừa đập đầu vừa kể tội: "Tội thứ nhất là khi chưa vào phủ Chúa ta đã để cho Chúa và bà Phi phải vất vả khó nhọc biết chừng nào! Tội thứ hai: Sao ta dám đem một việc nhỏ bé tầm thường so ssánh với chức mã lệnh đáng tôn kính của Chúa đã ban cho như thế chẳnh phải trước đây ta đã phụ ơn Chúa hay sao? Tội ta thật đáng phanh thây mới phải. Nếu ta chỉ nghĩ đến cuộc đời phóng khoáng, chỉ nghĩ đến lúc đồng loại đua tranh, thì lấy ai để cùng Chúa gánh vác việc giang sơn, làm cho trăm họ an cư lạc nghiệp! Ơn hưởng lộc Chúa, sức ta ngày một cường tráng, thì cái vượt hàng ngàn dặm đối với ta có gì đáng kể".
Sống một cuộc đời lặng lẽ trong phủ Chúa, bằng sự kiêu hãnh với chức mã lệnh, chẳng bao lâu bờm, mao con Thiên Lý đã trồi lên một lớp vàng sóe. Trước mã đài nó đã nhìn thấy những cây cảnh bao lần đổi lá, nhưng nó không biết đời nó đã chuyển dần về già. Tài của nó cũng đã mòn mỏi. Nó vẫn tưởng nó còn sức chạy như ngàn dặm.
Có một buổi sáng, nó được kéo xe để Chúa cùng bà Phi ra ngoạn cảnh ngoài thành. Từ ngày vào phủ Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ao ước được thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi phủ Chúa, bon bon lên con đường đất rộng thênh thang. Nhìn thẳng phía trước nó thấy làm lạ, nó kêu í í trong cổ như tự hỏi: "Làm sao con đường này ngày xưa rộng mà nay bé nhỏ thế này!". Ði được một quãng, nó nhìn phía trên, lại dừng lại tự hỏi: "Ô hay, ngôi chùa kia, ngày xưa rõ ràng nằm bên cạnh một quả đồi lớn, mà bây giờ quả đồi lại nhỏ bằng con đường ta đang đi nghĩa làm sao?". Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều.
...Xe đi mãi. Lúc đến gần một thao ttrường, nó bỗng nghe tiếng hí của đồng loại. Tự dưng nó hớn hở: "Chắc các chú em bao lâu không gặp ta, sẽ khấu đầu chúc tụng". Vừa nghĩ nó vừa cất nhanh bước. Xe vừa tới thì đồng loại nó cũng đều nhảy bổ cả đến trước mặt nó, miệng hí, chân cất tiền, cất hậu, như chê bai nước đi và tướng mạo của nó. Nó tím gan, hí lên một tiếng như để quở mắng: "Bọn nhãi kia, tội các chú đáng chặt đầu làm lệnh! Các chú không biết ta là ai ư? Ðã quên tài của anh đấy rồi sao?". Tất cả đồng loại nó nhe cả răng, và lại í í trong cổ: "Chúng em biết bác lắm, biết bác ngày xưa là kẻ có tài nhưng bây giờ chúng em nhìn qua và bật cười về tài của bác. Thôi bác ạ! đừng khoe tài nữa, chúng em đây ngại bác không rời khỏi đươọc cái xe của Chúa! Rời ra được thì thóc kia trộn mật ai ăn?".
Con Thiên Lý uất lên, muốn thoát ra khỏi xe xông thẳng ra ngoài để tỷ sức, nhưng trên xe lại giật cương. Nó bực lắm nhưng cũng phải cắm đầu đi. Vừa đi vừa nghĩ: "Những kẻ ngu si hèn mạt kia, ở đời chúng bay chỉ nhìn có một chiều. Bay không biết được ta làm đấy mấy kẻ dễ làm được! Sức bay được mấy nả mà vội kiêu ngạo, bay chạy được vài dặm đã phờ mao, sều dãi. Rồi đây ta sẽ cho bay biết tài ba!".
Và hình ảnh một trường đua gió lộng, bụi cuốn, cờ bay bỗng hiện ra như thách thức. Con Thiên Lý Mã vẫn tin rằng mình còn đủ sức phi lên hàng đầu.
Sự đời biến đổi. Sau đó ít lâu, Chúa Trịnh được tin nhiều tướng ta thua trận ở bờ sông Gianh. Chúa định thân chinh đi, nên truyền cho viên tướng trông coi về mã lệnh mang mã lệnh ra đua trường để ôn dượt trước khi xung trận. Viên tướng cúi đầu tâu lại: "Muôn tâu Chúa công, hiện nay trong triều đình có thiếu gì ngựa chiến có dư sức vượt nghìn dặm, và đã từng dự trên dưới trăm một trận. Xin tướng công để tiểu tướng được chọn một con mã chiến có sức khỏe vào bực nhất. Còn như con mã lệnh, cứ để nó kéo xe, vì từ khi đem nó vào phủ Chúa, nó ăn nhiều, lại không hề luyện tập, tài nó ắt không được như trước. nếu Chúa công dùng con mã lệnh để ra trận, tiểu tướng áy náy lắm!".
Nghe tâu trình, chúa Trịnh cũng thấy viên tướng nói có lý, nhưng Chúa vẫn còn tin ở tài con mã lệnh. Chúa bèn hạ lệnh cho mang con mã lệnh ra tỷ sức cùng các chiến mã khác để tiện bề kén chọn.
Con Thiên Lý được dịp dời phủ Chúa ra đua trường. Hai cái lá đa đã được cất đi. Nó bàng hoàng nhìn trời, nhìn đất, mắt nó hoa hoa, đầu nó choáng váng. Cảnh vật như cây chong chóng, cây như mọc ngược, núi như đổ xuống. Vừa gặp đồng loại một cái, nó cố dóng hai tai, tóp bụng lại lấy hơi hí một tiếng để dương oai. Nhưng tiếng hí của noí vừa hé ra thì cụt lủn như có vật gì đút lấy mõm. Các đồng loại của nó cùng nhe răng ra cười , rồi cùng cất tiếng hí làm cho nó càng uất. Không chờ tiếng trống lệnh, nó đã lồng lên, tức thì các đồng loại của nó cũng bỏ vạch rượt theo. Tiếng trống liên hồi, con Thiên Lý càng cắm đầu cắm cổ chạy. Nó đã tưởng mình thắng cuộc, đắc chí nghoảnh lại thì bọn ngựa chiến đã tới sát đằng sau. Chỉ trong chớp mắt, nó bị tụt lại. Không chịu, nó càng lồng lên. Bỗng nó thấy nhói một cái ở trong ngang bụng như một nhát gươm chém mạnh, nó ngã vật xuống, vùi đầu trong bụi lốc của đàn ngựa bay qua, nó biết là đứt ruột, không thể sống được. Nó gắng mở to hai mắt, rên một tiếng như nói rằng: "Tiếng tăm lừng lẫy như ta chỉ có thể chết ở chiến trường. Nhưng, than ôi! Bãi cỏ này cũng là bãi chiến trường, chết thế này cũng là chết vì giang sơn, vì Chúa".
Trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái thế "Cao đầu phong vĩ".
Hà nội 10.1956
© 2009, Maylan.Net